1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

hành động xin lỗi và cảm ơn trong giao tiếp tiếng mường

64 1,9K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 824,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó cũng có khoá luận nghiên cứu về tiếng Mường như “Cách thức xưng hô trong giao tiếp tiếng Mường” của Đinh Thị Hương hay “Lời chào và lời mời trong giao tiếp tiếng Mường” củ

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 3

L ỜI CẢM ƠN !

Khóa luận được hoàn thành với sự hướng dẫn khoa học, sự chỉ bảo tận tình của TS Vũ Tiến Dũng, sự quan tâm của Phòng Đào tạo Đại học, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ Văn, thư viện nhà trường, các thầy cô bộ môn tiếng Việt và các bạn sinh viên K51 Đại học Sư phạm Ngữ văn

Nhân dịp khóa luận được công bố, em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ của các thầy cô Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Vũ Tiến Dũng, người thầy đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình thực hiện khóa luận này

Tác giả

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3

3 Mục đích của khoá luận 4

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 5

6 Những đóng góp của khoá luận 6

7 Cấu trúc của khoá luận 7

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 8

1.1 Lí thuyết về hành động ngôn ngôn ngữ 8

1.1.1 Lí thuyết Hành động ngôn ngữ của Austin 8

1.1.2 Lí thuyết về Hành động ngôn ngữ của Searle 12

1.1.3 Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi 13

1.1.4 Động từ ngữ vi 13

1.2 Lí thuyết hội thoại 14

1.2.1 Khái niệm cuộc thoại 14

1.2.2 Những đặc điểm khái quát về cuộc thoại 14

1.3 Lí thuyết lịch sự 19

1.3.1 Quan điểm về lịch sự của R.Lakoff 19

1.3.2 Quan điểm về lịch sự của Leech 21

1.3.3 Quan điểm về lịch sự của Brown và Levinson 23

1.4 Hành động xin lỗi, cảm ơn trong giao tiếp tiếng Việt 25

1.4.1 Khái niệm xin lỗi và cảm ơn 25

1.4.2 Một số cách thức xin lỗi và cảm ơn trong tiếng Việt 26

1.5 Lời xin lỗi, cảm ơn gắn với lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 33

CHƯƠNG 2: HÀNH ĐỘNG XIN LỖI TRONG GIAO TIẾP TIẾNG MƯỜNG 35

Trang 5

2.1 Khái quát chung 35

2.1.1 Sơ lược về dân tộc Mường 35

2.1.2 Vài nét về văn hóa ứng xử 37

2.2 Hành động xin lỗi trong giao tiếp tiếng Mường 39

2.2.1 Giới thiệu chung về xin lỗi trong văn hóa Mường 39

2.2.2 Hành động xin lỗi trong giao tiếp tiếng Mường 40

2.3 Hành động cảm ơn trong giao tiếp tiếng Mường 45

2.3.1 Giới thiệu về cảm ơn trong văn hóa Mường 45

2.3.2 Hành động cảm ơn trong giao tiếp tiếng Mường 47

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 55

KẾT LUẬN 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 59

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) của các dân tộc là sự thể hiện trình độ phát triển văn hoá và tư duy của từng dân tộc Ngôn ngữ đã tích tụ, lưu giữ quá khứ, lịch sử, truyền thống dân tộc phản ánh quan niệm về vũ trụ, cái nhìn về cuộc sống và tương lai mà từng dân tộc đã đúc kết và xây dựng nên

Việt Nam là một đất nước đa dân tộc, 54 dân tộc anh em Mỗi dân tộc lại

có những nét riêng về phong tục, tập quán cũng như ngôn ngữ làm nên một nền văn hoá Việt Nam đa dạng, đặc sắc

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, tạo điều kiện cho ngôn ngữ các dân tộc phát triển Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi rõ:

-“Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm Hành động chia rẽ dân tộc các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết để giữ gìn và phát huy những phong tục tập quán, truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triến về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số” (Điều 5)

Quyết định của hội đồng chính phủ về chủ trương đối với chữ viết các dân tộc thiểu số, số 53 CP ngày 22/02/1980 viết:

- “Tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước”

Trong những năm gần đây, cùng với quá trình hội nhập kinh tế, việc giao thoa, tiếp cận các tiếng nói của dân tộc anh em khác đã và đang diễn ra Khi một quốc gia, dân tộc trở nên lớn mạnh, sự phát triển này sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng đến các dân tộc khác hay các nước khác trong khu vực Ngôn ngữ của dân tộc, quốc gia đó sẽ trở thành “công cụ” cần thiết để thu hút sự tiếp thu nhằm giao thương, học hỏi với những người dân bản địa Cùng với đó, việc học ngôn ngữ

Trang 7

để giao tiếp, giao thương là nhu cầu thiết yếu, dần dần dẫn đến tình trạng một số ngôn ngữ có thể mất đi

Theo viện nghiên cứu chủng học và lịch sử Mexico, tên thế giới tồn tại khoảng 6.700 loại ngôn ngữ khác nhau và dự đoán rằng cứ hai tuần thì thế giới này mất đi một ngôn ngữ Và đến khoảng cuối thế kỉ XXI, theo ước tính có đến 50% ngôn ngữ trên trái đất có thể biến mất Khi một ngôn ngữ biến mất thì kiến thức này sẽ mất theo và đồng nghĩa với việc một phần lịch sử văn hoá của nhân loại bị xoá sổ và nền văn hoá chung của thế giới bị “nghèo đi”

Cũng nằm trong khuynh hướng đó, tiếng Mường trong những năm gần đây được sử dụng ngày càng ít Tiến sĩ Nguyễn Thị Hồng, học viện Báo chí và tuyên truyền cho biết việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc được đánh giá trên ba tiêu chí: giảng dạy trong trường học, sử dụng trong gia đình và sử dụng trong sinh hoạt cộng đồng

Với tiếng Mường, việc đưa vào giảng dạy trong nhà trường khá khó khăn bởi ngôn ngữ Mường được chuyển tải bằng tiếng nói, không có chữ viết Hiện nay chủ yếu dược ghi chép lại theo lối phát âm hàng ngày mà việc phát âm của mỗi nơi lại khác nhau Việc sử dụng tiếng Mường trong sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng người Mường vẫn diễn ra thường xuyên nhưng hiện nay trong những gia đình bước sang thế hệ thứ ba đã có hiện tượng không biết hoặc chỉ

có thể nghe mà không nói được tiếng Mường Ở một số xã của huyện Lương Sơn - Hòa Bình, ngôn ngữ sinh hoạt cộng đồng người Mường đã sử dụng tiếng Kinh là chủ yếu

Xin lỗi và cảm ơn là một biểu hiện của giao tiếp có văn hoá Nghiên cứu về xin lỗi và cảm ơn trong tiếng Việt và các ngôn ngữ dân tộc khác đã có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Nhưng nghiên cứu về xin lỗi và cảm ơn trong tiếng Mường còn là vấn đề ít được quan tâm

Trang 8

bảo tồn sự sống còn của của ngôn ngữ dân tộc mình Nghị quyết Trung ương V của Đảng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hoá là:

“Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”

