c Ngân hàng phát hành Issuing Bank: là ngân hàng thực hiện phát hànhL/C theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc cho chính mình và sẽ thanh toán chongười hưởng khi chứng từ xuất trình phù hợp
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Hoạt động kinh tế quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ và chiếm một vị tríquan trọng đặc biệt trong đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa – hiện đại hóacủa nước ta Với tư cahcs là chất xúc tác cho sự phát triển của thương mại quốc tế,nghiệp vụ thanh toán quốc tế cũng không ngừng được mở rộng và phát triển Tuynhiên, khi thương mại quốc tế càng phát triển thì mối quan hệ giữa người mua vàngười bán càng trở nên đa dạng và phức tạp Từ đó nảy sinh ra nhiều phương thứcthanh toán thuận tiên và an toàn cho cả hai bên như: Nhờ thu, đổi chứng từ trả tiềnsau, ghi sổ, tín dụng chứng từ… Trong những phương thức này thì tín dụng chứng
từ là phương thức được sử dụng rộng rãi và phổ biến nhất hiện nay Bởi phươngthức tín dụng chứng từ chiếm tỷ lệ sử dụng cao hơn cả, do cân bằng được lợi ích củahai bên xuất khẩu và nhập khẩu Thanh toán bằng phương thức tín dụng chứng từ đemlại sự thành công cho các hợp đồng ngoại thương, tạo điều kiện cho hoạt động xuấtnhập khẩu phát triển
Bản thân phương thức tín dụng chứng từ tỏ ra khá ưu việt và phù hợp vớiquan hệ thanh toán song nó không phải là phương thức tránh được mọi rủi ro chocác bên tham gia một cách tuyệt đối Thực tế cho thấy, khi các bên ngân hàng haycác doanh nghiệp xuất nhập khẩu đã gặp nhiều khó khăn khi phát sinh những rủi rotrong việc thanh toán bằng tín dụng chứng từ Do vậy, việc phát hiện các hạn chế
và hoàn thiện các biện pháp nhằm phòng chống rủi ro trong thanh toán tín dụngchứng từ là một trong những mối quan tâm thường xuyên của mỗi ngân hàng và cảcác doanh nghiệp
Sau một thời gian học tập cũng như nghiên cứu thực tiễn tín dụng chứng từ
tại Ngân hàng Vietcombank, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Hạn chế rủi ro trong
Trang 2thanh toán tín dụng chứng từ tại Vietcombank Hà Nội” cũng chỉ với mục đích
làm sáng tỏ vị trí, vai trò của phương thức thanh toán tín dụng chứng từ trong nềnkinh tế, luận giải có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn, các nguyên nhân dẫn tớirủi ro trong phương thức thanh toán này Từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm hoànthiện và hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán tín dụngchứng từ nói riêng Bên cạnh đó, bản thân là sinh viên khoa ngân hàng em thấy đây
là một lĩnh vực đầy tiềm năng đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng, tuy nhiên cũngchứa đựng nhiều rủi ro nên muốn đi sâu vào tìm hiểu nhằm xác định và hạn chế rủi
ro trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận cơ bản về phương thức thanhtoán TDCT,rủi ro trong hoạt động thanh toán TDCT
- Phạm vi nghiên cứu: Rủi ro trong hoạt động thanh toán TDCT tại VCB HàNội trong những năm gần đây, cụ thể là từ 2008- 2010
Trang 34 Phương pháp nghiên cứu:
Khoá luận sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích thống kê, ssánh để luận giải các vấn đề liên quan và được minh hoạ bằng các bảng, biểu, sốliệu,
5 Kết cấu khoá luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3chương:
Chương I: Tổng quan về TTQT theo phương thức tín dụng chứng từ và nhậndiện rủi ro
Chương II: Thực trạng rủi ro và phòng ngừa rủi ro tại ngân hàng TMCPNgoại thương Hà Nội
Chương III: Giải pháp hạn chế rủi ro trong TTQT thưo phương thức thanhtoán TDCT tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Hà Nội
Trang 4Theo điều 2, UCP 600, Tín dụng chứng từ được định nghĩa như sau:
“Credit means any arrangement, however named or described, that is irrevocable and there by constitutes a definite undertaking of the issuing bank to honour a complying presentation”.
“Tín dụng chứng từ là một thoả thuận bất kỳ, cho dù được gọi tên hay mô tả như thế nào, thể hiện một cam kết chắc chắn và không huỷ ngang của NHPH về việc thanh toán khi xuất trình phù hợp”.
Trong các phương thức thanh toán khác (ứng trước và ghi sổ, nhờ thu), ngânhàng chỉ đóng vai trò là đại lý và giám sát mà không có bất kỳ cam kết, trách nhiệmhay nghĩa vụ nào Tuy nhiên trong phương thức tín dụng chứng từ, các ngân hàng
đã tham gia tích cực và chủ động hơn nhiều
Rõ ràng với phương thức thanh toán này lợi ích cũng như rủi ro của tất cảcác bên tham gia đều được dung hoà, cụ thể:
-Đối với người hưởng lợi từ L/C (Beneficiary): Được NHPH đảm bảo thanhtoán chắc chắn nếu xuất trình bộ chứng từ phù hợp
- Đối với người yêu cầu mở L/C (Applicant): Được NHPH đảm bảo chỉ phảithanh toán khi nhận được một xuất trình phù hợp
Trang 5- Đối với ngân hàng: Cung cấp thêm cho khách hàng một phương thức thanhtoán an toàn, mở rộng hệ thống ngân hàng đại lý, nâng cao uy tín cũng như địa vịtrên thị trường quốc tế qua đó thu được những lợi ích về mặt kinh tế.
1.1.2 Đặc điểm của phương thức thanh toán TDCT (L/C):
a) L/C là hợp đồng kinh tế hai bên:
L/C thường bị lầm tưởng cho rằng nó là hợp đồng kinh tế ba bên, bao gồm:người mở L/C, ngân hàng phát hành L/C và người hưởng lợi từ L/C Trên thực tếL/C là hợp độc kinh tế chỉ của hai bên là ngân hàng phát hành L/C và người hưởnglợi từ L/C Mọi yêu cầu của người mở L/C được thể hiện thông qua một hợp đồngkhác với ngân hàng phát hành là đơn mở LC Theo đó tiếng nói của người mởkhông được thể hiện chính thức trong L/C mà thông qua sự đại diện của ngân hàngphát hành
Sự hiểu lầm này khiến cho các nhà xuất nhập khẩu hạ thấp vai trò của ngânhàng phát hành và có thể gây ra những rắc rối không đáng có
b) L/C độc lập với hợp đồng cơ sỏ và hàng hoá:
Theo điều 4 UCP 600: “A credit by its nature is a separate transaction fromthe sale or other contract on which may be based Banks are in no way concernedwith or bound by such contract, even if any reference whatsoever to it is included
in the credit.”
Như vậy dù được hình thành trên cơ sở của hợp đồng thương mại nhưng mộtkhi được phát hành nó sẽ hoàn toàn độc lập với hợp đồng này.Trong mọi trườnghợp, ngân hàng không liên quan hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như vậy, ngay
cả khi L/C có dẫn chiếu đến các hợp đồng đó
Trang 6ICC cũng khuyến cáo ngân hàng phát hành nên có hành động cương quyết đềtránh người mở đưa vào L/C hoặc coi là một phần của L/C các hợp đồng thươngmại.
Việc yêu cầu đưa quá chi tiết vào L/C thường do người mở tin tưởng mộtcách sai lầm là họ có thể bảo vệ được chính mình bằng cách làm đó Thực ra, hiếmkhi được như vậy (ngân hàng chỉ có thể thanh toán, chấp nhận hoặc chiết khấu đốivới các chứng từ phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C) Đưa quá nhiềuchi tiết vào L/C sẽ bất lợi cho cả hai phía L/C càng dài, càng chi tiết thì càng dễ bịlỗi, bị nhiễu điện, gây rối rắm, nhầm lẫn cho Người hưởng cũng như người mở và
cả ngân hàng
c) L/C chỉ giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ:Các ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ chứ không phải bằng hàng hoá,dịch vụ hoặc thực hiện khác mà chứng từ có liên quan.Việc người thụ hưởng cóđược thanh toán hay không phụ thuộc vào việc họ xuất trình chứng từ có phù hợpkhông Khi xuất trình phù hợp thì ngân hàng phát hành phải thanh toán cho ngườihưởng
Trong thực tế, để lập được một bộ chứng từ hoàn hảo là việc không hề dễdàng, hơn nữa gianh giới giữa phù hợp và không phù hợp lại rất mong manh, tuỳthuộc vào tập quán, trình độ, quan điểm, động cơ của những người liên quan Do đóL/C từ một công cụ thanh toán có thể bị lạm dụng để trở thành công cụ từ chốinhận hàng,từ chối thanh toán
d) L/C yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ:
Bản chất của tín dụng chứng từ là chỉ giao dịch và thanh toán dựa trên cơ sởchứng từ nên việc tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu của bộ chứng từ là nguyên tắchàng đầu Để được thanh toán người thụ hưởng cần phải có một xuất trình phù hợp,tuân thủ chặt chẽ các điều kiện và điều khoản của tín dụng, bao gồm số loại, sốlượng mỗi loại và nội dung của chứng từ
Trang 71.1.3 Các bên tham gia:
a)Người yêu cầu mở (Applicant): là bên mà L/C được phát hành theo yêucầu của họ Trong thương mại quốc tế, người yêu cầu thường là người nhập khẩu,yêu cầu ngân hàng phục vụ mình phát hành một L/C và có trách nhiệm hoàn trả lạitiền cho ngân hàng phát hành số tiền mà ngân hàng đã thanh toán cho người hưởng,thanh toán các khoản chi phí phát sinh theo L/C
b) Người thụ hưởng (Beneficiary): là bên được hưởng lợi số tiền thanh toánhay sở hữu hối phiếu đã chấp nhận thanh toán theo L/C nếu thực hiện đúng nhữngđiều khoản trong L/C
