Quá trình tìm hiểu nội dung đề tài: Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thức một cách toàn diện hơn về tài năng, phẩm giá và những đón
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ HUẾ
HÌNH ẢNH BỐN MÙA TRONG QUỐC ÂM THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRÃI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Sơn La, năm 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
VŨ THỊ HUẾ
HÌNH ẢNH BỐN MÙA TRONG QUỐC ÂM THI TẬP
CỦA NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Người hướng dẫn: TS Ngô Thị Phượng
Sơn La, năm 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Phòng Quản lý Khoa học trường Đại học Tây Bắc, các thầy, các cô bộ môn Văn học Việt Nam - khoa Ngữ Văn Thư viện trường Đại học Tây Bắc Đặc biệt, em xin cảm ơn sự giúp đỡ chỉ dẫn tận tình của Cô giáo - Tiến sĩ Ngô Thị Phượng đã giúp đỡ để em hoàn thành được khóa luận này
Qua đây, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các bạn sinh viên trong lớp K51 Đại học Văn - GDCD đã giúp đỡ em
Em xin chân thành cảm ơn!
Sơn La, ngày 20 tháng 04 năm 2014
Vũ Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 6
4 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Cấu trúc khoá luận 7
B NỘI DUNG 8
CHƯƠNG 1: NGUYỄN TRÃI VÀ QUỐC ÂM THI TẬP 8
1.1 Vài nét về thời đại và con người Nguyễn Trãi 8
1.1.1 Thời đại Nguyễn Trãi - những biến động lớn lao 8
1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Trãi 9
1.2 Bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi 11
1.3 Thống kê phân loại 13
1.3.1 Tổng số bài thơ viết về bốn mùa của Nguyễn Trãi 13
1.3.2 Những nhận xét rút ra từ số liệu thống kê 15
Tiểu kết chương 1 16
CHƯƠNG 2: BỐN MÙA - NHỮNG GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT 17
2.1 Nhắc nhở quy luật tuần hoàn 17
2.2 Tình yêu thiên nhiên 23
2.3 Tâm sự cá nhân và thời đại 30
Tiểu kết chương 2 36
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI PHƯƠNG DIỆN TRONG HÌNH THỨC BIỂU ĐẠT 37
3.1 Ngôn ngữ thơ trong sáng, giản dị 38
3.2 Hình ảnh thơ mang hơi thở của cuộc sống đời thường 42
3.3 Sự cách tân trong thể thơ, vần thơ và nhịp điệu thơ 46
C PHẦN KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền văn học của bất kỳ dân tộc nào cũng như lịch sử phát triển của dân tộc đó, để tồn tại cho đến ngày nay nó đều phải dựa trên cơ sở của cái cũ và phát triển thêm cái mới Nền văn học của dân tộc Việt Nam cũng như vậy Ra đời sau văn học dân gian, văn học trung đại Việt Nam có điều kiện tiếp thu những ánh sáng và tinh hoa từ nền văn học truyền thống mà cha ông ta đã dày công xây dựng và để lại Do đó, văn học trung đại Việt Nam đã nhanh chóng phát triển, sớm trở thành một bộ phận lớn của nền văn học nước nhà Có thể nói, văn học trung đại Việt Nam đã trở thành mảnh đất tốt tươi, sản sinh, nuôi dưỡng biết bao nhà thơ, nhà văn ưu tú và mỗi người có một phong cách sáng tác riêng Nếu đọc thơ Nguyễn Du ta bâng khuâng trước những giọt lệ cao cả, chảy mãi ngàn đời
giống như Chế Lan Viên đã đúc kết: “Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều” thì đến với Nguyễn Trãi ta bắt gặp một nhà quân sự làm thơ hết sức tài tình: “Nghe
hồn Nguyễn Trãi phiêu diêu Tiếng gươm khua, tiếng thơ kêu xé lòng” (Tố Hữu)
Nguyễn Trãi xuất thân trong một gia đình nhà Nho học, thuở nhỏ ông đã phải chịu nhiều mất mát đau thương nhưng ông lại học rất giỏi, từng đỗ thái học sinh và ra làm quan dưới triều nhà Hồ Đồng thời, Nguyễn Trãi là một nhà chính trị sáng suốt, một nhà quân sự lỗi lạc, một nhà ngoại giao thiên tài, một nhà sử học, địa lí học và một nhà thơ, nhà văn xuất sắc của văn học Việt Nam Ở
Nguyễn Trãi đã hội tụ tất cả “khí phách” “tinh hoa” nghĩa là những gì tốt đẹp
nhất của dân tộc ta Sinh ra và lớn lên vào thời buổi lịch sử có nhiều biến động, cuộc đời Nguyễn Trãi cũng nhiều biến động và thăng trầm Tuy nhiên, dù ở bất
cứ hoàn cảnh nào, ông cũng là một tấm gương sáng, hết sức mẫu mực cho con cháu ngày sau noi theo và học tập
Với tư cách là một nhà văn, nhà thơ Nguyễn Trãi đã để lại một tác phẩm
đồ sộ - một di sản văn học quý báu muôn đời Trong đó, Quốc âm thi tập chiếm
vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam, là tập thơ Nôm đầu tiên viết bằng ngôn ngữ dân tộc hiện còn Với nội dung chủ yếu về thiên nhiên Một đề tài quen thuộc trong văn học trung đại và đọc thơ ông ta dễ dàng nhận thấy
Trang 6bức tranh thiên nhiên với đủ sắc màu, đủ cả về thời gian bốn mùa: xuân - hạ - thu - đông thông qua các hình ảnh: tùng - cúc - trúc - mai Đặc biệt bức tranh không chỉ nói về nét đẹp của các mùa mà còn là người bạn đáng tin cậy để trút bày tâm sự
Quá trình tìm hiểu nội dung đề tài: Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi
tập của Nguyễn Trãi sẽ góp phần giúp chúng ta nhận thức một cách toàn diện
hơn về tài năng, phẩm giá và những đóng góp của Nguyễn Trãi trong tiến trình văn học Việt Nam
Mặt khác, văn chương của Nguyễn Trãi từ lâu đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình văn học ở bậc Trung học Cơ sở, Trung học Phổ thông Thực hiện khóa luận này sẽ góp phần phục vụ thiết thực và hiệu quả cho việc giảng dạy thơ Nguyễn Trãi nói chung, thơ Nôm của ông nói riêng
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quốc âm thi tập gồm 254 bài, Nguyễn Trãi được xem như là nhà thơ lớn
đầu tiên viết bằng chữ Nôm, đồng thời cũng là người sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ dân tộc Từ lúc ông mất tới nay gần VI thế kỉ, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được giới thiệu Tuy nhiên, từ đó đến nay việc tìm hiểu nghiên cứu về thơ Nguyễn Trãi ngày càng được mở rộng ở những góc độ, khía cạnh khác nhau, trong đó mảng thơ viết về thiên nhiên thông qua hình ảnh bốn mùa luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm
hơn cả Qua đây, thấy được bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
biểu hiện thật tinh tế và đặc sắc Dù ở thời điểm nào, không gian nào, hình ảnh trong thơ ông đều gần gũi, quen thuộc tạo nên bức tranh tứ mùa
