Chúng tôi đưa ra những lí do trên, xuất phát từ thực tiễn của hoạt động tiếng Việt, trên cơ sơ tiếp thu những thành tựu đã đạt được của những công trình nghiên cứu về câu, chúng tôi mạnh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
BÙI THỊ ÁNH PHƯƠNG
CHỨC NĂNG NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ PHÁP CỦA CÁC YẾU TỐ CHỈ BỘ PHẬN - CHỈNH THỂ TRONG CẤU TRÚC
CÂU TIẾNG VIỆT
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Nhân dịp khóa luận được hoàn thành, em xin chân thành cảm ơn các thầy
cô trong bộ môn tiếng Việt, khoa Ngữ văn, cùng sự ủng hộ của các thầy cô trong thư viện Trường Đại học Tây Bắc
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, ThS Lê Thị Hà đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và động viên em trong quá trình thực hiện khóa luận!
Đồng thời, em cũng nhận được sự quan tâm động viên của các bạn trong tập thể lớp K51 ĐHSP Văn - Giáo dục Công dân để hoàn thành khóa luận này
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 14 tháng 05 năm 2014
Tác giả Bùi Thị Ánh Phương
Trang 4
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 5
4.1 Phương pháp nghiên cứu 5
4.2 Nguồn ngữ liệu 5
5 Đóng góp của khóa luận 5
6 Cấu trúc của khóa luận 6
Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 7
1.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phương diện từ vựng - ngữ nghĩa 7
1.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phương diện cụm từ 8
1.3 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phương diện cú pháp 9
1.4 Xác định và phân loại quan hệ bộ phận - chỉnh thể 12
1.4.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể với những quan hệ có liên quan 12
1.4.1.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể với quan hệ cấp loại (Hyponymie) 12
1.4.1.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể với quan hệ sở hữu 18
1.4.2 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của quan hệ bộ phận - chỉnh thể 20
1.4.2.1 Khái niệm 20
1.4.2.2 Đặc trưng cơ bản của quan hệ bộ phận - chỉnh thể 20
Tiểu kết: 21
Chương 2: CÁC CHỨC NĂNG NGỮ NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG QUAN HỆ BỘ PHẬN - CHỈNH THỂ 22
2.1 Khái niệm vị tố và các tiêu chí cơ bản phân loại các sự thể 22
2.1.1 Khái niệm vị tố 22
2.1.2 Những tiêu chí cơ bản phân loại các sự thể 23
Trang 52.2 Các chức năng ngữ nghĩa của các yếu tố có quan hệ bộ phận - chỉnh thể 24
2.2.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong các kiến trúc chứa vị tố - tính tĩnh 24
2.2.1.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong sự thể “tư thế” 25
2.2.1.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong sự thể “trạng thái” 27
2.2.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong các kiến trúc chứa vị tố - tính động 29
2.2.2.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong sự thể “hành động” 31
Chương 3: CÁC CHỨC NĂNG NGỮ PHÁP CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG QUAN HỆ BỘ PHẬN – CHỈNH THỂ 41
3.1 Chỉnh thể giữ vai trò chủ ngữ 41
3.1.1 Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - bổ ngữ trực tiếp 41
3.1.2 Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - bổ ngữ gián tiếp 43
3.1.3 Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - bổ ngữ cách thức 44
3.1.4 Chỉnh thể - chủ thể (chủ hữu), bộ phận - bổ ngữ (vật sở hữu) 46
3.1.5 Chỉnh thể - chủ ngữ, bộ phận - nằm trong thành phần phụ trạng ngữ của câu 47 3.2 Bộ phận giữ vai trò chủ ngữ 51
3.2.1 Bộ phận - chủ ngữ, chỉnh thể - yếu tố phụ miêu tả của danh từ bộ phận 51 3.2.2 Bộ phận - chủ ngữ, chỉnh thể - chủ ngữ 54
Tiểu kết 55
KẾT LUẬN 56
Trang 6và cho đến nay vẫn được sử dụng khá phổ biến
Có thể nói, trong ngữ pháp, những vấn đề liên quan đến câu là những vấn
đề đa dạng và phức tạp nhất Câu là đơn vị trọn vẹn nhất trong một hệ thống ngôn ngữ, trong nó phản ánh được đầy đủ nhất các đặc trưng hình thức và ý nghĩa của một ngôn ngữ cụ thể Vì thế, trong ngôn ngữ học nói chung và Việt ngữ học nói riêng đã có nhiều công trình khảo cứu về câu Tuy nhiên, do ảnh hưởng của truyền thống thiên về hình thức cấu trúc mà câu trong tiếng Việt phần nhiều được xem xét về mặt cấu trúc ngữ pháp
Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu bàn về cấu trúc câu trong tiếng Việt Nói chung, các kết quả đưa ra thường tập trung vào các lĩnh vực:
Một là về cấu trúc ngữ pháp của câu Ở lĩnh vực này, dựa trên những tiêu chí về mặt cấu trúc, câu được chia thành các kiểu: câu đơn, câu ghép (và câu phức)… Trong đó, đã đề cập đến việc xác định các thành phần câu, vai trò
và chức năng của từng thành phần trong cấu trúc
Hai là về cấu trúc ngữ nghĩa của câu Ở lĩnh vực này, đi theo quan điểm của ngữ pháp chức năng, câu lại được nghiên cứu trong khả năng kết hợp của các vị tố với các tham tố tham gia cấu tạo câu Đây là một lĩnh vực có khá nhiều vấn đề thú vị và phức tạp đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục quan tâm Trong những năm gần đây, dưới ánh sáng của ngữ dụng học, câu trong tiếng Việt không phải chỉ được nghiên cứu đơn thuần về mặt cấu trúc hay mặt ngữ nghĩa nữa mà được quan tâm nhiều về mặt sử dụng
Trang 72
Xét về ngôn ngữ học văn bản, câu được quan tâm về mối quan hệ của các câu với nhau trong văn bản… Đó chưa phải là tất cả những vấn đề được đặt ra trong nghiên cứu cũng như những vẫn đề được chú ý đến trong các công trình nghiên cứu về câu
Khi nghiên cứu về câu, ngoài những vấn đề đã nên trên, về phương diện ngữ nghĩa còn tồn tại một loại quan hệ đặc thù, đó là quan hệ bộ phận - chỉnh thể Đây không phải là quan hệ giữa chỉnh thể câu (cả câu) với bộ phận nào đó
của câu mà quan hệ giữa từ chỉ bộ phận và từ chỉ chỉnh thể chứa bộ phận đó Do
sự chi phối của quan hệ bộ phận - chỉnh thể mà câu đôi khi có những cách hiểu khác nhau về mặt ngữ nghĩa
Chúng tôi đưa ra những lí do trên, xuất phát từ thực tiễn của hoạt động tiếng Việt, trên cơ sơ tiếp thu những thành tựu đã đạt được của những công trình
nghiên cứu về câu, chúng tôi mạnh dạn chọn “Chức năng ngữ nghĩa và ngữ
pháp của các yếu tố chỉ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt”
làm đề tài nghiên cứu Với hi vọng, kết quả nghiên cứu góp một phần hữu ích cho việc tìm hiểu về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt
2 Lịch sử vấn đề