c) Ngân hàng phát hành (Issuing Bank): là ngân hàng thực hiện phát hànhL/C theo yêu cầu của người yêu cầu hoặc cho chính mình và sẽ thanh toán chongười hưởng khi chứng từ xuất trình phù hợp.NHPH thường được hai bên mua bánthoả thuận và qui định trong hợp đồng Nếu không có sự thoả thuận trước đó, thìnhà nhập khẩu được phép tự chọn NHPH
d) Ngân hàng thông báo (Advising Bank): Là ngân hàng thực hiện thông báoL/C theo yêu cầu của NHPH NHTB thường là ngân hàng đại lý hay một chi nhánhcủa NHPH ở nước nhà xuất khẩu
e) Ngân hàng xác nhận (Confirming Bank): Là ngân hàng bổ sung sự xácnhận của mình đối với một L/C theo yêu cầu hoặc theo sụ uỷ quyền của NHPH
f)Ngân hàng được chỉ định (Nominated Bank): là ngân hàng mà tại đó tíndụng có giá trị hoặc là bất cứ ngân hàng nào nếu tín dụng có giá trị tự do Tráchnhiệm kiểm tra chứng từ của NHđCĐ giống như của NHPH khi nhận được bộchứng từ NHđCĐ có thể là: Ngân hàng xác nhận (Confirming bank), Ngân hàngtrả tiền (Paying bank), Ngân hàng chiết khấu (Negotiating bank), Ngân hàng chấpnhận (Accepting bank), Ngân hàng trả chậm (Defferred undertaking bank)
Trang 8g) Ngân hàng hoàn trả (Reimbursing Bank): là ngân hàng được NHPH uỷ
quyền thanh toán giá trị tín dụng thư cho ngân hàng được chỉ định (ngân hàng này
đã thanh toán hay chiết khấu cho người hưởng) Ngân hàng hoàn trả thường tham
gia trong trường hợp giữa NHPH và NHđCĐ không có quan hệ tài khoản trực tiếp
với nhau
1.1.4 Qui trình nghiệp vụ thanh toán L/C:
Nhà xuất khẩu Exporter
NHTB Advising Bank
Ngân hàng phát hành L/C Issuing Bank
NHđCĐ (Nominated Bank)
Nhà nhập khẩu Importer
(4) Thông báo L/C Advise L/C
(6a) Xuất trình
(6b) Xuất trình
(7a) Trả tiền (qua NH)
(3) Phát hành L/C Issue L/C
(7b) Xuất trình Presenting
(8) Đòi tiền Retirement
(2) Đơn mở L/C Apply L/C
(5) Giao hàng Shipment of goods
(1) Hợp đồng ngoại thương Sales contract
(6b’) Nhận tiền
(7b’) Trả tiền
Trang 9Các bước trong quy trình thanh toán L/C:
(1) Hai bên mua bán ký kết hợp đồng ngoại thương với điều khoản thanhtoán theo phương thức L/C
(2) Căn cứ vào các điều khoản và điều kiện của hợp đồng ngoại thương, nhànhập khẩu làm đơn (theo mẫu) gửi đến ngân hàng phục vụ mình, yêu cầu ngânhàng này phát hành một L/C cho nhà xuất khẩu hưởng
(3) Căn cứ vào đơn mở L/C, nếu đồng ý, NHPH lập L/C và thông qua ngânhàng đại lý hoặc chi nhánh của mình ở nước nhà xuất khẩu để thông báo L/C chonhà xuất khẩu
(4) Khi nhận được L/C, NHTB thông báo L/C cho nhà XK
(5) Nhà xuất khẩu kiểm tra L/C, nếu phù hợp với hợp đồng đã ký thì tiếnhành giao hàng, nếu không phù hợp thì đề nghị sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợpvới hợp đồng ngoại thương
(6a), (7a) Sau khi giao hàng, nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu củaL/C và có thể xuất trình tại NHPH , sau khi kiểm tra bộ chứng từ, ngân hàng này sẽquyết định xem bộ chứng từ có được thanh toán hay không tuỳ thuộc vào sự phùhợp của chứng từ
(6b), (6b’) Nhà xuất khẩu cũng có thể xuất trình chứng từ tại NHđCĐ nếu tíndụng có giá trị tại ngân hàng này, NHđCĐ có thể quyết định trả tiền ngay cho nhànhập khẩu tuy nhiên điều này là không bắt buộc
(7b) và (7b’) NHđCĐ xuất trình chứng từ cho NHPH và đòi hoàn trả, ngânhàng này lại kiểm tra chứng từ và quyết định có thanh toán cho bộ chứng từ nàyhay không
(8) NHPH đòi tiển nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩusau khi đã nhận được tiền hoặc chấp nhận thanh toán
Trang 101.1.5 Văn bản pháp lý điều chỉnh giao dịch L/C:
Hoạt động thanh toán quốc tế bằng L/C chịu sự điều chỉnh đồng thời bởi cácnguồn luật, công ước quốc tế liên quan, các nguồn luật quốc gia, các thông lệ và tậpquán quốc tế
Do có nhiều nguồn luật cùng tham gia điều chỉnh nên trình tự ưu tiên về tínhpháp lý theo thứ tự giảm dần được qui định như sau: Công ước và luật quốc tế, luậtquốc gia, Thông lệ và tập quán quốc tê Nếu có mâu thuẫn giữa các nguồn luật thì:Luật quốc gia sẽ được ưu tiên vượt lên trên về tính chất pháp lý đối với thông lệ vàtập quán quốc tế; Công ước và luật quốc tế sẽ được ưu tiên vượt lên trên về tínhchấp pháp lý đối với luật quốc gia
Một số thông lệ và tập quán quốc tế do phòng thương mại quốc tế (ICC) banhành:
- Quy tắc thống nhất và thực hành về Tín dụng chứng từ-Uniform customsand Practice for Documentary credits (UCP)
Quy tắc thống nhất và thực hành về Tín dụng chứng từ là một tập hợp cácnguyên tắc và tập quán quốc tế được phòng thương mại quốc tế (ICC) soạn thảo vàphát hành, quy định quyền hạn, trách nhiệm, của các bên liên quan trong giao dịchtín dụng chứng từ với điều kiện thư tín dụng có dẫn chiếu tuân thủ UCP UCPkhông chỉ điều chỉnh các ngân hàng mà còn điều chỉnh tất cả các bên liên quan đếngiao dịch L/C
UCP được ICC ấn hành ấn bản đầu tiên vào năm 1933 Từ đó đến nay, bảnUCP đã được sửa đổi và chỉnh lý 6 lần Bản sửa đổi gần đây nhất cũng là bản đangđược sử dụng phổ biến nhất là UCP 600 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2007)
UCP ra đời với mục tiêu hướng dẫn thực hành, trên nguyên tắc tự nguyện và
tự điều chỉnh, UCP ngày một hoàn thiện để trở thành một bộ quy tắc có giá trị thựctiễn nhất trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, đáp ứng kỳ vọng ngày càng tăng củagiới thương mại, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm
Trang 11Tính chất pháp lý tuỳ ý của UCP: UCP là văn bản pháp lý có tính chất tuỳ ý,điều này có nghĩa là các bên tham gia có thề chọn hay không chọn UCP để điềuchỉnh các hoạt động liên quan đến thư tín dụng Tuy nhiên khi các bên tham gia đãthoả thuận áp dụng UCP bằng cách dẫn chiếu trên L/C thì văn bản pháp lý này sẽmang tính bắt buộc, ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ của các bên tham gia Tínhchất pháp lý tuỳ ý của UCP được thể hiện ở các điểm chính sau:
- Tất cả các phiên bản UCP đều còn nguyên giá trị, điều này có nghĩa làphiên bản sau không phủ nhận phiên bản trước Do đó, khi dẫn chiếu UCP phải nói
- Nếu nội dung UCP có xung đột với luật quốc gia thì luật quốc gia được ưutiên vượt lên trên về mặt pháp lý Điều này hàm ý phán quyết của toà địa phương
có thể phủ nhận nội dung giao dịch bằng L/C
- Trong giao dịch L/C, các bên trước hết phải tuân thủ các điều khoản củaL/C, sau đó mới đến các điều khoản của UCP đang áp dụng
UCP dường như là một chuẩn mực hoàn hảo, tuy nhiên, mặt trái của UCPvẫn là một vấn đề muôn thuở: tranh chấp về tín dụng chứng từ phát sinh trong giaodịch hàng ngày Điều đơn giản là thực tiễn muôn màu, muôn vẻ và biến đổi hàngngày nhưng UCP vẫn là những nguyên lý cứng nhắc Vấn đề đặt ra là làm sao hạnchế tối đa những nhận thức chưa đúng, thiếu tính logic và áp dụng sai lệch UCPvào giao dịch L/C của những người thực hành UCP, tự bản thân nó, chưa thể làmột bộ quy tắc thực hành hoàn hảo tuyệt đối Hiểu và áp dụng nó không đơn giản
Trang 12chỉ là máy móc hay quá linh hoạt mà phải trên nền tảng nắm đúng bản chất sự việc
và khả năng xét đoán thông thường
- Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế-International Standard BankPractice for the examination of documentary credits (ISBP)
ISBP là sự bổ sung mang tính thực tiễn cho UCP, nó không sửa đổi UCP màchỉ giải thích chi tiết và rõ ràng hơn cách áp dụng các quy tắc của UCP trong giaodịch L/C Nhờ đó, ISBP đã làm cho những nguyên tắc chung quy định trong UCP
và công việc hàng ngày của những người thực hiện nghiệp vụ thanh toán L/C trêntoàn thế giới trở nên thống nhất với nhau
Cho đến nay đã có hai bản ISBP được ban hành là: Bản ISBP 645 năm 2003,
cụ thể hoá UCP 500 và bản ISBP 681 năm 2007, cụ thể hoá UCP 600
Ngoài ra còn có một số văn bản khác cũng được ICC phat hành nhằm giảithích và làm rõ việc áp dụng và thực hiện UCP như: Bản phụ trương UCP về xuấttrình chứng từ điện tử-Supplement to the Uniform Customs and Practice fordocumentary credit for Electronic presentation (eUCP); Quy tắc thống nhất về hoàntrả liên hàng theo L/C-Uniform Rules for bank-to-bank Reimbursements underdocumentary credit (URR); DOCDEX 577 (1997), giải quyết tranh chấp Tín dụngchứng từ; Tập quán thư tín dụng dự phòng (ISP 98)
Giao dịch L/C không chỉ được điều chỉnh bằng tập quán và thông lệ quốc té
mà trước hết nó bị chi phối bởi luật pháp quốc gia
Có những quốc gia không có luật riêng về giao dịch chứng từ, danh mục cácquốc gia này khá dài ( tại châu Á là Singapore, Indonesia, Nhật, Malaysia,Philipin, ; tại châu Âu là Đức, Pháp, Anh, Áo, Thụy Sĩ, ; tại châu Mỹ là Canada,Uruguay, Venezuela, ) Các quốc gia này chấp nhận hoàn toàn UCP trong giaodịch tại nước mình
Trang 13Bên cạnh đó có những quốc gia đã tự xây dựng cho mình luật về tín dụngchứng từ riê ng biệt (hệ thống này gồm các nước phương Tây, Mỹ và một số nướcphát triển ở các châu lục) Về cơ bản, luật của họ không trái với UCP.