Bảo vệ và duy trì ngôn ngữ mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc Việc bảo tồn ngôn ngữ trở thành một trách nhiệm to lớn của thế hệ trẻ ngày nay Bảo vệ sự đa dạng ngôn ngữ quan trọng chẳng kém gì bảo vệ nguồn gen để tạo nên sự đa dạng sinh học Mất đi sự đa dạng ngôn ngữ cũng đồng nghĩa với việc mất đi sự

Tiếng Mường là cách thức phân biệt có hiệu quả nhất dân tộc Mường với

các dân tộc khác Từ xa xưa, tiếng nói dân tộc đã gắn liền với tư tưởng, tình cảm của mỗi người

Hiện nay, do ảnh hưởng của chính sách phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, cũng có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Mường như : Nguyễn Văn Tài thuộc Viện ngôn ngữ học Hà Nội, năm 1982 đã bảo vệ luận án phó tiến

sĩ Ngữ âm tiếng Mường qua các phương ngôn Phụ lục II của luận án là bảng Từ

vựng tiếng Mường (so sánh gần 1000 từ ở 30 thổ ngữ) Đó là một nguồn tư liệu

rất quý Các nhà ngôn ngữ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô năm 1979 có gửi một phái đoàn qua Việt Nam đi điền dã và kết quả là đã xuất bản một chuyên luận về tiếng Mường khá chi tiết (Moscow, 1987) Hoa Kỳ có hai chuyên viên tiếng Mường là Milton và MurielBarker ngoài việc đăng mấy bài

tham luận về phụ âm đầu (1963) và cuối (1964) của Proto – Vietnammuong, còn

có soạn một tập từ vựng song ngữ Mường – Anh, tiếng Mường ở đây chủ yếu là người Mường Khến do các tác giả ghi lại từ các người Mường tỉnh Hoà Bình

Trang 9

định cư ở Cao nguyên Trung phần năm 1954 L.Thompson, tác giả cuốn “Văn

phạm tiếng Việt” (A vietnamese Grammar, 1965) nổi tiếng có thông báo bài

nghiên cứu Ngữ âm Proto-Viet-Muong (1971) Bên cạnh đó cũng có khoá luận

nghiên cứu về tiếng Mường như “Cách thức xưng hô trong giao tiếp tiếng

Mường” của Đinh Thị Hương hay “Lời chào và lời mời trong giao tiếp tiếng

Mường” của Bùi Thị Hồng Duyên đều là khoá luận tốt nghiệp, nghành Ngữ văn,

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các hành động xin lỗi, cảm ơn

xuất hiện trong giao tiếp hàng ngày của người dân tộc Mường mà người viết có

thể khảo sát, thu thập, nhận biết được

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi mà khoá luận nghiên cứu, khảo sát là khu vực tỉnh Hoà Bình, địa

bàn cư trú, sinh sống chủ yếu, cái nôi của nền văn hoá Mường

Trang 10

người dân tộc Kinh Đăc biệt là giao tiếp của người Mường ở huyện Lạc Sơn – Hoà Bình

Khu vực người Mường sinh sống ở các làng, xóm gần sát với khu vực thị trấn, thành phố

Khu vực người Mường sinh sống, giao tiếp với cư dân người Kinh

Phạm vi nghiên cứu này vừa khái quát, vừa cụ thể - để từ đó phần nào rút

ra được một số kết luận sơ bộ về cách thức xin lỗi và cảm ơn trong giao tiếp tiếng Mường và qua đó cho thấy quy luật ngôn ngữ giao tiếp của con người nói chung, của đồng bào Mường nói riêng

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

5.1 Phương pháp nghiên cứu

5.1.1 Phương pháp điều tra

Đây là phương pháp tìm hỏi, xem xét để biết rõ sự thật Phương pháp này được tiến hành bằng cách: quan sát, nghe, ghi chép lại Phương pháp điều tra này được dùng để thu thập ngữ liệu trong giao tiếp

5.1.2 Phương pháp khảo sát thống kê

Phương pháp khảo sát dùng để tiến hành khảo sát ngữ liệu, ngữ liệu có liên quan đến khóa luận, sau đó khóa luận thu thập lại toàn bộ nội dung đã khảo sát

Phương pháp này giúp ta sử dụng được nhiều nguồn nguyên liệu một cách

có hiệu quả và biết được vấn đề nào đầy đủ hay còn thiếu sót để bổ sung và chỉnh sửa cho hoàn chỉnh

5.1.3 Phương pháp miêu tả, phân tích

Sau khi khảo sát, thống kê được nguồn ngữ liệu, phương pháp miêu tả sẽ giúp miêu tả đúng đối tượng

Trang 11

Tiếp đó phương pháp phân tích để hiểu rõ, hiểu đầy đủ, cụ thể và chi tết nhất về đối tượng cần tìm hiểu

5.1.4 Phương pháp hệ thống

Phương pháp hệ thống giúp ta kiểm tra toàn bộ những nội dung đã tiến hành điều tra, khảo sát, thống kê nhằm kiểm soát chính xác những nội dung miêu tả, phân tích đạt được, căn cứ vào đó để chỉnh sửa, bổ sung nếu cần, giúp tránh được những kết luận thếu nhất quán

5.1.5 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Phương pháp so sánh đối chiếu được sử dụng để làm nổi bật cách thức xin lỗi, cảm ơn của tiếng Mường với các ngôn ngữ dân tộc khác để đối chiếu, so sánh

5.1.6 Phương pháp quy nạp

Đây là phương pháp giúp khoá luận tổng hợp tất cả những nội dung đã thực hiện ở trên, rồi khái quát lại giúp cho những kết luận có căn cứ khách quan, khoa học

Xét thấy những phương pháp trên phù hợp với khoá luận này, chúng tôi

đã lựa chọn và sử dụng Tuỳ thuộc vào nội dung nghiên cứu cụ thể ở từng chương, chúng tôi sử dụng có thể một hoặc một vài phương pháp cho phù hợp với từng nhiệm vụ và yêu cầu đề ra Trong đo phương pháp nghiên cứu chủ đạo

là phương pháp quy nạp

5.2 nguồn ngữ liệu

Do ngôn ngữ Mường không có chữ viết nên khoá luận được thực hiện trên nguồn ngữ liệu chủ yếu là ngôn ngữ nói mà chúng tôi ghi chép lại những cuộc hội thoại trong hoạt động giao tiếp của đồng bào người Mường

6 Những đóng góp của khoá luận

6.1 Đóng góp về mặt lí luận

Trang 12

xử trong giao tiếp của người dân tộc Mường ở Hoà Bình

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Với việc nghiên cứu hành động xin lỗi, cảm ơn trong giao tiếp tiếng Mường, khoá luận sẽ góp một tiếng nói nhỏ vào việc tìm hiểu văn hoá ứng xử của người Mường Đặc biệt giáo dục thế hệ trẻ ứng xử có văn hoá trong giao tiếp như

cha ông ta đã nói Chẳng được miếng thịt miếng xôi – Cũng được lời nói cho

nguôi tấm lòng (ca dao) hay Lời nói chẳng mất tiền mua – lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau (ca dao) Biết cách xin lỗi, cảm ơn đúng lúc, đúng chỗ, phù hợp với

hoàn cảnh giao tiếp nhằm khẳng định những nét đẹp của văn hoá ngôn ngữ Mường

7 Cấu trúc của khoá luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, và tài liệu tham khảo, khóa luận có cấu

trúc gồm 2 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 2: Hành động xin lỗi và cảm ơn trong giao tiếp tiếng Mường

