1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

tìm hiểu sự mạch lạc trong tác phẩm vợ chồng a phủ của nhà văn tô hoài

70 1,3K 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 592,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể nói dù đó là diễn ngôn hay văn bản có dung lượng câu chữ với độ dài khác nhau thì đề cần có tình mạch lạc vì mạch lạc là biêu hiện của tính khoa học, sự thống nhất và lối diễn đạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

ĐÀO THỊ HỒNG HẠNH

TÌM HIỂU SỰ MẠCH LẠC TRONG TÁC PHẨM

“VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

SƠN LA, NĂM 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của thầy giáo

Tiến sĩ Vũ Tiến Dũng, Ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, Thư viện nhà trường

cùng các thầy cô Bộ môn tiếng Việt và tập thể lớp K51 – ĐHSP Ngữ Văn

Nhân dịp khóa luận này được hoàn thành, em xin chân thành cảm ơn sự

quan tâm giúp đỡ đó và đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ

Vũ Tiến Dũng – người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong

quá trình thực hiện khóa luận này

Sơn La, tháng 5 năm 2014

Người thực hiện

Đào Thị Hồng Hạnh

Trang 4

BẢNG GHI CHÚ CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI

NXB: Nhà xuất bản

SP1: Nhân vật giao tiếp SP2: Nhân vật giao tiếp

\

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu 6

6 Cấu trúc khóa luận 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

1.1 Văn bản 7

1.1.1 Khái niệm văn bản 7

1.1.2 Đặc trưng của văn bản 9

1.1.2.1 Yếu tố chức năng 9

1.1.2.2 Yếu tố nội dung 9

1.1.2.3 Mạch lạc và liên kết 10

1.1.2.4 Yếu tố chỉ lượng 10

1.1.2.5 Yếu tố định biên (Tính trọn vẹn tương đối của văn bản) 11

1.2 Khái niệm mạch lạc 11

1.2.1 Khái quát chung 11

1.2.2 Khái niệm mạch lạc 12

1.2.2.1 Khái niệm mạch lạc trong từ điển 12

1.2.2.2 Khái niệm mạch lạc của những nhà chuyên môn 13

1.2.3 Phân biệt mạch lạc với liên kết 14

1.3 Các biểu hiện của mạch lạc 15

1.3.1 Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài, chủ đề của câu 16

1.3.1.1 Duy trì đề tài - chủ đề 16

Trang 6

1.3.1.2 Triển khai đề tài – chủ đề 17

1.3.1.3 Cách duy trì, triển khai đề tài – chủ đề 18

1.3.2 Mạch lạc thể hiện ở tính hợp lý trong triển khai mệnh đề 20

1.3.2.1 Bên trong câu 20

1.3.2.2 Giữa các câu 20

1.3.3 Mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lý của các câu 21

1.3.4 Mạch lạc thể hiện ở khả năng dung hợp giữa các hành động nói 22

1.3.5 Mạch lạc thể hiện trong quan hệ ngoại chiếu 24

1.3.6 Mạch lạc biểu hiện ở khía cạnh tâm lý học 25

1.4 Mạch lạc trong lời thoại truyện ngắn 26

1.4.1 Một số khái niện cơ bản về lời thoại 26

1.4.2 Mạch lạc của lời thoại trong truyện ngắn 27

1.4.2.1 Mạch lạc biểu hiện ở phương diện hình thức (dùng các phương tiện liên kết)…… 27

1.4.2.2 Mạch lạc biểu ở phương diện nội dung 29

1.5 Lí thuyết hội thoại 30

1.5.1 Khái niệm hội thoại 30

1.5.2 Các quy tắc hội thoại 31

1.5.2.1 Nguyên tắc luôn phiên lượt lời 31

1.5.2.2 Nguyên tắc liên kết hội thoại 31

1.5.2.3 Các nguyên tắc hội thoại 31

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35

CHƯƠNG 2 MẠCH LẠC TRONG TÁC PHẨM “VỢ CHỒNG A PHỦ” CỦA TÔ HOÀI 36

2.1 Kết quả khảo sát, thống kê 36

2.2 Mạch lạc biểu hiện ở phương diện hình thức 37

2.2.1 Mạch lạc thể hiện ở phép nối 37

Trang 7

2.2.1.1 Khái niện 37

2.2.2 Mạch lạc thể hiện ở phép thế 40

2.2.2.1 Khái niệm 40

2.2.2.2 Phép thế trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ 41

2.2.3 Phép tỉnh lược 43

2.2.3.1 Khái niệm 43

2.2.3.2 Phép tỉnh lược trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ 43

2.2.4 Mạch lạc biểu hiện ở phép so sánh 45

2.2.5 Mạch lạc biểu hiện ở phép liên kết từ vựng 47

2.3 Mạch lạc biểu hiện ở phương diện nội dung 49

2.3.1 Mạch lạc thể hiện ở việc duy trì – triển khai đề tài, chủ đề 49

2.3.1.1 Duy trì đề tài, chủ đề 49

2.3.1.2 Triển khai đề tài, chủ đề 51

2.3.2 Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ ngoại chiếu 52

2.3.3 Mạch lạc biểu hiện ở khả năng dung hợp giữa các hành động nói 56

2.3.3.1 Sự dung hợp giữa các hành động nói tường minh (hiển ngôn) 57

2.3.3.2 Sự dung hợp giữa các hành động nói hàm ngôn 58

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 60

KẾT LUẬN 61

TÀI LIỆU THAM KHẢO 63

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Mạch lạc nói chung trong ngôn ngữ thường ngày không có gì xa lạ, tuy nhiên mạch lạc với tư cách là một đối tượng nghiên cứu khoa học thì vẫn còn là một vấn đề mới mẻ Vấn đề về mạch lạc đã tập trung thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước như: Greimas, Halliday và Hasan, Grice… Diệp Quang Ban, Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Thị Thìn… Dù được đánh giá là một vấn đề khá mơ hồ và khó xác định trong diễn ngôn và văn bản nhưng đây là yếu tố quan trọng quyết định việc văn bản có phải là một văn bản hay không Từ trước tới nay có nhiều ý kiến đưa ra kiến giải về mạch lạc trong diễn ngôn và trong văn bản nói chung, đặc biệt là trong truyện ngắn nói riêng

K.Wales ch rằng: “Mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay đặc tính

ban đầu của văn bản: không có mạch lạc một văn bản không phải là văn bản đích thực” [1:135] Có thể nói dù đó là diễn ngôn hay văn bản có dung lượng

câu chữ với độ dài khác nhau thì đề cần có tình mạch lạc vì mạch lạc là biêu hiện của tính khoa học, sự thống nhất và lối diễn đạt logic của một văn bản Các biểu hiện của mạch lạc trong văn học là rộng rãi nhất, cũng do vậy mà khó nắm bắt nhất Gần đây, cùng sự phát triển của ngôn ngữ học, người ta đã bắt đầu cố gắng phân biệt liên kết với mạch lạc

Có thể nói mạch lạc là một yếu tố rất quan trọng trong một tác phẩm văn học nói chung và một văn bản truyện nói riêng Mạch lạc là phương tiện thể hiện dụng ý của tác giả, nhờ mạch lạc mà câu văn trong sáng, diễn tả ý của tác giả một cách dễ dàng, chính xác, đảm bảo nội dung tác phẩm truyện Mạch lạc còn

là biện pháp nghệ thuật thể hiện dụng ý của tác giả buộc người đọc tư duy tìm

ra Vì vậy, khi tìm hiểu một tác phẩm văn học ta phải đi từ giá trị nghệ thuật, từ tính mạch lạc của tổng thể tác phẩm rồi mới khái quát nội dung Như vậy, mạch lạc là phương diện hữu ích để nhà văn thể hiện tác phẩm

Mạch lạc không chỉ có vai trò quan trọng trong toàn bộ tác phẩm truyện nói chung mà còn là yếu tố quan trọng trong lời thoại của truyện ngắn nói riêng Trong tác phẩm mạch lạc không chỉ giúp rõ nghĩa các lời thoại mà còn đóng vai trò thể hiện các khía cạnh nội dung khác và có thể có phong cách viết của một tác giả