Tại Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thừa nhận hoàn toàn và ápdụng tuyệt đối UCP trong thanh toán quốc tế (tín dụng chứng từ) Các NHTM nộiđịa, ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đều tuân thủ quy địnhtrên Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam thông báo tuân thủ UCP 600 hiệulực từ 01/07/2007 Cho đến nay UCP 600 được tất cả các ngân hàng được phépthực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế áp dụng nhằm hoà nhập vào mạng lướithanh toán toàn cầu Việt Nam chưa có các các quy định về xét xử tranh chấp theoTín dụng chứng từ mà chủ yếu dựa vào Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật cáccông cụ chuyển nhượng, Các văn bản như vậy rất cần thiết không chỉ là cơ sở đểtòa án, Trọng tài áp dụng khi xét xử các vụ tranh chấp mà còn bổ ích đối với ngânhàng, các đối tác giao dịch Họ sẽ hài lòng khi nghiên cứu trước quy định đó vàkhông bị lúng túng khi phát sinh tranh chấp
1.2 Thanh toán quốc tế bằng L/C – nhận diện rủi ro:
Trong hoạt động kinh doanh nói chung, ưu tiên hàng đầu của các doanhnghiệp là lợi nhận, tuy nhiên ngân hàng thương mại lại là một ngành kinh doanh cónhững đặc thù riêng, chứa đựng nhiều rủi ro Mối quan hệ của ngân hàng là rộngkhắp với nhiều đối tượng, nghiều lĩnh vực, nganh nghề khác nhau trong xã hội, do
đó mỗi rủi ro xảy ra trong ngân hàng có thể gây ra những tác động dây chuyền vôcùng lớn đến đời sống kinh tế xã hội Điều này đã được chứng minh trong lịch sửphát triển kinh tế thế giới và ngày nay vẫn đang là mối đe doạ thường trực với mỗiquốc gia Vì vậy việc nhận thức các rủi ro và làm tốt công tác phòng ngừa luônluôn phải được đặt lên hàng đầu cùng với mục tiêu về lợi nhuận
Trang 14Trong hoạt động thanh toán tín dụng chứng từ thì ngân hàng là trung tâm củacác mối quan hệ, do vậy những rủi ro mà nó gặp phải có thể gây tác động đến tất cảcác bên tham gia tín dụng Mặc dù tín dụng chứng từ tương đối an toàn với tất cảcác bên tham gia nhưng không phải là không có rủi ro trong phương thức thanhtoán này.
1.2.1 Khái niệm rủi ro:
Hiểu một cách nôm na rủi ro là khả năng một sự kiện không mong muốn,không thuận lợi có thể xảy ra dẫn đến sự mất mát hoặc hư hỏng
Cho đến nay chưa có định nghĩa thống nhất về rủi ro Những trường pháikhác nhau, những tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau.Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là sự không may mắn, sự tổn thất,mất mát, nguy hiểm Nó được xem là điều không lành, điều không tốt, bất ngờ xảyđến Đó là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút lợi nhuận thực tế so với lợinhuận dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trongquá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại vàphát triển của một doanh nghiệp Tóm lại, theo quan điểm này thì rủi ro là nhữngthiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khănhoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Theo trường phái hiện đại,rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tínhtiêu cực Rủi ro có thể mang lại những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng
có thể mang lại những lợi ích, cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta cóthể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhậnnhững cơ hội, mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
- Rủi ro trong ngân hàng là những bất trắc xảy ra trong quá trình hoạt độngkinh doanh gây ra những thiệt hại cho ngân hàng
Trang 15- Rủi ro trong thanh toán L/C xảy ra khi quyền lợi của một trong các bên bị
vi phạm, rủi ro không chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là việc chứng từ không đượcthanh toán mà còn phải hiểu theo nghĩa rộng của nó là bất kỳ một sự khúc mắc,chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán Rủi ro trong thanh toán bằngL/C có thể xảy ra đối với tất cả các bên tham gia vào tín dụng
1.2.2 Nhận diện rủi ro:
1.2.2.1 Rủi ro cho người mở L/C (nhà nhập khẩu) – Applicant:
Nhà nhập khẩu có thể gặp những rủi ro liên quan đến: Hàng hoá, biến động
tỷ giá, ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán
a) Rủi ro liên quan đến hàng hoá:
- Hàng hoá không được gửi đi: Hàng hoá có thể không được gửi đi bởi ngườixuất khẩu nhưng họ vẫn lập được một bộ chứng từ giả phù hợp với yêu cầu của L/Cnhằm được thanh toán bởi ngân hàng mở L/C Nếu ngân hàng phát hành không thểphát hiện ra được sự lứa đảo này của người thụ hưởng, họ sẽ quyết định thanh toáncho bộ chứng từ và đòi lại tiền từ nhà nhập khẩu Vì ngân hàng chỉ làm việc trên cơ
sở chứng từ, họ không thể và không có trách nhiệm về tính chất bên trong củachứng từ nên khi rủi ro này xảy ra, người nhập khẩu sẽ là ngưòi gánh chịu Kể cảtrong trường hợp ngân hàng phát hiện được chứng từ giả, người mở L/C có thể vẫnphải trả cho ngân hàng một khoản phí kiểm tra chứng từ và những thiệt hại của việckhông thể bán hàng như dự tính
- Hàng hoá nhận được không đúng với quy định trong L/C: Hàng hoá có thểđược giao thiếu và có phẩm chất kém mặc dù bộ chứng từ xuất trình hoàn toàn phùhợp với những điều khoản và điều kiện trong tín dụng Ngân hàng đã thực hiệnđúng bổn phận của mình là kiểm tra trên cơ sở chứng từ và quyết định thanh toán
Trang 16khi chứng từ phù hợp Trong trường hợp này người mua hàng sẽ phải chịu thiệt hạitrong doanh thu bán hàng.
Rủi ro tương tự cũng xảy đến với nhà nhập khẩu khi hàng hoá đến muộn và
họ không thể bán hàng ở giá cả đã dự tính ban đầu
- Hàng hoá có thể đến trước khi bộ chứng từ được chuyển đến ngân hàngphát hành: Trong những tình huống như thế này, người mua có thể phải nhận hànghoá bằng bảo lãnh nhận hàng của ngân hàng mở L/C Theo đó nhà nhập khẩu buộcphải thanh toán cho lô hàng đó cho dù bộ chứng từ không hoàn hảo Rủi ro của nhànhập khẩu là hàng hóa có thể không đạt yêu cầu nhưng vẫn được thanh toán
b) Rủi ro liên quan đến tỷ giá:
Nếu như đồng tiền sử dụng trong L/C không phải là đồng nội tệ của nướcngười nhập khẩu, có thể sẽ có sự chênh lệch giữa tỷ giá tại thời điểm L/C được mở(và/ hoặc thời điểm ký hợp đồng mua bán) và thời điểm thanh toán khiến người mởgặp bất lợi Trong những trường hợp này, nếu như không có hợp đồng mua ngoại tệ
kỳ hạn để thanh toán toàn bộ giá trị hợp đồng thì người mua có thể phải trả nhiềuhơn giá cả dự tính ban đầu, điều mà khiến cho lợi nhuận của hợ bị giảm sút thậmchí có thể bị thua lỗ
Một hợp đồng mua ngoại tệ ký hạn có thể hạn chế rủi ro này cho nhà nhậpkhẩu
c) Rủi ro liên quan đến sự mất khả năng thanh toán của ngân hàng phát hànhL/C:
Khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán, ngưòi mở L/C có thể bịyêu cầu trả tiền cho người thụ hưởng mặc dù họ đã ký quỹ toàn bộ hay một phầngiá trị tiền hàng theo tín dụng thư tại ngân hàng phát hành Mức độ rủi ro cho nhànhập khẩu phụ thuộc vào số tiền ký quỹ của họ
1.2.2.2 Rủi ro cho ngân hàng phát hành L/C – Issuing Bank:
a) Rủi ro do người mở mất khả năng thanh toán:
Trang 17Đây là rủi ro hàng đầu mà ngân hàng phát hành phải đối mặt khi ngân hàngbuộc phải thanh toán cho người hưởng mà không thể thu hồi vốn từ phía người mởL/C nếu trước đó ngân hàng không yêu cầu người mở ký quỹ hoặc chỉ ký quỹ mộtphần giá trị của tín dụng, vì vậy có thể xem đây là một loại rủi ro tín dụng của ngânhàng Do đó khi mở L/C ngân hàng cần làm tốt khâu thẩm định, giám sát chặt chẽgiống như một quy trình cấp tín dụng cho khách hàng Ngoài ra để giảm thiểu khảnăng xảy ra rủi ro này, ngân hàng nên yêu cầu sự bảo đảm từ phía người mở bằngviệc ký quỹ toàn bộ giá trị tín dụng hoặc mở một tín dụng mà quyền kiểm soát hànghoá thuộc về ngân hàng (quy định vận đơn ký phát theo lệnh của ngân hàng).