Trang 13

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Lí thuyết về hành động ngôn ngôn ngữ

Hành động (hay còn gọi là hành vi) đó là toàn bộ nói chung các phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể xác định [1]

Trong cuộc sống hàng ngày, dưới sự điều khiển tư duy, con người có hai

hoạt động dễ thấy là nói (Speak) và làm (Do) Thông thường, người ta hay đối

lập giữa nói và làm (nói một đằng làm một nẻo), thậm chí người Việt còn quan niệm giữa nói và làm là hai phạm trù khác hẳn nhau Tuy nhiên làm là một phạm trù thực tế còn nói chỉ dùng ngôn ngữ để biểu hiện diễn tả thông báo cái gì đó Nhưng thực tế cũng xác định rằng nói cũng là một hành động (Act) Hành động bằng lời nói cũng là một phần, một dạng trong toàn bộ các hoạt động sống của con người Nghiên cứu về hành động ngôn ngữ cũng có nhiều công trình khác nhau và đã có những kết luận quan trọng

1.1.1 Lí thuyết Hành động ngôn ngữ của Austin

Người xây dựng nền móng cho hành động ngôn ngữ là nhà triết học người Anh J.L.Austin Năm 1955, tại Trường Đại học Harvard, Austin đã trình bày mười hai chuyên đề trong đó có chuyên đề trình bày về lí thuyết hành động ngôn ngữ Những chuyên đề này được tập hợp và xuất bản năm 1962 để kỉ niệm hai

năm ngày mất của ông và cuốn sách có tiêu đề là: How to do thing with words

(người ta hành động như thế nào bằng lời nói) Austin nhận thấy rằng đối tượng

nghiên cứu cơ bản của ngôn ngữ học là những câu khảo nghiệm (khẳng định, trần thuật, xác tín và miêu tả) Những câu này về mặt ngữ nghĩa đều có thể đánh giá đúng sai theo tiêu chuẩn logic Nhưng còn những phát ngôn khác không thể

đánh giá theo tiêu chuẩn đúng sai của logic Ví dụ như những câu sau: Mấy giờ

rồi nhỉ ? hay Trời ơi! Tôi mệt quá! Austin cho rằng đấy là những phát ngôn

Trang 14

những báo cáo về hiện thực mà nhằm làm một việc gì đó như hỏi hay bộc lộ cảm xúc J.L.Austin gọi đó là những phát ngôn ngôn hành Phát ngôn ngôn hành là những phát ngôn mà khi chúng ta nói thì đồng thời thực hiện một hành động

được biểu thị trong phát ngôn như khi chúng ta nói Mấy giờ rồi nhỉ? Nhờ phân

biệt phát ngôn khảo nghiệm và phát ngôn ngôn hành mà Austin đã phát hiện ra bản chất hành động của ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ (hay hành vi ngôn ngữ) được thực hiện trong ngữ cảnh C, người nói (hoặc viết) Sp1 nói ra một phát ngôn U cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2

SP1 U SP2

Khi chúng ta nói năng tức là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một loạt hành động mà phương tiện là ngôn ngữ Ví dụ, khi chúng ta chào tức là chúng ta thực hiện hành động chào; khi chúng ta cảm ơn, sai khiến hoặc chúng

ta xin lỗi ai đó là chúng ta đã thực hiện hành động cảm ơn, sai khiến hoặc xin lỗi Như vậy nói là hành động bằng ngôn ngữ khi nói Austin cho rằng có ba hành động ngôn ngữ, đó là:

- Hành động tại lời (Illocutionary act)

- Hành động tạo lời (Locutionary act)

- Hành động mượn lời (Perlocutionary act)

a) Hành động tại lời

Hành động tại lời là những hành động người nói thực hiện ngay khi nói

năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc về ngôn ngữ Có nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng đối với người nhận Chẳng hạn, khi chúng ta sai khiến một ai đó một việc gì thì ngoài giao tiếp, chúng ta còn yêu cầu họ thực hiện một việc gì đó

Trang 15

Đặc điểm của hành động tại lời là có ý định (có đích tại lời), có tính quy ước và tính thể chế Mặc dù tính quy ước và tính thể chế là không hiển ngôn mà quy tắc vận dụng chúng được mọi người trong cộng đồng tuân theo một cách không tự giác Chẳng hạn đối với người Việt thì hành động hỏi ngoài mục đích

để hỏi còn nhằm thể hiện sự quan tâm, mời mọc hay chào hỏi ví dụ:

(1) - Anh khỏe chứ? (quan tâm)

(2) - Em có đi ăn với anh được không? (mời mọc)

(3) - Chị đi đâu đấy ạ? (chào hỏi)

Nắm được một ngôn ngữ không chỉ nắm được ngữ nghĩa, âm, từ, câu của ngôn ngữ đó mà còn phải nắm được nguyên tắc điều khiển hành động tại lời của ngôn ngữ đó sao cho đúng lúc, đúng chỗ, thích hợp với ngữ cảnh và thích hợp với đối tượng giao tiếp

Chẳng hạn, đối với người Việt Nam nói riêng và người phương Đông nói chung, việc hỏi han về tuổi tác, tình trạng hôn nhân được coi là lịch sự, thể hiện sự quan tâm với người được hỏi Tuy nhiên, đối với người phương Tây thì việc đó bị coi là không lịch sự, quan tâm thái quá đến đời tư của người khác Các hành động mượn lời đem lại cho phát ngôn những hiệu lực nhất định Người Việt Nam ý thức một cách cụ thể bằng sinh mệnh của mình ở hiệu lực

của phát ngôn qua thành ngữ Lời nói đọi máu Nhưng cũng ý thức được điều tốt đẹp, quý giá của phát ngôn qua thành ngữ Lời nói gói vàng Hiệu lực của mượn

lời không phải đối tượng của ngữ dụng Ngữ dụng học chỉ quan tâm tới hiệu lực tại lời Các phát ngôn là những sản phẩm và cũng là phương tiện của hành động tại lời

b) Hành động tạo lời

Đây là hành động sử dụng các yếu tố ngôn ngữ như: ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu đển tạo ra một phát ngôn có tính trọn vẹn tương đối về

Trang 16

(4) Anh có khỏe không?

Người nói đã sử dụng các từ: Anh, có, khỏe, không và các quy tắc đặt câu

của tiêng Việt như: chủ ngữ đặt trước vị ngữ kết hợp với từ để hỏi để tạo ra một phát ngôn có nghĩa Điều này chứng tỏ rằng nếu gặp khó khăn trong việc phát

âm để tạo ra phát ngôn có ý nghĩa trong một ngôn ngữ (chẳng hạn người nước ngoài phát âm tiếng Việt Nam hoặc người bị ngắn lưỡi) thì chưa thực hiện được Hành động tạo lời Ví dụ như người nước ngoài nói:

(5) a - Cam on anh!