2.1 Tình hình nghiên cứu về thiên nhiên trong văn học trung đại
Thiên nhiên là nguồn cảm hứng bất tận của văn chương Mây sớm, trăng khuya, núi non, cỏ cây, hoa lá đều in đậm dấu ấn của mình trong văn chương Con người và thiên nhiên luôn có quan hệ biện chứng, qua lại tác động đến nhau với các tao nhân mặc khách, thiên nhiên là người bạn tri ân Không ít người đã lánh đời phàm tục, hòa mình vào thiên nhiên Sống thanh đạm để chiêm nghiệm
về vũ trụ, triết lí nhân sinh Hình ảnh thiên nhiên đã đi vào trong thơ văn với
Trang 7những nét riêng của từng vùng miền làm nên một bức tranh đa dạng về con người Việt Nam
Đối với mảng đề tài về thiên nhiên trong văn học trung đại không còn là vấn đề mới mẻ nữa nhưng nó luôn là mảnh đất huyền bí, có sức hút mãnh liệt, là một dòng nước chưa bao giờ cạn đối với các nhà nghiên cứu Các công trình nghiên cứu, các bài viết của các tác giả đã đưa ra nhiều ý kiến nhận xét, đánh giá của mình nhưng bằng cách này hay cách khác họ đều thống nhất với nhau ở một điểm chung Vẻ đẹp thiên nhiên không bao giờ là đề tài cũ cả và có giá trị to lớn trong nền văn học nước nhà Một số bài viết của các tác giả sau đây sẽ giúp chúng ta thấy những điều đó:
Trong cuốn Nghĩ về thơ Hồ Xuân Hương của Lê Trí Viễn, nhà nghiên cứu
Lê Hoài Nam đã nhận xét tình yêu thiên nhiên của bà chúa thơ Nôm: "Xuân Hương
yêu thiên nhiên và sau Xuân Hương thiên nhiên trong cái độ phát triển sung sức của nó nhưng không cứ gì thiên nhiên, tất cả những cái gì dồi dào sức sống, biểu hiện được cuộc sống là Xuân Hương đều trìu mến" [18, tr.162] Có thể nói tình
yêu thiên nhiên trong thơ Hồ Xuân Hương rất phong phú và đa dạng
Tác giả Nguyễn Huệ Chi trong bài viết: Sự đa dạng và thống nhất trên
quá trình chuyển động một phong cách và dấu hiệu chuyển mình của tư duy thơ dân tộc cũng đã nhận định: "Trong tập thơ Hồng Đức quốc âm thi tập, cảnh vật được quy ước bằng xuân, hạ, thu, đông, bằng 12 tháng, bằng năm canh Và đọc hết bài này đến bài khác sẽ thấy các vòng quay tháng năm, tháng năm trở thành hình thức biểu hiện nghệ thuật của thơ" [1, tr70]
Trong cuốn Thi hào Nguyễn Khuyến - đời và thơ do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, nhà nghiên cứu đã nhận định: "Nguyễn Khuyến đã đưa lại cho bức tranh
làng cảnh Việt Nam cũng như khung cảnh sinh hoạt của nông thôn Việt Nam hương vị, màu sắc, đường nét, sức sống như nó vẫn tồn tại, mà ủ kín trong đó là cái hồn muôn đời của con người, đất nước Việt Nam" [1, tr25]
Trong sáng tác của Nguyễn Trãi bức tranh thiên nhiên hiện lên một cách
sinh động và đầy hấp dẫn Trong cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm do
Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn, các nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến những
Trang 8hình ảnh thiên nhiên được sử dụng trong tác phẩm văn học thời kì trung đại
Nguyễn Thiên Thụ viết: "Thi nhân thường yêu cái đẹp mà cái đẹp phong phú,
gần gũi nhất ta đó là thiên nhiên Thi nhân thường để tâm hồn đi theo dòng nước chảy và lòng thi nhân vui tươi, rộn rã khi thấy mặt trời lên, khi nghe chim
ca và nhìn thấy hoa nở thắm" [13, tr.668]
Trong cuốn: Văn học Việt Nam (nửa cuối thể kỉ XVIII - hết thế kỉ XIX) của
Nguyễn Lộc, nhà nghiên cứu đã khẳng định sự thành công của mảng sáng tác về
thiên nhiên: "Đề tài về thiên nhiên xuất hiện khá nhiều trong văn học giai đoạn này
và viết khá thành công, nó được nhận thức như là môi trường sống của con người,
là bạn của con người, đem đến cho con người niềm vui và mĩ cảm" [4, tr.49]
Ông cũng nói nhiều về ý nghĩa của việc sử dụng hình ảnh thiên nhiên
trong văn học: “Theo quan niệm của Nho giáo, cái mẫu mực thuộc về quá khứ
và cái trong sạch chủ yếu lại ở trong thiên nhiên, các nhà nho theo quan niệm xuất xứ của Nho giáo, gặp thời thịnh thì ra làm việc phò vua giúp nước, gặp thời loạn thì lui về ở ẩn, lấy thiên nhiên để di dưỡng tinh thần.” [4, tr.38]
Nhìn chung ở mỗi công trình nghiên cứu đều có những phát hiện, khám phá rất mới mẻ, sâu sắc Đây chính là nguồn tư liệu phong phú; có tính chất gợi mở, định hướng về thiên nhiên trong văn học trung đại để chúng ta có thể tìm hiểu một cách trọn vẹn và sâu sắc nhất về hình ảnh bốn mùa trong văn học trung đại
2.2 Tình hình nghiên cứu về đề tài bốn mùa
Vị trí địa lí quy định nước ta mang khí hậu nhiệt đới gió mùa Từ thời trung đại người dân đã dựa vào đặc tính của khí hậu chia thời gian trong năm ra thành bốn mùa xuân, hạ, thu, đông với những đặc trưng riêng Mùa xuân được xác định
từ khoảng tháng 2 đến tháng 4; mùa hạ từ khoảng tháng 5 đến tháng 7; mùa thu từ khoảng tháng 8 đến tháng 10; còn mùa đông khoảng từ tháng 11 đến tháng 1
Bốn mùa trong Quốc âm thi tập hiện lên rõ nét và đầy sinh động khác với
bộ phận thơ chữ Hán Quốc âm thi tập là thơ Nôm, thơ tiếng Việt những lời thơ
uyển chuyển, dung dị, gần gũi đời thường và gắn với nếp cảm, nếp nghĩ dân tộc
Bốn mùa trong văn học trung đại nói chung thường mang tính ước lệ cao Thời gian trong thơ bị phong bế chặt chẽ bởi đối tượng miêu tả Trong tập
Trang 9"Hồng Đức quốc âm thi tập" xét về phương diện hình thức thì cảnh ở đây cũng
biểu hiện thời gian theo mùa: xuân, hạ, thu, đông bằng "mười hai tháng" bằng
"năm canh" Cứ như vậy, đọc hết bài này, bài khác người đọc sẽ bắt gặp các
hình ảnh đặc trưng các mùa của thiên nhiên Tính ước lệ bởi các đối tượng sẵn
có, là đối tượng chính để tác giả thơ sáng tạo nghệ thuật Công thức ước lệ này được biểu hiện qua việc sử dụng các đối tượng miêu tả khi các tác giả trung đại muốn diễn đạt về thời gian trong năm hay theo mùa Mùa xuân phải có lan, mai, chim oanh, ong bướm và có cả tấm lòng người quân tử Mùa hè phải có hoa sen, lựu, chim cuốc, tiếng ve kêu Mùa thu phải có hoa cúc vàng, lá ngô đồng, tiếng thu xào xạc Và mùa đông nhất thiết phải có tùng,
trúc, gió heo may, tiếng chim nhạn kêu, Và trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi nói riêng hình ảnh bốn mùa được xuất hiện lần lượt, khoác trên mình những nét đặc trưng riêng, và nét đặc trưng đó được chứng minh bằng các ý kiến, nhận xét sau đây:
Trong cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn
tuyển chọn ở phần thiên nhiên và thời gian, tác giả Nguyễn Thiên Thụ đã đề cập
trực tiếp đến bốn mùa trong văn học trung đại: "Thiên nhiên đã khoác những
chiếc áo màu khác nhau tùy theo từng thời gian: cỏ, cây, hoa, lá, núi rừng, sông,
hồ, bầu trời, đã thay đổi theo từng mùa, từng tháng Những thay đổi đó làm lòng người đổi thay và lòng thi nhân thêm cảm xúc" [13, tr.675] Nguyễn Hữu
Sơn với bài nghiên cứu Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi cho rằng: "Trong thơ Nguyễn Trãi mùa xuân được cảm nhận như là biểu tượng của
vẻ đẹp toàn mĩ, hoàn chỉnh, phổ biến" [13, tr.535] Cùng trong cuốn Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm với bài nghiên cứu cảnh tình mùa hè Lê Trí Viễn đã
khẳng định rõ: “Ông vẫn vui với hè cũng là một thứ lạ Xưa, thơ thích xuân, mến
thu chứ mấy ai đoái hoài tới hè” [13, tr.541] Và thơ thu trong thơ Nguyễn Trãi
được nêu rõ trong bài viết thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi của Nguyễn Thiên Thụ: “Mùa thu làm cho cảnh sông thêm tình tứ vì nước thêm trong, trăng sáng,
trời xanh cao” [13, tr.676]
Trang 10Đặc biệt, thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi được rất nhiều các nhà
nghiên cứu quan tâm Trong Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm do Nguyễn Hữu Sơn tuyển chọn, Nguyễn Thiên Thụ đã nhận định: "Với Nguyễn Trãi cũng
như các thi nhân khác, thiên nhiên là nguồn mĩ cảm vô cùng phong phú, đã làm cho tâm hồn thi nhân rung động Thi nhân như là một kẻ đi tìm cái đẹp và thiên nhiên với muôn vàn vẻ đẹp đã gợi mỗi thi nhân thưởng thức" [13, tr.668]
Trần Thanh Mai khi nghiên cứu về Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn
Trãi đã khẳng định: "Thơ về thiên nhiên chiếm phần phong phú nhất và cũng là thành công nhất trong di sản của thơ Nguyễn Trãi" [5, tr.171]
Trong chuyên luận thơ Nôm Đường Luật, nhà nghiên cứu Lã Nhâm Thìn
nhận xét về thời gian trong tập thơ Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi: "Những
bức tranh thiên nhiên của Nguyễn Trãi phong phú và nhiều tới mức phòng tranh thiên nhiên không đủ chỗ trưng bày và nhà thơ phải treo sang cả những phòng dành cho mảng đề tài khác" [14, tr.57]
Trên đây là những công trình nghiên cứu và những ý kiến tiêu biểu nhất của một số nhà nghiên cứu về đề tài thiên nhiên nói chung và hình ảnh bốn
mùa trong Quốc âm thi tập nói riêng Nhưng xem xét một cách toàn diện chưa
có một công trình nghiên cứu một cách riêng biệt chuyên sâu về đề tài: “Bốn
mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” Tuy nhiên, những công trình
nghiên cứu đã nêu sẽ là nguồn tài liệu vô cùng quý báu để chúng ta tìm hiểu đề tài một cách hợp lí và thấu đáo
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Triển khai đề tài: “Bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi” tôi xác định hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập là đối tượng nghiên cứu
4 Phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Phạm vi: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tập thơ Quốc âm thi tập
Tập thơ Quốc âm thi tập do nhà xuất bản Giáo dục - 1994, gồm 174 trang
4.2 Nhiệm vụ
Tiến hành khảo sát nhằm tìm ra cách thể hiện hình ảnh bốn mùa trong
Quốc âm thi tập và ý nghĩa của việc sử dụng hình ảnh bốn mùa trong việc biểu
hiện giá trị nghệ thuật
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo cho công việc nghiên cứu đề tài, đồng thời để có nguồn tư liệu phong phú và đủ tin cậy, đáp ứng được mục đích đặt ra tôi tiến hành những phương pháp nghiên cứu sau:
5.1 Phương pháp thống kê, phân loại
Sử dụng phương pháp này tôi có thể tập hợp, thống kê những nguồn tư liệu có liên quan đến đề tài tôi đang nghiên cứu
5.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Từ những tư liệu đã tập hợp, thống kê được tôi sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu Phương pháp này được sử dụng như một phương pháp chính trong quá trình nghiên cứu nội dung đề tài
5.3 Phương pháp văn học sử
Nền văn học trung đại Việt Nam trải qua gần X thế kỉ, với nhiều giai đoạn, nhiều thế kỉ nên việc sử dụng phương pháp văn học sử sẽ đảm bảo được tính lôgic trong quá trình khảo sát phục vụ cho việc nghiên cứu khóa luận Hơn nữa tư tưởng tác phẩm luôn chịu sự chi phối của thời đại
6 Cấu trúc khoá luận
Ngoài phần mục lục, phần mở đầu, phần kết luận và phần tài liệu tham khảo, khóa văn của tôi gồm có 3 chương chính:
Chương 1: Nguyễn Trãi và Quốc âm thi tập
Chương 2: Bốn mùa - những giá trị biểu đạt
Chương 3: Một vài phương diện trong hình thức biểu đạt
Trang 12B NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NGUYỄN TRÃI VÀ QUỐC ÂM THI TẬP
1.1 Vài nét về thời đại và con người Nguyễn Trãi
1.1.1 Thời đại Nguyễn Trãi - những biến động lớn lao
Mỗi cá nhân sinh ra đều gắn với một thời đại nhất định Chính thời đại đó
đã ảnh hưởng đến phẩm chất, tài năng cũng như hệ tư tưởng, ý thức của cá nhân, Nguyễn Trãi cũng như vậy Nguyễn Trãi sống ở giai đoạn lịch sử sôi động với những biến cố có tầm vóc lớn lao Ngược dòng thời gian, quay trở về với lịch sử cuối thế kỉ XIV đến thế kỉ XV, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó
Uy thế vương triều nhà Trần (1225 - 1400) đang đi vào giai đoạn suy
vong Tất cả danh thời “nhị đế” của nhà Trần giờ này chỉ còn là những kí ức xa
xăm, những luyến tiếc sâu sắc trong trí nhớ của nhân dân Từ thời Trần Dụ Tông (1341 - 1369) người ta đã thấy kế tiếp nhau leo lên ngôi là một loạt các vị vua bất kể tuổi tác: già, trẻ, bé con, bất kể họ có hay không có năng lực trị vì đất nước Chính trị rối ren, đời sống nhân dân khổ cực Người ta thấy một cảnh tượng hoàn toàn trái ngược trong xã hội bấy giờ là bên cạnh sự ăn chơi trác tán; sự sa hoa hưởng thụ; sự tham ô, siểm nịnh, lộng quyền của vua chúa trong triều là cảnh sống cơ cực: phu phen, tạp dịch, thuế nặng, tô cao cứ đè nặng lên tầng lớp nhân dân Mâu thuẫn nội tại đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các nước láng giềng có ý đồ xâm lược Mối hiểm hoạ cứ thế tràn xuống từ hai miền Nam - Bắc