b) Rủi ro lừa đảo:
“Ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ, không liên quan đến hàng hoá hoặccác giao dịch khác” chính là một khe hở mà những đối tác không trung thực có thểlợi dụng để lừa đảo ngân hàng
Nhà xuất khẩu có thể giao hàng không đúng thoả thuận, hàng kém chấtlượng, thiếu và thậm chí là hàng giả hay hoàn toàn không giao hàng nhưng bằngcách nào đó họ vẫn lập được một bộ chứng từ phù hợp với các điều khoản và điềukiện của L/C Vào thời điểm trả tiền, ngân hàng dựa vào chứng từ giao hàng, L/C
và UCP để quyết định thanh toán Ngân hàng mở mặc dù đã kiểm tra chứng từ với
sự cẩn thận hợp lý nhưng vẫn không phát hiện ra được và quyết định thanh toánhoặc chấp nhận thanh toán Nếu ngân hàng không yêu cầu người mở ký quỹ 100%giá trị tín dụng thì khi rủi ro xảy ra mặc dù ngân hàng sẽ được miễn trách nhiệmnhưng việc đòi lại tiền từ phía người nhập khẩu là rất khó khăn do họ không muốnhoặc không thể trả tiền trong khi không hề nhận được hàng Thậm chí cơ hội đòi lạitiền của ngân hàng phát hành có thể gần như bằng không nếu như chính nhà nhậpkhẩu đã thông đồng với nhà xuất khẩu nhằm chiếm đoạt tiền của ngân hàng
c) Rủi ro về mặt kỹ thuật nghiệp vụ:
Trang 18- Trong những trường hợp mà tồn tại mối quan hệ thân thiết, lâu bền giữangân hàng phát hành và người mở, giữa ngân hàng phát hành và ngưòi hưởng, giữangười mở và người hưởng, ngân hàng phát hành thường dễ để cho sự tin tưởng dẫnđến sự lỏng lẻo khi thực hiện qui trình thanh toán tín dụng
Từ khi mở L/C, ngân hàng có thể để khách hàng lợi dụng mối quan hệ thânthiết để yêu cầu đưa vào L/C những điều khoản bất lợi cho ngân hàng, chủ quantrong việc thu thập, phân tích thông tin, đánh giá tình hình hoạt động kinh doanhcủa khách hàng, không tuân thủ chặt chẽ các quy định về an toàn trong ký quỹ L/C,đánh giá tài sản thế chấp, cầm cố do nể nang khách hàng mà đồng ý tháo khoántiền ký quỹ trước khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ của mình Hay trong một
số trường hợp khi doanh nghiệp không muốn nhận hàng đã đề nghị ngân hàng tìmbằng được lỗi của bộ chứng từ xuất trình, trên tinh thần đó ngân hàng đã cố gắngtìm ra lý do để từ chối thanh toán trong khi bộ chứng từ có thể đã hoàn toàn phùhợp Hành động này của ngân hàng không chỉ gây nên những thiệt hại về mặt kinh
tế mà còn ảnh hưởng đến uy tín
Mặt khác, khi ngân hàng phát hành và người thụ hưởng hay người thụ hưởng
và người yêu cầu mở L/C là những đối tác lâu năm, tạo nên những mối quan hệ tốtlành với độ tin tưởng gần như tuyệt đối, điều này có thể dẫn đến việc ngân hàng bỏqua lỗi của bộ chứng từ và quyết định thanh toán mà không hề thông báo cho người
mở Chính hành động này của ngân hàng đã tự mang đến cho nó rủi ro và nhữngrắc rối không cần thiết khi người mua hoàn toàn có quyền từ chối thanh toán lại chongân hàng
Vụ Eastern World Co Ltd kiện Magura Chartered Bank Ltd là một bài họclớn cho các ngân hàng không những tại địa phương mà còn có giá trị trên bình diệnquốc tế Giao dịch tín dụng thư giữa hai đối tác thương mại được duy trì hơn 5năm, tạo nên mối quan hệ tốt lành với độ tin tưởng gần như tuyệt đối Điều này đãảnh hưởng tới các hành động của Magura Chartered Bank trong việc kiểm tra và
Trang 19quyết định thanh toán tín dụng thư của khách hàng Sự chủ quan đã dẫn đến hậuquả khó lường: Các nhà quản lý công ty đối tác của Eastern World Co Ltd đangtrong tình trạng nguy ngập về tài chính đã quyết định thực hiện một vụ lừa đảo và
họ đã nhận được một khoản tiền theo tín dụng thư mà không mất đồng vốn nào cả.Được thanh toán mặc dù chứng từ không hoàn chỉnh, kẻ lừa đảo đã bỏ chạy, để lạimột vụ tranh chấp giữa ngân hàng và người mở Eastern World Co Ltd đã kiệnMagura Chartered Bank vi phạm các quy tắc của UCP, từ chối hoàn trả số tiền màngân hàng đã thanh toán cho người hưởng Phán quyết của toà nghiêng về phíangười mở và là bài học lớn cho Magura Chartered Bank Ltd và các ngân hàngkhác
- Khi ngân hàng phát hành thực hiện các giao dịch với những đối tác trpmgquy trình thanh toán L/C có thể sẽ xảy ra một vài sai xót do lỗi của thanh toán viên.Điều này là không thế tránh khỏi vì các thao tác nghiệp vụ thanh toán quốc tế đềuđược thực hiện bằng tiếng anh, hơn nữa nó đòi hỏi các thanh toán viên phải amhiểu về quy trình thanh toán, các thông lệ quốc tế về L/C, nắm vững nội dung củaL/C, Do vậy để hạn chế rủi ro này, các thanh toán viên cần phải luôn trau dồi kỹnăng, làm việc trên tinh thần cẩn trọng, bám sát quy trình thanh toán Hậu quả củanhững sai xót này phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí từ các đối tác của ngân hàng,
từ đây có thể thây được việc củng cố mối quan hệ với khách hàng, mở rộng hệthống ngân hàng đại lý là vô cùng cần thiết đối với ngân hàng
d) Rủi ro về nguồn ngoại tệ thanh toán:
Rủi ro này xảy ra khi ngân hàng không thể tự cân đối được nguồn ngoại tệ,đặc biệt với Việt Nam là một nước nhập siêu, có những khoảng thời gian nguồncung ngoại tệ vô cùng căng thẳng, đặc biệt là giai đoạn cuối năm Khi đến thờiđiểm trả tiển, ngân hàng phải trì hoãn do không có đủ ngoại tệ thanh toán chongười hưởng Điều này sẽ khiến cho ngân hàng không những thiệt hại về mặt vậtchất mà uy tín với đối tác quốc tế cũng bị giảm sút
Trang 201.2.2.3 Rủi ro cho người thụ hưởng L/C – Beneficiary:
Tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán tương đối an toàn đối vớingười hưởng nhưng nó không phải là hoàn toàn không chứa đựng chút rủi ro nào
- Rủi ro lớn nhất đối với nhà xuất khẩu việc thanh toán có thể bị từ chối bởingân hàng phát hành L/C do bộ chứng từ không đáp ứng được những điều kiện tíndụng, và/hoặc không được xuất trình đúng hạn
Người hưởng có thể hạn chế rủi ro này bằng cách nghiên cữu tất cả các điềukiện của tín dụng một cách kỹ lưỡng ngay khi vừa nhận được Họ cũng nên ngaylập tức yêu cầu sửa đổi L/C nếu phát hiện bất kỳ sự mâu thuẫn nào giữa L/C và hợpđồng mua bán, hoặc nếu như nhận thấy sự thoả mãn các điều kiện của tín dụng gặpphải khó khăn
- Một rủi ro nữa của nhà xuất khẩu là họ có thể nhận được một L/C giả hoặcmột L/C được phát hành bởi một ngân hàng không hể tồn tại Nhà nhập khẩu thựcchất là một kẻ lừa đảo, trong những trường hợp này L/C thường không được gửiqua ngân hàng mà sẽ đến thẳng tay của ngưởi thụ hưởng, vì vậy khi nhận trực tiếpmột L/C từ ngân hàng phát hành, người bán cần phải cẩn trọng, nên nhờ ngân hàngphục vụ mình kiểm tra tính chân thực của L/C
- Nếu một tín dụng không được xác nhận, người thụ hưởng có thể gặp phảirủi ro quốc gia nơi ngân hàng phát hành đặt trụ sở chính Vấn đề phát sinh khi màquốc gia đó ban hành lệnh cấm thanh toán ra nước ngoài, điều này khiến cho ngânhàng phát hành mặc dù không muốn vẫn phải trì hoãn việc thanh toán cho ngườixuất khẩu Để tránh rủi ro này, người thụ hưởng nên yêu cầu một tín dụng thư đượcxác nhận bởi một ngân hàng có uy tín đặt trụ sở tại nước mình
- Những rủi ro bất khả kháng như chiến tranh, thiên tai, sự thay đổi trongchính sách của các quốc gia (ban hành lệnh cấm xuất nhập khẩu) cũng có thể xảy ravới nhà xuất khẩu Nếu hợp đồng không quy định miễn trách nhiệm cho nhà nhập
Trang 21khẩu khi những rủi ro này xảy ra thì họ có thể sẽ phải đền bù thiệt hại cho bên nhậpkhẩu.
1.2.2.4 Rủi ro cho ngân hàng thông báo – Advising Bank:
Ngân hàng thông báo không cam kết bất cứ một nghĩa vụ thanh toán náo, vìvậy nó không phải chịu rủi ro tín dụng Nghĩa vụ duy nhất của ngân hàng thông báo
là nếu nó chấp nhận làm theo chỉ thị của ngân hàng phát hành – kiểm tra tính chânthực bề ngoài của L/C và thông báo nó cho người thụ hưởng
Theo đó một ngân hàng thông báo có thể sẽ phải chịu trách nhiệm đền bùcho người thụ hưởng nếu ngân hàng đã thông báo một tín dụng giả mà khôngchứng minh được rằng nó đã làm việc một cách “cẩn thận hợp lý”
Tính chân thật bề ngoài của tín dụng có thể được kiểm tra bằng cách đảmbảo chữ ký đại diện của ngân hàng thông báo phù hợp với chữ ký mẫu của họ chocác ngân hàng đại lý trong trường hợp L/C được gửi bằng thư, xác minh khoá mãteskey nếu L/C được phát hành bằng điện Telex, hoặc xác minh swift code nếu L/Cphát hành bằng điện SWIFT Vì vậy, ngân hàng thông báo phải thận trọng quantâm đến các L/C nhận được từ ngân hàng không có quan hệ đại lý, đặc biệt là từngân hàng không quen biết
1.2.2.5 Rủi ro cho ngân hàng được chỉ định – Nominated Bank:
Ngân hàng được chỉ định không bắt buộc phải chiết khấu hay thanh toán chongười xuất trình chứng từ vì vậy nó không chịu những rủi ro liên quan đến ngânhàng phát hành hay người thụ hưởng Tuy nhiên rủi ro sẽ phát sinh ngay khi ngânhàng này thực hiện chiết khấu (thanh toán) một bộ chứng từ xuất trình phù hợp vớicác điều kiện và điều khoản của tín dụng cho người thụ hưởng mà sau đó lại bịngân hàng phát hành từ chối thanh toán do bất đồng về tính hợp lệ của chứng từ.Ngân hàng có thể quy đinh chiết khấu miễn truy đòi nhưng việc đòi lại tiền từngười xuất khẩu cũng vô cùng khó khăn và mất thời gian Để hạn chế rủi ro này,ngân hàng được chỉ định cần phải xem xét thật kỹ càng trước khi quyết định chiết
Trang 22khấu một bộ chứng từ: từ ngân hàng phát hành là ai? Tư cách tín dụng của ngườithụ hưởng? Sự hoàn hảo của bộ chứng từ?