Trong các kiến giải về cấu trúc câu, lối phân tích câu theo thành phần là lí thuyết lâu đời và phổ biến hơn cả Nó đặt nền móng từ thời Aristote (384 - 322 TCN) với cách phân tích câu thành các bộ phận O'no'ma (danh từ chủ danh, chủ ngữ) và Re'ma (động từ ở thời hiện tại, vị ngữ) (Kondrashov N.A, 1979, tr 13 - 14; Desnitskaja A.B, Nguyễn Kim Thản, 1984, tr 151 - 152) và được áp dụng vào việc phân tích câu ở hầu hết các ngôn ngữ, nhất là trong nhà trường Trong khi đó, những kiến giải khác nhau về cấu trúc câu như lí thuyết thành tố trực tiếp, ngữ pháp cải biến, ngữ pháp tạo sinh, lí thuyết phân đoạn thực tại… chỉ mới xuất hiện vào những năm 30 - 40 của thế kỉ XX, có lúc rộ lên như thời thượng ở một số nơi nhưng rồi lại nhanh chóng được thay thế bằng lí thuyết mới Có thể nói, cấu trúc câu là lĩnh vực đã được nghiên cứu từ rất lâu
Trang 83
Nhìn lại quá trình nghiên cứu về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong câu tiếng Việt, mặc dù đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, xem xét nhưng mức
độ còn rất hạn chế, hay nói cách khác là sự quan tâm chưa được sâu và rộng
Từ những năm của thập niên 80, tác giả Nguyễn Kim Thản [18,156] đã đưa ra một khái niệm về động từ có tên gọi “Nhóm động từ chỉ hành động của
bộ phận cơ thể” tác giả đã liệt kê một số động từ, ví dụ như “bạch” “bấm”
“co”… Theo tác giả, những động từ này có các đặc trưng về khả năng kết hợp
và về giá trị ngữ nghĩa Tuy nhiên, đó chỉ là những phác họa ban đầu, chưa có những phân tích chi tiết và những kết luận cụ thể về nhóm động từ này, đồng thời về mối quan hệ giữa chúng với những từ chỉ “bộ phận cơ thể ” theo sau: Tác giả Hoàng Trọng Phiến [14, 169] cũng nêu ra những kiến giải của mình về vấn đề này Theo ông, kiến trúc có quan hệ bộ phận - chỉnh thể không nhất thiết phải có một dạng tồn tại duy nhất mà còn có một dạng cải biến Và phạm trù “yếu tố sở hữu khả li, bất khả li” cũng có liên quan nhất định trong quan hệ bộ phận chỉnh thể này
Quan điểm của Nguyễn Văn Lộc trong “Kết trị của động từ tiếng Việt” hay của Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp trong “Thành phần câu tiếng Việt” phần nào giống với ý kiến của Nguyễn Kim Thản và Hoàng Trọng Phiến Trong số các nhà nghiên cứu, người quan tâm nhiều nhất đến phạm trù quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt là tác giả Diệp Quang Ban Tác giả sơ bộ đã nghiên cứu và có những kết luận cụ thể và khá rõ ràng về loại hình quan hệ này
Ngay từ công trình khoa học đầu tiên là “Một số vấn đề tồn tại về câu trong tiếng Việt ngày nay” (Luận án PTS, 1981), khái niệm bộ phận - chỉnh thể
đã được tác giả bàn đến với những đặc điểm, tính chất riêng biệt, không giống với các loại bộ phận quan hệ cấu trúc khác trong câu Hay trong bài viết “Bổ ngữ chủ thể - một thuật ngữ cần thiết cho việc phân tích ngữ pháp tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, 1983) trên cơ sở phân tích kĩ các ngữ liệu, tác giả đã đưa ra những kết luận cụ thể về quan hệ bộ phận - chỉnh thể Tác giả thừa nhận rằng quan hệ này là quan hệ đặc biệt, cần phải được tìm hiểu và nghiên cứu
Trang 94
nhiều hơn Trong “Câu đơn tiếng Việt” (1987) những căn cứ để xác lập loại quan hệ bộ phận chỉnh thể trong câu và những minh chứng, lí giải về chúng càng được khẳng định
Tài liệu của tác giả J.Lyons trong “Nguyên lí ngữ nghĩa học” (bản dịch tiếng Pháp của J.Durand, 1918), là một tài liệu mà chúng tôi được tiếp cận cũng
có ý kiến xác đáng bàn về quan hệ bộ phận - chỉnh thể Ngoài những tác giả kể trên, còn những tác giả khác bàn về vấn đề này bằng cách này hay cách khác nhưng trong chừng mực còn rất hạn chế
Từ những điều đã nói trên đây, có thể khẳng định rằng “Các chức năng ngữ nghĩa và ngữ pháp của các yếu tố về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt được thể hiện trong một số truyện ngắn hay từ 1980 đến nay”
là một lĩnh vực thú vị, cần phải được nghiên cứu sâu rộng hơn
3 Đối tƣợng nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quan hệ bộ phận - chỉnh thể không phải là một vấn đề hoàn toàn mới trong ngữ pháp tiếng Việt, tuy nhiên, xét về quan hệ này như một đối tượng chuyên môn thì cho đến nay các công trình nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế và
chưa được quan tâm sâu rộng Khóa luận lấy cấu trúc câu làm đối tượng tìm
hiểu Song, chúng tôi chỉ dừng lại tập trung nghiên cứu đối tượng trong mối quan hệ bộ phận - chỉnh thể của cấu trúc câu tiếng Việt Đó chính là mối quan hệ
giữa từ chỉ bộ phận và những từ chỉ chỉnh thể chứa bộ phận đó
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ của khóa luận là khảo sát mối quan hệ giữa các từ chỉ bộ phận
và các từ chỉ chỉnh thể chứa bộ phận đó, để thấy được các chức năng ngữ nghĩa
và ngữ pháp của các yếu tố về quan hệ bộ phận chỉnh thể trong các câu cụ thể Chúng tôi cố gắng bổ sung thêm một cách nhìn, một cách nghiên cứu mới về
một loại quan hệ trong cấu trúc câu tiếng Việt
Trang 105
4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu
4.1 Phương pháp nghiên cứu
Để triển khai khóa luận, chúng tôi dựa vào phương pháp nghiên cứu sau: phân tích, khảo sát, miêu tả, thống kê… Trong đó, phương pháp phân tích luôn giữ vai trò chủ đạo Chúng tôi dựa vào phương pháp phân tích chức năng ngữ nghĩa và ngữ pháp của các yếu tố ngôn ngữ có mặt trong phát ngôn và phân tích mối quan hệ nghĩa giữa chúng để tìm ra những hiện tượng ít nhiều có tính đều đặn trong tiếng Việt ở phạm vi đối tượng được xem xét Ngoài ra, khi triển khai khóa luận, chúng tôi còn có thể sử dụng phương pháp quy nạp, diễn dịch… Để phân tích lí thuyết và nguồn ngữ liệu liên quan đến đề tại, rồi tổng hợp các nội dung để đi đến kết luận
4.2 Nguồn ngữ liệu
Những công trình nghiên cứu của các tác giả đi trước là nguồn tài liệu dồi dào và phong phú, tạo tiền đề thuận lợi để người đang thực hiện khóa luận đi sâu vào những vấn đề cụ thể Trong quá trình triển khai khóa luận, chúng tôi đã dành một thời gian thích đáng để nghiên cứu, học tập những thành quả nghiên cứu của hàng loạt các tác giả đi trước như Diệp Quang Ban, Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo, Nguyễn Kim Thản, Hoàng Trọng Phiến… Đặc biệt ở phương diện lí thuyết về quan hệ bộ phận - chỉnh thể, chúng tôi dựa vào những tư tưởng của John Lyons trong "Nguyên lí ngữ nghĩa học" (bản dịch tiếng Pháp của J Durand, 1978)
Ngoài ra, một phần làm nên thành công của khóa luận phải kể đến tư liệu
đã được khảo sát trong một số truyện ngắn hay từ 1980 đến nay của các tác giả: Nguyễn Minh Châu, Vũ Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Trang Thế Hy, Huỳnh Thạch Thảo, Hồng Nhu…
5 Đóng góp của khóa luận
Bước đầu tìm hiểu chức năng ngữ nghĩa và ngữ pháp của các yếu tố chỉ quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt là thú vị Đặc biệt, tìm
ra điểm trung gian trong quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố có quan hệ bộ phận - chỉnh thể là một trong những kết quả đáng kể nhất trong quá trình thực hiện