Trang 9

Tô Hoài một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng, ông viết nhiều thể loại

nhưng thành công hơn cả là truyện ngắn Truyện Tây Bắc là thành quả đẹp trong

mùa thu hoạch đầu tiên của Tô Hoài trên quê hương văn học mới của ông Không ít người cho đến tận hôm nay vẫn dành rất nhiều mến yêu cho thiên truyện dài nhất trong tập truyện, thiên truyện có những trang viết rất thơ mộng

về người Thái Truyện Mường Giơn Nhưng trong dư luận chung thì được coi là

đẹp hơn cả, đọng lại lâu bền trong ký ức của mọi người nhiều hơn lại chưa phải

Mường Giơn, mà là Vợ chồng A Phủ Nghĩa là thành công lớn nhất của một tác

phẩm viết về một miền đất xa xôi lại thuộc về cái phần nói đến nơi xa xôi nhất Mặt khác, Tô Hoài là một nhà văn có nghề Ông có quan niệm đúng đắn về

mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong văn xuôi: “Nội dung là cả cuộc

đời rộng lớn như một dòng chảy theo thời gian không hề lặp lại Vì thế người viết cũng không thể lặp lại cách viết một cách đơn giản tùy tiện Nội dung ý nghĩa một việc, miêu tả một nhân vật, một phong cách, một trường hợp của cuộc sống hiện thực nếu đúng là cuộc đời và cuộc đời thì không bao giờ lặp lại Cũng

vì thế từng câu từng chữ cũng sẽ không bao giờ lặp lại, không bao giờ theo một cách, một điệu giống nhau Nó phải như nội dung, đượm những phong phú và nuôi vẻ biến hóa của cuộc sống” [9;130] Vì vậy, nghiên cứu mạch lạc trong tác

phẩm Vợ chồng A Phủ, chúng tôi mong muốn sẽ giúp hiểu rõ hơn về các tầng

nghĩa có mặt trong tác phẩm này Cùng với đó, chúng tôi cũng mong muốn qua

đây có thể giúp chúng ta hiểu thêm về phong cách sáng tác của Tô Hoài Vợ

chồng A Phủ là một thiên truyện thành công của Tô Hoài, qua các nội dung đó

hi vọng khóa luận: Tìm hiểu sự mạch lạc trong tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” của

nhà văn Tô Hoài sẽ góp phần nhận biết rõ hơn về mạch lạc nói chung và mạch

lạc của truyện ngắn Vợ chồng A Phủ nói riêng

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Một số kiến giải về mạch lạc trong văn bản truyện

Mạch lạc nói chung và mạch lạc trong văn bản truyện nói riêng là một vấn

đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học quan tâm Tuy nhiên, khi nhìn mạch lạc dưới phương diện là đối tượng nghiên cứu của khoa học thì đây vẫn là yếu tố đặt ra nhiều sự mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam Sau đây, chúng tôi xin đưa ra một số kiến giải về mạch lạc trong văn bản truyện

Trang 10

a Theo Diệp Quang Ban: “Mạch lạc không chỉ đơn giản thuộc về logic, nó

còn thuộc về ngữ nghĩa, và ngữ nghĩa hiểu rất rộng thuộc về mối quan hệ quy chiếu thuộc về các từ ngữ beeb trong văn bản với vật, việc, hiện tượng bên ngoài văn bản và thuộc về chức năng (tức hành động nói) Ngoài ra mạch lạc còn biểu hiện cả trong cách tổ chức văn bản, phương diện nghĩa của mạch lạc còn biêu hiện trong cái gọi là “ngữ pháp truyện” [3;135]

Tác giả cũng đã chỉ ra: “Mạch lạc trong văn học là cái rộng rãi nhất, vì vậy

mà khó nắm bắt nhất” [3;175], nhưng cũng có thể thấy: Văn bản văn học mang

tính mạch lạc một cách rõ ràng hơn là hội thoại hằng ngày, cũng có nghĩa là người cầm bút chú ý nhiều hơn đến cấu trúc bài viết của mình

b Tác giả Nguyễn Thị Thìn trong bài viết về “Mạch lạc trong văn bản viết”

đã đưa ra bốn phương diện về mạch lạc như sau:

- Sự thống nhất về chủ đề và đích giao tiếp của toàn văn bản

- Trình tự triển khai tính chủ đề đảm bảo tính hợp lý

- Mối quan hệ chặt chẽ giữa các thành tố nội dung văn bản

- Giải pháp triển khai chủ đề phù hợp với ý đồ giao tiếp và thể loại văn bản

c Trong một số luận văn thạc sĩ, khóa lận tốt nghiệp đại học, mạch lạc của văn bản cũng được trình bày bằng hình thức cụ thế hóa như sau:

- Luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Thị Ninh: “Mạch lạc trong một số

truyện ngắn của Thạch Lam”

- Luận văn thạc sĩ khoa học của Nguyễn Mậu Tư: “Mạch lạc trong phóng

sự “Cạm bẫy người”

- Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Dung: “Mạch lạc trong truyện ngắn

Vũ Tọng Phụng”

- Khóa luận tốt nghiệp của Bùi Thị Phương Anh: “Tìm hiểu sự mạch lạc

của lời thoại trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan”

- Khóa luận tốt nghiệp của Đặng Thị Diệu Thủy: “Mạch lạc của lời thoại

trong truyện ngắn Tô Hoài”

Từ các đề tài nghiên cứu trên chúng ta có thể thấy, tuy mạch lạc là một hiện tượng có thực nhưng khá trừu tượng và không dễ nắm bắt Tuy nhiên, dễ nhận thấy là văn bản văn học mang tính mạch lạc một cách rõ rằng hơn là hội thoại

Trang 11

thường ngày, cũng có nghĩa là người cầm bút chú ý nhiều hơn đến cấu trúc bài viết của mình Khái niệm mạch lạc đối với cấu trúc của văn bản là một trong những khái niệm quan trọng đối với người cầm bút Các đề tài nghiên cứu trên

đã phần nào cụ thể hóa hơn sự mạch lạc biểu hiện trong nội dung và trong lời thoại của các tác phẩm Qua đó đưa ra một góc nhìn sâu sắc về tài năng của các nhà văn

Như vậy, vấn đề mạch lạc đã được quan tâm đến trên cả hai phương diện nghiên cứu như các tác giả Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Thìn đã trình bày và phương diện thực tiễn qua các luận văn, khóa luận tìm hiểu cụ thể ở tác phẩm văn học Qua đó đã giúp cho lý thuyết về mạch lạc bớt đi sự mơ hồ vốn có

2.2 Một số ý kiến đánh giá về truyện ngắn Tô Hoài có liên quan đến mạch lạc

Tô Hoài là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của nền văn học hiện đại Việt Nan Ông được đánh giá là người tiên phong trong việc sáng tạo truyện cho thiếu nhi Các tác phẩm của ông, ngay từ buổi đầu xuất hiện đã được độc giả yêu thích và giới chuyên môn đánh giá cao

Tác phẩm của ông thành công bởi: “Bút pháp Tô Hoài linh hoạt Anh có tài

dẫn chuyện và chuyển cảnh, đọc tác phẩm của anh ta có cái thú của một người xem phim, thấy được truyện bất ngờ” [12;77] Mặt khác: “Ngôn ngữ của Tô Hoài thường ngắn gọn và rất gần với khẩu ngữ của nhân dân lao động”

[12;77]

Tác giả Phan Cư Đệ trong bài viết: “Tô Hoài- Nhà văn Việt Nam hiện đại”

có nhận xét: “Trong tác phẩm của Tô Hoài, nhìn chung ngôn ngữ của quần

chúng đã được nâng cao, nghệ thuật hóa”…, “Tô Hoài không đặt câu, tổ chức kiến trúc câu theo kiểu sẵn có” [8;99]

Tô Hoài có sự hiểu biết từ nhiều năm về con người, phong tục, sinh hoạt, cảnh sắc thiên nhiên ở vùng cao biên giới, để ý đến kiểu nói của mỗi người, cách suy nghĩ diễn đạt của từng nhân vật Chỉ có thông qua sự vận động của lời nói thì chúng ta mới hiểu được nhân vật Ngôn ngữ trong văn xuôi theo Tô Hoài phải là thứ ngôn ngữ giàu tính chất tạo hình đập ngay vào giác quan người đọc

Tác giả Hà Minh Đức trong: Lời giới thiệu tuyển tập Tô Hoài có nhận xét:

“Ông là nhà văn sử dụng nhiều thể loại văn học và ở thể loại nào mạch văn của

Trang 12

rơi vào tình trạng chữ nghĩa sáo mòn và có lối biểu hiện nghèo nàn Có nhiều hiện tượng vốn khô khan khó miêu tả nhưng dưới ngòi bút của Tô Hoài cũng trở nên sinh động, cách diễn tả nhiều cảm hứng, liên tưởng đẹp, so sánh thích hợp, chữ nghĩa chọn lọc và gợi cảm” [9;140] Tô Hoài đã say mê tìm tòi và sử dụng

chữ nghĩa tiếng Việt một cách sinh động ông đặc biệt chú ý đến cái mới, cái đẹp của ngôn từ