Thì phát ngôn này trong tiếng Việt không thể coi là đã hoàn thành một hành động tạo lời Bởi vì tiếng Việt có các dấu biểu hiện thanh điệu, ở phát ngôn này đã mất đi các thanh điệu tức là không đúng các quy tắc về phát ngôn Hành động tạo lời phải là:

b - Cảm ơn anh!

c) Hành động mượn lời

Hành động mượn lời là những hành động “mượn” phương tiện ngôn ngữ, nói cách khác là mượn phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngôn ngữ nào đó ở người nghe, người nhận hay chính người nói Ví dụ khi nghe dự báo thời tiết như sau:

(6) - Ngày mai, nghày 30 tháng 06 miền Bắc có mưa to đến rất to

Khi nghe thông tin này, một số người thất vọng vì ngày mai có dự định đi chơi đâu đó, một số khác lo lắng (người nông dân vì nếu mưa sẽ không phơi nông sản được), cũng có thể có một số người khác vui mừng vì mưa mang lại sự mát mẻ

Trong một ví dụ khác khi chủ tọa nói: Tôi tuyên bố khai mạc hội nghị! thì

hành động tại lời là hành động tuyên bố khai mạc hội nghị, hành động mượn lời

là mọi người im lặng để chờ các nghi thức tiếp theo nằm ngoài ý định của người nghe và nằm trong ý định của người nói

Trang 17

Chức năng của hoạt động giao tiếp được thực hiện nhờ hiệu quả mượn lời của phát ngôn Có những trường hợp hiệu quả mượn lời là đích phát ngôn nhưng

có trường hợp không hẳn như vậy Ví dụ khi Sp1 có hành động cầu khiến buộc SP2 phải làm theo một việc gì đó và Sp2 thực hiện là đích của phát ngôn Nhưng khi Sp2 tỏ ra khó chịu thì không thuộc đích phát ngôn

1.1.2 Lí thuyết về Hành động ngôn ngữ của Searle

Với công trình của Speech acts (hành động ngôn ngữ) (1969), Searrle được

thừa nhận là có một vị trí đặc biệt trong sự phát triển của lí thuyết hành động ngôn ngữ

Trên cơ sở phân tích một hành động tại lời: hành động hứa trong tiếng

Anh, Searrle đã điều chỉnh lại và bổ sung vào những điều kiện may mắn của

Austin, và Searle gọi chúng là điều kiện sử dụng hay điều kiện thỏa mãn Mỗi

hành động tại lời đòi hỏi phải có một hệ thống những điều kiện gọi là những quy tắc (Rules) để cho việc thực hiện nó đạt hiệu quả với đích của nó, mỗi điều kiện

là một điều kiện cần còn toàn bộ điều kiện là điều kiện đủ Có tất cả bốn điều kiện, mỗi điều kiện lại được biểu hiện một cách khác nhau tùy thuộc từng phạm trù, từng loại và từng hành động tại lời cụ thể

Điều kiện nội dung của mệnh đề nó chỉ ra bản chất nội dung hành động

Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản hay một mệnh đề Nội dung của mệnh đề có thể là một hành đọng của người nói hay một hành động của người nghe

Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của người phát ngôn về năng

lực, lợi ích, ý định của người nghe về quan niệm giữa người nói và người nghe

Điều kiện chân thành chỉ ra các trạng thái tương ứng của người phát

ngôn Chẳng hạn: xác tín, khảo nghiệm, đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín, lệnh đòi hỏi lòng mong muốn

Trang 18

Điều kiện căn bản là điều kiện đưa ra khiển trách mà người nói hay

người nghe bị ràng buộc khi hành động tại lời được phát ra Hành động tại lời và những điều kiện thỏa mãn chúng được Searrle miêu tả qua hành động cảm ơn

1.1.3 Phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi

Phát ngôn ngữ vi là phát ngôn sản phẩm của một hành động tạo lời nào đó

khi hành động này được thực hiện một cách trực tiếp chân thực Phát ngôn ngữ

vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành động tại lời tạo ra nó Kết cấu lõi đó được gọi là biểu thức ngữ vi Chẳng hạn, chúng có phát ngôn ngữ vi:

(7) Mẹ tin con đi, con sẽ thi đỗ

Phát ngôn trên có biểu thức ngữ vi nguyên cấp là: “con sẽ thi đỗ” và một thành phần mở rộng cho hành động cầu khiến tạo ra: “mẹ tin con đi”

Biểu thức ngữ vi là những thể thức nói năng đặc trưng cho một hành động tạo lời Biểu thức ngữ vi là dấu hiệu ngữ pháp, ngữ nghĩa của các hành động tại lời Austin phân biệt hai loại biểu thức ngữ vi, đó là: Biểu thức ngữ vi nguyên cấp hay hàm ẩn và biểu thức ngữ vi tường minh Biểu thức ngữ vi nguyên cấp là biểu thức không có động từ ngữ vi nhằm thực hiện một hiệu lực tại lời qua một hành động nào đó Biểu thức ngữ vi tường minh là những biểu thức chứa động

từ ngữ vi nhằm thực hiện một hành động ở lời nào đó như: mời, chào, xin lỗi, cảm ơn

1.1.4 Động từ ngữ vi

Động từ ngữ vi (hay còn gọi là động từ ngôn hành) là động từ mà khi phát

âm ra cùng với các biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là lời nói thực hiện luôn các hành động ở lời do chúng biểu thị Trong trường hợp xin lỗi, cảm ơn, chúng ta thực hiện hành động xin lỗi, cảm ơn bằng động từ ngôn hành chứ không phải là biểu thị ngữ vi Austin cho rằng động từ ngữ vi chỉ được dùng trong chức năng ngữ vi (có hiệu lực ngữ vi) và trong khi phát ngôn, nó được dùng ở ngôi thứ nhất (người nói - Sp1) thể chủ động thực thi Chẳng hạn:

Trang 19

(8) Tôi xin lỗi anh!

thì Sp1 thực hiện ngay hành động xin lỗi bằng động từ ngữ vi “xin lỗi”, bởi vì người nói là “tôi” - ngôi thứ nhất số ít, động từ “xin lỗi” được dùng ở thì hiện

tại, thể chủ động, thức thực thi

1.2 Lí thuyết hội thoại

Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong giao tiếp có giao tiếp một chiều và giao tiếp hai chiều Giao tiếp một chiều là độc thoại, tức là chỉ có một bên nói và một bên tiếp nhận (mệnh lệnh quân sự, diễn văn ) Trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó vai trò hai bên thay đổi, bên nghe trở thành bên nói và ngược lại Đó là hội thoại Hội thoại là hoạt động phổ biến và căn bản nhất của con người Chính

vì vậy mà vấn đề hội thoại rất được quan tâm trong ngữ dụng học Đặc biệt là ngữ dụng học vĩ mô (A: Macroprag matics) Hội thoại có thể gồm hai bên gọi là song thoại (P: Polylopgue)

1.2.1 Khái niệm cuộc thoại

Cuộc thoại là một lần nói chuyện, trao đổi giữa những cá nhân, ít nhất là

hai người trở lên trong xã hội, cuộc thoại ngắn là những cuộc thoại chỉ chứa một cặp câu như: chào - chào, hỏi - đáp, đề nghị - đồng ý, ra lệnh - nhận lệnh cuộc thoại dài là những thương lượng về một hợp đồng kinh doanh, sản xuất hợp tác văn hóa, nghệ thuật, khoa học Đó là chưa kể những đàm phán quốc gia về biên giới, về chính trị, về kinh tế