1.2.2.6 Rủi ro cho ngân hàng xác nhận – Confirming Bank:
Ngân hàng xác nhận của một tín dụng thư không huỷ ngang cam kết thanhtoán cho người thụ hưởng khi người này đưa ra được một xuất trình thỏa mãn cácđiều kiện của tín dụng thư
Rủi ro chính của ngân hàng xác nhận là một khi đã trả tiển cho người thụhưởng, nó có thể sẽ không nhận được sự hoàn trả từ ngân hàng phát hành do ngânhàng này đã mất khả năng thanh toán hoặc do ngân hàng này từ chối thanh toán bởi
sự bất đồng về tính hợp lệ của chứng từ Vấn đề tương tự cũng nảy sinh khi ngânhàng phát hành không thể thực hiện thanh toán cho ngân hàng xác nhận nếu chínhphủ có lệnh cấm thanh toán ra nước ngoài hoặc cấm nhập khẩu
Trước khi xác nhận một tín dụng thư, ngân hàng cần tim hiểu kỹ về ngânhàng phát hành để hạn chế rủi ro trên Việc có một mạng lưới ngân hàng đại lýrộng rãi, mật độ dày và hoạt động tích cực sẽ khiến cho công việc này của ngânhàng được thực hiện một cách dễ dàng
1.2.2.7 Rủi ro cho ngân hàng hoàn trả - Reimbursing Bank:
Ngân hàng hoàn trả được ngân hàng phát hành uỷ quyền hoàn trả tiền vàhành động theo chỉ thị của ngân hàng phát hành Rủi ro chính của ngân hàng hoàntrả là nó không thực hiện đúng theo chỉ thị của ngân hàng phát hành, lúc này ngânhàng hoàn trả sẽ phải chịu mọi hậu quả xảy ra do lỗi của họ Ngoài ra, khi ngánhàng hoàn trả không yêu cầu một sự bảo đảm thanh toán từ ngân hàng phát hành thì
nó sẽ gặp rủi ro khi ngân hàng phát hành mất khả năng thanh toán hoặc không thểthanh toán do chính sách quốc gia Tuy nhiên rủi ro này hầu như không xảy ra dothông thường ngân hàng hoàn trả thường yêu cầu ngân hàng phát hành phải có mộttài khoản tiền gửi tại ngân hàng của họ để thanh toán cho khoản tièn hoàn trả
Trang 231.2.2.8 Các rủi ro chung:
Rủi ro chung là những rủi ro khi xảy ra có thể tác động trực tiếp hay giántiếp đến các bên liên quan đến tín dụng chứng từ
a) Rủi ro lừa đảo:
Với thế giới phẳng, thương mại quốc tế xác lập trên nền tảng của sự tin cậy.Nếu không có yếu tố này, thương mại không thể phát triển UCP được sử dụng đạt
sự hoàn thiện cao nhưng chỉ đối vói các đối tác chân thực Tuy nhiên nó đã và đang
bị lợi dụng để gian lận lừa đảo “ Ngân hàng chỉ giao dịch bằng chứng từ, khôngliên quan đến hàng hoá hoặc giao dịch khác” chính là khe hở mà các đối tác khôngtrung thực lợi dụng Luật quốc gia sẽ ngăn cản các hành vi gian lận và lừa đảo Tuynhiên, hậu quả của chúng sẽ do ai gánh chịu?
Có hai loại rủi ro lừa đảo chính liên quan đến phương thức thanh toán tíndụng chứng từ:
- Thứ nhất là rủi ro xảy ra khi có một bên thanh toán cho một lô hàng hànghoá không hề tồn tại, vô giá trị hoặc không đủ yêu cầu so với tín dụng Nhà nhậpkhẩu hay chính là kẻ có chủ tâm lừa đảo bằng cách nào đó vẫn đưa ra được một bộchứng từ hoàn hảo nhằm rút tiền từ ngân hàng Rủi ro này có thể xảy ra cho ngườinhập khẩu, ngân hàng phát hành, ngân hàng chiết khấu Nhà nhập khẩu là ngườiđầu tiên phải chịu rủi ro này do các ngân hàng được miễn trách nhiệm nếu họ đãlàm việc với sự cẩn thận hợp lý mà vẫn không biết gian lận lừa đảo Tuy nhiên, nếucác ngân hàng không chứng minh được là mình đã thực hiện đúng chuẩn mực, cẩntrọng trong kiểm tra chứng từ và theo tín dụng thư và UCP thì họ sẽ phải chịu rủi ronày thay cho người nhập khẩu, hay nếu như các ngân hàng không yêu cầu mộtkhoản đảm bảo tín dụng trước khi quyết định chiết khấu (thanh toán), cho bộ chứng
từ thì họ cũng sẽ gặp nguy cơ lớn nếu vụ lứa đảo gây ảnh hưởng xấu đến các đốitác khiến họ mất khả năng hoàn trả lại tiền hoặc phỉa trì hoãn việc thanh toán chocác ngân hàng này
Trang 24Trong trường hợp khác khi mà người nhập khẩu và người xuất khẩu bắt tayvới nhau để thực hiện vụ lừa đảo thì các ngân hàng cũng gặp những rủi ro tương tự.
- Thứ hai là rủi ro mà tín dụng bản thân nó đã bị làm giả Rủi ro xảy ra khingười thụ hưởng gửi hàng hoá hoặc thực hiện dịch vụ dựa vào một cam kết thanhtoán của ngân hàng mà trên thực tế nó không tồn tại Trong trường hợp này, ngưởihưởng sẽ không có khả năng đòi tiền từ ngân hàng được ghi trên tín dụng bởi vìhoặc là ngân hàng đó thực chất không phát hành L/C đó hoặc là ngay chính ngânhàng đó cũng không hề tồn tại Sự lừa đảo này mang lại rủi ro cho tất cả các bêngắn quyền lợi của mình vào L/C giả, từ người thụ hưởng, ngân hàng thông báo,ngân hàng chiết khấu, ngân hàng cấp tín dụng dựa trên L/C giả
Rủi ro lừa đảo thường xảy ra chủ yếu là do các bên tham gia thiếu nhữngthông tin chính xác về khả năng tài chính, tình hình hoạt động, uy tín, tư cách vềcác đối tác của họ Từ đó mà họ đưa ra những phán đoán và quyết định sai lầm, gây
ra rủi ro trong thanh toán Để hạn chế rủi ro lừa đảo trước tiên phải khắc phục tìnhtrạng thông tin không cân xứng Đứng trên góc độ ngân hàng thì một hệ thống ngânhàng đại lý hoạt động tích cực và rộng khắp có thể giúp họ có được những thôngtin cần thiết một cách đầy đủ, chính xác Ngoài ra, do đặc thù của phương thức tíndụng chứng từ là làm việc chỉ dựa trên chứng từ nên ngân hàng cũng nên có nhữngquy định thật chặt chẽ bộ chứng từ xuất trình làm sao để việc làm giả trở nên khókhăn hơn
b) Rủi ro chính sách:
Đây là rủi ro mà việc thực hiện phương thức tín dụng chính từ bị ngăn cảnbởi hành động của chính phủ nằm ngoài tầm kiểm soát của các bên tham gia Rủi roxảy ra nếu chính phủ ban hành lệnh cấm thanh toán ra nước ngoài hay cấm xuấtkhẩu/nhập khẩu sau khi một tín dụng thư được phát hành nhưng vẫn chưa đượcthực hiện đầy đủ
Trang 25Khi rủi ro này xảy ra nó có thể tác động đến tất cả các bên tham gia vào mộttín dụng thư, cản trở làm trì hoãn việc thực hiện hợp đồng, làm phát sinh thêmnhiều chi phí Để hạn chế rủi ro chính sách thì việc tìm hiểu tình hình kinh tế, chínhtrị của các quốc gia liên quan là vô cùng cần thiết Những vấn đề như : Nợ nướcngoài, dự trữ ngoại thối, cán cân thanh toán, sự cấm vận kính tế, chính sách quản lýngoại hối, chính sách thương mại, các quy định về xuất nhập khẩu, đều ảnhhưởng đến khả năng xảy ra rủi ro chính sách và cần được các bên tham gia lưu tâm.
Một ví dụ cho trường hợp này như là khi mâu thuẫn phát sinh từ hợp đồngthương mại giữa người mở và người hưởng lợi Người mở kiện người thụ hưởng ratoà Ở những phiên toà kiểu này người mở tín dụng thư có thể lấy được tráp của toà
án yêu cầu ngân hàng phát hành tạm dừng việc thanh toán theo tín dụng để giảiquyết mâu thuẫn theo hợp đồng tín dụng trước Điều này đặt ngân hàng phát hànhvào tình thế không thể thực hiện nghĩa vụ của nó
Rủi ro pháp lý trở nên phức tạp hơn nhiều bởi hoạt động tín dụng chứng từliên quan đến các bên ở nhiều quốc gia khác nhau Từ đó môi trường pháp lý vàluật quốc gia cũng khác nhau, nếu có sự khác biệt, thậm chí đối nghịch giữa luậtquốc gia và UCP thì luật quốc gia sẽ vượt lên trên và được áp dụng Do đó trongnhiều trường hợp, quyết định của toà án địa phương mới là quyết định cuối cùng
Cho đến nay, các giao dịch tín dụng thư chưa có một chuẩn mực trong ápdụng luật giải quyết tranh chấp Tuỳ thuộc vào từng trường hợp mà các bên chọnluật áp dụng và nơi xét xử Đây chính là vấn đề tranh cãi vì UCP không liên quan
Trang 26đến phân xử tranh chấp và ngay trong tín dụng thư cũng không quy định Toà án vàluật nào được áp dụng Vậy việc xác định luật và địa điểm xét xử rất quan trọng đốivới các bên – điều mà họ thưòng bỏ qua Thông thường, luật áp dụng trong giaodịch tín dụng thư sẽ được xác định bởi địa điểm nơi nghĩa vụ phát sinh có mối quan
hệ xác thực và chặt chẽ nhất: Đối với mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành vàngười mở, ngân hàng phát hành và ngưởi hưởng thì luật quốc gia nơi ngân hàngphát hành đóng trụ sở sẽ được áp dụng; Đối với mối quan hệ giữa ngân hàng xácnhận và ngưởi hưởng thì áp dụng luật của nước nơi ngân hàng xác nhận đóng trụsở; Đối với mối quan hệ giữa các ngân hàng thì cơ sở xem xét là ngân hàng nàothực hiện vai trò chính trong giao dịch tín dụng thư, như vậy ngân hàng đại lý sẽđược chọn vì việc thực hiện giao dịch của nó thể hiện được các thoả thuận với ngânhàng phát hành bất kể nó là ngân hàng thông báo, ngân hàng được chỉ định hayngân hàng chiết khấu
Trong thanh toán quốc tế không phải mọi giao dịch lúc nào cũng diễn ra mộtcách suôn sẻ, vì vậy việc am hiểu về luật pháp của các quốc gia nơi đối tác đặt trụ
sở chính sẽ giúp cho các bên tham gia tín dụng thư hành động theo luật pháp được
áp dụng và tránh những tranh chấp hay rủi ro không đáng có do thiếu hiểu biết hoặchiểu không đúng về luật pháp gây nên
d) Rủi ro bất khả kháng và vi phạm hợp đồng:
Tình huống này nảy sinh nếu việc thực hiện một hợp đồng – bao gồm nghĩa
vụ theo mối quan hệ tín dụng thư – bị cản trở bỏi những yếu tố bên ngoài như làthảm hoạ tự nhiên hoặc những xung đột quân sự Ví dụ một ngân hàng được chỉđịnh hẳn nhiên sẽ không thể kiểm tra bộ chứng từ và gửi chúng tới ngân hàng pháthành khi những xung đột lan rộng khiến ngân hàng này phải đóng cửa văn phòng
và dịch vụ bưu điện tạm ngừng hoạt động
Trong những kiểu tình huống này, hầu hết các hệ thống luật pháp đều cónhững điều khoản mà cho phép chấm dứt hợp đồng nếu việc thực hiện nó trở nên
Trang 27hoàn toàn không có khả năng, để đưa các bên trở lại với vị trí của họ trước khi kýkét hợp đồng Ví dụ, các toà án có thể yêu cầu trả lại khoản tiền ứng trước hoặc yêucầu một bên bồi thường cho đối phương cho những phí tổn mà họ phải chịu khithực hiện hợp đồng cho đến trước khi hợp đồng trở nên không thực hiện được.