3 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Khóa luận không nhằm đưa ra những đánh giá, nhận xét, bình luận về tác

phẩm Vợ chồng A Phủ mà chỉ tập trung tìm hiểu sự mạch lạc trong truyện ngắn

này Từ đó, khóa luận tìm hiểu các tầng ý nghĩa trong tác phẩm

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Mạch lạc trong văn bản là một vấn đề quan trọng được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm và nghiên cứu Trong một văn bản truyện sự mạch lạc được thể hiện ở diễn biến, cốt truyện, lời dẫn chuyện, lời thoại trong truyện

Vì vậy, trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận, chúng tôi trình bày về

mạch lạc của lời thoại trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài

4 Mục đích và nhiệm vụ của đề tài

- Đánh giá một cách có căn cứ về giá trị nghệ thuật trong tác phẩm Vợ

chồng A Phủ của Tô Hoài

Trang 13

5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn ngữ liệu

5.1 Phương pháp khảo sát, thống kê

Qua việc khảo sát các sự kiện, phân tích tìm ra các tầng nghĩa trong tác

phẩm Vợ chồng A Phủ, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê để có thể hệ

thống một cách khoa học các dữ liệu khi tìm hiểu nội dung chính của khóa luận

5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm mục đích đi sâu tìm kiếm kĩ lưỡng các nội dung của vấn đề đưa ra và tổng hợp một cách khái quát, đầy đủ các nội dung đã tìm hiểu

5.3 Phương pháp miêu tả

Trong quá trình tìm hiểu tầng nghĩa và sự mạch lạc trong tác phẩm Vợ

chồng A Phủ của Tô Hoài sử dụng phương pháp miêu tả để tái hiện lại bối cảnh,

nội dung của lời thoại đặt trong ngữ cảnh giao tiếp Vì vậy, cách sử dụng phương pháp miêu tả là một phương pháp quan trọng trong quá trình tìm hiểu nội dung khóa luận

5.4 Nguồn ngữ liệu

Ngữ liệu mà chúng tôi sử dụng trong quá trình phân tích là các diễn ngôn

(lời thoại) của các nhân vật trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ Tác phẩm được in trong cuốn Truyện Tây Bắc của NXB Kim Đồng

6 Cấu trúc khóa luận

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phần mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm hai chương, cụ thể:

Chương 1: Cơ sở lý thuyết

Chương 2: Mạch lạc của lời thoại trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Văn bản

1.1.1 Khái niệm văn bản

Giống như tất cả các thuật ngữ khác về ngôn ngữ, thuật ngữ văn bản cho

đến nay cũng có khá nhiều định nghĩa khác nhau Chúng ta có thể tìm hiểu định

nghĩa văn bản qua quan niệm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu sau:

1 “[…] văn bản được xét như một lớp phân chia được thành các khúc

đoạn” (L.Hjelmslev,1953) [3;15]

2 “Văn bản được hiểu ở bậc điển thể là phát ngôn bất kỳ có kết thúc và có

liên kết, có tính chất độc lập và đúng về ngữ pháp” (W.Koch,1966) [3;15]

3 “Văn bản là chuỗi nối tiếp của các đơn vị ngôn ngữ được làm thành bởi

một dây chuyền của các phương tiện thế có hai trắc diện” (trục dọc và trục

ngang- D.Q.B)(R.Harweg,1968) [3;15]

4 “Một văn bản là một đơn vị của ngôn ngữ trong sử dụng Nó không

phải là một đơn vị ngữ pháp loại như một mệnh đề hay một câu; mà nó cũng không được xác định bằng kích cỡ của nó […] Một văn bản không không phải

là một cái gì loại như một câu, chỉ có điều là lớn hơn; mà nó là một cái khác với một câu về mặt chủng loại Tốt hơn ta nên xét văn bản như là một đơn vị nghĩa: một đơn vị không phải của hình thức mà là của ý nghĩa” (Halliday,1976-1994)

[3;16]

5 “Văn bản có thể định nghĩa là điều thông báo viết có đặc trưng là tính

hoàn chỉnh về ý và cấu trúc và có thái độ nhất định của các tác giả đối với điều được thông báo[ ] Về phương diện cú pháp văn bản là một hợp thể nhiều câu liên kết với nhau bởi ý và bằng các phương tiện từ vựng- ngữ pháp”

(L.M.Loseva,1980) [3;16]

6 “Nói một cách chung nhất thì văn bản là một hệ thống mà trong đó các

câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu- phần tử, trong hệ thống văn bản còn

có cấu trúc Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của một câu và những mối quan, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” (Trần Ngọc

Trang 15

7 “Văn bản là một chuỗi ngôn ngữ giải thuyết được ở mặt hình thức, bên

ngoài ngữ cảnh” (Cook,1989) [3;16]

8 “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dưới

dạng nói, viết hoặc biểu hiện bằng cử chỉ Được nhận dạng vì những mục đích phân tích Nó thường là một chỉnh thể ngôn ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định được, ví dụ như một cuộc thoại, một tờ áp phích” (D.Crystal.1992)

[3;16]

9 “Chúng ta sẽ sử dụng văn bản như một thật ngữ chuyên môn, để nói đến

việc ghi lại bằng ngôn từ của một hành động giao tiếp” (G.Brown và G.Yule,

nghĩa “văn bản” có thể hiểu như sau:

“Văn bản: Một quãng viết hay phát ngôn, lớn hoặc nhỏ, mà do cấu trúc đề

tài- chủ đề v.v… của nó, hình thành nên một đơn vị, loại như một truyện kể, một bài thơ, một đơn thuốc, một biển chỉ đường v.v… Định nghĩa vừa nêu trên có thể được hiểu như sau:

a Tên gọi văn bản ở đây bao gồm cả văn bản viết và văn bản nói, tức là không phân biệt văn bản với tư cách là quãng ngôn ngữ viết một bên và diễn ngôn (hay ngôn bản) với tư cách là ngôn ngữ nói một bên Khi cần có thể phân biệt ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (hay còn gọi là văn bản nói)

b Về mặt lượng, văn bản có thể có độ dài bất kỳ, từ độ dài bằng một từ cho đến quyển sách dài hàng trăm trang

c Văn bản là một đơn vị gồm nhiều phương diện như cấu trúc hình thức, cấu trúc nội dung, cấu trúc tin, đề tài, chủ đề và những phương diện về logic, văn hóa xã hội khác nữa Văn bản được coi là một tổng thể hợp nhất

d Về phương diện loại hình: Văn bản có thể thuộc về tất cả các hình thức cấu tạo khác nhau của lời nói được sử dụng trong thực tế giao tiếp bằng ngôn ngữ

Trang 16

Như vậy, theo các đặc điểm trên thì tác phẩm truyện cũng là một văn bản,

dù đó là truyện được lưu lại bằng chữ viết hay đó chỉ là các câu truyện được lưu truyền dân gian Vì đó là các văn bản nên các tác phẩm truyện dù là truyện dài hay ngắn… thì đều phải có các đặc điểm của một văn bản như ở định nghĩa vừa nêu trên

1.1.2 Đặc trưng của văn bản

Tùy theo từng nhà nghiên cứu với mục đích cụ thể của mình, cái đặc trưng cốt lõi làm cho một quãng ngôn ngữ (có trường độ) trở thành một văn bản đã được nêu ra trong định nghĩa của họ Sau đây là những đặc trưng cụ thể của văn bản xét ở phương diện xác định văn bản trong bản thân nó và trong mối quan hệ với những cái khác liên quan đến nó

1.1.2.1 Yếu tố chức năng

Văn bản có đích hay chủ định của chủ thể tạo ra văn bản, cụ thể là người tạo ra văn bản dùng lời nói (miệng hay viết) của mình để thực hiện một hành động nào đó nhằm tác động vào người nghe (như sai khiến, hỏi, trình bày, nhận định, phủ định, mời, chào, cảm ơn…) Chính chức năng này của văn bản gắn trực tiếp với chức năng cơ bản của ngôn ngữ: chức năng giao tiếp

Ví dụ 1:

- Văn bản: “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh là văn bản có chức năng thông báo để khẳng định sự độc lập chủ quyền của đất nước Việt Nam và tuyên bố khai sinh ra đất nước Việt Nam dân chủ cộng hòa cho cả thế giới biết

- Văn bản: “Giấy mời họp lớp” là văn bản có chức năng mời họp lớp có

thời gian địa điểm cụ thể

1.1.2.2 Yếu tố nội dung

Văn bản thường có một hoặc vài ba đề tài - chủ đề xác định - giúp phân biệt văn bản với chuỗi câu nối tiếp lạc đề hoặc xa hơn nữa, phân biệt với chuỗi câu không mạch lạc, tình cờ đứng cạnh nhau, tạo ra chuỗi bất thường về nghĩa hay phi văn bản

Ví dụ 2:

Trang 17

- Trong tác phẩm: “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố với đề tài lớn đó là “sự khốn cùng của người nông dân trước cách mạng tháng Tám” Đề tài này đã xuyên suốt tác phẩm và tạo ra khối liên kết nội dung làm thành văn bản

Việc tạo ra đề tài- chủ đề xác định cho văn bản còn được coi là tạo ra tính thống nhất đề tài- chủ đề của văn bản

1.1.2.3 Mạch lạc và liên kết

Mạch lạc và liên kết là hai yếu tố quyết định việc tạo thành văn bản, trong

đó nổi rõ lên việc tạo thành tính thống nhất đề tài- chủ đề là mạch lạc, đây là yếu

tố giúp phân biệt văn bản với phi văn bản ở mặt tổ chức nội dung Mạch lạc có thể sử dụng các phương tiện liên kết làm cái diễn đạt cho mình; tuy nhiên mạch lạc có thể không dùng đến phương tiện liên kết mà trái lại có dùng phương tiện liên kết chưa chắc đã tạo ra được mạch lạc cho văn bản

Ví dụ 3:

- Lan hôm nay chưa đi học, Lớp mình ai cũng bảo vậy

Liên kết bằng phép thế ở ví dụ 3 được thể hiện qua từ vậy, nó dùng để thay thế cho cụm từ Lan hôm nay chưa đi học

Trang 18

Nếu văn bản được làm thành từ hoặc một câu thì mạch lạc và liên kết trong văn bản không thật hiển nhiên nữa

1.1.2.5 Yếu tố định biên (Tính trọn vẹn tương đối của văn bản)

Văn bản có biên giới phía bên trái (đầu vào) và biên giới phái bên phải (đầu ra) và nhờ đó mà có tính kết thúc tương đối - yếu tố này giúp phân biệt những văn bản khác nhau khi nhiều văn bản được tập hợp lại như một tập bài nghiên cứu, một tờ báo, một số tạp số tạp chí, một tuyển tập văn học thơ,…

Như vậy, văn bản có năm đặc trưng thực tiễn Đó là: (1) Đích hay chủ định của người nói (yếu tố chức năng), (2) Đề tài - chủ đề xác định (yếu tố nội dung), (3) Mạch lạc và liên kết, (4) Gồm nhiều câu - phát ngôn nối tiếp (yếu tố

số lượng), (5) Có biên giới bên trái và bên phải (yếu tố định biên)

Như đã phân tích ở trên, chúng ta đã lần lượt đi tìm hiểu về khái niệm của văn bản và đặc trưng của văn bản Từ những điều đã tìm hiểu, chúng ta thấy các tác phẩm truyện trong văn học cũng là một văn bản Vì thế, nó cũng bảo đảm được đầy đủ các đặc trưng của văn bản đặc biệt là yếu tố mạch lạc và liên kết trong văn bản Đây được coi là đặc trưng cơ bản tạo nên một văn bản đích thực

Từ đó có thể thấy tác phẩm Vợ chồng A Phủ cũng là một văn bản và tính mạch

lạc là yếu tố quan trọng trong việc tạo nên văn bản và góp phần vào sự thành công của tác phẩm khi tới tay người đọc

1.2 Khái niệm mạch lạc

1.2.1 Khái quát chung

Ngôn ngữ từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ học Theo Diệp Quang Ban, lời nói, hành vi nói tồn tại chủ yếu dưới hình thức là âm thanh,

là loại sản phẩm rất phức tạp Ở đó, ngôn ngữ xuất hiện với toàn bộ sự đa dạng, phong phú về kết cấu Hành vi lời nói là sản phẩm của quá trình giao tiếp trong khoảng không gian hẹp, thời gian ngắn nhưng bối cảnh lại đa dạng

Tác giả Nguyễn Thị Việt Thanh lại coi văn bản (text) và hành vi văn bản (text act) tồn tại chủ yếu dưới dạng văn tự Hoạt động của hành vi văn bản luôn

được “người phát tin” chuẩn bị trước và văn bản tham gia vào quá trình giao

tiếp với tư cách một ngôn phẩm có tính chất hoàn chỉnh ở cả ba mặt: hình thưc, cấu trúc, nội dung (Trần Ngọc Thêm), văn bản cũng có thể ở dạng âm thanh

Trang 19

Trên cơ sở đó, trong phạm vi của khóa luận này chúng tôi tạm thời coi văn bản là khái niệm tồn tại ở cả dạng văn tự và âm thanh (nói và viết)

Một văn bản có được gọi là văn bản hay không còn phụ thuộc vào một yếu

tố quan trọng khác là mạch lạc Vì văn bản không phải đơn thuần được tạo nên bởi “phép cộng đơn thuần” giữa các phát ngôn mà giữa chúng tạo thành một đơn

vị để thực hiện chức năng đó

K.Wales (1994) có nhận định: “Mạch lạc được coi là một trong những điều

kiện hoặc đặc trưng hàng đầu của văn bản Không có mạch lạc, một văn bản không phải là một văn bản đích thực” [1;135]

Ngôn ngữ tồn tại với tính chất hai mặt nội dung và hình thức Cho nên, tính liên kết trong diễn ngôn cũng có hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức Hai mặt này có quan hệ chặt chẽ, biện chứng với nhau

- Liên kết nội dung: gồm liên kết đề tài, chủ đề, logic

- Liên kết hình thức: gồm các phương tiện ngông ngữ

Vì vậy, nhìn chung mạch lạc là một khái niệm khá mới mẻ, mơ hồ trong nhận thức người Việt

1.2.2 Khái niệm mạch lạc

1.2.2.1 Khái niệm mạch lạc trong từ điển

Mạch lạc là một hiện tượng có mức độ, không thể vạch đường phân giới rạch ròi giữa có mạch lạc và không có mạch lạc Hơn nữa, bên cạnh tên gọi “

mạch lạc” còn có tên gọi “liên kết” và tên gọi thứ hai này lại được chứ ý đến

một cách tập trung hơn trong thời gian trước đây Ngay những người vốn

chuyên làm việc với “chữ nghĩa” thường cũng không dễ gì phân biệt được mạch

lạc với liên kết Ai đó có quan tâm thì cũng chỉ cảm thấy là chúng không hoàn

toàn đồng nhất với nhau mà thôi, chứ không khó bề thực hiện “coi mặt đặt tên”

cho chúng một cách phân biệt Sự thật đó được xác nhận qua nguồn gốc tên gọi

“mạch lạc”

Trong tiếng Việt, từ “mạch lạc” là từ Hán Việt, và được định nghĩa như sau

trong một số từ điển:

- “Mạch lạc Dây mạch chạy trong người Nghĩa rộng: cái gì liên tiếp nhau

không dứt: Bài văn mạch lạc không thông” [2;165]

Trang 20

- “Mạch lạc (sinh lý) Những mạch máu chạy thông liền với nhau trong

thân thể- Hệ thống về học thuật” [2;165]

- “Mạch lạc Sự liên tiếp rõ ràng giữa các bộ phận: Chuyện có mạch lạc”

[1;165]

- “Mạch lạc I Sự tiếp nối theo một trật tự hợp lý giữa các ý, các phần tử

trong nội dung diễn đạt Chuyện kể có mạch lạc” [2;165]

- “Mạch lạc II Có mạch lạc Trình bày mạch lạc ý kiến của mình Văn viết

mạch lạc” [2;165]

Qua những định nghĩa dẫn trên, có thể thấy rằng trong tiếng Việt từ “mạch

lạc” trong ý nghĩa sự tiếp nối về ý nghĩa trong văn bản đã được chú ý từ lâu theo

kiểu của phân tích văn học Có lẽ đó là nhờ ảnh hưởng của ngành ngữ văn rất phát triển, và phát triển theo cách riêng của mình