Trang 116 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, đề tài gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Các chức năng ngữ nghĩa của các yếu tố về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt
Chương 3: Chức năng ngữ pháp của các yếu tố về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt
Trang 12kể, đặc biệt đáng chú ý nhất là thừa nhận sự tồn tại của quan hệ bộ phận - chỉnh thể của các tác giả ở mọi phương diện khác nhau Sự xuất hiện của quan hệ này trong cấu trúc câu tiếng Việt là một bước đột phá mới về câu làm cho tiếng Việt càng đa dạng và phong phú hơn Điều này đã được minh chứng rất rõ trong các công trình nghiên cứu khác nhau của nhiều tác giả tiêu biểu, như: tác giả Đỗ Hữu Châu thì xem xét quan hệ bộ phận - chỉnh thể ở phương diện từ vựng - ngữ nghĩa Đối với tác giả Nguyễn Kim Thản thì quan hệ bộ phận - chỉnh thể được nghiên cứu ở bình diện cụm từ Và ở phương diện cú pháp câu thì tác giả Diệp Quang Ban có những kiến giải rất sâu sắc và phần nào đã đưa ra một cách nhìn nhận sơ bộ tương đối chi tiết về quan hệ này Cùng với ý kiến của tác giả nêu trên, chúng tôi không thể không nhắc đến cách xác định và phân loại quan hệ - chỉnh thể của J.Lyons - người đặt nền móng cho cơ sở lý luận về quan hệ bộ phận - chỉnh thể Những đóng góp của của các nhà nghiên cứu về quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong cấu trúc câu tiếng Việt càng làm cho ngữ pháp tiếng Việt trở nên hấp dẫn hơn, thiết thực hơn đối với người học, người nghiên cứu
1.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phương diện từ vựng - ngữ nghĩa
Tác giả Đỗ Hữu Châu [12, 212] nói rằng có sự phân chia một chỉnh thể (toàn thể) thành những bộ phận tạo nên chúng Ví dụ “người”với nghĩa là “cơ
thể” là một chỉnh thể được phân chia thành các bộ phận: đầu, mình, tay, chân…
Trong các bộ phận chỉnh thể lại có sự phân biệt giữa “bộ phận khả li” và
“bộ phận bất khả li” của chỉnh thể Bộ phận bất khả li là bộ phận cấu thành chỉnh thể một cách tự nhiên, thiếu chúng thì chỉnh thể trở nên không hoàn chỉnh,
có khuyết tật (thiếu tay, chân gọi là què, thiếu một mắt gọi là chột) Bộ phận khả
Trang 138
li là bộ phận thường có mặt trong chỉnh thể nhưng thiếu chúng chỉnh thể không
vì thế mà trở thành có khuyết tật Đối với “cái nhà” chẳng hạn bộ phận khả li là
“quả đấm” (cửa) “gạch lát”… Ngôn ngữ học đã chú ý những hành vi ngữ pháp
riêng của các từ chỉ bộ phận bất khả li Ví dụ, ít khi chúng ta nói: tôi có tay hoặc
tôi có hai tay, tôi có đầu, nhà có mái, (so sánh tôi có áo,tôi có tiền, tôi có vàng
…) Những cách nói như vậy là thừa về thông tin Những thông tin do câu trên cung cấp được xem là đã hiển nhiên, đã thuộc tiền giả định giao tiếp Hễ dùng đến những cách nói như vậy là hàm ẩn một cái gì bất thường, điều gì đáng chú ý
về những bộ phận đó Bởi vậy, thông thường phải có những định nghĩa kèm theo
các từ chỉ bộ phận và lượng tin chủ yếu nằm trong các định ngữ này: (tôi có một
tay, tôi có một bàn tay khéo léo… nhà có ba tầng, nhà có mái bằng, tôi có đầu méo…) Trong tiếng Việt, nói chung chúng ta không dùng các loại từ trước danh
từ chỉ bộ phận bất khả li của chính mình (gãi đầu, chép miệng, giơ tay…) Kết
cấu động từ hoặc tính từ ở trước cũng là dấu hiệu của các danh từ chỉ các bộ
phận bất khả li (đau đầu, bạc tóc, tịt mũi, què tay…) Tuy nhiên, không phải sự
phân biệt bộ phận khả li - bộ phận bất khả li lúc nào cũng rõ ràng, và cũng cần tính tới khả năng việc một bộ phận bất khả li được dùng một cách cố ý như bộ phận khả li và ngược lại, một bộ phận khả li lại được dùng một cách cố ý như bộ phận bất khả li
1.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phương diện cụm từ
Tác giả Nguyễn Kim Thản [18, 156] cho rằng, trong những câu mà vị tố
là những động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể thì hoạt động đó là do chủ
thể (vật hữu sinh) gây ra và chuyển tới bộ phận của cơ thể
“Chủ thể” ở đây, trong tương quan với “bộ phận” chính là “chỉnh thể” Nói cách khác, chỉnh thể (danh từ) bằng hoạt động được động từ biểu thị thì tác động đến đối tượng mà hoạt động chuyển tới, đối tượng này chính là những
danh từ biểu thị những bộ phận cụ thể của cơ thể con người như : tóc, đầu, mắt,
mặt, má, (lông) mày, mồm, môi, mép, râu, lưỡi, răng…hoặc của động vật như: mõm, sừng, đuôi… cần nói thêm rằng sự kết hợp của những động từ và những
danh từ nói trên bị hạn chế về mặt ngữ nghĩa và chỉ kết hợp một cách cụ thể, ví
dụ, chỉ nói nhắm mắt chứ không nói nhắm mồm
Trang 149
Ở đây, quan hệ giữa chỉnh thể và bộ phận là quan hệ giữa một bên là kẻ gây ra hành động (chỉnh thể) với một bên là đối tượng chịu tác động của hành động (bộ phận của chỉnh thể) thông qua động từ chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể Nhưng điều quan trọng là không phải quan hệ này lúc nào cũng diễn ra một chiều mà còn có trường hợp danh từ bộ phận biểu thị đối tượng mà hoạt động chuyển tới, nhưng đối tượng này chỉ có thể trở thành chủ thể của hành động do chính động từ biểu thị
Nguyễn Kim Thản còn liệt kê ra một số những động từ đặc chỉ những
hành động của bộ phận cơ thể như: bước, cau, co, cúi, chan, chép, chìa, chợp,
chớp, chổm, chum, dang, dỏng, há, hất, khụy, khom, khiễng, lắc lè, liếc, lim dim, nguẩy, ngoắt, nghển, ngước, vục, với, xòe, xua… Ngoài ra còn có một số động
từ dùng riêng cho động vật như: quắp, quặp, cúp, húc, ngoe, nguẩy, ve vẩy…
1.3 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể xét ở phương diện cú pháp
Tập trung nhiều sự chú ý về quan hệ bộ phận - chỉnh thể tác giả Diệp Quang Ban [1, 41] trong quá trình đi sâu nghiên cứu cho rằng: phạm trù này được thể hiện đa dạng, quan sát kĩ sẽ thấy có một số điểm giống một loại quan
hệ khác, đó là quan hệ tồn tại định vị hay quan hệ sở hữu Trên cơ sở phân tích nguồn ngữ liệu, điều đáng chú ý là tác giả đã chia quan hệ này thành 2 nhóm
Nhóm thứ nhất là quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong các kiến trúc chứa vị
tố - tĩnh trạng
Ví dụ:
(1) Chị Lan yếu phổi
Ở ví dụ này, yếu phổi được dùng để nêu đặc trưng cho Chị Lan một cách trực tiếp, tức là một trạng thái nào đó (yếu) của một bộ phận tim được dùng là đặc trưng chỉnh thể Chị Lan nghĩa là chỉnh thể có thể được mô tả thông qua bộ phận Không phải vô cớ mà có thể hiểu câu này là Chị Lan yếu ở bộ phận gọi là
tim cách hiểu này cho thấy yếu cũng có liên hệ nghĩa một cách trực tiếp với Chị Lan Trên cơ sở đó, về mặt ngữ pháp, tim là một bộ phận của Chị Lan Vậy có
thể gọi tim là bổ ngữ - bộ phận, còn Chị Lan là chủ ngữ - chỉnh thể
Trang 1510
Cùng với câu Chị Lan yếu phổi chúng ta còn gặp:
Ví dụ:
(2) Chị Lan yếu tim
Tại đây đặc trưng của bộ phận cũng được lấy làm đặc trưng của chỉnh