Ở phía Nam, với sự suy yếu của nhà Trần, quan hệ bang giao với vương quốc Chiêm Thành ngày một xấu đi rõ rệt Vua Chiêm Thành đã có cơ hội tổ chức những cuộc cướp phá miền biên cương Cuộc đấu tranh giữ nước của nhân dân hết sức gay go và quyết liệt Dù cuối cùng thắng lợi thuộc về nhà Trần nhưng từ trong cuộc chiến đấu này, với các cuộc hành quân phòng ngự liên miên, nó đủ làm cho nhà Trần hao người, tốn của
Ở phía Bắc, nhà Minh xâm nhập vào nước ta, lật đổ nhà Hồ, sáp nhập nước ta vào lãnh thổ của chúng và đổi nước ta thành quận Giao Chỉ
Trang 13Từ khi đất nước rơi vào tay nhà Minh, đế chế này đã thi hành một bộ máy hành chính, một chế độ quan liêu hà khắc vô cùng Nhưng tưởng chính sách tàn bạo của chúng sẽ thiêu chết tinh thần yêu nước, ý thức tự cường của nhân dân ta nhưng nhà Minh đã lầm Người trước ngã, người sau đứng lên, sự nghiệp đấu tranh của nhân dân Việt Nam vẫn được ấp ủ trong một nhóm người lâu nay đang hoạt động bí mật ở vùng thượng du Thanh Hoá mà nổi bật nhất là thiên tài Nguyễn Trãi
Sau 10 năm (1418 - 1428) kháng chiến gian khổ “máu trộn bùn tươi”
cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã toàn thắng Cuộc khởi nghĩa đã mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc, giang sơn thu về một mối, cả dân tộc bước vào trung
hưng lần thứ hai Không chỉ Tổ Quốc dựng “đài xuân dân tộc” mà chế độ phong
kiến cũng đã đạt đến độ hoàng kim nhất ở nửa cuối thế kỉ XV
Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi không thể tách rời với hai tên chữ Nguyễn Trãi Sau khi lên ngôi hoàng đế (1428) Lê Lợi đã phong cho Nguyễn Trãi làm quan phục hầu, được ban quốc tính (họ Lê) Trong lúc như vậy triều đình nhà Lê
có nhiều mâu thuẫn và kéo dài cho đến tận đời Lê Thái Tông, tình hình chia rẽ lại càng kịch liệt Nguyễn Trãi không thể có một cơ hội nào để thi thố tài năng nữa Cuộc đời của một con người vì dân, vì nước này bị thời đại này khép lại
bằng “Vụ án trại vải” mà lịch sử gọi là án “thiên cổ kì oán”
Tìm hiểu Nguyễn Trãi người thực hiện đề tài này không thể tìm hiểu ông như một cá nhân nhà trí thức yêu nước nào đó - mà tìm hiểu ông với tư cách là một nhân vật lịch sử, một nhà văn hoá lớn với những tác phẩm đã phản ánh cả một thời đại lịch sử Với những tư tưởng ở nhiều điểm như là phát ngôn cho cả một dân tộc thời Nguyễn Trãi Chính thời đại cuối Trần, đầu Lê đã tạo ra người
anh hùng - bậc vĩ nhân, làm “rạng rỡ non sông đất nước ta” như Nguyễn Trãi
Từ đó ta có thể hiểu rõ hơn về con người, tài năng, phẩm chất của Nguyễn Trãi sau này
1.1.2 Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác thơ văn của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi (1380 - 1442), hiệu là Ức Trai, quê ở Chi Ngại (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) sau rời về làng Ngọc Ổi (nay thuộc Nhị Khê, Thường
Trang 14Tín, Hà Nội) Cha là Nguyễn Phi Khanh, một học trò nghèo, học giỏi, đỗ Thái học sinh Mẹ là Trần Thị Thái, con quan tư đồ Trần Nguyên Đán, dòng dõi quý tộc Ông ngoại và cha đều là người có lòng yêu nước thương dân Nguyễn Trãi
đã được thừa hưởng tấm lòng vì dân, vì nước ấy
Lên 6 tuổi mẹ mất, lên 10 tuổi ông ngoại qua đời, Nguyễn Trãi về ở Nhị Khê nơi cha dạy học, Ông gần gũi nông thôn từ đó Năm 20 tuổi, ông đỗ Thái học sinh và hai cha con cùng làm quan cho nhà Hồ Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước ta Nguyễn Phi Khanh bị bắt đem về Trung Quốc cùng với cha con
Hồ Quý Ly và các triều thần khác Nguyễn Trãi và người em trai đi theo chăm sóc, nghe lời cha khuyên, ông trở về nhưng lại bị giặc Minh bắt giữ ở Đông Quan Trốn thoát khỏi tay giặc, ông náu mình trong nhân dân, tìm đường cứu nước Đây là thời gian ông đi sâu vào nông thôn, hiểu được đời sống nhân dân,
thấm thía sức mạnh của dân, và nhờ đó ông nhận ra chân lí: “muốn cứu nước
phải dựa vào dân” Ông tìm theo Lê Lợi, dâng Bình Ngô sách, tham gia khởi
nghĩa Lam Sơn Và Nguyễn Trãi đã sống, chiến đấu cùng nhân dân Ông có đóng góp lớn vào phương kế đuổi giặc Ông là vị quân sư xuất sắc giúp Lê Lợi chiến lược, chiến thuật trong kháng chiến chống quân Minh xâm lược:
Đem đại nghĩa để thắng hung tàn Lấy chi nhân để thay cường bạo
Đầu năm 1428, quét sạch quân thù, ông hăm hở bắt tay vào thực hiện hoài bão xây dựng đất nước thái bình thịnh trị thì bỗng dưng bị nghi oan và bắt giam Sau đó, ông được tha nhưng không được tin dùng nữa Mười năm (1429 - 1439)
Nguyễn Trãi chỉ được giao chức “nhàn quan” không có thực quyền Ông buồn,
xin về Côn Sơn (nay thuộc Chí Linh, Hải Dương) Mấy tháng sau, Lê Thái Tông lại mời ông ra làm việc nước Ông đang hăng hái giúp vua thì xảy ra thảm hoạ lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, ngày 01 tháng 9 năm 1442, sau khi nhà vua đi duyệt võ, đã vào Côn Sơn thăm Nguyễn Trãi Khi vua dời Côn Sơn, về đến trại vải (Lệ Chi Viên, Bắc Ninh) bị chết đột ngột Lúc vua chết có Nguyễn Thị Lộ, người thiếp của Nguyễn Trãi, lúc ấy phụ trách dạy dỗ các cung nữ (chức Lễ nghi học sĩ) hầu bên cạnh Bọn triều thần bấy lâu nay muốn hãm hại Nguyễn Trãi,
Trang 15nhân cơ hội này vu cho ông cùng Nguyễn Thị Lộ mưu giết vua, khiến ông phải nhận án tru di tam tộc (bị giết cả ba họ) Nỗi oan tày trời ấy, hơn 20 năm sau,
1464, Lê Thánh Tông mới giải toả và ca ngợi ông bằng hai câu thơ nổi tiếng :
Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo (Lòng Ức Trai toả rạng văn chương)
Nguyễn Trãi là một thiên tài nhiều mặt hiếm có Bình ngô đại cáo tuy viết bằng chữ Hán nhưng xứng đáng là áng “Hùng văn muôn thuở” Quốc âm thi tập
là tập thơ tiếng Việt (chữ Nôm) sớm nhất có giá trị lớn còn lại đến ngày nay Nguyễn Trãi đã góp phần xây đắp nền móng vững trãi cho văn học dân tộc
Thủ tướng Phạm Văn Đồng - Trên đường tìm hiểu sự nghiệp thơ văn
Nguyễn Trãi do Chương Thâu chủ biên từng nói: “Từ bài Bình ngô đại cáo qua các bức thư gửi các tướng tá xâm lược đến thơ chữ Hán và chữ Nôm… ngòi bút thần của Nguyễn Trãi đã để lại cho chúng ta những tác phẩm gồm nhiều thể văn