1.2.2.2 Khái niệm mạch lạc của những nhà chuyên môn

Khái niệm mạch lạc được đề cập cụ thể trong từ điển đã chứng thực sự quan tâm của mọi người, song vẫn chưa thể cung cấp một cái nhìn đầy đủ, có hệ thống về khái niệm này

Sau đây chúng tôi xin dẫn ra quan điểm của một số nhà nghiên cứu về mạch lạc:

- D.Nunan cho rằng: “Mạch lạc là cái tầm rộng mà ở đó các lời nói được

tiếp nhận là có “mắc vào nhau”, chứ không phải là một tập hợp câu nói không

có liên quan với nhau” [2;133]

- D.Togeby lại cho rằng: “Mạch lạc là cái đặc tính của sự tích hợp văn bản,

tức là cái đặc tính bảo đảm cho các yếu tố khác nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết” [3;135]

- K.Wales thì hiểu: “Mạch lạc là một trong những điều kiện ban đầu hay

đặc tính ban đầu của một văn bản: không có mạch lạc, một văn bản không phải

là một văn bản đích thực” [2;135]

- M.AK.Halliday và Hassan trình bày cách hiểu khá rõ về mạch lạc: “Mạch

lạc coi như phần còn lại (sau khi trừ liên kết) thuộc về ngữ cảnh của tình huống với những dấu nghĩa tiềm ẩn Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liên kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” [12;9]

Trang 21

- Ở Việt Nam, tác giả Đỗ Hữu Châu khẳng định: “Một văn bản, một diễn

ngôn là một lập luận hay phức hợp bất kể văn bản viết theo phong cách chức năng nào, tính lập luận là sợi chỉ đỏ được bảo đảm tính mạch lạc về nội dung bên cạnh tính liên kết về hình thức của văn bản, của diễn ngôn” [5;174]

- Tác giả Diệp Quang Ban lại cho rằng: “Cái nhìn chung nhất hiện nay là

những từ trực tiếp diễn đạt các quan hệ kết nối giữa các câu- phát ngôn làm thành các tiểu hệ thống (các phương tiện liên kết) thì được sắp xếp vào liên kết, còn những mối quan hệ kết nối nào thiết lập được thông qua ý nghĩa giữa các câu thì thuộc về mạch lạc” [3;71]

Qua các cách biểu hiện trên, ta thấy dù các nhà nghiên cứu có các cách phát biểu khác nhau về mạch lạc nhưng xét chung lại họ đều thống nhất ở các điểm sau đây:

Mạch lạc là một điều kiện để hình thành một văn bản đích thực và là đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản

Mạch lạc là yếu tố không trùng với liên kết, mạch lạc và liên kết có thể cũng xuất hiện trong một văn bản

1.2.3 Phân biệt mạch lạc với liên kết

Mạch lạc và liên kết là hai phương diện khác nhau Mạch lạc là sợi dây nối

nối các yếu tố mang nghĩa trong văn bản

Liên kết là bộ phận trong hệ thống của một ngôn ngữ với chức năng nối nghĩa của câu với câu trong văn bản, theo những cấu hình nghĩa xác định

Tuy nhiên, mạch lạc là một hiện tượng khá mơ hồ, ranh giới giữa mạch lạc

và liên kết khó có thể phân định rõ ràng Vì thế vấn đề đặt ra là: làm thế nào để phân biệt được mạch lạc và liên kết ?

Qua các định nghĩa được nêu ở trên, đặc biệt là định nghĩa của Đỗ Hữu Châu và Diệp Quang Ban đã phần nào chỉ rõ sự khác biệt giữa mạch lạc và liên kết Đó là:

Mạch lạc là những cách thức tạo ra sự kết nối giữa các ý nghĩa, các nội dung của một văn bản Sự nối kết đó có thể được tạo ra bằng các hình thức ngôn ngữ, nhưng cũng có thể tạo ra sự kết nối mà không nhất thiết phải sử dụng đến hình thức ngôn ngữ trong văn bản

Trang 22

Liên kết được coi là phương tiện thuộc về hình thức ngôn ngữ dùng để kết nối câu này với câu kia, của phần này với phần khác trong văn bản

Mạch lạc là yếu tố có mặt trong văn bản đích thực với tư cách là yếu tố quyết định cho việc tạo lập văn bản

Liên kết có thể có mặt trong văn bản đích thực cũng có thể có mặt trong phi văn bản (văn bản giả tạo)

Chính vì thế mạch lạc không chỉ xuất hiện ở các phương tiện ngôn ngữ liên kết với nhau trong một văn bản như: Một bài văn nghị luận, một bài văn miêu tả… mà nó còn xuất hiện ở khả năng dung hợp giũa các hành động nói; trong quan hệ giữa đề tài, chủ đề của câu, trong trình tự hợp lý giữa các câu; trong quan

hệ ngoại chiếu trong văn bản với các sự vật, hiện tượng tồn tại ngoài văn bản Trình bày các quan điểm về mạch lạc và liên kết cùng những cách hiểu

khác nhau về mạch lạc, ta có thể đưa ra một ý kiến thống nhất cho rằng: “Mạch

lạc là yếu tố có tác dụng quyết định tính văn bản cho một văn bản đích thực”

Nói cách khác, nó là yếu tố quyết định cho một văn bản “là một văn bản” Mạch

lạc có thể được diễn đạt bằng các phương tiện liên kết nhưng cũng có thể xác lập

mà không cần đến các phương tiện liên kết, ngược lại một chuỗi câu có liên kết vẫn có thể không làm thành một văn bản đích thực

Ví dụ 5:

“Cắm bơi một mình trong đêm Đêm tối như bưng không nhìn rõ mặt đường Trên con đường ấy, chiếc xe lăn bánh rất êm Khung cửa xe phía cô gái ngồi lồng đầy bóng trăng Trăng bồng bềnh nổi lên qua dãy núi Pú Hồng Dãy núi có ảnh hưởng quyết định đến gió mùa đông bắc ở miền Bắc nước ta Nước

ta bây giờ của ta rồi; cuộc đời bắt đầu hửng sáng”

Trong ví dụ này đã chỉ ra từng đôi câu đứng liền nhau có phương tiện liên kết (lặp từ vựng) và làm thành một chủ đề Nhưng xét trong tổng thể thì không xác định được đề tài và chủ đề của nó là gì Nó chỉ là sự minh họa cho sự lạc đề

mà thôi

Điều này khẳng định, chuỗi câu liên kết chặt chẽ với nhau vẫn không thể thành một văn bản vì chúng không mạch lạc với nhau

1.3 Các biểu hiện của mạch lạc

Mạch lạc là một hiện tượng có thực nhưng khá trừu tượng và không dễ nắm

Trang 23

bắt Để làm rõ mạch lạc thường phải dùng những dẫn chứng phản diện, tức là chỉ ra những hiện tượng không mạch lạc để qua đó mà nhận biết mạch lạc Cần lưu ý rằng mạch lạc cũng được hiểu theo những cách rộng hẹp khác nhau Cách hiểu rộng về mạch lạc là cách hiểu trong đó thể hiện sự quan tâm của nhiều ngành học như tâm lý học, văn học, ngôn ngữ học nói chung Cách hiểu hẹp về mạch lạc là cách hiểu riêng của những nhà phân tích diễn ngôn, họ hiểu mạch lạc là sự dung hợp nhau của các hành động nói

Mạch lạc là quan hệ nghĩa mà cũng có thể là quan hệ chức năng giữa các hành động nói trong tương tác Trên thực tế, việc xem xét tất cả các hiện tượng thuộc về mạch lạc tồn tại trong tất cả các văn bản thuộc các thể loại khác nhau là công việc rất đồ sộ, không dễ thực hiện Trong phạm vi khóa luận này, chúng tôi xin đưa ra một số biểu hiện thực tế dễ nhận biết của mạch lạc được nêu trong phạm vi cụ thể sau dây:

1.3.1 Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài, chủ đề của câu

Các đề tài và chủ đề của câu trong một văn bản thường có mối quan hệ với nhau Mối quan hệ giữa chúng làm nên sự mạch lạc của văn bản chứa chúng Các đề tài - chủ đề giữa các câu có thể được thực hiện theo hai cách là duy trì đề tài và triển khai đề tài

1.3.1.1 Duy trì đề tài - chủ đề

Duy trì là trường hợp một vật, việc, hiện tượng nào đó được nhắc lại trong những câu khác nhau với tư cách là đề tài của các câu đó Các phương tiện ngôn ngữ diễn đạt đề tài này trong các câu khác nhau có thể chỉ là một và được lặp lại,

mà cũng có thể là những yếu tố có bề ngoài khác nhau; trong cả trường hợp này, các từ ngữ đều cùng chỉ về một vật, hiện tượng này gọi là đồng chiếu