thể (ở đây tim có được nhấn mạnh hơn), cho nên cách lí giải Chị Lan trong câu
là chủ ngữ, còn tim yếu là một kiến trúc chủ - vị làm vị ngữ như nhiều tác giả
chủ trương hiện nay là có thể chấp nhận được
Tìm trong các ngữ liệu mà chúng tôi thu thập được quan hệ bộ phận chỉnh thể trong kiến trúc chứa vị tố - tĩnh trạng chiếm một khối lượng đáng kể
Có thể dẫn thêm một số ví dụ khác:
(3) Mắt anh sáng long lanh [30, 14]
(4) Ông lão bỗng tái mặt [27, 241]
(5) Cổ họng tôi nghẹn lại [30, 52]
(6) Lão giỏng tai nghe [32, 40]
(7) Cô thấy lạnh toát sống lƣng [32, 46]
(8) Cấn trừng mắt [32, 61]
(9) Da thịt anh ấm nóng, những sợi râu cọ nham nháp khiến tôi rùng
mình [30, 30]
(10) Tôi thấy mắt tôi hoa lên, tai tôi ù đi [32, 96]
Nhóm thứ hai là quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong các kiến trúc chứa vị tố
- hoạt động Những phức tạp nhất đồng thời cũng là điều lí thú nhất về quan hệ
Động từ chỉ hoạt động co trong ví dụ là động từ có tính chất nước đôi Nó
là động từ chỉ hoạt động ngoại động, xét trong mối quan hệ với chủ ngữ - chỉnh
Trang 1611
thể, Chị Lan là vật tạo ra hoạt động và bằng hoạt động co tác động lên vật khác
chân Nói cách khác Chị Lan gây ra hoạt động co hoạt động này tác động trực
tiếp lên đối tượng chân Nhưng mặt khác đối tượng chịu tác động của hoạt động
lại là một bộ phận nằm trong chỉnh thể nêu ở chủ ngữ và bộ phận này có khả năng tác động lên chỉnh thể Và như vậy, chủ thể của hành động lại là bộ phận
chân Tình hình này được nhận bằng một phép chuyển hóa:
(13) Chân (chị Lan) co
Như vậy, trong câu Chị Lan co chân thì co cùng một lúc có quan hệ với
danh từ đứng trước (chỉ chỉnh thể) và danh từ đứng sau (chỉ bộ phận) theo kiểu vật - đặc trưng của vật, giống như ở các kiến trúc chứa vị tố - tĩnh trạng như đã xem xét ở trên
Chỗ riêng biệt của câu Chị Lan co chân so với các kiến trúc có quan hệ bộ phận - chỉnh thể chứa vị tố - tĩnh trạng không chỉ ở tính chất của hoạt động co
mà ở tính chất “ngoại động” đặc biệt, không phải là tính chất tác động lên một vật khác một cách bình thường như ở:
(14) Chị Lan co dây
Nếu dây là một vật hoàn toàn chịu tác động của co thì chân lại có thể tự hoạt động bằng chính hoạt động nêu ở vị tố, hoạt động “co” Tình hình đó khiến cho có thể hiểu Chị Lan ở câu Chị Lan co chân là người điều khiển chân mình hoạt động, là nguyên nhân của sự kiện co chân Về mặt ngữ pháp đối chiếu với
dây trong Chị Lan co dây thì chân trong Chị Lan co chân rõ ràng là một bổ ngữ
Nhưng về mặt ngữ nghĩa, trong mối quan hệ với co nếu dây là khách thể thì
chân lại là chủ thể Trong mối quan hệ với Chị Lan, chân là bộ phận
Trong nguồn ngữ liệu, kiến trúc có quan hệ bộ phận - chỉnh thể chứa vị tố chỉ hoạt động chiếm một số lượng lớn, đặc biệt là những kiến trúc chứa vị tố chỉ
“hoạt đông của bộ phận cơ thể” theo cách gọi của Nguyễn Kim Thản
Trang 1712
(20) Anh chép miệng phàn nàn [30, 44]
Trên cơ sở cách nhận diện quan hệ bộ phận - chỉnh thể của các tác giả chúng
ta đã nêu cộng với quan điểm cơ bản mà J.Lyons đề ra, quan hệ bộ phận - chỉnh thể được hiểu như thế nào? chúng ta sẽ được tìm hiểu ở mục tiếp theo sau đây
1.4 Xác định và phân loại quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Trong nghiên cứu, những minh chứng về sự tồn tại hiển nhiên của phạm trù quan hệ bộ phận - chỉnh thể đã cho chúng ta thấy rằng, đây không phải là một phạm trù có tính độc lập hoàn toàn Tìm hiểu và nghiên cứu kĩ sẽ thấy ở những mức độ nhất định, phạm trù này cũng có liên quan đến những phạm trù khác, như quan hệ cấp loại và quan hệ sở hữu Ranh giới giữa quan hệ bộ phận - chỉnh thể với những quan hệ kể trên không phải lúc nào cũng rõ ràng, tách bạch
và dễ nhận biết
1.4.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể với những quan hệ có liên quan
1.4.1.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể với quan hệ cấp loại (Hyponymie)
Trên thực tế, đây là hai loại quan hệ có những kiểu khác nhau rõ rệt
Quan hệ bộ phận - chỉnh thể là mối quan hệ hợp nhất được các bộ phận cấu thành tách rời nhau hoặc có thể tách rời của một vật và toàn bộ vật mà chúng là các bộ phận cấu thành (J.Lyons)
Ví dụ:
(21) Phác bỗng nhe răng cười [27, 410]
Trong ví dụ này thì Phác được hiểu là “chỉnh thể” và răng là một “bộ phận" cấu thành của chỉnh thể Phác này, hay bánh xe là một bộ phận tạo nên xe hoặc cánh cửa, mái nhà, tường nhà là những bộ phận tạo nên chỉnh thể nhà…
Nhưng quan hệ cấp loại (Hyponymie) lại là quan hệ kéo theo một chiều Nói đến quan hệ cấp loại là quan hệ “bao gồm” (Inclusion) và “nằm trong” [12, 208]
Ví dụ: Hai từ hoa và hoa cúc là quan hệ cấp loại Nếu nhìn từ trên xuống thì hoa bao gồm từ hoa cúc(và hoa huệ, hoa mai, hoa nhài…), nếu nhìn từ dưới lên thì hoa cúc nằm trong từ hoa Đối với từ hoa cúc từ hoa là từ thượng danh (Superordonne) Đối với từ hoa, hoa cúc là từ hạ danh ( Hyponymie)
Trang 1813
(22) Ví dụ: Có hai câu: Tôi mua hoa cúc và Tôi mua hoa
Nếu nói: Tôi mua hoa cúc có nghĩa là Tôi mua hoa nhưng nói: Tôi mua hoa thì chưa chắc Tôi mua hoa cúc mà có thể là mua hoa hồng, mua hoa huệ, mua
hoa lan…
Như vậy, quan hệ cấp loại là quan hệ giữa hai lớp, lớp nọ bao hàm lớp kia,
giả sử ta có lớp gọi là hoa và lớp ta gọi là hoa hồng thì hoa bao chứa hoa hồng
và hoa hồng nằm trong hoa Còn quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ trong một lớp và từng phần tử của nó Giữa một chiếc xe và một chiếc đèn nhưng lớp
chiếc xe không chứa lớp chiếc đèn [17, 29]
Ở quan hệ cấp loại là sự phân loại - loại (Toxonomie) tức là sự phân chia một lớp lớn thành các tiểu loại, còn ở quan hệ bộ phận - chỉnh thể là sự phân loại
bộ phận, tức là sự phân chia một chỉnh thể thành những bộ phận tạo nên chúng
Ví dụ: Sự phân loại hoa thành hoa huệ, hoa hồng, hoa lan rồi hoa hồng lại tiếp tục được chia thành hồng nhung, hồng bạch… là sự phân loại - loại Còn
sự phân chia cơ thể thành: mắt, mũi, tai… rồi mắt được chia thành lông mày,
lông mi, lòng trắng, lòng đen, con ngươi… là sự phân loại - bộ phận
Ví dụ: Trong tiếng Việt, các từ: mái, nền, tường, cửa… có quan hệ bộ phận với từ chỉnh thể nhà, đầu, mình, tay, chân… có quan hệ với từ người (hiểu theo nghĩa cơ thể)
(23) Ví dụ: Quý ngừng lại một giây rồi bỗng rướn người lên, hai bàn tay
run run chụp lấy tay tôi, ghì sát vào má [30, 30]
Quan hệ cấp loại và quan hệ bộ phận - chỉnh thể còn có chỗ khác nhau nữa là: ở quan hệ cấp loại, ý nghĩa của các từ hạ danh là sự loại biệt hóa ý nghĩa của các từ thượng danh Khi định nghĩa một từ hạ danh chúng ta có thể dùng một từ thượng danh (hay ý nghĩa của nó) để diễn đạt phần chung, theo cách nói của chúng