1.2.2 Những đặc điểm khái quát về cuộc thoại

1.2.2.1 Những đặc đểm nội tại của một cuộc thoại

Thông thường, trong một cuộc thoại sẽ có những đặc điểm sau:

a) Sự tương tác qua lại

Trang 20

Schegloff (1973) đã nêu nguyên tắc này với nội dung: trong một cuộc hội thoại mỗi lúc có một người nói và không nói đồng thời Các người nói luân phiên nhau tạo thành sự luân phiên lượt lời

b) Sự liên kết

Các lượt lời có sự liên kết với nhau tạo ra sự liên kết hội thoại Đó là nguyên tắc liên kết hội thoại

c) Tính mục đích

Mọi cuộc thoại đều có tính mục đích, đều chứa đụng một hoặc nhiều chủ đề

Ở mỗi cá nhân còn tìm thấy những mục đích riêng Những chủ đề mục đích có thể được biểu thị tường minh hoặc ngầm ẩn đằng sau những lời thoại, thể hiện qua những hành động tại lời hay qua những hành động ngôn ngữ gián tiếp: khi mua bán, hỏi dường đi, hỏi thời gian mục đích thực hiện tại lời

Mục đích cuộc thoại cũng có thể nằm ở ngoài lời Chẳng hạn những lời bắt chuyện, hỏi để làm quen, làm lành, hỏi để thể hiện tình cảm nhằm nói cho vui và mục đích nhiều khi chỉ để mà nói, để mà tiêu thời gian trong những lúc tán chuyện phiếm

1.2.2.2 Những đặc điểm bên ngoài

Về số lượng, do không gian tâm lí mà mỗi cuộc thoại đều có giới hạn

trong một số lượng người nhất định tham dự thảo luận để tiện việc trao đổi Nhưng trong hội thảo bàn tròn, số lượng người tham dự không quan trọng lắm

Mỗi buổi, chủ đề số lượng người có thể thay đổi

Về quan hệ, quan hệ giữa những người tham dự có thể có những quan hệ

cá nhân trước hoặc không cần có trước quan hệ cá nhân Trong quá trình hội thoại sẽ hình thành quan hệ cá nhân đó

Chu cảnh, có hai phương diện chính để hình thành chu cảnh là thời gian

và không gian cuộc thoại Về thời gian có thể ngắn hoặc dài khó có thể xác định được trước Ngoại trừ những cuộc đàm phán giữa những quốc gia, những cuộc

Trang 21

thương lượng có tính chất quan trọng Có những cuộc thoại có thể ngầm ẩn về không gian hoặc thời gian Ví dụ như cuộc thoại ở phòng chờ công chứng, phòng chờ bệnh viện Về không gian có những không gian khác nhau cho những cuộc thoại Chẳng hạn, cuộc thoại giữa các nhân viên ở công sở khác với

cuộc thoại giữa các nhân viên đó tại bãi tắm, nhà hàng, rạp chiếu phim

1.2.2.3 Cấu trúc cuộc thoại

Trong một cuộc nói chuyện, người ta có trao đổi hết vấn đề này sang vấn

đề khác, nhưng bao giờ cũng có lúc bắt đầu và lúc kết thúc Chúng làm nên ranh giới một cuộc thoại Lúc bắt đầu được gọi là mở thoại, luôn luôn do một bên chủ động, lúc kết thúc cũng do một bên đề ra gọi là kết thoại (A: Closing) Giữa phần ở thoại và phần kết thoại là phần trung tâm cuộc thoại: phần thân thoại Như vậy, cấu trúc của một cuộc thoại là:

MỞ THOẠI - THÂN THOẠI - KẾT THOẠI

Trong mỗi cuộc thoại mỗi lần nói của một người là một lượt lời (Turn) Trong một lượt lời có thể gồm nhiều phát ngôn với những chức năng và mục đích khác nhau và có liên kết chặt chẽ với nhau Mỗi lượt lời có những chức năng hội thoại khác nhau Người này nói và người kia đáp lại Hai lượt lời có liên quan trực tiếp với nhau và đứng cạnh nhau làm nên một cặp thoại (Adjacency)

Một cuộc thoại có thể chứa nhiều chủ đề Mỗi chủ đề lại có nhiều vấn đề Quá trình thảo luận một vấn đề sẽ gồm nhiều lượt lời khác nhau Tập hợp những lượt lời trao đổi về một vấn đề sẽ thành một đoạn thoại (Sequence) Một đoạn thoại cũng bao gồm phần mở thoại, thân thoại và kết thoại như một cặp thoại Bởi vậy, cùng một lượt lời, cặp thoại là đơn vị căn bản của hội thoại

1.2.2.4 Cặp thoại

Lí thuyết hành động ngôn ngữ của Austin chỉ xem xét các hành động một

Trang 22

ngôn tiếp sau Vậy là có những hành động ngôn ngữ đã gây ra những hành động ngôn ngữ Các hành động ngôn ngữ không đứng biệt lập, hành động này kéo theo hành động kia chính vì thế mà hình thành khái niệm cặp thoại

1.2.2.5 Các nguyên tắc hội thoại

a) Luân phiên lượt lời

Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu tới mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lời của nhau Vì thế, khi hai người nói chuyện, khi người kia nói thì người này nhường lời theo cách lời người này kế tiếp người kia Ta có những dấu hiệu nhất định báo một cách tự động cho người kia biết rằng họ có thể nói Đó là những dấu hiệu như sự trọn vẹn về nghĩa, sự trọn vẹn

về cú pháp, ngữ điệu, các câu hỏi, hư từ Ví dụ:

(9) - Tôi nói đồng bào nghe rõ không?

- Rõ!

Mỗi lượt lời được xây dựng trên cơ sở những lượt lời trước đó Vậy là có

sự luân phiên lượt lời, luân phiên nói năng trong hội thoại Nghĩa là cấu trúc của

một cuộc thoại là a – b –a – b – a – b

b) Nguyên lí cộng tác

Nguyên lí cộng tác được Grice đề ra năm 1967 Nguyên tắc được phát

biểu tổng quát như sau: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh (vào cuộc thoại) đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn (của cuộc thoại) mà nó xuất hiện phù hợp đích hay phương hướng của cuộc thoại mà anh đã chấp nhận tham

gia vào”

Nguyên lí cộng tác bao gồm bốn phương châm, đó là:

Phương châm về lượng: Hãy làm cho phần đóng góp của mình có lượng tin đủ như nó được đòi hỏi cho mục đích cuộc thoại và đừng đóng góp lượng tin của mình phần nhiều hơn điều nó được đòi hỏi

Trang 23

Phương châm về chất: Đừng nói những điều mà mình tin là không đúng, đừng nói những điều mà mình không có bằng chứng chính xác