Về mặt liên kết, sự duy trì đề tài được thực hiện nhờ:

Trang 24

Trong hai câu vừa dẫn, từ Hoa và từ cô ấy cùng chỉ về một người, tức là đề tài Hoa được duy trì ở câu thứ hai Cô ấy dùng ở ngôi thứ ba được dùng để thay

từ Hoa Hay nói cách khác muốn biết cô ấy là ai thì phải chiếu nó về từ Hoa ở câu trước Cách này cũng dùng để giúp liên kết hai câu với nhau

Ví dụ 7:

“ Tôi muốn tắt nắng đi

Cho màu đừng nhạt mất;

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi”

(Vội vàng - Xuân Diệu)

Trong ví dụ này có hai câu ngữ pháp, và từ “Tôi muốn” được nhắc lại với tư

cách chủ ngữ ngữ pháp ở hai đầu câu, đây là một cách duy trì đề tài Về phương diện liên kết, lặp lại từ ngữ là một kiểu nhỏ trong phép liên kết từ vựng

Ví dụ 8:

“Thế mà hơn 80 năm nay, bọn thực dân Pháp lợi dụng lá cờ tự do, bình đẳng, bác ái, đến cướp đất nước ta, áp bức đồng bào ta Hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”

(Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh)

Trong ví dụ này cùng nói đến một đối tượng là “thực dân Pháp” Nhưng ở câu sau tác giả đã thay thế bằng từ “chúng”, là đại từ nhân xưng dùng để thay

thế cả cụm từ thực dân Pháp Cách dùng đại từ nhân xưng như vậy cũng giúp liên kết hai câu lại với nhau

1.3.1.2 Triển khai đề tài – chủ đề

Triển khai đề tài, chủ đề là trường hợp từ một đề tài nào đó trong một câu, liên tưởng đến đề tài khác thích hợp trong câu khác theo một quan hệ nào đó, nhằm mục đích làm cho sự việc được nói đến phát triển thêm lên Các đề tài được thêm vào phải có cơ sở nghĩa và logic nhất định Cơ sở nghĩa là sự phù hợp về nghĩa với đề đã có và với tình huống sử dụng nói chung, cơ sở logic là tính cần và đủ

Về mặt liên kết, sự triển khai đề tài được thực hiện chủ yếu nhờ:

Trang 25

(Hai đứa trẻ - Thạch Lam)

Trong ví dụ này các từ: “trống thu không, buổi chiều, phương tây đỏ rực,

đám mây ánh hồng, dãy tre làng trước mặt đen lại” là những từ có quan hệ với

nhau theo kiểu chúng cùng chỉ một sự việc và chúng có mặt trong cùng sự việc: chiều tàn của phố huyện Các từ này gộp lại làm thành cái nền cho một buổi chiều của nơi phố huyện nghèo Đó là một trong những cách triển khai đề tài bằng sự phối hợp từ ngữ và sự phối hợp này cũng tạo ra sự liên kết câu với câu

1.3.1.3 Cách duy trì, triển khai đề tài – chủ đề

Theo F.Danes có thể có năm cách duy trì và triển khai đề tai, chủ đề:

Cách 1: Triển khai tuyến tính giản đơn, tức là phần thuyết của cấu đi trước được nhắc lại với tư cách phần đề của câu thứ hai, phần thuyết của câu thứ hai lại được dùng vào phần đề của câu thứ ba, và cứ thế tiếp diễn

Ví dụ 10:

“Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”

(Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh)

Cách 2: Duy trì một đề xuyên suốt toàn văn bản, với những phần thuyết khác nhau kế tiếp

Ví dụ 11:

“ Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào

Trang 26

Chúng thi hành những pháp luật dã nam Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn chặn việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết

Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu

Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân

Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược…” (Tuyên ngôn Độc lập - Hồ Chí Minh)

Duy trì đề tài: Tội ác của bọn thực dân Pháp

Cách 3: Sự triển khai nhiều đề xuất phát từ một đề chung lớn hơn, những đề nhỏ này gọi là đề phái sinh (từ một đề chung)

Cách 4: Triển khai một phần thuyết tách thành nhiều bộ phận (thường phần thuyết đã cho là phần thuyết chung do một từ thuộc bậc trên đảm nhiệm, nó có thể tách ra được thành các phần thuyết bộ phận, và những phần thuyết này được lấy làm đề cho những câu tiếp theo)

Ví dụ 14:

Trang 27

Cánh đồng đôi ba vụ

Tre với người vất vả quanh năm (1)

Tre với người như thể mấy nghìn năm (2) Một thế kỉ “văn minh”, “khai hóa” của thực dân Pháp cũng không làm ra được một tấc sắt (3) Tre vẫn phải còn vất vả mãi với người (4).” [23;96]

Năm kiểu triển khai đề trình bày trên đây do Frantisek Danes (1970) nêu

lên như là giả thuyết về “sự triển khai đề”, và hiểu đó là “tập hợp những mối

quan hệ nối kết các đề khác nhau với nhau trong một văn bản”, cho phép xác

lập một loại hình nào đó của các văn bản

1.3.2 Mạch lạc thể hiện ở tính hợp lý trong triển khai mệnh đề

Trong việc triển khai mệnh đề cũng đò hỏi tính hợp lý Có hai cách thể hiện tính hợp lý trong triển khai mệnh đề, hợp lý bên trong câu và hợp lý giữa các câu

1.3.2.1 Bên trong câu

Các từ nằm trong một câu cũng như các từ nằm ở những câu khác nhau bao giờ cũng có quan hệ nghĩa và quan hệ logic khăng khít với nhau Những quan hệ này góp phần tạo ra mạch lạc trong câu hay các câu đó Đó là sự hợp lý về nghĩa

và logic trong triển khai mệnh đề

Trong một phạm vi hẹp tính logic trong triển khai mệnh đề cũng được thể

hiện Trần Ngọc Thêm gọi tên nó là: “Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa

nghĩa giữa vật nêu ở chủ ngữ với đặc trưng nêu ở vị ngữ” Điều này có thể minh

họa bằng ví dụ:

Ví dụ 15:

“Cái bàn tròn này vuông.”

Trong ví dụ này, về mặt ngữ pháp, câu này hoàn toàn được chấp nhận vì nó đúng ngữ pháp, đủ các thành phần, bộ phận nòng cốt câu Nhưng về mặt ý nghĩa

logic, câu này không được chấp nhận vì đặc trưng vuông không thể gán ghép cho cái bàn vốn dĩ có hình tròn Nói cách khác, trong cùng một câu cái bàn này bị gán

ghép cho hai đặc trưng mâu thuẫn, không thể dung hợp nhau là hình “vuông” và hình “tròn”… Câu này mắc lỗi về tính hợp lý trong triển khai mệnh đề

1.3.2.2 Giữa các câu

Ở phạm vi rộng hơn, đó là tính hợp lý giữa các câu trong một văn bản, phát

Trang 28

ngôn Theo Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Mạch lạc biểu hiện trong quan hệ giữa

các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan hệ nghĩa với nhau.” Tính hợp lý

của việc triển khai mệnh đề giữa các câu được thể hiện ở tính hợp lý giữa đặc trưng nêu ở vị ngữ của câu này xét trong quan hệ với đặc trưng nêu ở vị ngữ của câu có quan hệ với nó

1.3.3 Mạch lạc thể hiện trong trình tự hợp lý của các câu

Giữa các sự việc chứa trong các câu nối tiếp nhau (trong những câu đơn nối tiếp nhau, hoặc trong một câu ghép chứa nhiều mệnh đề) có thể có quan hệ logic (quan hệ nguyên nhân, quan hệ bổ sung…) hoặc quan hệ nghĩa (quan hệ thời gian, không gian…) và việc thay đổi trật tự giữa chúng có thể dẫn đến những hậu quả khác nhau, nếu không được phép thêm vào những từ ngữ làm rõ quan

hệ giữa chúng Trong việc này có thể gặp hai trường hợp rõ nhất sau đây:

(1) Thay đổi trật tự các mệnh đề dẫn đến cái vô nghĩa

Ví dụ 17:

- Bước ra khỏi nhà Cánh cửa đóng lại (1)

- Cánh cửa đóng lại Bước ra khỏi nhà (2)