và tất cả đều hay và đẹp lạ thường” [15, tr.15] Nhìn chung các tác phẩm của
Nguyễn Trãi dù là chữ Hán hay chữ Nôm thì chúng đều có sự thống nhất về mặt nội dung Điều đó thể hiện ở hai điểm nổi bật là tinh thần yêu nước nồng nàn và
lí tưởng đấu tranh vì chính nghĩa Về nghệ thuật thì các tác phẩm thể hiện sự phong phú về thể loại và có nhiều đóng góp cho nghệ thuật thơ ca nước nhà Những tác phẩm của Nguyễn Trãi còn lại đến ngày nay là tài sản vô giá của văn học dân tộc, là niềm tự hào chính đáng của các thế hệ người Việt Nam xưa nay
1.2 Bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi
Thi nhân thường yêu cái đẹp, mà cái đẹp phong phú, gần gũi ta nhất đó là thiên nhiên Thi nhân thường để tâm hồn đi theo đám mây bay, theo dòng nước chảy, và lòng thi nhân vui tươi rộn rã khi thấy mặt trời lên, khi nghe chim ca, và nhìn thấy hoa nở thắm Nguyễn Trãi là một thi nhân cho nên Nguyễn Trãi đã yêu
thiên nhiên, ca tụng thiên nhiên Thời lệnh môn, hoa mộc môn, cầm thủ môn là
những bài thơ ca tụng thiên nhiên đậm đà nhất, thiết tha nhất của Nguyễn Trãi Thiên nhiên ở đây bao gồm: cỏ cây, hoa lá, núi rừng, sông hồ, chim muông
Với Nguyễn Trãi cũng như các thi nhân khác, thiên nhiên là nguồn mĩ cảm vô cùng phong phú, đã làm cho tâm hồn thi nhân rung động Thi nhân như
Trang 16là một kẻ đi tìm cái đẹp, và thiên nhiên với muôn vàn vẻ đẹp đã gọi mời thi nhân thưởng thức
Các nhà thơ trung đại nói chung và nhà thơ Nguyễn Trãi nói riêng đều thường miêu tả cảnh sắc thiên nhiên thông qua hình ảnh bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông Với mỗi mùa đều có những vần thơ đầy cảm xúc
Bốn mùa - một vòng tuần hoàn vận động theo quy luật của tự nhiên và có
sự thay đổi cùng với vòng quay của thời gian Từng mùa trong bức tranh thiên nhiên ấy lại mang những gam màu khác nhau làm nên những bức tranh sinh động và hấp dẫn Nếu như mùa xuân, xanh tươi màu cỏ cây, hoa lá; mùa hè rực
rỡ ánh nắng chói chang với màu lựu đỏ rực; mùa thu lại khoác trên mình màu tàn úa của cỏ cây thì mùa đông đặc biệt với cái rét buốt giá
Trong Quốc âm thi tập hình ảnh bốn mùa xuất hiện với tần số lớn Có thể
trực tiếp viết về mùa, cũng có thể miêu tả thông qua những hình ảnh giàu sức gợi cảm để vẽ lên một bức tranh phong cảnh tuyệt mĩ Nguyễn Trãi sử dụng những hình ảnh của loài cây, hoa để tượng trưng cho từng mùa như:
Hoa đào, hoa mai đã nở thắm tươi, báo hiệu một năm mới sắp tới và báo hiệu mùa xuân tươi trẻ sắp sang:
Xuân đến nào hoa chẳng tốt tươi
Ưa mi vì tiết sạch hơn người
(Mai)
Hay: Một đóa đào hoa khéo tốt tươi
Cách xuân mơn mởn, thấy xuân cười
(Đào hoa)
Ve kêu râm ran báo hiệu hè tới, hoa hòe nở rộ trên khắp đồng quê:
Vì ai cho cái đỗ quên kêu, Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu
Lại có hòe hoa chen bóng lục, Thức xuân một điểm não lòng nhau
(Hạ cảnh tuyệt cú)
Trang 17Hay: Một lành xảy nảy bỗng hòe trồng
Một phút xuân qua một phút trông
Có thủa ngày hòe dương tán lục Đùn đùn bóng rợp cửa tam công
(Hòe)
Hoa cúc nở đưa hương ngào ngạt báo hiệu mùa thu đến Hoa cúc vàng khiêm nhường trang điểm cho bầu trời thu đầy sương mù và hơi gió lạnh:
Nào hoa chẳng bén, khí đầm hâm
Có mấy bầu sương, nhị mới đâm Trùng cửu chớ hiềm thu đã muộn Cho hay thu muộn tiết càng thơm
(Tùng)
Như vậy, thông qua hình ảnh bốn mùa - bức tranh thiên nhiên hiện lên vô cùng phong phú, sinh động và đầy sự độc đáo Đó không chỉ là bức tranh phong cảnh mà đó còn là bức tranh tâm trạng của con người Nguyễn Trãi được thể hiện qua nhiều cung bậc khác nhau
1.3 Thống kê phân loại
1.3.1 Tổng số bài thơ viết về bốn mùa của Nguyễn Trãi
Con người có rất nhiều cách cảm nhận thời gian trong năm Các nhà thơ thời trung đại thường tính thời gian bằng những cách cảm nhận hết sức tinh tế
đó là thời gian theo mùa, theo vòng tuần hoàn Trong số các nhà thơ trung đại, Nguyễn Trãi là người thể hiện rõ nhất quy luật của thời gian trong năm thông qua các hình ảnh tượng trưng của từng mùa Một năm có bốn mùa: xuân, hạ,
Trang 18thu, đông Ở mùa nào cũng vậy, Nguyễn Trãi đều có thơ Điều này có thể thấy qua bảng thống kê sau:
STT
Bài thơ viết về hình ảnh bốn mùa Tổng
số bài
Số câu thơ xuất hiện hình ảnh bốn mùa trong bài
Trang 19Qua khảo sát, thống kê những bài thơ viết về hình ảnh bốn mùa trong
Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi chúng tôi rút ra những nhận xét sau:
Số lượng bài thơ viết về bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi xuất hiện với tần số cao 16,9% Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập rất
phong phú và đa dạng Một năm có bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông, ở mùa nào Nguyễn Trãi cũng đều có thơ, đặc biệt là những bài thơ viết về mùa xuân chiếm 10,6% và mùa thu 3,16% đó là một số lượng lớn Tuy nhiên, thơ viết về mùa hạ chiếm 1,6% và mùa đông 1,18% một con số không nhiều nhưng cũng đủ làm nên tên tuổi của ông
Nguyễn Trãi khi viết về hình ảnh bốn mùa không đơn thuần chỉ miêu tả
vẻ đẹp của thiên nhiên mà qua đó nó còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ
Trang 20Mỗi mùa thể hiện một tâm trạng khác nhau Mùa xuân là mùa đầu tiên trong năm, tượng trưng cho sự khởi đầu mới mẻ với sắc xuân đầm ấm, tươi vui Mùa
hạ với cái nắng vàng gay gắt cùng với tiếng ve, tiếng cuốc kêu… mang đến âm thanh rộn rã của sự sống Đến mùa thu, Nguyễn Trãi có một mảng thơ dành riêng cho mùa thu, đó là bức tranh thu đẹp thanh sơ và giản dị với hình ảnh hoa cúc, điển hình cho mùa thu ở nông thôn Việt Nam Còn về đông, dường như mọi cảnh vật đều trở nên tiêu điều, xơ xác, qua đó gửi gắm một nỗi buồn sâu sắc
Tiểu kết chương 1
Có thể nói, bức tranh thiên nhiên bốn mùa trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi rất đa dạng và phong phú với những hình ảnh sinh động, gần gũi với con người Đến với đề tài này chúng ta có thể tiếp cận với rất nhiều bài thơ viết về thiên nhiên của Nguyễn Trãi Điều này cho thấy Nguyễn Trãi là một người rất tài năng trong nhiều lĩnh vực, không chỉ là một con người yêu thiên nhiên mà còn là một nhà cách mạng với tấm lòng yêu nước sâu sắc đã để lại những vần thơ về mùa còn đậm mãi với thời gian qua niềm hoài cổ