1.2.3 Nhân tố tác động đến rủi ro thanh toán tín dụng chứng từ:
1.2.3.1 Nhân tố khách quan:
Một là, môi trường kinh doanh: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế nhưhiện nay, sự biến động của môi trường kinh doanh tất yếu tác động theo hai chiềuhướng khác nhau đối với hoạt động của doanh nghiệp hoặc là tạo cơ hội hoặc là rủi
ro Hoạt động thanh toán quốc tế là hoạt động mang tính đặc thù với các bên liênquan thuộc nhiều quốc gia, quốc tịch khác nhau, khoảng cách về địa lý, trình độchuyên môn, nghiệp vụ có sự chênh lệch , sự khác biệt về tiềm lực tài chính, quy
mô hoạt động cũng như thương hiệu trên thương trường của các bên cùng với sựkhông đồng nhất về lợi ích của các bên liên quan và những thay đổi bất thường củamôi trường kinh doanh là những nhân tố gây nên rủi ro trong hoạt động thanh toáncủa ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cũng như các NHTM phảihoạt động trong môi trường cạnh tranh gay gắt, chịu sự chi phối lớn của quy luậtcung – cầu, quy luật cạnh tranh, nên phải thường xuyên đối mặt với rủi ro từ mọiphía Có khi do giá cả thay đổi, công nghệ lạc hậu, khả năng quản lý và điều hànhkém, khủng hoảng tài chính, gây phản ứng dây chuyền khiến doanh nghiệp gặpkhó khăn, thua lỗ trong kinh doanh, thậm chí vỡ nợ, phá sản
Cuộc khủng hoảng tài chính cuối năm 2007, đầu năm 2008 nổ ra ở Mỹ rồilan ra tất cả các nước trên thế giới Sự ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng này đã làmcho hoạt động sản xuất bị thu hẹp, hoạt động xuất nhập khẩu bị ảnh hưởng nghiêmtrọng, nhiều hợp đồng được ký kết không thể thực hiện do nhiều doanh nghiệp đơn
Trang 28phương huỷ hợp đồng hoặc do bị phá sản, nhiều L/C mở ra mà nhà nhập khẩukhông nhận được hàng, nhà xuất khẩu không thể giao hàng theo đúng điều khoảncủa L/C, một số hoạt động thanh toán bị ngưng trệ do ngân hàng lâm vào tình trạngmất khả năng thanh toán.
Khủng hoảng kinh tế và lạm phát đã làm cho giá cả hàng hóa thay đổi nhanhchóng, gây nên rủi ro thị trường cho các bên tham gia hợp đồng mua bán quốc tế,thêm vào đó là những ảnh hưởng của thiên tai như động đất, dịch bệnh, sóngthần, gây thiệt hại cho hàng hoá trong quá trình vận chuyển, cất dữ, từ đó tácđộng đến các bên tham gia vào quá trình thanh toán tín dụng ( doanh nghiệp và cácngân hàng), khiến họ không thể thực hiện được các cam kết của mình
Hai là, môi trường pháp lý: Yếu tố quốc gia gây nên rủi ro thường gặp khimôi trường pháp lý không ổn định, thiếu tính minh bạch, hệ thống pháp luật thiếuchặt chẽ Đây là một hiểm hoạ của kinh doanh lành manh Một hệ thống văn bảnpháp luật được ban hành với sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng doanh nghiệp,theo các tiêu chí bền vững, thống nhất, thân thiện, công bằng, dễ áp dụng; một hệthống hành pháp hoạt động theo phương châm hỗ trợ, thúc đẩy và phục vụ kinhdoanh; một hệ thống tư pháp đáng tin cậy, tôn trọng công lý, bảo đảm pháp luậtđược thực thi hiệu quả cùng với một xã hội thượng tôn đạo đức, pháp luật sẽ là mộtnhân tố tích cực giúp những rủi ro về pháp lý được hạn chế tối đa Ngược lại, nơipháp luật bất nhất, mâu thuẫn, chồng chéo, thay đổi đột ngột, mờ ám, thực thi phápluật thì thiếu minh bạch, công khai, hiệu quả, việc áp dụng pháp luật thiếu côngbằng, khách quan, các quyền sở hữu tài sản, quyền bảo vệ hợp đồng hoặc luôn bịxâm hại hoặc chi phí quá cao, đều là nguồn gốc rủi ro, gây thiệt hại nặng nề chocác bên tham gia hợp đồng thanh toán
Ba là, yếu tố chính trị: Bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng chịu sựchi phối của thể chế chính trị Môi trường chính trị bao gồm sự ổn định về chính trị,
an ninh, an toàn cho doanh nghiệp, người dân Một quốc gia thường xuyên thay đổi
Trang 29chính sách, thường xuyên có đảo chính, chiến tranh, bạo loạn, xung đột sắc tộc, tôngiáo, bãi công, đình công, thường xuyên có sự can thiệp thiếu chuẩn mực vào thịtrường, chính sách bị các nhóm lợi ích mờ ám chi phối, phân biệt đối xử, tham ô,hối lộ trầm trọng, đều gây nguy cơ rủi ro cho các chủ thể tham gia hoạt độngthanh toán.
Thanh toán TDCT liên quan tới nhiều chủ thể khác nhau ở các quốc gia khácnhau và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc té thì sự lệ thuộc giữa các quốc giacòn lớn hơn Do đó hoạt động này chịu sự tác động của nhièu yếu tố , ở nhiều cấp
độ hơn và bị chi phối không nhỏ bởi các yếu tố chính trị của nước xuất khẩu haycủa nước nhập khẩu, hay ở nước thứ ba có liên quan tới hoạt động thanh toán Một
sự biến động về thể chế chính trị sẽ ảnh hưỏng đến khả năng và sự sẵn sàng đápứng các cam kết như đã thoả thuận giữa các bên Biến động chính trị sẽ ảnh hưởngbất lợi tới sự vận động của tự do thương mại, đến hoạt dộng sản xuất kinh doanhcủa các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới quá trình thanh toán
1.2.3.2 Nhân tố chủ quan của các bên tham gia hoạt động thanh toán TDCTBên cạnh những nhân tố khách quan, những nhân tố chủ quan tác động đếnhoạt động thanh toán TDCT bao gồm:
-Năng lực quản lý, trình độ chuyên môn của các bên tham gia : Đây là nhân
tố hạn chế chất lượng thanh toán TDCT thậm chí gây rủi ro cho các NHTM và cácdoanh nghiệp XNK ngay từ khâu ký kết hợp đồng
- Đạo đức, ý thức trách nhiệm của các bên tham gia Nhiều nhà XNK làm ăntheo kiểu chộp giật không giữ uy tín nên khi gặp khó khăn sẵn sàng bỏ mặc ngânhàng tự đứng ra giải quyết và dẫn đến rủi ro cho ngân hàng Bên cạnh đó, ý thứctrách nhiệm nhân viên ngân hàng cũng là nhân tố quan trọng trong việc hạn chế haygia tăng rủi ro TTQT, đặc biệt đối với thanh toán TDCT thông qua xử lý nghiệp vụcũng như khả năng tư vấn của nhân viên ngân hàng
Trang 30Nhà nhập khẩu: nếu khách hàng không phải là bạn hàng lâu năm, có tínnhiệm thì rất dễ có hành vi lừa người bán xếp hàng lên tàu rồi tìm cách trì hoãn, từchối thanh toán bằng những thủ đoạn nghiệp vụ như bắt lỗi sai sót chứng từ, ép giángười bán để thu lợi cho mình Trong nhiều trường hợp nhà xuất khẩu đành chịubán lỗ còn hơn thuê tàu trở hàng về nước, có khi do giá cả hàng hoá nhập khẩugiảm, nhà nhập khẩu sợ thua lỗ, cố tình không nhận bộ chứng từ để lấy hàng hoặctrì hoãn không thanh toán nên đẩy ngân hàng vào tình thế khó khăn trong xử lývốn, đặc biệt là trong nghiệp vụ trả chậm.