ta thì có thể dùng từ thượng danh để làm ngoại biểu cho nét nghĩa phạm trù chung cho các từ cùng một cấp loại J.Lyons cho rằng ý nghĩa của các từ hạ danh có thể xem là một sự định ngữ, tức là thêm định ngữ cho từ thượng danh
Ví dụ: Có thể định nghĩa áo là “đồ mặc cho nửa thân trên” và đồ mặc (y phục) là từ thượng danh, hoặc định nghĩa bò là “hoạt động dời chỗ bằng cách…”
Trang 1914
và như vậy, “dời chỗ” là từ thượng danh của bò, đi, chạy… Đặc điểm này, không đúng với các từ chỉ bộ phận chỉnh thể Không thể nói tường, mái, nhà là
nhà Không thể nói tay, chân là thân thể… mà chỉ có thể nói tường là một bộ
phận của nhà thường xây bằng gạch,… tay là bộ phận của thân thể từ vai đến
đầu ngón tay…
Và nếu dùng khái niệm “chuyển tiếp” (transitives) làm “thuốc thử” trong
“phản ứng” với quan hệ bộ phận - chỉnh thể và quan hệ cấp loại thì chúng ta
thấy kết quả của hai phản ứng này cũng không như nhau Quan hệ cấp loại là
quan hệ có tính chuyển tiếp Ví dụ: nếu rau là thượng danh đối với rau câu, rau
câ” là từ thượng danh với rau câu chạc thì rau cũng là từ thượng danh với rau câu chạc Đối với quan hệ bộ phận - chỉnh thể, các bộ phận trong quan hệ với
chỉnh thể có tính chất tôn ti, nghĩa là có những bậc phân chia giữa một đơn vị được xem là chỉnh thể với các bộ phận tạo nên chúng
Ví dụ: Người phân chia bậc thứ nhất thành: đầu, mình, tay, chân, rồi đầu lại phân chia thành các bộ phận: mắt, mũi, miệng, tai, rồi mắt lại phân chia thành: lông mày, lông mi, lòng đen, lòng trắng… Trật tự các bậc phân chia, tính phân chia trực tiếp hay cách bậc (người, đầu, là phân chia trực tiếp, người, mắt
là cách một bậc Người, mi là cách hai bậc), có ý nghĩa quan trọng trong việc
xác định tính chuyển tiếp của các từ có quan hệ bộ phận - chỉnh thể Về nguyên tắc bộ phận của một bộ phận thuộc chỉnh thể cũng là bộ phận của chỉnh thể đó
(mắt của mặt, mặt của đầu Do đó mắt là của đầu”; cánh cửa của cửa; cửa của
nhà cho nên cánh cửa là của nhà) Tuy vậy, sự cách bậc quá xa sẽ khiến cho
việc xác lập quan hệ bộ phận - chỉnh thể trở nên thiếu tự nhiên Ví dụ, ít khi
chúng ta nói: mi của thân thể (của người) [12, 212] Không phải vô cớ mà
J.Lyons khẳng định rằng các quan hệ từ vựng bộ phận - chỉnh thể là những quan
hệ không có chuyển tiếp (non - transitives) chứ không phải là chuyển tiếp
(transitives) và không chuyển tiếp (intransitives) Măng séc: tay áo, và tay áo:
áo đều là những cặp quan hệ bộ phận - chỉnh thể như vậy Trong ngôn ngữ
người ta thừa nhận cả ba câu sau và mối quan hệ ngữ nghĩa của chúng:
(24) Mấy cái tay áo này không có măng séc
(25) Những tay áo của cái áo này không có măng séc
Trang 2015
(26) Cái áo này không có măng séc
Nói chung, sự khác biệt giữa quan hệ cấp loại và quan hệ bộ phận - chỉnh
thể như chúng ta đã nói là tương đối rõ ràng nhưng trong trường hợp: cánh tay:
thân thể, bánh xe: xe đạp… tức là những trường hợp mà những từ đang xét là
những danh từ cụ thể, biểu thị sự vật rời (có thể đếm được) Tuy nhiên, cũng có những ý kiến cho rằng quan hệ bộ phận - chỉnh thể cũng áp dụng được vào những trường hợp từ đang xem xét là những từ không phải những danh từ cụ thể biểu thị sự vật rời Trong những trường hợp này, sự phân biệt giữa quan hệ cấp loại và quan hệ bộ phận - chỉnh thể khó mà nhận ra được
Theo J.Lyons trong ngôn ngữ có những từ có thể có thể được biểu thị bằng ngôn ngữ như một quan hệ cấp loại hoặc một quan hệ bộ phận - chỉnh thể Đó
không phải là những danh từ cụ thể biểu thị những sự vật rời, ví dụ như đầu,
mình, tay, chân… với cơ thể; măng séc, tay áo… với áo mà là những danh từ
trừu tượng không đếm được Chẳng hạn, người ta có thể nêu ra mệnh đề: X biết
khâu hàm chứa sự liên hợp các mệnh đề: X biết khâu đường viền, X biết khâu lược, X biết pick… Mỗi động từ của tập hợp đó (khâu đường viền, khâu lược, khâu picke) là một cấp loại của khâu, đồng thời cũng chỉ ra một hoạt động là bộ
phận mà hoạt động khâu chỉ ra Hay người ta có thể coi tính trung thực là một
thứ đạo đức và cũng có thể coi là một bộ phận của đạo đức
J.Lyons còn cho rằng, trong nội bộ quan hệ bộ phận - chỉnh thể còn có một kiểu khác mà chúng tôi gọi là quan hệ “thành viên - tập hợp” (thuật ngữ của Diệp Quang Ban) Có thể nói, quan hệ “thành viên - tập hợp” là một kiểu nhỏ nằm trong quan hệ bộ phận - chỉnh thể cơ sở để xếp quan hệ “thành viên - tập hợp” vào kiểu quan hệ bộ phận - chỉnh thể là trong quan hệ “tập hợp - thành viên”, các thành viên là những đơn vị cấu thành “tập hợp” cũng giống như trong các bộ phận là những yếu tố cấu thành chỉnh thể Tuy nhiên, các bộ phận trong quan hệ bộ phận - chỉnh thể là các bộ phận hữu cơ cấu thành chỉnh thể còn các thành viên là những đơn vị rời, tách biệt, hoàn chỉnh nhưng cũng cấu thành tập hợp Chính vì thế mà trong thực tiễn chúng ta có những biểu hiện ngữ pháp khác nhau Về vấn đề này, chúng tôi tán thành ý kiến rất sâu sắc của một trong những
Trang 2116
tác giả đầu tiên trong lĩnh vực có những đóng góp nghiên cứu, đồng thời cũng có nhiều kết luận sáng tỏ về phương diện cú pháp đối với phạm trù quan hệ bộ phận
- chỉnh thể và tập hợp - thành viên là tác giả Diệp Quang Ban
Tính sâu sắc trong ý kiến của tác giả thể hiện ở những căn cứ chứng tỏ có một sự khác biệt nho nhỏ giữa quan hệ “bộ phận - chỉnh thể” với “thành viên - tập hợp” trên cơ sở phân tích nguồn dữ liệu ở hai bình diện: kiến trúc chứa vị tố
- tĩnh trạng và kiến trúc chứa vị tố - hoạt động Cần khẳng định rằng sự khác biệt này không vì thế làm cho quan hệ “bộ phận - chỉnh thể” và quan hệ “thành viên
- tập hợp” phân biệt nhau mà chính nó là điều kiện để coi quan hệ “thành viên - tập hợp” như một tiều loại thuộc quan hệ “bộ phận - chỉnh thể” Để tìm hiểu vấn
đề này có thể trở lại với bài viết “Bổ ngữ chủ thể - một thuật ngữ cần thiết cho việc phân tích ngữ pháp tiếng Việt” (Diệp Quang Ban - Tạp chí Ngôn ngữ học -
số 4 - 1983)
Ở kiến trúc chứa vị tố - tĩnh trạng:
Ví dụ: Quân địch chết hai sĩ quan (27)
Rõ ràng người chết là hai sĩ quan - những thành viên trong tập hợp quân
địch chứ không phải là quân địch với tư cách là một tập hợp chứa sĩ quan và
binh lính Hai sĩ quan là chủ đề của chết Trong quan hệ bộ phận - chỉnh thể, đặc
trưng của bộ phận thường được lấy làm đặc trưng của chỉnh thể Trong quan hệ thành viên - tập hợp, mỗi thành viên là một đơn vị rời, hoàn chỉnh độc lập, đặc trưng của thành viên chỉ có chỉ có thể được dùng để miêu tả chính thành viên ấy
Do đó, không thể hiểu chết hai sĩ quan là vị ngữ của quân địch được Trong ví
dụ (27) vì chết thuộc về hai sĩ quan cho nên giữa quân địch với chết không còn
cơ sở nghĩa (nét nghĩa lặp “sự sống”) cho quan hệ chủ - vị trực tiếp (không có
từ chỉ quan hệ) như trong: Quân địch chết