Phương châm quan hệ: Hãy đóng góp những điều có liên quan

Phương châm cách thức: Hãy nói cho rõ ràng, tránh lối nói tôi nghĩa, mơ

hồ và hãy nói ngắn gọn, mạch lạc

c) Nguyên tắc tôn trọng thể diện của những người tham gia hội thoại

Theo Brown và Levinson thì phép lịch sự trong giao tiếp hội thoại liên quan đến thể diện của người nói và người nghe khi giao tiếp Brown và Levinson đã phân biệt hai thể diện là thể diện dương tính (thể diện tích cực – positive face) và thể diện âm tính (thể diện tiêu cực – negative face) Thể diện tích cực là những điều mà mỗi thành viên tham gia hội thoại mong muốn không

bị can thiệp, được hành động tự do theo cách mà mình lựa chọn Như vậy, có thể nói phép lịch sự chính là tổng thể những cách thức mà người thạm gia hội thoại dùng để giữ thể diện (saving face) cho nhau

Tôn trọng thể diện được thể hiện như sau:

- Nên tránh không đụng chạm đến mặt yếu của người đối thoại Nếu buộc lòng phải nói thì chọn cách nói làm sao ít bị xúc phạm nhất

- Ngay khi người đối thoại với mình đưa ra một yêu cầu, một lời đề nghị, một lời xin cực kì vô lí cũng không bác bỏ “thẳng thừng”

- Khi hội thoại, cả hai phía nên tránh những hành động ngôn ngữ xúc phạm đến thể diện của nhau như vạch tội, chửi bới…

- Không xâm phạm lãng địa hội thoại của người khác, không trả lời, nói hớt, cướp lời, giành phần nói của người khác

Nguyên tắc tôn trọng thể diện của người hội thoại đòi hỏi chúng ta phải tôn trọng thể diện của người khác cũng như giữ gìn thể diện của mình Bởi thế, để

Trang 24

1.3 Lí thuyết lịch sự

Lịch sự dược thể hiện rõ nhất trong hội thoại - hội thoại là một sự kiện nói

diễn ra thường xuyên trong sinh hoạt hàng ngày của cuộc sống con người Do vậy, muốn thành công trong giao tiếp, mỗi bên hội thoại cần tuân thủ những nguyên tắc nhất định trong hội thoại Nhiều nhà nghiên cứu về dụng học cho rằng những nguyên tắc như vậy là nguyên tắc cộng tác (Cooperative) và nguyên tắc lịch sự (Principle politeness)

Phép lịch sự tác động rất nhiều đến việc tạo lập các phát ngôn trong quá trình giao tiếp Tầm quan trọng của nó lớn đến mức các tài liệu về ngữ dụng đều không thể né tránh nó Nhiều cuộc hội thảo, nhiều công trình nghiên cứu có tính chất chuyên môn đều đề cập đến lịch sự Lịch sự đã trở thành mối quan tâm của các nhà nghiên cứu ngữ dụng học, nó được nhiều nhà nghiên cứu xây dựng thành ác quan điểm tương đối hoàn chỉnh và được nâng lên thành lí thuyết lịch

sự (Theory of politeness)

Trong khôn khổ của vấn đề đang nghiên cứu, khóa luận sẽ đề cập đến một

số quan niệm về lịch sự của R.Lakoff, của G.N.Leech, của Brow và của S.Levinson

1.3.1 Quan điểm về lịch sự của R.Lakoff

Quan điểm về lịch sự của R.Lakoff trong công trình xuất bản năm 1973

đã nêu ba quy tắc lịch sự, đó là:

Quy tắc 1: Không được áp đặt (Don't impose)

Quy tắc 2: Để ngỏ sự lựa chọn (Offer option)

Quy tắc 3: Tăng cường tính bằng hữu (Encourage feelings of camaraderie)

Quy tắc 1 được dùng trong phép lịch sự quy thức Đó là quy tắc không được áp đặt Quy tắc này phù hợp với ngữ cảnh trong đó những người tham gia

tương tác có sự khác biệt về quyền lực và địa vị xã hội như giữa giáo viên và

Trang 25

học sinh, thủ trưởng và nhân viên, sinh viên với hiệu trưởng Không áp đặt ở đây là không ngăn cản H hành động theo ý muốn của mình Người nói lịch sự S theo quy tắc này né tránh cả những hành động khiến H sao nhãng điều mà H đang làm hoặc đang nghĩ tới

Lịch sự quy thức có tính chất phi cá nhân, S sẽ lựa chọn ác hành động của mình sao cho giảm thiểu các mức độ mà S áp đặt đối với H bằng cách buộc H nhận biết rằng S và H đều là những con người với những nhược điểm và những kinh nghiệm mà ai cung có và do đó sẽ không được đối xử như những vật thể không cảm xúc Do vậy, không áo đặt cũng có nghĩa là không dò tìm quan hệ riêng tư, tránh đả động dến cái riêng của cá nhân, tránh đề cập đến gia đình, những vấn đề thầm kín, thói quen Đặc biệt, quy tắc này buộc chúng ta nói những lời nói thô tục, tránh tiếng lóng, phương ngữ, thậm chí những đề tài có tính chất kiêng kị bởi vì chúng được xem là quá cá nhân để có thể trao đổi trước mặt mọi người như đề tài tình yêu, giới tính, tôn giáo, chính trị

Quy tắc 2 được dùng trong phép lịch sự phi quy thức Đó là quy tắc dành cho người đối thoại sự lựa chọn Quy tắc này thích hợp với ngữ cảnh trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tương đương nhau không gần gũi nhau về quan hệ xã hội Chẳng hạn như mối quan hệ giữa thương nhân với khách hàng hay mối quan hệ giữa hai người cùng gặp nhau ở thư viện Dành cho người đối thoại sự lựa chọn có nghĩa là bày tỏ ý kiến sao cho ý kiến hay lời thỉnh cầu của mình có thể không biết đến mà không bị phản bác hay từ chối Nói chung theo quy tắc này nếu S muốn thuyết phục người nghe H theo quan điểm hay một công việc nào đó thì S sẽ nói sao cho S không buộc phải chịu trách nhiệm về ý định của mình Những điều S khẳng định hay thỉnh cầu được rào đón

hay hàm ẩn như: Cậu có thể đóng cửa sổ giúp tớ được không (từ ngữ có thể,

được không có tác dụng rào đón là giảm nhẹ tính áp đặt trong lời thỉnh cầu ở

phát ngôn và tăng mức lịch sự)

Trang 26

không phải giấu giếm, quan tâm, chăm sóc, tin tưởng và thổ lộ niềm vui, nỗi buồn với nhau Tình thân hữu trong lời nói được thể hiện trong những tù xưng

hô thân thuộc, kể cả biệt danh, những lời chửi, tiếng lóng Quy tắc này cho thấy khi người ta bắt đầu xưng hô với nhau theo hành động lịch sự quy thức thì có nghĩa là quan hệ giữa họ bắt đầu có sự rạn nứt