Nhà xuất khẩu: nhà xuất khẩu cố ý không giao hàng, hoặc giao hàng khôngphù hợp với hợp đồng nhưng lại xuất trình bộ chứng từ hoàn hảo với yêu cầu củaL/C Ngân hàng vẫn phải thanh toán cho người hưởng lợi theo bộ chứng từ xuấttrình Khi đó nhà nhập khẩu phải chịu rủi ro, nếu ngân hàng đã tài trợ cho ngườimua thì rủi ro cũng có thể xảy đến với ngân hàng Bởi vậy người mua phải có biệnpháp kiểm tra thông tin qua các hãng vận tải xem hàng hoá đã thực sự được xếp lêntàu chưa, nếu có dấu hiệu lừa đảo cần kết hợp với ngân hàng để đưa ra hướng giảiquyết kịp thời
- Thiếu thông tin: Tình trạng thiếu thông tin, thông tin không chính xác,không đầy đủ về đối tác dễ bị lừa gạt nên đã đưa ra những quyết định sai lầm tronggiao dịch chứng từ Do thông tin không đầy đủ, nếu một bên không nắm vững tìnhhình tài chính, uy tín, khả năng thanh toán của đối tác, không am hiểu, không kiểmtra được các thông số kỹ thuật và hiệu quả của dự án mà mình tài trợ Đây chính làthông tin không cân xứng Do đó lựa chọn khách hàng và ngân hàng nước ngoài cóquan hệ tốt là điều vô cùng quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế vàthanh toán quốc tế
- Quy định về nghiệp vụ không rõ ràng có ảnh hưởng không nhỏ đến khảnăng hạn chế rủi ro cho các nhà kinh doanh XNK và NH như các quy định về muabảo hiểm, tỷ lệ ký quỹ, độ rủi ro trong thanh khoản, về hạn mức tín dụng,
Trang 31- Do uy tín: một trong những nguyên tắc hàng đầu trong hoạt động kinhdoanh của các NHTM là uy tín Nếu một ngân hàng thường xuyên không thực hiệnđúng các cam kết của mình thì sẽ gặp khó khăn trong thanh toán quốc tế.
1.3 Quản lý rủi ro trong TTQT – kinh nghiệm từ một số ngân hàng lớn:
1.3.1 Khái quát rủi ro trong TTQT trên thế giới:
Như đã trình bày ở trên, trong quá trình tiến hành hoạt động TTQT, rủi roxảy ra khi quyền lợi của một bên tham gia bị vi phạm, rủi ro không chỉ được hiểutheo nghĩa hẹp là việc chứng từ không được thanh toán, mà còn được hiểu rộng ra
là bất cứ sự chậm trễ nào trong các khâu của quá trình thanh toán Rủi ro trong hoạtđộng TTQT của Việt Nam cũng như trên thế giới, nó có thể xảy ra với tất cả cácbên tham gia: Với người bán, rủi ro xảy ra khi bán hàng không được thanh toánhoặc là việc thanh toán bị trì hoãn, rủi ro về thị trường, rủi ro khong nhận hàng, ;với người mua, rủi ro xảy ra khi người bán giao hàng không đúng với các điều kiệncủa hợp đồng, rủi ro khong giao hàng, rủi ro trong quá trình vận chuyển hànghoá, ; với các ngân hàng liên quan, rủi ro xảy ra khi người mua hoặc người bánthiếu trung thực, không thực hiện đúng các cam kết ghi trong hợp đồng, do tỷ giábiến động, và các rủi ro khác đều xảy ra từ các nguyên nhân cơ bản sau: do thựchiện các giao dịch không tuân thủ đúng luật pháp, rủi ro do chính con người hoặc
sự cố về kỹ thuật mang lại trong quá trình TTQT, do sự biến động về giá cả trên thịtrường, do vi phạm đạo đức kinh doanh, do các nguyên nhân bất khả kháng,
Tuy nhiênh rủi ro ở mỗi nước khác nhau thì sẽ có những đặc điểm khác nhau
vì các yếu tố gây rủi ro ở mỗi nước khác nhau Và hiện nay, việc thanh toán xuấtnhập khẩu bằng phương thức TDCT được các ngân hàng trên thế giới thực hiệndựa trên cơ sở chủ yếu là UCP600 Tuy nhiên mức độ vận dụng UCP vào thực tiễncủa các nước là khác nhau và còn phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của tứng quốcgia, do đó vấn đề giải quyết tranh chấp cũng khác nhau
Trang 32Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, công nghệ càng hiện đại,con người càng trở nên phát triển và giỏi hơn thì càng tiềm ẩn nhiều rủi ro, càngnảy sinh nhiều vấn đề tranh chấp phức tạp và kỹ thuật lừa đảo cũng tinh vi hơn, Chính vì vậy mà các NHTM trên thế giới cần phải có chính sách quản lý rủi ro tốthơn nữa nhằm hạn chế rủi ro trong TTQT nói chung và thanh toán TDCT nói riêng.
1.3.2 Quản lý rủi ro trong TTQT tại một số NHTM điển hình trên thế giới và
Việt Nam:
1.3.2.1 Quản lý rủi ro ỏ Citibank:
Trong nhiều năm qua, Citibank luôn là một trong những ngân hàng hàng đầuthế giới trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Với sự ra đời và phát triển từ rấtlâu, cùng với công nghệ ngân hàng hiện đại, họ có rất nhiều kinh nghiệm trong việcquản lý rủi ro để phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong TTQT nhất là phương thứcthanh toán TDCT
Một số biện pháp mà Citibank đã áp dụng để quản lý rủi ro:
- Luôn cập nhật thông tin về tình hình thị trường và các khách hàng để từ đóngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng và phòng ngừa rủi ro trong thanh toán
- Lập các trung tâm thanh toán ở các châu lục khác nhau như:
+ Trung tâm thanh toán TAMPA ở châu Mỹ
+ Trung tâm thanh toán LONDON ở châu Âu và châu Phi
+ Trung tâm thanh toán MUMBAI ở Đông Nam Á
+ Trung tâm thanh toán PEANAng ở Nam Á
Việc thành lập các trung tâm thanh toán ở các khu vực khác như vậy sẽ giúptiếp cận các thị trường khác nhau từ đó tìm hiểu tập quán, quan điểm của từng nướctrong thanh toán, các điều kiện vi mô và vĩ mô của khách hàng Từ đó, thông tinđược cập nhật nhanh chóng tới toàn bộ hệ thống, nó có tác dụng hỗ trợ lẫn nhaugiữa các chi nhánh Vì trong thanh toán quốc tế, việc hiểu rõ tập quán, quan điểm
Trang 33của từng nước, từng khu vực trong thanh toán là một việc làm cần thiết để từ đó cóthể ngăn ngừa rủi ro, nâng cao chất lượng thanh toán.
- Citibank cũng rất chú trọng tới việc đào tạo nguồn nhân lực vì họ cho rằng
dù khoa học công nghệ có phát triển tới đâu thì có những việc mà máy móc khôngthể thay thế được cho con người Hơn nữa, các thanh toán viên là những người trựctiếp vận dụng công nghệ và các kiến thức chuyên môn của mình vào quá trìnhthanh toán Vì vậy cần đào tạo một nguồn nhân lực chất lượng cao về mọi mặt đểvận hành quá trình thanh toán trơn tru hơn và giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất
- Thực hiện việc luân chuyển cán bộ từ phòng nghiệp vụ này sang nghiệp vụkhác, giúp các cán bộ nắm được toàn diện các nghiệp vụ của một ngân hàng Vìvậy khi tiến hành một nghiệp vụ nào đó trong thanh toán thì họ có thể hiểu đầy đủcác bước của một quy trinh nghiệp vụ và các kiến thức liên quan, từ đó hạn chếđược các rủi ro trong thanh toán
1.3.2.2 Kinh nghiệm từ HSBC Việt Nam:
HSBC hiện đứng đầu về thanh toán xuất nhập khẩu trong khối các ngân hàngnước ngoài tại Việt Nam Dịch vụ này hiện chiếm 30% tổng doanh thu của ngânhàng
Cứ khoảng 10 doanh nghiệp Việt Nam giao dịch xuất nhập khẩu qua ngânhàng HSBC thì 7 phải chỉnh sửa L/C
Theo HSBC thì điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam là:
- Các doanh nghiệp Việt Nam khi thanh toán quốc tế không xem kỹ cácchứng từ L/C, không hiểu biết đầy đủ các hợp đồng và điều khoản đi kèm; khôngnắm bắt đầy đủ các thủ tục giao nhận hàng, nhận biết đơn hàng cũng như các biệnpháp quản lý rủi ro về mặt chứng từ, lãi suất, tỷ giá,
- Còn thiếu kinh nghiệm giao dịch trên thị trường quốc tế Phần lớn khôngxem xét kỹ hoặc hẩu hết những rủi ro về luật pháp có thể xảy ra từ những điểmchưa rõ ràng trong hợp đồng xuất nhập khẩu
Trang 34- Còn nhỉều hạn chế khi làm ăn với các đối tác nước ngoài Nếu không biết
rõ về tình hình kinh tế chính trị của những nước đối tác do chính sách của họ thayđổi thường xuyên, doanh nghiệp xuất nhập khẩu vào thị trường đó dễ bị rủi ro.Cũng còn nhiều quốc gia hiện có chính sách , luật lệ không rõ ràng Ngoài ra cònkhông ít nghiệp vụ mới đang gây tranh cãi giữa các quốc gia về thanh toán quốc tế
Theo kinh nghiệm trong thanh toán xuất nhập khẩu của HSBC, các doanhnghiệp cần đặc biệt cảnh giác với các hợp đồng chào bán với giá cả quá rẻ hoặc cócước phí vận chuyển rẻ bất ngờ Bởi những hàng hoá quá rẻ thường có chất lượngkém, nguồn gốc không rõ ràng Những doanh nghiệp vẩn tải giá rẻ thường khôngđảm bảo uy tín trong việc giao hàng đúng và đủ như thoả thuận Họ phần nhiều lànhững doanh nghiệp không có bảo hiểm, tài chính không lành mạnh Với người bán(doanh nghiệp xuất khẩu) các rủi ro thường gặp là khả năng tài chính, hàng hoákhông được chấp nhận, chiến tranh hoặc bạo động ở nước xuất khẩu, ngoại tệ thanhtoán biến động, các luật lệ, quy định của các nước nhập khẩu không phù hợp vớihàng hoá
Về lãi suất, doanh nghiệp nên cẩn trọng với các biến động khi cho vay xuấtkhẩu như biến động tỷ giá ngoại hối, mẫu L/C từ phía ngân hàng không đúng thủtục quốc tế
Người mua (doanh nghiệp nhập khẩu) có thể gặp rủi ro do không được giaohàng theo hợp đồng, bị giao hàng muộn, thiếu hàng, hàng giả, lừa đảo, kém phẩmchất và không đúng quy cách Thậm chí, cả khi ngân hàng được uỷ nhiệm chiếtkhấu hay nhờ thu không thực hiện đúng quy cách quốc tế HSBC cũng khuyến cáodoanh nghiệp nên thận trọng xem xét tất cả các yếu tố liên quan đến việc xuất nhậpkhẩu hàng hoá như thông tin về công ty giao nhận, mở L/C, bảo hiểm tín dụng, nhằm đảm bảo hạn chế và phòng chống được rủi ro
Trang 35Trong thanh toán xuất nhập khẩu hoặc mở L/C qua mạng, số đông doanhnghiệp vẫn e ngại với thanh toán điện tử, họ ngại bởi phải thay đổi thói quen, nghingờ tính an toàn của thanh toán điện tử vì thiếu việc ký và đóng dấu.