Về thực chất, trong câu (27) Quân địch có quan hệ nghĩa với hai sĩ quan
theo kiểu thành viên - tập hợp Quan hệ này bộc lộ rõ trong các kiểu câu:
Ví dụ: Gà còn hai con (28)
Trong ví dụ (28) từ gà khi dùng không có danh từ - loại từ, con đứng trước thường có nghĩa chỉ giống gà nói chung, cho nên ý nghĩa tập hợp và thành viên
Trang 22Phần câu còn lại trong (27) và (28) là dạng câu đặc biệt giống như: Còn tiền
Vai trò bổ ngữ của Hai sĩ quan ở (27) và gà (28) đã được một số tác giả
thừa nhận Thuật ngữ bổ ngữ - chủ thể cũng thích hợp với chúng, vì cả ở đây các danh từ chỉ thành viên cũng có thể chuyển lên trước vị tố để làm thành câu có chủ ngữ - chủ thể
Dù cho trật tự giữa vị tố với các danh từ chỉ thành viên như thế nào, danh
từ chỉ tập hợp vẫn là đề ngữ của câu Về phía mình, vai trò chủ yếu của danh từ chỉ chỉnh thể cũng không lệ thuộc vào trật tự của vị tố và danh từ chỉ bộ phận
Ví dụ: Chị Lan yếu tim (31)
Cùng với câu này chúng ta còn gặp:
Chị Lan tim yếu (32)
Tại câu (31) đặc trưng của bộ phận cũng được lấy làm đặc trưng của chỉnh
thể (ở đây tim có được nhấn mạnh hơn) cho nên cách lí giải Chị Lan ở đây là chủ ngữ còn tim yếu là một kiến trúc chủ vị là vị ngữ như nhiều tác giả chủ
trương hiện nay là có thể chấp nhận được Sự khác biệt giữa quan hệ bộ phận - chỉnh thể với quan hệ thành viên - tập hợp sẽ được bộc lộ rõ hơn trong kiến trúc chứa vị tố - hoạt động:
Ở kiến trúc chứa vị tố - hoạt động:
Ví dụ: Quân địch lên 30 tên (33)
Trang 2318
Cũng như chết trong (31), lên thuộc về cụm từ 30 tên chứ không thuộc về
quân địch Quân địch chỉ có thể có quan hệ nghĩa trực tiếp với lên như là “người
sản xuất ra hoạt động”, khi không có 30 tên đứng sau lên Quan hệ nghĩa giữa quân
địch với 30 tên cũng là quan hệ thành viên - tập hợp như trong ví dụ (27) và (28)
Ở đây, có thể thấy rõ sự khác biệt giữa quan hệ bộ phận - chỉnh thể chứa vị
tố hoạt động với thành viên - tập hợp chứa vị tố hoạt động Nếu như trong ví dụ:
Chị Lan co chân như đã phân tích, động từ co có mang sắc thái ý nghĩa ngoại
động thì động từ lên trong (33) hoàn toàn không như vậy Do đó, không thể xếp
lên trong (33) làm nhóm động từ trung tính
Mặt khác, nếu trong Chị Lan co chân có thể phần nào hiểu Chị Lan là nguyên nhân của sự kiện co chân thì trong (33) không thể nào tìm được dấu vết
của nội dung ý nghĩa như vậy Hiện tượng này bắt nguồn từ chỗ vắng mặt hoàn
toàn sắc thái ý nghĩa tạo tác giữa Quân địch với lên do vậy không có cơ sở nghĩa
cho một quan hệ chủ - trực tiếp
Như vậy, phân tích ngữ pháp câu (33) theo cách phân tích các câu (27) và (28) là điều hoàn toàn có thể
Nói tóm lại, những kiến giải của tác giả Diệp Quang Ban đã cho thấy cơ sở
để khẳng định quan hệ thành viên - tập hợp là một tiểu loại trong quan hệ bộ phận - chỉnh thể
1.4.1.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể với quan hệ sở hữu
Trong “Nguyên lí ngữ nghĩa học” [25], J.Lyons đã dẫn ra ý kiến của hai tác giả Bierwisch, 1965 và Kiefer, 1966 trong việc khẳng định quan hệ bộ phận - chỉnh thể gắn với một lớp con riêng của kiến trúc sở hữu được thể hiện qua các ngữ đoạn và câu có liên hệ với nhau về mặt ngữ nghĩa (và có thể về mặt ngữ pháp nữa)
Nhiều ngôn ngữ (nhưng không phải là tiếng Anh) có một sự khác biệt giữa các cấu trúc sở hữu này với các ngữ đoạn và các câu kiểu như “John‟s book” (sách của John) và “John has book” (John có một quyển sách ) Đối với loại thứ nhất, người ta nói đến sở hữu bất khả li, đối với loại thứ hai người ta nói đến sở hữu khả li
Trang 24(34) Cái cây này có nhiều cành
Trong ví dụ, giữa cành và cây có quan hệ bộ phận - chỉnh thể Và quan hệ
này lấp dưới khuôn hình câu sở hữu trả lời cho câu hỏi “X có cái gì” hoặc “X thế nào” [6,67] Trong [1,45], tác giả còn khẳng định giữa quan hệ bộ phận - chỉnh thể, quan hệ sở hữu, quan hệ tồn tại định vị đều có nét chung Và lí thú hơn là trong tiếng Việt, tồn tại những câu trong đó thực sự tổng hòa ba kiểu quan hệ trên, và các kiểu chủ ngữ - chủ hữu, chủ ngữ - vị trí, chủ ngữ chỉnh thể một bên, bổ ngữ - vật sở thuộc, bổ ngữ - chủ thể, bổ ngữ - bộ phận một bên, cũng được hợp nhất lại trong ba yếu tố ngôn ngữ, khó tách chúng ra khỏi nhau
Đó là các trường hợp của ví dụ:
(35) Con bò này có hai cái sừng rất đẹp
Sự khái quát trên rõ rang là có cơ sở lí luận và thực tiễn, tuy nhiên việc phân chia chúng thành ba kiểu nhỏ vẫn là cần thiết (ở những bậc phân tích sâu hơn) và vẫn có cơ sở ngữ pháp Bởi vì, tuy có những điểm chung nhưng không phải lúc nào ba kiểu quan hệ này cũng đồng nhất trong cùng một yếu ngôn ngữ như ở ví dụ đã dẫn
Khi chủ ngữ - chủ hữu là đại từ nhân xưng thì khó biến nó thành một “trạng ngữ chỉ vị trí” bằng cách thêm giới từ vào trước Người Việt Nam thường nói:
(36) Tôi có quyển sách này
mà ít nói:
(37) Ở tôi có quyển sách này
Nếu dùng giới từ chỉ vị trí ở tôi thì câu này là tồn tại định vị chứ không
phải là câu có quan hệ sở hữu…
Ở câu có quan hệ bộ phận - chỉnh thể, khó chuyển danh từ chỉ chỉnh thể thành “trạng ngữ chỉ vị trí” bằng phép chuyển hóa thêm giới từ đi trước Và điều
Trang 2520
đáng chú ý là người Việt Nam thích nói theo lối chủ động hơn là lối nói dùng trạng ngữ đi trước Thường nói:
(38) Con bò có hai cái sừng rất đẹp
(39) Anh ấy có một bàn tay bị tật
mà không nói:
(40) Ở con bò có hai cái sừng rất đẹp
(41) Ở anh ấy có một bàn tay bị tật
Và trong khuôn hình câu sở hữu có vật sở thuộc là vật khả li kiểu như:
Ông ấy có một chiếc xe đạp thì quan hệ sở hữu không thuộc phạm trù quan
hệ bộ phận - chỉnh thể
Nói tóm lại, cũng giống như mối liên quan với quan hệ cấp loại, quan hệ
bộ phận - chỉnh thể có liên quan đến quan hệ sở hữu nhưng ở những mặt nhất định, quan hệ bộ phận - chỉnh thể cũng khác biệt với quan hệ sở hữu
1.4.2 Khái niệm và đặc trưng cơ bản của quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Từ cơ sở lí luận và thực tiễn như chúng ta đã phân tích và chứng minh ở trên, có thể phát biểu về quan hệ bộ phận và chỉnh thể như sau:
Như vậy, quan hệ bộ phận - chỉnh thể có những đặc trưng cơ bản sau:
1.4.2.2 Đặc trưng cơ bản của quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Trước hết phải khẳng định rằng, quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ ngữ nghĩa giữa các yếu tố được gọi là “bộ phận” và “chỉnh thể” Bởi vì hình thái của từ
Trang 26Quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ chỉ chỉnh thể
và từ chỉ bộ phận trong cấu trúc có chứa những từ này Có nhiều kiểu quan hệ
bộ phận - chỉnh thể khác nhau xét về mặt cấu trúc hình thức Đó là quan hệ bộ phận - chỉnh thể ở các phương diện: Từ vựng - ngữ nghĩa, cụm từ, cú pháp Nhưng nếu căn cứ vào giá trị ngữ nghĩa của từng yếu tố chỉ chỉnh thể và bộ phận thì quan hệ bộ phận - chỉnh thể lại có nhiều biến thái khác nhau Có khi quan hệ