Chuỗi câu mới được tạo ra (2) là vô nghĩa Trong hai cặp câu này chứa

mệnh đề: “bước ra khỏi nhà” và “cánh của đóng lại” Hai sự việc này được sắp

xếp theo trình tự tuyến tính, vì vậy nó trở nên mạch lạc và có nghĩa Nhưng nếu đổi lại theo nội dung của cặp (1) ta thấy có sự vô nghĩa, bởi cánh cửa đã đóng không thể bước ra được Việc đảo lại trật tự của hai câu này đã làm cho tập hợp câu đó trở nên vô nghĩa Ví dụ này chứng minh cho một cách điển hình về sự hợp lý giữa việc sắp xếp trình tự của các câu sẽ tạo nên sự mạch lạc

Trang 29

(2) Thay đổi trật tự các mệnh đề dẫn đến sự thay đổi vai trò của các yếu tố trong quan hệ

Ví dụ 18:

- Trời mưa nên em không đi học.(1)

- Em không đi học vì trời mưa.(2)

Cả hai ví dụ trên ta thấy mệnh đề đứng trước đều là mệnh đề chỉ nguyên nhân, mệnh đề đứng sau chỉ hệ quả Như vậy, sự thay đổi trật tự đã dẫn đến sự thay đổi vai trò các yếu tố trong quan hệ nguyên nhân, biến nguyên nhân ở câu (1) thành hệ quả câu (2) và cũng như vậy với vế còn lại

Trong ví dụ 18, để làm bộc lộ quan hệ nguyên nhân chúng ta có thể dùng

quan hệ từ nên hoặc quan hệ từ vì

Các biểu hiện của mạch lạc nêu trên đây có nguồn gốc trong quan hệ logic

và quan hệ thời gian giữa các sự việc diễn đạt bằng các từ ngữ và các câu, tức là chúng gắn với phần nội dung nghĩa của sự việc nêu trong câu, vì vậy chúng thuộc cách hiểu khái niệm mạch lạc của các nhà phân tích mặt hành động nói trong việc sử dụng của ngôn ngữ

1.3.4 Mạch lạc thể hiện ở khả năng dung hợp giữa các hành động nói

Hành động nói là hành động được thực hiện bởi lời nói trong khi nói như hành động hỏi, ra lệnh, hứa, chào, cảm ơn, xin lỗi v.v… Có những hành động nói thường phải đi đôi với nhau và cũng có những hành động nói không thể ăn nhập với nhau Khi các hành động nói đi đôi với nhau thì bản thân chúng cũng tạo ra được mạch lạc cho những lời trao đổi hoặc cho chuỗi của những câu nối tiếp nhau Chẳng hạn hành động hỏi thường kéo theo hành động trả lời, hành động mời thường kéo theo hành động chấp nhận lời mời hoặc hành động từ chối lời mời, hành động chào được chấp nhận bằng hành động chào đáp lễ v.v… Trong các câu nói diễn đạt các hành động nói nối tiếp nhau một cách chấp nhận được có thể chứa những từ ngữ cho thấy chúng liên kết với nhau, mà cũng

có thể không chứa những từ ngữ như vậy, nhưng cũng có thể đi được với nhau

Để dễ hiểu, chúng ta có thể gọi khả năng cùng đi được với nhau của các hành

động nói là “khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói”

Trang 30

Ví dụ 19:

SP1 Mình đi ăn kem đi!

SP: Mình có nhiều bài tập, sáng mai lại có giờ kiểm tra trên lớp

Sp1: Thôi! Đành vậy

Xét về mặt từ ngữ thì hình như ba phát ngôn này không ăn nhập gì với nhau, nhưng đây lại là một hiện thực dễ gặp trong nhiều ngôn ngữ thuộc những nền văn hóa khác nhau

Về thực chất câu lời thoại đầu của SP1 là lời mời đem lại lợi ích cho người nghe Trước một lời mời nói chung thường có hai cách xử sự: Hoặc nhận lời mời hoặc từ chối Và khi người ta có lời xin lỗi thì người nghe cũng có hai cách

xử sự: Hoặc chấp nhận lời xin lỗi, hoặc từ chối lời xin lỗi

Ở ví dụ 19 ta có thể phân tích về phương diện chức năng như sau:

Phát ngôn : Chức năng:

SP1: Mình đi ăn kem đi! Mời

SP2: Mình có nhiều bài tập, sáng mai lại có giờ kiểm tra Từ chối SP1: Thôi! Đành vậy Chấp nhận từ chối

Bằng cách phân tích như vậy, những phát ngôn trong cuộc thoại trên được coi là mạch lạc với nhau

Tóm lại, mạch lạc trong cách hiểu chung của văn học, tâm lý học và ngôn ngữ học bao gồm trong ba lĩnh vực khác nhau: lĩnh vực nghĩa- logic, lĩnh vực quy chiếu và lĩnh vực chức năng Có thể tóm tắt những điểu trình bày về mạch lạc như sau:

(1) Mạch lạc thuộc về nghĩa - logic trong văn bản:

- Mạch lạc trong quan hệ nghĩa giữa vật nêu ở chủ ngữ và đặc trưng nêu ở

vị ngữ

- Mạch lạc trong quan hệ giữa các đề tài của các câu

- Mạch lạc trong quan hệ giữa các phần nêu đặc trưng ở những câu có quan

hệ nghĩa với nhau

- Mạch lạc biểu hiện trong trình tự hợp lý giữa các câu

Trang 31

(2) Mạch lạc trong quan hệ ngoại chiếu (quy chiếu từ ngữ trong văn bản với tình huống ngoài văn bản)

(3) Mạch lạc thuộc về chức năng, biểu hiện trong khả năng dung hợp nhau giữa các hành động nói

Ngoài ra, trong phân tích diễn ngôn, cái khung chung của tình huống giao tiếp, như cách giao tiếp tại phòng bên, trong lớp học v.v… cũng góp phần tạo tính mạch lạc cho các phát ngôn sử dụng trong các tình huống cụ thể đó Trong môn truyện học cũng có cách hiểu riêng về mạch lạc trong cách tổ chức chung của toàn bộ một truyện, làm thành cái gọi là ngữ pháp truyện

1.3.5 Mạch lạc thể hiện trong quan hệ ngoại chiếu

Quan hệ ngoại chiếu là mối quan hệ giữa các từ trong văn bản với vật, việc, hiện tượng bên ngoài văn bản, tức quy chiếu vào tình huống mà từ đó văn bản được tạo ra Tình huống trong cách hiểu như thế được gọi là ngữ cảnh huống Sự quy chiếu vào ngữ cảnh tình huống giúp cho các tình huống giúp cho từ ngữ trong văn bản trở nên rõ nghĩa hoặc xác định

Ví dụ 20:

Nó đang làm gì vậy?

Ở trong ví dụ này từ nó là một từ có nghĩa chưa xác định, vì bất cứ ai được nói tới cũng có thể được gọi bằng nó Muốn xác định được nó là ai thì phải quy chiếu nó đến người được chỉ bằng yếu tố ngôn ngữ này Sự quy chiếu như vậy được thực hiện được cách gọi là chỉ xuất

Sự chỉ xuất bao gồm ba trường hợp sau:

- Chỉ xuất nhân xưng,

- Chỉ xuất không gian,

- Chỉ xuất thời gian

Chỉ xuất nhân xưng là sự ngoại chiếu bằng các từ ngôi nhân xưng, tức là sử dụng từ chỉ ngôi nhân xưng để quy chiếu Điểm mốc quy chiếu nhân xưng là

Trang 32

Như vậy, quan hệ ngoai chiếu chỉ mạch lạc khi có sự quy chiếu đúng đối tượng và nó mạch lạc hoàn toàn với ngữ cảnh tình huống mà nó xuất hiện Trong tất cả các biểu hiện thì mạch lạc trong quan hệ ngoại chiếu là dễ nhận biết nhât là vì nó gắn với ngữ cảnh tình huống, một phạm vi rộng mà người nghe, người nói dễ nhận biết hơn cả

1.3.6 Mạch lạc biểu hiện ở khía cạnh tâm lý học

Ở khía cạnh này các nhà tâm lý học đặt ra một yêu cẩu cần giải quyết là làm thế nào để trên một cơ sở tin tích hợp hữu hạn và thực tế có được đưa ra trong phần lớn các văn bản viết tốt mà người đọc có thể xoay xở mà có thể suy