1.3.2 Quan điểm về lịch sự của Leech

Lí thuyết về lịch sự của Leech được trình bày trong cuốn sách mang tên

Principles of pragmatics (những nguyên lí dụng học) Leech quan niệm lịch sự

là sự bù đắp những hao tổn, thiệt thòi do hành động nói năng của người nói gây

ra cho người đối thoại Lí thuyết lịch sự của Leech dựa trên khái niệm lợi (Benefit) và thiệt (Cost) gây ra cho người nói và người nghe và nội dung nó

nhằm quy tắc: Tối thiểu hóa những lời nói bất lịch sự và tăng tối đa những lời

nói lịch sự

Nội dung của nguyên tắc lịch sự đã được Leech cụ thể hóa trong sáu phương châm giao tiếp lịch sự:

1 Phương châm khéo léo

a Giảm tối thiểu tổn thất cho người

b Tăng tối đa lợi ích cho người

2 Phương châm rộng rãi

a Giảm thiểu lợi ích cho ta

b Tăng tối đa tổn thất cho ta

3 Phương châm tán thưởng

a Giảm thiểu sự chê bai đối với người

b Tăng tối đa khen ngợi người

4 Phương châm khiêm tốn

a Giảm thiểu khen ngợi ta

Trang 27

b Tăng tối đa sự chê bai ta

5 Phương châm tán đồng

a Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người

b Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người

6 Phương châm thiện cảm

a Giảm thiểu cái ác cảm giữa ta và người

b Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người

Theo Leech các phương châm trên có tính chất chuyên dụng cho những

phát ngôn nhất định Phương châm khéo léo, phương châm rộng rãi chuyên

dụng cho hành động cầu khiến và cam kết, nhưng phương châm tán thưởng

chuyên dụng cho hành động biểu cảm xác tín, các phương châm khiêm tốn, tán

đồng và thiện cảm đều chuyên dụng cho loại hành động xác tín

Theo Leech thì mức độ lịch sự của hành động tại lời phụ thuộc vào ba

yếu tố

Thứ nhất, phụ thuộc vào bản chất của hành động đó Ví dụ hành động cầu

khiến tùy theo mức độ thiệt và lợi gây ra cho người được cầu khiến mà có mức

độ lịch sự cấp khác nhau khi hành động thực hiện Thang độ tổn thất và lợi ích

đối với hành động cầu khiến như sau:

Thứ hai, phụ thuộc vào hình thức ngôn từ thể hiện hành động đó Ví dụ về

Lợi ích cho người Lịch sự hơn

Trang 28

người Anh được xem là lịch sự hơn so với những cách nói trực tiếp Còn trong quan niệm của người Việt Nam thì không hẳn như vậy Vì thế người Việt Nam khó chấp nhận cách nói như:

(10) - Bác có thể vui lòng dùng một chén rượu được không?

Người Việt coi lịch sự trong thân tình vì thế mà cách nói như: Em mời bác chén rượu được coi là lịch sự hơn

Thứ ba, tùy theo mức độ quan hệ giữa người được cầu khiến và người

được cầu khiến Ví dụ như mối quan hệ giữa thầy và trò trong lớp học, giữa chỉ huy và binh lính trong quân đội đều chi phối và có ảnh hưởng đến quan hệ lịch

sự Hành động ra lệnh của người chỉ huy với người cấp dưới không bị coi là mất lịch sự khi mệnh lệnh đó là đúng đắn, hợp điều lệ

Như vậy, ta thấy các quy tắc lịch sự của Lakoff là những cách thức chung nhất để đạt được lịch sự nhưng chưa cụ thể hóa bằng chiến lược cụ thể Mô hình lịch sự nhưng chưa cụ thể hóa bằng chiến lược lịch sự cụ thể Mô hình lịch sự của Leech tỏ ra chi tiết hơn so với Lakoff vì Leech đã đề ra các mức độ đo lợi - thiệt, độ đo gián tiếp và độ đo về khoảng cách xã hội do phương châm khéo léo Tuy nhiên, hệ thống này vẫn còn để lại những khoảng trống là các phương châm khác chưa định được về độ đo

1.3.3 Quan điểm về lịch sự của Brown và Levinson

Quan điểm về lịch sự của hai tác giả này được trình bày trong cuốn

Politeness - some universals in language usage (có thể tạm dịch là: Lịch sự - một vài phổ niệm trong lịch sử ngôn ngữ, 1978) Xuất phát điểm quan trọng của

lí thuyết này là khái niệm thể diện (Face), Brown và Levinson định nghĩa về thể diện là: Hình ảnh về ta trước cộng đồng mà mỗi thành viên muốn mình có được

Brown và Levinson đã phân biệt hai phương diện là thể diện dương tính (Positive face) và thể diện âm tính (Nagative face) hay nói cách khác là thể diện

tích cực và thể diện tiêu cực

Trang 29

Thể diện dương tính là sự mong muốn thân hữu, tức là mong muốn của mỗi thành viên rằng những mong muốn của mình đồng thời cũng là mong muốn

ít ra của một số người khác, hay nói cách khác là mong muốn hình ảnh của tôi của mình được người khác xác nhận, ủng hộ, bênh vực

Thể diện âm tính là sự tự do hành động, là những mong muốn không bị can thiệp, hay nói cách khác là mong muốn tôn trọng lãnh địa riêng tư quyền tự chủ, quyền tự do hành động và từ chối

Trong một cuộc tương tác (ngôn ngữ) xã hội càng ngày người ta càng cư

xử với những mong muốn rằng nhu cầu thể diện (Face wants) được tôn trọng Hầu hết các hành động của người ta và người khác được Brown và Levinson gọi những hành động nói tiềm tàng có khả năng làm tổn hại thể diện và Brown và Levinson gọi là các hành động đe dọa thể diện (Face theatening acts)

Giao tiếp là một hoạt động liên cá nhân nhằm trao đổi thông tin hay một

tư tưởng, tình cảm nào đó của người nói tới người nhận Trong cuộc giao tiếp luôn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa về thể diện Để giữ thể diện cho người nhận và cũng là giữ thể diện cho người nói, người nói phải tìm cách làm dịu tác động đe dọa thể diện của hành động ngôn ngữ bằng những hành động mà Brown và Levinson gọi là hành động giữ thể diện (Face saving acts)

Brown và Levinson miêu tả lịch sự là quan tâm đến thể diện của mọi người Thể diện là cơ sở, nền tảng và mọi người nhìn chung phải hợp tác để duy trì thể diện của những người khác và hài lòng về thể diện của mình

Lịch sự đòi hỏi quan tâm đến hai loại khác nhau của nhu cầu thể diện: Thứ nhất thể diện âm tính không dồn ép; thứ hai thể diện dương tính nghĩa là nhu cầu hướng tới người hâm mộ, nhu cầu quan hệ và lịch sự chỉ hình thành, có mặt và phát huy tác dụng khi tương tác nghĩa là chúng ta nói tới chiến lược lịch

sự Như vậy lịch sự theo Brown và Levinson là một chiến lược nhằm sửa đổi,

Trang 30

trong giao tiếp tiếng Việt là một biểu hiện của phép lịch sự gắn với chiến lược lịch sự âm tính

1.4 Hành động xin lỗi, cảm ơn trong giao tiếp tiếng Việt

1.4.1 Khái niệm xin lỗi và cảm ơn

1.4.1.1 Khái niệm xin lỗi

Khái niệm xin lỗi trong từ điển tiếng Việt trình bày như sau: “Xin lỗi là việc được xin tha thứ vì đã biết lỗi, là công thức xã giao dùng để mở đầu cuộc nói chuyện khi có việc hỏi người lạ hoặc làm phiền người khác”

Trong dụng học, xin lỗi là hành động nói hướng tới nhu cầu thể diện của mỗi người tiếp nhận và có ý muốn sửa lại cho đúng một sự vi phạm mà người xin lỗi biểu lộ trách nhiệm và như vậy sẽ tái thiết lên một sự công bằng giữa người xin lỗi biểu lộ trách nhiệm và như vật sẽ tái thiết lên một sự cân bằng giữa người xin lỗi và người tiếp nhận Nói cách khác, xin lỗi là hành động xin dược lượng thứ Chẳng hạn:

(11) - Mày làm hỏng xe tao rồi!