bộ phận - chỉnh thể nổi rõ nhờ sự thể hiện của từ chỉ chỉnh thể và từ chỉ bộ phận
kiểu như tay áo và áo trong phát ngôn: Tay áo của Áo này rách rồi Cũng có trường hợp phát ngôn chứa từ chỉ tập hợp và từ chỉ thành viên của tập hợp như kiểu Quân địch và hai sĩ quan trong phát ngôn: Quân địch chết hai sĩ quan thì quan hệ thành viên - tập hợp giữa hai sĩ quan và quân địch vẫn được coi là một
dạng quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Trong quá trình giao tiếp, nội bộ ngôn ngữ thường xuyên diễn ra hiện tượng giao thoa, chuyển hóa lẫn nhau nên quan hệ bộ phận - chỉnh thể cũng có một số điểm giống với quan hệ cấp loại và quan hệ sở hữu
Những điều trình bày ở chương này là những cơ sở lí luận cơ bản nhất trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu về các chức năng ngữ nghĩa của các yếu
tố trong quan hệ bộ phận - chỉnh thể
Trang 2722
Chương 2 CÁC CHỨC NĂNG NGỮ NGHĨA CỦA CÁC YẾU TỐ TRONG
QUAN HỆ BỘ PHẬN - CHỈNH THỂ 2.1 Khái niệm vị tố và các tiêu chí cơ bản phân loại các sự thể
2.1.1 Khái niệm vị tố
Từ chỉ bộ phận và từ chỉ chỉnh thể trong một kiến trúc ngôn ngữ có quan
hệ với nhau thông qua một yếu tố thứ ba gọi là vị tố (Predicator - thuật ngữ dẫn Diệp Quang Ban) Vị tố là dấu hiệu chức năng cú pháp của câu trong quan hệ với chủ ngữ và bổ ngữ
Về phương diện nghĩa, vị tố nêu đặc trưng hoặc quan hệ giữa các vật thể tham gia vào sự việc được phản ánh trong câu Nói theo cách của ngữ pháp chức năng thì vị tố diễn đạt sự thể trong đó chủ ngữ, bổ ngữ diễn đạt các vật thể tham gia vào sự việc với tư cách các vai nghĩa Cụ thể hơn là ngữ nghĩa của vị tố quy định các từ nào đi với nó làm chủ ngữ, bổ ngữ (tân ngữ) hoặc làm trạng ngữ
Về phương diện từ loại, vị tố được biểu hiện bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau Nó có thể được biểu hiện bằng động từ, tính từ, từ chỉ quan hệ không độc lập, danh từ, và có khi là một kết cấu chủ - vị
Câu nói vốn biểu hiện nội dung của sự thể, nhưng câu không phải là những đơn vị sẵn có như từ Chính vì vậy mà trong những hoàn cảnh và mục đích giao tiếp khác nhau có thể sẽ dẫn đến sự thay đổi kết cấu câu, và dĩ nhiên vị tố hạt nhân trong những trường hợp ấy có thể sẽ không còn giữ nguyên nét nghĩa ban đầu của nó Thực tế giao tiếp đã cho thấy: mối liên hệ giữa vị tố hạt nhân với những yếu tố xung quanh nó trong cấu trúc, có khả năng bộc lộ rất nhiều nét nghĩa tiềm ẩn mà ở dạng cô lập các vị tố đó không
có điều kiện bộc lộ hết được…
Nhiệm vụ của đề tài không phải chủ yếu nghiên cứu khái niệm “vị tố” nhưng để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu chính là đi tìm hiểu các kiểu chức năng ngữ nghĩa giữa các yếu tố có quan hệ bộ phận - chỉnh thể, chúng tôi trước hết điểm qua những sự phân biệt có thật, nghĩa là những sự phân biệt cả về
Trang 2823
hai phương diện nội dung và hình thức giữa các tiểu loại vị tố, những sự phân biệt về nét nghĩa đi đôi với những thuộc tính cú pháp được thể hiện trong những quy tắc kết hợp có hiệu lực rõ rệt trong những ngữ đoạn vị tố
2.1.2 Những tiêu chí cơ bản phân loại các sự thể
Sự thể là vật, việc, hiện tượng được phản ánh trong câu Sự thể thuộc chức năng ngữ nghĩa biểu hiện của câu chứa vị tố Sự thể được hiểu như một tính trạng hay một sự kiện động, đó là “ý niệm về một cái gì đó có thể được nói tới xuất hiện,
có mặt hay hiện hành trong một thể giới nào đó” (Anna Siewierska -1991)
Sự phân biệt cơ bản giữa các sự thể được thực hiện trên hai đặc trưng có
[+] và không [-] giữa hai chiều của sự đối lập về tính [± ĐỘNG] và [± CHỦ
ĐỘNG] (xem S.C DIK, 1978, Funtional Grammar, Dordrecht Publication) Đó một mặt là sự phân biệt giữa những sự thể [ĐỘNG], tức là những “biến cố”, những sự thay đổi có thể “xảy ra” “diễn ra” với những sự thể [TĨNH] tức những tình thế, trạng thái, những tính chất có thể kéo dài nghĩa là tồn tại ở các sự vật trong một thời gian được tri giác là có chiều dài Và mặt khác, là sự phân biệt giữa những sự thể diễn ra hay tồn tại do sự chủ động, có sự tự điều khiển của một (những) con người hay động vật với những sự tình không do sự chủ động mà ra
Cách phân loại trên đây của DIK, một trong những cách phân loại được coi
là có hiệu lực cho mọi ngôn ngữ, cho ta các loại sự thể sau đây và các loại vị tố tương ứng
Trang 2924
Ở đây, cũng cần quy ước rõ thuộc tính [+ CHỦ ĐỘNG] mà chúng tôi sử dụng là một phạm trù bao hàm cả chủ ý chứ không phải đồng nhất Cho nên, nếu như chủ ý có thể chỉ gắn với con người thì [+ CHỦ ĐỘNG] có thể gắn với người và động vật Nói cách khác tính [+ CHỦ ĐỘNG] trong ngữ pháp chức năng luôn luôn đòi hỏi phải gắn với chủ thể có tri giác
Ứng dụng cho tiếng Việt, chúng ta thấy cũng có sư phân biệt rất rõ trên bình diện ngữ nghĩa cũng như trên bình diện ngữ pháp giữa các từ trên các chiều
đã nói, trong đó sự khác biệt giữa tính [ĐỘNG] và tính [TĨNH] được đánh dấu
rõ nét nhất Điều này biện minh cho sự phân chia giữa “động tự” và “tĩnh tự” bắt nguồn từ ngữ văn học Trung Quốc, với điều kiện là sự phân chia này được thực hiện theo đúng nghĩa của hai chữ “động” và “tĩnh”
Khi so sánh một hành động hay một tư thế với một trạng thái hay một quá trình chúng ta nhận ra ngay một thực tế hiển nhiên là chỉ có những sự thể nào chứa chủ thể toan tính làm một việc gì thì hoạt động đó mới có tính [+ CHỦ ĐỘNG] Ngược lại, một quá trình hay một trạng thái, tức những sự thể [- CHỦ ĐỘNG] thì khó có sự tham gia điều khiển của chủ thể, vì rằng nét đặc trưng của một trạng thái là “lâm vào” hoặc “chịu đựng” một tình trạng nào đó
Từ những điều đã trình bày trên, việc tìm hiểu chức năng ngữ nghĩa của các yếu tố có quan hệ bộ phận - chỉnh thể cần phải xác định được chúng có quan thế ở
“bộ phận” hay không, hay “chỉnh thể” chỉ là yếu tố khách quan, không chủ động
ở quá trình, trạng thái mà “bộ phận” thể hiện Do đó, ở mục tiếp theo, chúng tôi sẽ tìm hiểu các chức năng ngữ nghĩa giữa các yếu tố có quan hệ bộ phận - chỉnh thể dựa theo hai chiều của sự đối lập về tính [± ĐỘNG] và [± CHỦ ĐỘNG]
2.2 Các chức năng ngữ nghĩa của các yếu tố có quan hệ bộ phận - chỉnh thể
2.2.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong các kiến trúc chứa vị tố - tính tĩnh
Nói chung trong các kiến trúc chứa vị tố - tính tĩnh, chỉnh thể có thể được
mô tả thông qua bộ phận, đặc trưng của bộ phận cũng được lấy làm đặc trưng của chỉnh thể Tuy nhiên, những biểu hiện của các đặc trưng này là hết sức đa dạng Có lúc, trạng thái, tính chất của bộ phận là những sự thể hiện của các đặc
trưng sinh lí học (to, nhỏ, yếu, khỏe…) tâm lí học (vui, buồn, chán…) một cách tự
Trang 3025