Trang 21CHƯƠNG 2 BỐN MÙA - NHỮNG GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT 2.1 Nhắc nhở quy luật tuần hoàn
Trong vòng tuần hoàn xuân - hạ - thu - đông, mùa xuân là mùa khởi đầu của một năm mới và cũng là mùa được mong đợi nhất bởi sự quyến rũ của cảnh xuân
Mùa xuân đem lại nguồn cảm hứng dồi dào cho thi ca mọi thời đại, trong văn học hiện đại ta từng bắt gặp những vần thơ xuân tươi vui rạo rực của Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử, Các nhà thơ hiện đại quan niệm mùa xuân
là mùa của hội hè, mùa của hò hẹn đối với tình yêu trai gái, còn các nhà thơ trung đại nói chung coi mùa xuân như một người bạn tri ân, người bạn để trút bày tâm sự và trước nỗi lo mùa xuân qua đi rồi mùa xuân lại đến Và mùa xuân trong Nguyễn Trãi nói riêng, đó là một biểu tượng của vẻ đẹp toàn mĩ, hoàn chỉnh, phổ biến:
Đâu đâu cũng chịu lệnh đóng quân Nào chốn nào, chăng gió xuân Huống lai vườn còn hoa trúc cũ Chồi thức tốt lạ mười phân
(Thơ tiếc cảnh - Bài 13)
Ngọn gió mùa xuân hay là vị chúa đông quân kia đã đến, đã mang hơi thở
ấm áp tới khắp mọi miền Trong con mắt mỗi người, mảnh vườn ấy chợt tươi
xanh hơn bởi mầm non hoa lá Biểu tượng của sự sống, sức sống mùa xuân "chồi
thức tốt lạ mười phân" đã vượt lên, lấn át củi khô cằn, đơn lẻ, lạc lõng của một
cành trúc mùa đông Qua đó, nhà thơ khẳng định một quy luật tất yếu của tự nhiên là sự sinh ra và mất đi, mùa đông có lạnh giá đến đâu thì cũng đến lúc phải nhường chỗ cho xuân tới, cho muôn hoa đua nở, chim ca ríu rít Đó cũng là quy luật của đời người, ai ai cũng phải trải qua quá trình sinh ra, trưởng thành và mất
đi không có gì là vĩnh cửu cả Mỗi mùa đông qua đi và xuân lại đến con người lại được đánh dấu bằng một mốc mới, một thay đổi mới trong cuộc đời mình
Trang 22Nguyễn Trãi - con người đam mê nhập cuộc với mùa xuân, ông càng thấu hiểu về vẻ đẹp của mùa xuân, từ những cái nhỏ nhặt nhất của mùa xuân mang lại Đối với các nhà thơ khác mùa xuân trong họ chỉ dừng lại là miêu tả vẻ đẹp, sắc trời mùa xuân nhưng với Nguyễn Trãi thì lại khác mùa xuân không chỉ là đẹp mà nó còn là một điểm mốc để nhắc nhở quy luật tuần hoàn Xuân đến - con người thêm tuổi mới, như đứa trẻ thơ mới lọt lòng từ mùa xuân năm nay nhưng
sang mùa xuân năm sau, bi bô trong tiếng gọi "mẹ, mẹ " Thời gian trôi đi
không chờ đợi ai cả, mùa xuân được nhà thơ tính theo ngày:
Ba xuân thì được chín mươi ngày Sinh vật lòng trời chẳng tày
Rỉ bảo đông phong hời hợt ít Thế tình chớ tiếc, dửng dưng thay!
(Thơ tiếc cảnh - Bài 11)
Mỗi một mùa thì có tháng, "Ba xuân thì được chín mươi ngày" thời gian
có hạn, ba tháng trôi đi lại nhường chỗ cho ba tháng tiếp theo cứ thế cứ thế xuân
- hạ - thu - đông lần lượt nhường chỗ cho nhau Đó là một quy luật hiển nhiên của đất trời, mùa xuân vĩnh hằng mang bao điều tự nhiên, vui tươi háo hức nhưng tuổi xuân của con người thì chỉ có một lần Do đó, con người phải biết nắm bắt thời gian, biết quý trọng thời gian cũng có nghĩa là quý trọng vòng tuần hoàn của chính bản thân mình Vì sự vô hạn của tự nhiên và sự hữu hạn của đời người cảm nhận thông qua sự tuần hoàn của bốn mùa
Nguyễn Trãi - con người của thiên nhiên, yêu thiên nhiên, sống cùng thiên nhiên, cảm nhận thiên nhiên theo vòng tuần hoàn:
Ba tháng hạ thiên, bóng nắng dài Thu đông lạnh lẽo cả hòa hai Đông phong từ hẹn tin xuân đến Đầm ấm nào hoa chẳng tốt tươi
(Xuân hoa tuyệt cú)
Trang 23Bài thơ mang đến một quy luật tuần hoàn và đặc trưng của từng mùa: hạ nắng dài, thu đông lạnh lẽo, xuân đến tốt tươi Qua sự biến chuyển của từng mùa, nêu lên được lẽ tuần hoàn của vũ trụ theo triết lí phương Đông
Theo vòng tuần hoàn, mùa xuân xanh tươi nhường chỗ cho mùa hè nắng dài Các nhà thơ trung đại thường coi mùa hè như một sự náo nhiệt, vui tươi, đồng thời dùng mùa hè để nói lên tâm sự Mùa hè không chỉ có cái nóng nực, ngột ngạt mà cũng rất đẹp, rất tươi với màu nắng chói chang, bầu trời xanh Đặc biệt, mùa hè rất rộn ràng với âm thanh của tiếng quốc kêu, tiếng tu hú gọi, tiếng sáo diều vi vu, tiếng ve râm ran, những âm thanh khuấy động làm cho không gian hè trở nên rộn ràng, bức tranh hè trở nên sinh động hơn Phùng Khắc
(Văn đỗ quyên ngẫu thành)
Tiếng chim đỗ quên kêu rộn ràng, báo hiệu mùa hè, một mùa hè tưng bừng tràn ngập nắng hạ Và mùa hè trong Nguyễn Trãi cũng vậy cũng tiếng
đỗ quyên kêu, có hoa hòe nở rộ báo hiệu hè sang, thời khắc giao mùa giữa xuân và hạ:
Rỗi, hóng mát thuở ngày trường Hòe lục đùn đùn tán rợp giương Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ Hồng liên trì đã tịn mùi hương
(Bảo kính cảnh giới - Bài 43)
Ở đây, nhà thơ miêu tả cảnh mùa hè với những hình ảnh thân quen: hòe, thạch lựu hiên, đây là những dấu hiệu đặc trưng mà quen thuộc của mùa hè, dưới ngòi bút của ông, chúng đã trở nên thú vị, độc đáo
Bằng bút pháp nghệ thuật điêu luyện, khiếu quan sát tinh tường và một trực cảm nhạy bén trước sự biến đổi của thiên nhiên, cùng với tình yêu hương
Trang 24sắc, dường như không một phút nào nhà thơ ngừng theo dõi bức tranh tứ mùa của mình, những đặc trưng của từng mùa đó Mùa hè ở Việt Nam thường bắt đầu vào những ngày đầu của tháng tư khi những cơn mưa phùn gió đông với tiết trời mát mẻ, ẩm thấp đã hết thì mùa hạ lại đến thay vào đó là cái oi bức, nóng nực khác hẳn với mùa xuân Hơn nữa nếu để ý thì ta sẽ thấy thời gian ban ngày của mùa kéo dài hơn so với ban đêm Điều này khiến ai vô tình nhất cũng nhận
ra đặc trưng của từng mùa
Cũng đề cập tới quy luật tuần hoàn, các tác giả thời Hồng Đức cũng dùng
các hình ảnh của thiên nhiên để báo hiệu mùa hè đã tới, tạo nên một bức tranh mùa hè thật sinh động gắn liền với cuộc sống của người dân quê:
Nước nồng sùng sục đầu rô trỗi Ngày nắng chang chang lưỡi chó lè
(Lại vịnh nắng mùa hè - HĐQÂTT)