- Quan hệ nguyên nhân

- Mạng lưới quan hệ nguyên nhân

- Suy luận quy kết

Để tìm hiểu ba vấn đề này, họ đi khu biệt hai khái niệm: Phương tiện diễn đạt và khuôn mẫu diễn đạt

Phương tiện diễn đạt là quan hệ nguyên nhân được đánh dấu bằng những

quan hệ từ: vì, do, tại, bởi, nên…

Ví dụ 21:

Vì trời mưa nên em không đi học

Trang 33

Nguyên nhân hệ quả

Khuôn mẫu diễn đạt là quan hệ nguyên nhân được tạo ra bằng các trật tự từ hay mệnh đề (không sử dụng các phương tiện liên kết)

Ví dụ 22:

a) Mary kết hôn với John và mang thai

Nguyên nhân kết quả

b) Mary mang thai với John và kết hôn với anh ấy

Nguyên nhân kết quả

Từng đôi sự kiện ở mỗi câu trên là giống nhau nhưng trình tự trái ngược

Sự kiện đứng trước ở mỗi câu là nguyên nhân của sự kiện sau Nó tương tự mạch lạc trong trình tự hợp lý giữa các câu nêu ở phần trước

Dựa trên những cơ sở này, ta sẽ tìm hiểu những biểu hiện của mạch lạch

trong truyện ngắn Vợ chồng A Phủ

1.4 Mạch lạc trong lời thoại truyện ngắn

1.4.1 Một số khái niện cơ bản về lời thoại

Lời thoại là khái niệm dùng để chỉ một lời nói hoặc một chuỗi lời nói được thể hiện trên văn tự trong phạm vi của ngữ đoạn được xác định bằng một dấu gạch đầu dòng (-) hoặc một dấu ngoặc kép (“…”)

Ví dụ 23:

Trang nói với Dung:

- Mai Dung mang cho tớ mượn cuốn sách đó nhé

Dung trả lời:

- Ừ Mai mình sẽ mang

Những lời thoại được thực hiện ở môi trường giao tiếp nhất định, một chủ

đề giao tiếp nhất định và với một số lượng chủ thể giao tiếp xác định tạo thành một chỉnh thể đối thoại

Chỉnh thể đối thoại chịu sự chi phối của ba yếu tố trên nên nó không bị giới hạn bởi số lượng lời thoại Có khi ranh giới của chỉnh thể đối thoại trùng với ranh giới của một trong các lời thoại

Trang 34

Lời thoại trong giao tiếp rất đa dạng phong phú Dựa trên tiêu chí chủ thể tham gia giao tiếp về số lượng người ta phân loại lời thoại thành các bộ phận sau:

- Đơn thoại (còn gọi là độc thoại): là cuộc thoại chỉ xuất hiện lời phát ngôn của một cá thể đó (có thể người nghe cũng xuất hiện ở đó nhưng không phát ra bất cứ một hành động phản hồi nào)

- Song thoại (còn gọi là đối thoại đơn thoại): là cuộc thoại diễn ra với sự tham gia của hai cá nhân

- Đàm thoại: là cuộc thoại diễn ra chỉ với một người là trung tâm, là chủ tọa

và rất nhiều người khác nghe, đóng góp ý kiến, cùng bàn bạc một vấn đề gì đó Tuy lời thoại có rất nhiều loại như vậy nhưng trong phạm vi nghiên cứu của

khóa luận này, chúng tôi chỉ xét ở loại “song thoại” (đối thoại) là chủ yếu

1.4.2 Mạch lạc của lời thoại trong truyện ngắn

Khi tìm hiểu mạch lạc của lời thoại trong truyện ngắn, chúng tôi xin đi vào tìm hiểu lời thoại trong các cuộc song thoại của truyện ngắn

Mạch lạc của lời thoại theo đó cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự mạch lạc trong toàn văn bản truyện ngắn Trong truyện ngắn chúng ta

có thể tựu chung lại sự mạch lạc của lời thoại của các nhân vật trong các cuộc thoại song thoại của truyện ngắn được biểu hiện nhiều nhất trong hai nội dung: mạch lạc biểu hiện ở phương diện hình thức và mạch lạc biểu hiện ở phương diện nội dung

1.4.2.1 Mạch lạc biểu hiện ở phương diện hình thức (dùng các phương tiện liên kết)

Mạch lạc biểu hiện ở các phương tiện liên kết là dễ nhận biết nhất Vì đây

là phương tiện duy nhất mạch lạc thể hiện bằng một hình thức cụ thể thông qua các phương thức ngữ pháp Vì vậy, tìm hiểu các phương thức liên kết ở lời thoại trong truyện ngắn chính là đang lắp ghép những mảnh đơn giản nhất đầu tiên để hoàn thành một sản phẩm mang tên mạch lạc

Khi tìm hiểu mạch lạc trong truyện ngắn biểu hiện qua việc sử dụng các phương tiện liên kết Nổi bật lên là năm phép liên kết cơ bản hay sử dụng nhất,

đó là:

Trang 35

Ví dụ 24: - Phép nối

Chị Lan nói khẽ:

- Thôi chúng ta đi về đi Mọi chuyện đã như vậy rồi

- Nhưng chuyện đã rõ ràng đâu

Từ “nhưng” trong phát ngôn thứ hai của ví dụ đóng vai trò liên kết lời của phát ngôn thứ nhất với phát ngôn thứ hai Từ nhưng không chỉ nối kết hai câu

mà còn làm rõ nghĩ hơn cho câu: một vấn đề chưa được giải quyết rõ ràng

Ví dụ 25: - Phép thế

Quân bực mình nói:

- Cái Lan không đến à? Đã hẹn trước với nhóm như vậy rồi mà còn thế nữa

- Ừ Nó nói gia đình hôm nay có việc bận nên không đến được

Trong ví dụ này từ “nó” ở phát ngôn thứ hai thay thế cho từ “Lan” ở phát

ngôn thứ nhất Sự thay thế này làm cho cả hai phát ngôn kết nối với nhau cùng một vấn đề: Lan không đến như đã hẹn với nhóm và nhằm tránh hiện tượng lặp

từ gây sự nhàm chán

Ví dụ 26: - Phép tỉnh lược

“Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý Có khi được trưng bày trong tủ kính, trong bình pha lê rõ ràng, dễ thấy Nhưng cũng có khi cất giấu kín đáo trong rương, trong hòm”

Ngày đăng: 01/11/2014, 12:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Thị Phương Anh (5/2010), Mạch lạc trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Mạch lạc trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan
2. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp văn bản mạch lạc liên kết đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2003
3. Diệp Quang Ban (2006), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
4. Diệp Quang Ban (2002), “Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện”, Tạp chí Ngôn ngữ số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp truyện và một vài biểu hiện của tính mạch lạc trong truyện
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Tạp chí Ngôn ngữ
Năm: 2002
5. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
6. Đỗ Hữu Châu (2002), Đại cương ngôn ngữ học, ngữ dụng học tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: cương ngôn ngữ học, ngữ dụng học tập 2
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
7. Hà Minh Đức (1999), Lời giới thiều tuyển tập Tô Hoài, NXB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời giới thiều tuyển tập Tô Hoài
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
8. Phan Cự Đệ (2008), Tô Hoài – Nhà văn Việt Nam hiện đại, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài – Nhà văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
9. Nguyễn Thị Dung (05/2010), Mạch lạc trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng, khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạch lạc trong truyện ngắn Vũ Trọng Phụng
Tác giả: Nguyễn Thị Dung
Nhà XB: khóa luận tốt nghiệp
Năm: 2010
10. Tô Hoài (2011) , Tô Hoài truyện ngắn chọn lọc, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài truyện ngắn chọn lọc
Nhà XB: NXB Lao động
11. Nguyễn Thị Việt Thanh (1999), Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết lời nói tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Việt Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
12. Phong Lê, Vân Thanh (2001), Tô Hoài về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tô Hoài về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Phong Lê, Vân Thanh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2001
13. Trần Ngọc Thêm (1995), Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt
Tác giả: Trần Ngọc Thêm
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1995
14. Đặng Thị Diệu Thủy (5/2011), Mạch lạc của lời thoại trong truyện ngắn Tô Hoài, khóa luận tốt nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mạch lạc của lời thoại trong truyện ngắn Tô Hoài
Tác giả: Đặng Thị Diệu Thủy
Nhà XB: khóa luận tốt nghiệp
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Thìn (2003), “Về mạch lạc của văn bản viết”, Tạp chí Ngôn ngữ số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mạch lạc của văn bản viết
Tác giả: Nguyễn Thị Thìn
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w