Theo HSBC, quản lý rủi ro về mặt chứng từ là cách quan trong nhất đểdoanh nghiệp gia tăng tính hiệu quả và tiết kiệm chi phí, có nhiều chi phí ở nướcngoài mà doanh nghiệp không thể kiểm soát hết
1.3.2.3 Kinh nghiệm Từ ANZ:
Với kiến thức và hiểư biết của đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp và giàu kinhnghiệm, ngân hàng ANZ đưa ra cho khách hàng các gói dịch vụ “Quản lý rủi rothương mại” và “ Tư vấn thương mại quốc tế”, hỗ trợ khách hàng nhiều giải pháp
để hạn chế rủi ro trong thanh toán quốc tế
- Dịch vụ quản lý rủi ro thương mại: ANZ đã đưa ra một số giải pháp nhằmgiảm bớt rủi ro khi các doanh nghiệp tham gia vào hợp đồng mua bán quốc tế Mỗidoanh nghiệp có nhu cầu khác nhau, vì vậy ngân hàng cung cấp cho khách hàngnhững rủi ro có thể gặp phải và tư vấn các giải pháp phòng ngừa hiệu quả nhất
- Dịch vụ tư vấn thương mại quốc tế: Thương mại quốc tế là môi trườngnăng động và đầy thách thức ANZ áp dụng phương pháp mang tính chiến lượctrong quá trình làm việc với các doanh nghiệp vừa và nhỏ để cung cấp các giảipháp tài trợ thương mại phục vụ nhu cầu kinh doanh của họ Để đơn giản và thuậntiện cho khách hàng, ANZ có đội ngũ các chuyên gia thương mại ở những chuyênngành khách nhau, những người hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các chuyêngia này sẽ năm bắt nhu cầu của các doanh nghiệp, đưa ra những tư vấn hợp lý đểdoanh nghiệp có thể thực hiện hợp đồng một cách hiệu quả và tránh được những rủi
ro đáng tiếc có thể xảy ra
Trang 36Kết luận chương I
Chương I đã nêu một cách khái quát chung về phương thức thanh toánTDCT và những rủi ro có thể gặp phải khi sử dụng phương pháp này trong thươngmại quốc tế
Có thể nói tín dụng chứng từ là một phương thức thanh toán có nhiều ưuđiểm và dường như có thể dung hoà khá tốt lợi ích cũng như rủi ro cho các bêntham gia Tuy nhiên bên cạnh những ưu điểm thì phương thức thanh toán này cúng
ẩn chứa nhiều rủi ro cho các chủ thể gắn quyền lợi của mình vào một L/C, đạc biệt
là những chủ thể chưa chuẩn bị sẵn sàng về luật pháp, chính sách xuất nhập khẩu,tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia liên quan, các thông lệ, tập quánthanh toán quốc tế,
Trang 37CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ PHÒNG NGỪA RỦI RO TẠI NH TMCP NGOẠI THƯƠNG HÀ NỘI
2.1 Hoạt động TTQT theo phương thức TDCT tại ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hà Nội:
2.1.1 Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Ngân hàng hàng đầu vì
Việt Nam thịnh vượng:
Với mục tiêu thành lập một tập đoàn tài chính hàng đầu Việt Nam và trởthành ngân hàng tầm cỡ quốc tế ở khu vực trong thập kỷ tới, hoạt động đa năng, kếthợp với điều kiện kinh tế thị trường, thực hiện tốt phương châm “Luôn mang đếncho khách hàng sự thành đạt” trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệthống Ngân hàng Việt Nam nói riêng đang trong quá trình hội nhập, Ngân hàngTMCP Ngoại thương Việt Nam có một mô hình tổ chức hiện đại, khoa học, phùhợp với mục tiêu và bảo đảm hiệu quả kinh doanh, kiểm soát được rủi ro, có khảnăng cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng đa dạng, tổng hợp, đáp ứng đượcđòi hỏi ngày càng cao của nền kinh tế thị trường và nhu cầu đa dạng của kháchhàng
Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội: Thành lập ngày 01/03/1985, là thành viêntrong hệ thống ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, được Nhà nước công nhận làdoanh nghiệp hạng nhất Năm 2004, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội vinh dựđược Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng Ba
Được thành lập nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh đối ngoại, thanh toánquốc tế, các dịch vụ tài chính, ngân hàng quốc tế trên địa bàn Hà Nội Ngoài trụ sởchính 344 Bà Triệu/78 Nguyễn Du, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội hiện có 10Phòng giao dịch và 01 quầy giao dịch tại sân bay quốc tế Nội Bài
Trang 38Là một trong những chi nhánh hàng đầu của Ngân hàng Ngoại thương ViệtNam, với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại, cung cấp các dịch vụ tự động hoácao: VCB online, thanh toán điện tử liên ngân hàng, hệ thống máy rút tiền tự độngATM connect24, hệ thống thanh toán SWIFT toàn cầu và mạng lưới đại lý trên
1400 ngân hàng tại 85 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đảm bảo phục vụ tốt cácyêu cầu của khách hàng
Đặc biệt trong chính sách phát triển, ngân hàng Ngoại thương Hà Nội luônchú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ năng động, nhiệt tình và tinh thông nghiệp vụ
2.1.2 Khái quát về hoạt động kinh doanh tại NHTMCP Ngoại thương Hà Nội:
Những năm vừa qua, trong bối cảnh suy thoái của nền kinh tế thế giới cũngnhư những tác động tiêu cực của nó đến nền kinh tế Việt Nam, đồng thời phải đốimặt với áp lực cạnh tranh gay gắt đến từ các NHTM trên địa bàn, Ngân hàngTMCP Ngoại thương Việt Nam một mặt vượt qua những khó khăn, mặt khác tranhthủ những điều kiện thuận lợi và đã đạt được những kết quả rất khả quan Sau đây
là kết quả một số hoạt động kinh doanh của VCB Hà Nội năm 2010:
2.1.2.1 Công tác huy động vốn:
Nguồn vốn của chi nhánh năm 2010 đạt 11.129 tỷ đồng, trong đó nguồn vốnhuy động từ nền kinh tế đạt 10.705 tỷ đồng, tăng 28,1% so với năm 2009 và hoànthành 98,5% kế hoạch huy động vốn năm 2010
Nếu căn cứ theo chỉ tiêu “Tốc độ thực hiện bình quân” được VCB trungương đưa ra làm căn cứ tính điểm hoàn thành kế hoạch thì huy động vốn bình quânngày từ 01/01/2010 đến 31/12/2010 so với thời điểm 31/12/2009 tăng 9,63% Con
số này cho thấy tốc độ tăng trưởng huy động vốn của Chi nhánh năm 2010 duy trìđược sự ổn định và đồng đều
Trang 39Bảng 2.1: Tình hình huy động vốn của VCB Hà Nội từ năm 2008 – 2010Đơn vị: tỷ đồng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh năm 2008 – 2010)
Thị phần huy động vốn của VCB Hà Nội năm 2010 trên địa bàn:
Huy động vốn VND năm 2010 tại Chi nhánh đạt mức tăng trưởng 44% sovới cùng kỳ năm 2009 Tổng nguồn vốn huy động từ nền kinh tế của các ngân hàngtrên địa bàn Hà Nội năm 2010 đạt 767.683 tỷ đồng và thị phần huy động vốn đốivới VND – USD – USD quy VND đến cuối năm 2010 của VCB Hà Nội trên địabàn với hơn 300 ngân hàng và TCTD đang hoạt động lần lượt là 1.2% - 1% - 1.4%.tính chung, thị phần huy động vốn của VCB Hà Nội năm 2010 tăng 0.05% so vớithị phần của năm 2009
2.1.2.2 Công tác tín dụng:
Trang 40Từ đầu năm 2010, công tác cho vay tại VCB Hà Nội luôn thực hiện nghiêmtúc Nghị Quyết 03/NQ-CP ngày 15/01/2010 và Nghị quyết số 18/NQ-CP ngày06/04/2010 của Chính phủ về những giải pháp đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, đồngthời luôn bám sát chủ trương của Chính phủ về chống suy giảm kinh tế, kích thíchđầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế thông qua kênh hỗ trợ lãi suất cho vay, tậptrung thực hiện nhiệm vụ tăng cường công tác huy động vốn theo chủ trương củaNHNT Việt Nam, đảm bảo điều hoà ổn định các cân đối tiền tệ, tạo điều kiện hỗ trợdoanh nghiệp, dân cư phát triển sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống.
* Dư nợ cho vay toàn chi nhánh
Dư nợ cho vay toàn Chi nhánh đến 31/12/2010 đạt 3.932 tỷ đồng, tăng25.8% so với 31/12/2009, vượt kế hoạch năm 2010 (VCB trung ương giao 3.650 tỷđồng)
Cơ cấu dư nợ cho vay đến 31/12/2010 như sau:
- Theo loại tiền:
+ Dư nợ cho vay VND đạt 2.834 tỷ đồng, chiếm 70% tổng dư nợ, tăng 30%
so với 31/12/2009
+ Dư nợ cho vay ngoại tệ đạt 1.098 tỷ quy đồng, chiếm 30% tổng dư nợ,tăng 30% so với 31/12/2009
- Theo thời hạn vay:
+ Dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 2.993 tỷ đồng, chiếm 76% tổng dư nợ
+ Dư nợ cho vay trung và dài hạn đạt 939 tỷ đồng, chiếm 14% tổng dư nợ.Đặc biệt năm 2010, Ban giám đốc xác định nhiệm vụ trọng tâm là xử lý nợxấu bên cạnh việc đảm bảo tăng trưởng tín dụng an toàn, luôn duy trì mức dư nợcho vay hợp lý và đảm bảo định hướng tăng tín dụng của hệ thống
Nợ xấu tính đến 31/12/2010 là 237,7 tỷ đồng, chiếm 67% tổng dư nợ tại Chinhánh
* Thị phần dư nợ cho vay của VCB Hà Nội năm 2010 trên địa bàn