Như vậy có thể thấy, mùa hè ở Việt Nam là rất điển hình với thời tiết nóng nực, ngột ngạt Sự oi bức đó cũng đi vào trong thơ nhà thơ Trần Đăng
Khoa trong bài thơ “hạt gạo làng ta” đã cho chúng ta hiểu rõ hơn về tiết trời
Trang 25Vì ai cho cái đỗ quyên kêu Tay ngọc dùng dằng chỉ biếng thêu Lại có hòe hoa chim bóng lục Thức xuân một điểm não lòng nhau
(Hạ cảnh tuyệt cú)
Trong bức tranh "tứ trời" ấy mùa hè dường như đã lùi lại nhường chỗ cho
mùa thu đến Vì vậy, bức tranh mùa thu cũng vào trong việc nhắc nhở quy luật tuần hoàn, mùa hạ nóng nực, oi bức qua đi, mùa thu mát mẻ đã tới Thu đến gợi nhiều sự thay đổi thể hiện quy luật của tự nhiên Nguyễn Trãi lại thể hiện niềm nuối tiếc, ông kí thác tâm tình của mình trong một mối cảm hoài tiếc cảnh:
Hầu nên khôn lại tiếc bâng khuâng
Thu đến cây nào chẳng lạnh lùng Một mình lạt thuở ba đông
(Tùng - Bài 1)
Mùa thu đến, mùa thu đi nhắc nhở thời gian đang dần về cuối, một vòng tuần hoàn trong năm gần khép lại cũng giống như thời khắc cuộc đời của con người đã vào tuổi xế chiều, tuổi con người sắp được nghỉ ngơi Tuổi con người già theo năm tháng không có sự lặp lại nhưng với thiên nhiên thì lại khác, sự lặp lại của năm này với năm khác hoàn toàn giống nhau, không có sự phai mờ Sự chuyển mùa giữa mùa này với mùa khác vẫn như thế:
Đông đã muộn, lại sang xuân Xuân muộn thì hè lại đổi lần Tính kể từ mùa cỏ nguyệt Thu âu là nhẫn một hai phân
(Thu nguyệt tuyệt cú)
Trang 26Cũng đề cập tới quy luật tuần hoàn, sử dụng các hình ảnh để báo hiệu mùa thu tới vẽ lên bức tranh đầy sinh động và thu hút bạn đọc đó là bức tranh thu trong thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Khuyến Cảnh thu ở đây được nhà thơ đón nhận bằng cả thị giác và thính giác có thể thấy bức tranh toàn cảnh về mùa thu được nhà thơ cảm nhận từ cái chung đến cái riêng Đặc biệt Nguyễn Khuyến còn tinh tế khi cảm nhận được sự trôi đi của thời gian và sự thay đổi của cảnh vật:
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái Một tiếng trên không ngỗng nước nào
(Thu vịnh - Nguyễn khuyến)
Chùm "hoa năm ngoái" nay đã trổ bông, điều này khiến người đọc liên
tưởng về một quá khứ trong nhà thơ, giữa quá khứ và hiện tại như đan xen, đồng nhất với nhau
Không chỉ các nhà thơ trung đại có những bài thơ bất hủ viết về thiên nhiên, nhắc nhở quy luật tuần hoàn mà Nguyễn Trãi cũng có những bài thơ thể hiện rất sâu sắc về vấn đề đó nhưng mỗi người có cách thể hiện riêng hướng tới người đọc một cách cảm thụ riêng về nó
Bức tranh thiên nhiên chưa dừng lại ở đó, thu đi nhường chỗ cho đông lạnh giá, đó là mùa cuối cùng trong năm, khép lại một năm đã hết và bắt đầu cho một năm mới Một năm có bốn mùa xuân - hạ - thu - đông, mỗi mùa thể hiện một nét đặc trưng riêng, một quy luật riêng, không chỉ về thời gian của mùa mà
cả quy luật về con người
Mùa đông đến, con người đều có chung một cảm nhận như đến với một thế giớ lạnh lẽo, cô đơn, vắng vẻ với những cảnh tiết đông chí sương muối, rét
"cắt da, cắt thịt" làm cho con người như muốn thu mình lại tự dằn vặt, tự tâm sự
với nỗi lòng mình
Tà dương bóng ngả áp giang lâu Thế giới đông nên ngọc một bầu Tuyết sóc leo cây điểm phấn Cõi đông dài nguyệt in câu
(Ngôn chí - Bài 13)
Trang 27Nếu mùa xuân là mùa đầu năm, mùa khởi đầu cho một công cuộc mới thì mùa đông lại là mùa khép lại một năm, báo hiệu một năm đã hết Nguyễn Trãi rất khéo léo trong việc sử dụng các hình ảnh thiên nhiên bốn mùa để nhắc nhở quy luật tuần hoàn Nếu như con người và cảnh vật dường như đều muốn thu mình vào cái vỏ bọc của chăn ấm, mọi hoạt động ngừng trệ hơn, không có vẻ tươi tắn của mùa xuân, vẻ náo nhiệt của mùa hè và vẻ man mác dễ chịu của mùa thu thì các mùa khác trong năm đều mang đầy sức sống và hấp dẫn, muốn khoe mình trong không trung rộng lớn
Mùa đông đến, rồi mùa đông lại đi đó là quy luật của tự nhiên nhưng mùa đông của con người có thể được ví như thời gian của con người đã đi về tuổi già, tuổi của nghỉ ngơi và tuổi thu mình hưởng thụ cái thú nhàn của cuộc sống Đó là
sự khác nhau giữa vòng tuần hoàn của thời gian và con người
Vòng tuần hoàn của thời gian sẽ xua đi cái giá rét của mùa đông để đón nhận mùa xuân tươi vui, sự chớm nở của nụ hoa mai là một dấu hiệu Phải có con mắt tinh mới có thể quan sát được sự biến chuyển của cảnh vật nhanh nhạy đến như vậy
Như vậy, thông qua hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi, nhà thơ không chỉ khẳng định quy luật vận động của tự nhiên mà còn nói
về quy luật của đời người Bốn mùa có thể tuần hoàn với thời gian nhưng không
có nghĩa là cảnh vật không có sự biến đổi, đời người cũng vậy sinh ra và mất đi
là quy luật tất yếu
Hình ảnh bốn mùa trong Quốc âm thi tập không chỉ nhắc nhở quy luật
tuần hoàn mà qua đó còn để nhà thơ thể hiện tình yêu của mình vào thiên nhiên, vào các hình ảnh bình dị nhất của cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình như:
nụ hồng đang nở chào đón ngày mới, hoa súng khép lại vào trong giấc ngủ ban đêm, tiếng chim ca nhảy múa, líu lo hót đua cùng với thiên nhiên đất trời
2.2 Tình yêu thiên nhiên
Chỉ có xuất phát từ tình yêu thiên nhiên sâu sắc các thi nhân mới có thể cho người đọc chiêm ngưỡng những bức tranh bốn mùa không chỉ đẹp mà dường như có cả linh hồn Chính tình yêu thiên nhiên là cơ sở cho lòng yêu nước của thi nhân
Trang 28Cũng từ tình yêu thiên nhiên sâu sắc nên người thi sĩ nắm bắt được hết thần thái và những nét biểu hiện của bốn mùa, tâm hồn họ giao hòa cùng bốn mùa và thấu hiểu được nó như một người bạn tri ân
Thơ văn Nguyễn Trãi còn mở ra cho chúng ta một khía cạnh thưởng thức khác nữa và khía cạnh này đã chiếm một phần trọng yếu trong toàn bộ tác phẩm của nhà thi hào Đó là tình yêu thiên nhiên của ông, tinh thần thưởng thức say sưa của ông trước cảnh nước non kì diệu Đồng thời, còn là lòng tự hào trước giang sơn cẩm tú của đất nước ta, nhân dân ta, nó cũng là một khía cạnh của lòng tự hào dân tộc
Trong lịch sử văn học Việt Nam trở về trước dễ thường không có ai yêu thiên nhiên, có thơ nhiều và có thơ hay về thiên nhiên như Nguyễn Trãi Trở về sau, họa chăng có một mình Nguyễn Du Nhưng đề tài thiên nhiên ở Nguyễn Du không tập trung bằng, lại càng không cụ thể bằng