Xin lỗi còn là hành động xin phép làm điều gì đó, cảm phiền người khác, thường dùng để mở đầu cho một câu nói Ví dụ:

(12) - Xin lỗi, cho tôi hỏi mấy giờ rồi ạ?

(13) - Xin lỗi, cho tôi đi nhờ một chút!

1.4.1.2 Khái niệm cảm ơn

Cảm ơn là việc bày tỏ lòng biết ơn khi ta giúp ai một việc có ích Cảm ơn

là hành động bày tỏ thái độ chân thành của người được giúp đỡ Ví dụ:

(14) - Cảm ơn anh đã giúp tôi dắt xe máy

Đôi khi cảm ơn còn thể hiện sự đồng ý Chẳng hạn:

(15) - Bạn dùng cà phê nhé!

Trang 31

1.4.2 Một số cách thức xin lỗi và cảm ơn trong tiếng Việt

Trong tiếng Việt, tồn tại hai động từ ngữ vi: xin lỗi và cảm ơn Khi muốn

thực hiện hành động xin lỗi ta chỉ cần nói:

(16) Tôi xin lỗi!

còn cảm ơn thì nói:

(17) Tôi cảm ơn!

Hai cách nói trên dễ dàng được chấp nhận trong tư duy và văn hóa ứng xử của người Việt Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy trong tiếng Việt có hai cách thức cảm ơn và xin lỗi, đó là cách xin lỗi và cảm ơn dùng động từ ngữ vi và cách thức xin lỗi và cảm ơn không dùng động từ ngữ vi

Tác dụng của cách thức xin lỗi và cảm ơn nói trên hướng tới người tiếp nhận không khác nhau Tuy nhiên, trong một số trường hợp cụ thể, chúng ta cần linh hoạt sử dụng những cách thức xin lỗi, cảm ơn khác nhau để giao tiếp đạt kết quả cao như mong đợi Bởi trong xã hội hiện nay, lời xin lỗi, cảm ơn được coi là phép lịch sự mang tính chất chiến lược giao tiếp Sử dụng cách thức xin lỗi,cảm

ơn thích hợp sẽ khiến cho thể diện của các thoại nhân không bị tác động một

cách tiêu cực

1.4.2.1 Lời xin lỗi sử dụng động từ ngữ vi: xin lỗi

Đây là cách nói phổ biến, thường gặp trong giao tiếp hàng ngày Hành

động xin lỗi được tường minh hoá bởi sự xuất hiện của động từ ngữ vi xin lỗi

Trang 32

đích là xin lỗi, không nhằm đạt mục đích khác Như ví dụ nêu trên, người con khi đã biết mình có lỗi đã nói với mẹ:

(20) Con xin lỗi mẹ ạ!

Trong những trường hợp khác nhau, lời xin lỗi được dùng như một cách nhận thức về sự yếu kém của mình Ví dụ:

(21) Con xin lỗi mẹ, là do con đã nghĩ không đúng

Cách thức xin lỗi tường minh này được dùng tương tự như I m sorry trong tiếng Anh, Khỏi sò trong tiếng Thái hay xin lội trong tiếng Mường Mô thức chủ

đạo của cách xin lỗi tường minh là: Chủ ngữ + Xin lỗi + Đối tượng được xin lỗi Cách xin lỗi tường minh này được coi là phép lịch sự quy thức, là cách nói tối thiểu khi mắc lỗi Tuy nhiên, không phải lúc nào chúng ta cũng sử dụng cách nói trực tiếp mà còn xin lỗi gián tiếp, không những không ảnh hưởng gì đến hiệu lực của lời xin lỗi mà đôi khi còn mang lại hiệu quả giao tiếp cao hơn

Đó là cách thức xin lỗi hoán đổi, nói cách khác, đó là lời xin lỗi không xuất hiện

dộng từ ngữ vi xin lỗi

1.4.2.2 Lời xin lỗi không dùng động từ ngữ vi

Đây được xem là chiến lược trong giao tiếp mà người tham gia hội thoại

sử dụng linh hoạt cho phù hợp với từng trường hợp cụ thể Không phải lúc nào

ta cũng nói “Tôi xin lỗi” mà lời xin lỗi còn có thể diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau Ví dụ:

(22) Ôi! giá như tôi suy nghĩ thấu đáo hơn!

đó cũng là một cách xin lỗi hết sức tế nhị Người xin lỗi tỏ ra biết lỗi khi nói giá như tôi suy nghĩ thấu đáo hơn thì đã không xảy ra chuyện này Hay một cách nói khác:

(23) Tôi thực sự hối hận về hành động của mình

Bày tỏ thái độ ân hận về hành động sai phạm của mình, đó cũng là một cách xin lỗi có hiệu quả không phải lúc nào người đối diện mình cũng muốn

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập 2, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2001
2. Đỗ Hữu Châu (2003), Cơ sở ngữ dụng học, tập 1, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
Năm: 2003
3. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
4. Nguyễn Đức Dân (2000), Ngữ dụng học, tập 1, Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sƣ phạm
Năm: 2000
5. Hoàng Phi Diệp (2009), Một số cách thức xin lỗi và cảm ơn trong ngôn ngữ Thái, Khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành ngôn ngữ học, rường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số cách thức xin lỗi và cảm ơn trong ngôn ngữ Thái
Tác giả: Hoàng Phi Diệp
Năm: 2009
6. Vũ Tiến Dũng (2007), Lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt và giới tính, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sự trong giao tiếp tiếng Việt và giới tính
Tác giả: Vũ Tiến Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2007
7. Hữu Đạt (2009), Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
8. Đinh Thị Hương (2010), Cách thức xưng hô trong giao tiếp tiếng Mường, Khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành ngôn ngữ học, trường Đại học Tây Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách thức xưng hô trong giao tiếp tiếng Mường
Tác giả: Đinh Thị Hương
Năm: 2010
9. Hoàng Phương Liên (2013), Văn hóa dân gian Mường, Nhà xuất bản Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian Mường
Tác giả: Hoàng Phương Liên
Nhà XB: Nhà xuất bản Dân trí
Năm: 2013
10. Bùi Văn Nợi (2012), Mo Mường, tập 1, Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mo Mường
Tác giả: Bùi Văn Nợi
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 2012
13. Bùi Hi Vọng (2011), Kinh nghiệm dẫn nước nhập đồng và lịch cổ đá rò của người Mường, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm dẫn nước nhập đồng và lịch cổ đá rò của người Mường
Tác giả: Bùi Hi Vọng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w