nhiên, tức là không có sự điều khiển của chỉnh thể Nhưng lại có khi, đặc trưng tư thế
không phải tự nhiên mà là do chủ ý của chỉnh thể như: (quỳ, dạng, thừ…)
Những vị tố này đã ảnh hưởng trực tiếp đến cả yếu tố chỉ chỉnh thể và yếu tố chỉ bộ phận trong một kiến trúc ngôn ngữ Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu quan hệ
bộ phận - chỉnh thể trong các kiến trúc chứa vị tố loại này
2.2.1.1 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong sự thể “tư thế”
Theo bảng định lại của DIK, một sự thể không động [- ĐỘNG] mà chủ động [+ CHỦ ĐỘNG] là một tư thế
Trong sự thể “tư thế”, quan hệ bộ phận - chỉnh thể là quan hệ nêu đặc trưng giữa bộ phận - yếu tố nêu đặc trưng, chỉnh thể - chủ thế của đặc trưng và cũng chủ động tạo nên đặc trưng mà bộ phận nêu ra Có hai kiểu nhỏ cấu trúc ngữ pháp khác nhau trong sự thể tư thế: chỉnh thể đóng vai trò chủ ngữ, bộ phận đóng vai trò bổ ngữ và bộ phận (yếu tố phụ chỉ chỉnh thể ) đóng vai trò chủ ngữ
a Chủ ngữ (chỉnh thể) - vị tố - bộ phận (bổ ngữ)
Đây là kiểu cấu trúc thường gặp nhất trong sự thể tư thế
Ví dụ:
(1) Người đàn bà nhướng đôi mày mờ nhạt như khói bếp nhìn chồng [30, 32]
Tư thế nhướng của đôi mày không phải là tư thế tự nhiên vốn có của bộ phận đôi mày ấy Nguyên nhân gây ra tư thế này là chủ thể cũng là chỉnh thể
Người đàn bà (vợ Qúy) chứ không phải là bộ phận đôi mày Ở đây, bộ phận
không đóng vai trò khách quan mà là đối tượng trực tiếp của tư thế do chủ thể chủ động tác động tới
Ví dụ:
(2) Chị cứ cúi cổ chạy, như thể nếu quay đầu lại nhìn một thoáng thì không
thể nào trở lại đầm phá được nữa [30, 436]
Tư thế cúi của cổ không phải là tư thế tự nhiên vốn có của bộ phận cổ ấy Nguyên nhân gây ra tư thế này là chủ thể cũng là chỉnh thể chị chứ không phải
là bộ phận cổ Trong ví dụ này, bộ phận không đóng vai trò khách quan mà đối
tượng trực tiếp của tư thế do chủ thể chủ động tác động tới
Trang 3126
Một số ví dụ khác:
(3) Huy tái mặt, trừng mắt nhìn tôi [30, 10]
(4) Một vật ngáng làm chị bổ ngửa người ra sau, suýt nữa thì hất cả đứa
con gái xuống đất [30, 405]
(5) Ông vớ lấy chai rượu cúng, ngửa cổ dốc ừng ực [30, 418]
(6) Toàn nghiêm mặt nhìn người vừa nói [27, 441]
(7) Chị ngẩn người, nghe có cái gì chẹn ngang cổ họng, cứ nghẹn ngào
nhìn chăn chắm vào bà già mà không nói được câu nào [30, 408]
b Chủ ngữ (bộ phận + yếu tố phụ chỉ chỉnh thể) - vị tố
Ví dụ:
(8) Vẻ mặt anh xót xa, bồi hồi [30, 47]
Xót xa, bồi hồi là tư thế tâm lí được thể hiện bằng tư thế sinh lí của nét mặt
Cái sự xót xa, bồi hồi kia phải là do chỉnh thể anh chủ động tạo ra thì người kể
chuyện (tác giả Dương Thu Hương) mới nhận thấy được qua nét mặt Và bộ mặt
xót xa, bồi hồi chắc chắn phải có những nét khác biệt với bộ mặt ở tư thế bình
thường bởi vì nếu không như vậy, không có nét khác biệt ấy, thì không ai có thể nhận biết được bộ mặt người này lộ vẻ buồn, bộ mặt người kia có nét vui Hơn nữa, một người vẫn có thể chủ động tạo ra những tư thế buồn, vui khác nhau của
bộ mặt tùy vào từng hoàn cảnh, không khí giao tiếp Về điều này, các diễn viên trên sân khấu là những người thể hiện tốt nhất
Chúng ta có thể thấy rõ hơn điều này khi xem xét một ví dụ khác sau đây:
(9) Nhưng tôi không nghe cả tiếng chửi lẫn nhìn bộ mặt hằm hằm của anh
ta [30, 20]
Cũng như xót xa, bồi hồi thì hằm hằm là tư thế tâm lí - thể hiện sự bực tức cao độ, được thể hiện bằng tư thế sinh lí của nét mặt Và bộ mặt hằm hằm chắc
chắn cũng phải khác với bộ mặt ở tư thế bình thường Một điều chắc chắn nữa là
sự hằm hằm kia không phải tự nhiên mà có được mà phải do chỉnh thể anh ta chủ động tạo ra thì tác giả mới nhận thấy được chỉnh thể anh ta đang bực tức và điều ấy được thể hiện qua tư thế hằm hằm của nét mặt
Trang 3227
2.2.1.2 Quan hệ bộ phận - chỉnh thể trong sự thể “trạng thái”
Trong bảng phân loại của DIK, số lượng các yếu tố ngôn ngữ có thể làm vị
tố hạt nhân cho sự thể “trạng thái” tương đối nhiều - nhiều hơn so với số lượng các yếu tố ngôn ngữ có thể sử dụng làm vị tố hạt nhân nhằm diễn đạt nội dung
sự thể tư thế
Ở sự thể “trạng thái” chỉnh thể được mô tả thông qua bộ phận nhưng chỉnh
thể không chủ động gây ra trạng thái mà bộ phận thể hiện
Cũng giống như sự thể tư thế, sự thể “trạng thái” cũng có hai cấu trúc ngữ pháp khác nhau Đó là chỉnh thể đóng vai trò chủ ngữ, bộ phận đóng vai trò bổ ngữ và bộ phận (yếu tố phụ chỉ chỉnh thể) đóng vai trò chủ ngữ
a Chủ ngữ (chỉnh thể) - vị tố - bộ phận (bổ ngữ)
Ví dụ:
(10) Bà cụ cầm chiếc chổi ngẩng lên, từ từ hướng cặp mắt trắng đục về
phía tôi [26, 36]
Ở ví dụ này, “trắng đục” là yếu tố chỉ trạng thái của mắt cả tổ hợp cặp mắt
trắng đục được dùng làm đặc trưng cho Bà cụ, tức là một trạng thái nào đó (trắng đục) của một bộ phận (mắt) được dùng làm đặc trưng cho chỉnh thể Bà
cụ Như vậy, chỉnh thể được mô tả thông qua bộ phận Về mặt ngữ pháp cặp mắt
có tư cách của một bổ ngữ, về mặt ngữ nghĩa cặp mắt là một bộ phận của Bà cụ, cho nên có thể hiểu trắng đục cũng có liên hệ nghĩa một cách trực tiếp với Bà
cụ Do đó, có thể gọi cặp mắt (trắng đục) là bổ ngữ - bộ phận, đồng thời là một
kiến trúc chủ - vị bổ sung ý nghĩa cho Bà cụ - chủ ngữ - chỉnh thể
Ví dụ:
(11) Huy tái mặt, trừng mắt nhìn tôi [30, 10]
Cũng như ở ví dụ 1, tái mặt là yếu tố chỉ trạng thái của Huy và trừng là yếu tố chỉ trạng thái của mắt Hai tổ hợp tái mặt và trừng mắt được dùng làm đặc trưng cho Huy Như vậy, chỉnh thể được mô tả thông qua bộ phận
Khi trạng thái mà bộ phận biểu hiện là những sự thể hiện của các đặc tính sinh lí học hay tâm lí học thì trạng thái ấy cũng là trạng thái tự nhiên, không có
sự can thiệp, sự “chủ động” của chỉnh thể gây ra
Trang 33như kiểu: mắt “to”, “đen”… mặt “nhỏ”, “gầy”, “tròn”… Nó không bổ sung ý
nghĩa về mặt tính chất cho danh từ bộ phận mà có tác dụng chỉ chỉnh thể chủ hữu bộ phận ấy Tuy kiến trúc cú pháp có sự thay đổi về mặt hình thức nhưng về mặt nội dung thì đặc trưng mà bộ phận nêu lên vẫn là đặc trưng của chỉnh thể chứa bộ phận ấy
b Chủ ngữ (bộ phận + yếu tố phụ chỉ chỉnh thể) - vị tố
Ví dụ:
(16) Cổ họng tôi nghẹn lại [30, 52]
Ở ví dụ này, đặc trưng nghẹn của bộ phận cổ họng không phải do chủ thể
tôi (Thía) gây ra Nó là một hiện tượng sinh lí tự nhiên mà chỉnh thể tôi (Thía)
không kiểm soát được… Đặc trưng nghẹn của bộ phận cổ họng được lấy làm đặc trưng cho chỉnh thể tôi (Thía)
Ví dụ:
(17) Lòng cô gái chợt bừng lên một cảm giác khó tả, bâng khuâng, buồn
nhớ, thương tiếc [30, 422]
Chúng ta thấy, rõ ràng tính chất bâng khuâng, buồn nhớ, thương tiếc mà
lòng biểu thị không phải có nguyên nhân từ cô gái (Đào) Thực ra bâng khuâng, buồn nhớ, thương tiếc là các tính từ trừu tượng, những hiện tượng tâm lí trong