Thơ về thiên nhiên chiếm cái phần phong phú nhất, và cũng là thành công
nhất trong di sản thơ của Nguyễn Trãi Xuân Diệu từng nói: "Lòng yêu thiên
nhiên, tạo vật là kích thước để đo tâm hồn" Ở Nguyễn Trãi, lòng yêu thiên
nhiên không chỉ phản ánh nhu cầu thẩm mĩ mà còn là hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống, thể hiện cái nhìn tiến bộ của ông Điều này hoàn toàn khác xa với quan niệm thẩm mĩ phong kiến Thẩm mĩ phong kiến nhìn nhận thiên nhiên ở
trạng thái lớn lao, kỳ vĩ, hoành tráng, mĩ lệ Trong Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi
đã dành riêng một đề mục Hoa mộc môn để nói về cỏ cây, hoa lá Trong đề mục
này, các hình tượng: tùng - cúc - trúc - mai được Nguyễn Trãi tập trung khắc họa rất đẹp Cũng giống như thi pháp cổ phương Đông, Nguyễn Trãi đã khai thác các hình ảnh thiên nhiên trên để thể hiện phẩm chất thanh tao, cao nhã, trong sáng của người quân tử Thiên nhiên ở những đề mục khác còn phẳng phất phong vị Đường thi Đây lả bức tranh lụa xinh xắn:
Nước biển non xanh thuyền gối bãi Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
(Báo kính cảnh giới - Bài 26)
Trang 29Khung cảnh bức tranh hiện lên thật thanh bình, yên ổn Có thế thì nước mới biếc, non mới xanh và đây là điểm tựa cho thuyền gối bãi Từ cái nền yên
bình, thơ mộng ấy, ánh trăng đã xuất hiện Nó cũng hiện lên giữa "đêm thanh",
ánh trăng bàng bạc soi rõ những du khách ngao du, thưởng ngoạn trên lầu quả là
lung linh huyền ảo Cũng nói về ánh trăng như thế, trong Tự thuật bài 31,
Nguyễn Trãi viết:
Hương cách gác vân thu lạch lạch Thuyền kê bãi tuyết nguyệt chênh chênh
Đó lại là một cái lạnh khẽ khàng của mùa thu - mùa gợi ra biết bao cảm hứng sáng tác cho các thi nhân: con thuyền ấy vẫn kề trên bãi tuyết thì lại như
một nàng thiếu nữ với dáng vẻ yểu điệu “nguyệt chênh chênh”
Có thể nói, trăng xuất hiện rất nhiều trong Quốc âm thi tập của Nguyễn
Trãi Trong 254 bài thơ đã có tới 70 bài Nguyễn Trãi nhắc tới trăng Trăng hiện lên trong nhiều trạng huống khác nhau: là người bạn tri âm, tri kỉ, là nơi gửi gắm niềm vui, nỗi buồn; là bến đỗ cho Ức Trai khi trống vắng, cô đơn:
Núi láng giềng, chim bầu bạn Mây khách khứa, nguyệt anh tam
(Thuật hứng - Bài 19)
Đứng trước một cảnh tượng của thiên nhiên, một biểu hiện của tạo vật tồn tại, Nguyễn Trãi có một năng lực rung cảm dạt dào lạ thường Dù là một thoáng gió, một gợn mây, một tiếng chim kêu, một nhánh cúc nở; dù là những cảnh tượng bao la hùng vĩ như Vịnh Hạ Long, cửa biển Bạch Đằng, như trấn Vân Đồn, như cửa Thần Phú, như núi Non Nước, tâm hồn nhà thơ đều gắn bó với chúng, quyện lấy chúng, bao trùm lấy chúng, và chan hoà với chúng trong một niềm thông cảm như giữa những tâm hồn bạn, không ai còn bí mật với ai, không
ai còn giữ kẽ với ai, không ai còn kiêu điệu với ai, còn thấy lớn hoặc còn thấy bé với ai Cảnh vật thiên nhiên dưới ngòi bút của Nguyễn Trãi sinh động lên, sống lên bằng sức sống riêng, bằng đủ đường nét, màu sắc, âm thanh, hương hoa, và lắm khi bằng đủ đặc điểm độc đáo của nó nữa
Trang 30Cảnh vật thiên nhiên nhờ ông trở nên có tình, có ý, có cá tính, có tâm tư, khi kín đáo, khi sôi nổi, lúc trìu mến, lúc mỉa mai; nhưng tất cả như chủ nhân của chúng, đều trong trắng, cao khiết, trung hậu, hiền hoà; tất cả đều bừng sáng lên, niềm nở lên; tất cả đều như đủ dịu dàng, đủ đằm thắm để hứng đón, để nâng niu,
để vỗ về, an ủi những tâm hồn đau khổ đang bị những lực lượng quái ác dày vò
Cảnh vật thiên nhiên với nhà thơ là bạn bè, là thầy trò, có khi là con cái, với cái nghĩa thân yêu thắm thiết nhất của nó:
Khách đến chim mừng, hoa xẩy động Chè tiên nước kín nguyệt đeo về
(Thuật hứng - Bài 3) Hoặc: Trà tiên, nước kín, bầu in nguyệt
Mai rụng, hoa đeo, bóng cách song
(Thuật hứng - Bài 6)
Từ giã chốn quan trường, Nguyễn Trãi quay trở về sống chan hòa, làm bạn với mây núi, trăng sao Cuộc sống dân giã nơi thôn quê đã giúp Nguyễn Trãi phát hiện ra biết bao cảnh đẹp Đó là bức kí họa tự nhiên, mộc mạc của xóm chài:
Tằm ươm lúc nhúc thuyền gối bãi Hào chất so le khóm cuối làng
Để rồi nhà thơ nhận ra giữa nhà thơ và thiên nhiên như không còn khoảng
cách: "Nhà thơ và cảnh vật tự nguyện hòa lẫn với nhau như bầu bạn, như anh
em, tình trong cảnh ấy, cảnh trong tình này" (Xuân Diệu - Bác văn nghị số 3,
tháng 8/1957)
Cò nằm, hạc đậu nên bầy bạn
Ủ ấp cùng ta làm cái con
(Ngôn chí - Bài 20)
Trang 31Có lẽ chỉ có thiên nhiên mới có thể làm cho nhà thơ tạm nguôi ngoai nỗi đau về thế thái nhân tình, để yên lòng trong cuộc sống nhàn cư, ẩn dật Và vì thiên nhiên có vai trò quan trọng như thế, cho nên trong mắt Nguyễn Trãi bao giờ nhà thơ cũng chiều chuộng chúng, trân trọng chúng, ông nói:
Trì tham nguyệt hiện, chăng buông cá Rừng tiếc chim về, ngại phát cây
(Mạn thuật - Bài 6)
Hoặc: Viện có hoa tàn, chăng quét đất
Nước còn nguyệt hiện, sá thôi chèo
(Mạn thuật - Bài 10)
Nhà thơ không nỡ thả cá trong ao, vì sợ nó quẫy, nó lội, làm tan vỡ mất vành trăng in dưới nước, nhưng khi trong ao đã có cá rồi, có muốn câu để giải sầu, thì ông lại ngại không câu, vì thương chúng sẽ không được sống nữa:
Người tri âm ít, cầm nên lặng Lòng hiếu sinh nhiều, cá ngại câu
(Tự thuật - Bài 10)
Trong trường hợp khác nhà thơ không đóng cửa vì sợ nó che mất ngọn núi phía trước mặt, chiều tối, dạo chơi sông xong, cứ để ngay thuyền ở bến không cất đi, vì phòng trăng có xin trở nhờ thì cho chở!
Chăng cài cửa, tiếc non che khuất
Sá để thuyền cho nguyệt chở nhờ!
Nếu thuyền không chở trăng, thì nhà thơ cho chở gió mây, chở hơi khói:
Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc Thuyền chở yên hà, nặng với then
(Thuật hứng - Bài 24)
Mai nở trên cành, nhà thơ không nỡ bỏ:
Mai chăng bẻ bởi thương cành ngọc
Mai rụng ở ngoài sân, trên đường vườn, không nỡ quét, trái lại còn: "nhặt
hoa tàn, xem ngọc rụng"; nhưng trong "am", tức là trong nhà ở của mình, vì
không có hoa, nên vẫn quét: