1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

tiềm năng và vai trò của đmtn đối với ngân hàng thương mại việt nam

37 250 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 439,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

II/ Mục tiêu nghiên cứu:Từ việc nhìn thấy được sự cần thiết của ĐMTN trong nền kinh tế, chuyên đề sẽgiới thiệu một cách khái quát những vấn đề liên quan về ĐMTN và các hoạt động của nó ở

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

I/ Lý do chọn đề tài:

Với nền kinh tế Việt Nam đang phát triển như hiện nay, sự tồn tại và cạnh tranhgiữa các doanh nghiệp “mạnh”–“yếu” khác nhau đã buộc các doanh nghiệp phải thực

sự biết mình là ai, đứng ở vị trí nào và phải hiểu về đối thủ cạnh tranh của mình Vậy,

ai sẽ “bắt mạch” các doanh nghiệp này để đưa ra thông tin trung thực, khách quan, gópphần trợ giúp cho hoạt động thương mại, hợp tác và đầu tư? Lúc này, sự ra đời củamột tổ chức có thể đánh giá được khả năng hoạt động và độ tin cậy của một doanhnghiệp là rất cần thiết Và đó cũng chính là nhiệm vụ trọng tâm của các tổ chức Địnhmức tín nhiệm (ĐMTN)

Ở Việt Nam từ trước đến nay, ngoài cơ quan Nhà nước, ít có một tổ chức nào

“dám” đánh giá uy tín của một doanh nghiệp Đó là một thói quen bao cấp làm ảnhhưởng không ít đến bộ mặt của nền kinh tế đất nước, là một trong những lý do khiếncác nhà đầu tư nước ngoài chưa dám đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam Tấtnhiên, khi luồng vốn chạy vào trong nước ít, với thị trường vốn nội địa còn non yếu thìhoạt động của các NHTM ở Việt Nam cũng khó lòng mà phát huy hết năng lực của nó

để phát triển mạnh mẽ và ổn định Như vậy, tổ chức ĐMTN ra đời sẽ thúc đẩy cho sựlưu thông và phát triển của thị trường vốn, giúp các NHTM hoạt động tốt hơn, huyđộng được vốn và cho vay một cách hiệu quả nhất

Tóm lại, việc cung cấp những thông tin tín dụng, xếp hạng và đánh giá tínnhiệm doanh nghiệp là một công việc hết sức cần thiết Nó gắn liền với mọi mặt hoạtđộng của nền kinh tế, tài chính và xã hội, giúp xây dựng hình ảnh và độ tín nhiệm củacác doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập Chính vì thế nên khi thực hiện

chuyên đề này, em đã chọn đề tài:“Tiềm năng và vai trò của Định mức tín nhiệm đối với hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam” Hi vọng qua chuyên đề có thể

mang đến cho quí thầy cô và các bạn có được một cái nhìn chung về ĐMTN Từ đó đểthấy được những tiềm năng và vị trí của ĐMTN trong nền kinh tế khi đất nước tachuẩn bị bước vào một giai đoạn mới: Hội nhập và phát triển

Trang 2

II/ Mục tiêu nghiên cứu:

Từ việc nhìn thấy được sự cần thiết của ĐMTN trong nền kinh tế, chuyên đề sẽgiới thiệu một cách khái quát những vấn đề liên quan về ĐMTN và các hoạt động của

nó ở Việt Nam như thế nào khi chỉ vừa mới được hình thành gần đây Bên cạnh đó,chuyên đề còn cho chúng ta thấy bức tranh tổng quan về hoạt động của NHTM ỏ ViệtNam trong giai đoạn hiện nay, các mối quan hệ giữa NHTM và các tổ chức ĐMTN từviệc phân tích những tiềm năng và tầm quan trọng của ĐMTN trong nền kinh tế Đặcbiệt là vai trò của nó đối với hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam, chúng ta sẽhiểu rõ hơn những khó khăn đang tồn tại trong việc xây dựng các tổ chức ĐMTN ởViệt Nam, từ đó đề ra một số giải pháp cho sự hình thành và phát triển của loại hìnhnày trong giai đoạn hiện nay

III/ Phương pháp nghiên cứu:

1/ Phương pháp thu thập số liệu:

Các số liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo, các tạp chí ngân hàng, tạp chíkinh tế và qua internet

2/ Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:

Bằng nhận định riêng của bản thân, dựa vào những kiến thức đã học kết hợp vớicác phương pháp phân tích số liệu từ thống kê ứng dụng, phương pháp so sánh và cácphép toán thông thường để tổng hợp, giải thích và nhận xét các vấn đề

IV/ Phạm vi nghiên cứu:

Tác động của ĐMTN đối với nền kinh tế là rất lớn và sâu rộng, trên nhiều mặtkhác nhau Tuy nhiên, trong chuyên đề này em chỉ tập trung phân tích vào khía cạnh làvai trò của ĐMTN đối với hoạt động của hệ thống NHTM ở Việt Nam Bên cạnh đó,việc đánh giá và phân tích hoạt động của hệ thống NHTM ở Việt Nam cũng chỉ đượcdựa trên việc tổng hợp các số liệu của một số ngân hàng tiêu biểu từ nền kinh tế trongkhoảng thời gian từ năm 2000 trở lại đây Tuy nhiên, qua đó cũng sẽ giúp cho ngườiđọc có một cái nhìn cụ thể hơn về tình hình hoạt động của NHTM Việt Nam trong thờigian qua cũng như vai trò của ĐMTN đối với nó

Trang 3

Có nhiều loại ĐMTN khác nhau ĐMTN đợt phát hành trái phiếu và ĐMTNcủa đơn vị phát hành Thông thường, người ta quan tâm nhiều đến đợt phát hành vì nókhông chỉ tính tới độ tín nhiệm của đơn vị phát hành mà còn tính tới độ tín nhiệm củanhững tài sản thế chấp.

Ngoài ra còn có ĐMTN trong nước hay toàn cầu Các tổ chức ĐMTN trongnước sẽ ĐMTN các doanh nghiệp trong nước Trong khi đó, các tổ chức ĐMTN quốc

tế sẽ định mức những đơn vị phát hành trên toàn cầu phục vụ cho các nhà đầu tư lớn

1.2/ Tín nhiệm doanh nghiệp (DN)

Tín nhiệm DN là ý kiến được đưa ra bởi một tổ chức ĐMTN về khả năng của

DN trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính Ý kiến này tập trung vào việc đánh giákhả năng và mong muốn của DN trong việc thực hiện cam kết tài chính khi chúng tớihạn Ý kiến này không nhằm cung cấp đảm bảo khả năng trả nợ của DN được xếphạng với bất cứ một nghĩa vụ tài chính cụ thể nào Tín nhiệm DN có thể tăng hoặcgiảm theo khả năng mà DN có đáp ứng được nghĩa vụ tài chính của mình hay không

2/ Công ty ĐMTN (CRA)

2.1/ Khái niệm

Công ty ĐMTN hay một tổ chức ĐMTN (còn được gọi là CRA) là công tychuyên cung cấp quan điểm của họ về độ tín thác của một DN trong nghĩa vụ thanhtoán tài chính

CRA là một tổ chức đánh giá trung gian, độc lập nhằm xem xét, phân tích vàđưa ra mức định hạng tín nhiệm đối với các công ty đang tìm kiếm nguồn vốn đầu tư

Nó cung cấp ý kiến về mức độ tin cậy của một thể nhân cũng như khả năng hoàn thànhnhững nghĩa vụ tài chính của thể nhân đó

Trang 4

Sản phẩm của CRA là việc cung cấp cho thị trường một hệ thống xếp hạng cáccông cụ tài chính, đặc biệt là các chứng khoán nợ,… Giúp các nhà đầu tư có cơ sở đểtham khảo và so sánh trước khi đưa ra quyết định nên đầu tư vào những công cụ nào.

Ngoài ra còn có những dịch vụ khác của CRA như đánh giá các tổ chức tàichính, bảo hiểm, tính toán mức rủi ro tín dụng một khoảng cho vay của NH, đánh giáxếp hạng quản trị DN, cung cấp thông tin tài chính,

2.2/ Sự khác biệt giữa một CRA và một số tổ chức khác như tư vấn tài chính, dịch vụ thông tin, các công ty kiểm toán, ISO,…

Thực chất, chức năng của các loại hình dịch vụ này là như nhau vì chúng đềunhằm hướng đến việc phân tích, đánh giá để đưa ra các thông tin tư vấn kịp thời chocác DN

Tuy nhiên, khi tiến hành đánh giá một DN, ngoài việc phân tích theo góc độ tàichính như các tổ chức khác, CRA còn quan tâm đến các chỉ tiêu phi tài chính Các chỉtiêu phi tài chính đó là năng lực cạnh tranh của DN, triển vọng phát triển của sảnphẩm, xu hướng thị trường, ý kiến và phản ứng của người tiêu dùng về các sản phẩm

và dịch vụ của DN,… Kết quả đánh giá sẽ là sự kết hợp giữa kết quả phân tích các chỉtiêu tài chính và phi tài chính có tính khác biệt về nghành và qui mô

2.3/ Các mô hình của CRA

Trên thế giới, hiện có ba loại mô hình CRA:

● Thứ nhất: Mô hình CRA 100% vốn nước ngoài.

Đây là loại hình do các CRA nước ngoài thành lập và hoạt động dưới dạng mởchi nhánh tại nước sở tại hoặc đăng ký thành lập công ty Mô hình này thường chỉ cómột pháp nhân đứng ra thành lập hoặc có hai pháp nhân nước ngoài Để mô hình này

có thể đi vào hoạt động đòi hỏi phải có một thị trường trái phiếu phát triển nhất định

và có sự đầu tư lớn từ trong nước cũng như quốc tế

● Thứ hai: Mô hình công ty liên doanh với nhà đầu tư nước ngoài.

Mô hình này do các CRA nội địa và CRA nước ngoài cùng thiết lập liên doanh

để khai thác một số dịch vụ của ĐMTN Để xây dựng mô hình thì đối tác trong nướcphải là một tổ chức tài chính hoặc một DN đã rất am hiểu về hoạt động của CRA mớiphát huy được vai trò của nó và tránh không bị đối tác nước ngoài chi phối

Trang 5

● Thứ ba: Mô hình công ty cổ phần có sự tham gia của các cổ đông chiến lược

nước ngoài

Với mô hình loại này thì CRA đóng vai trò là một công ty cổ phần, trong đóngoài các cổ đông trong nước còn có sự tham gia của các cổ đông chiến lược nướcngoài Họ là những nhà đầu tư lớn, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc chuyểngiao công nghệ, đào tạo nhân sự và cử người điều hành DN Trong mô hình này không

có sự phân biệt đối xử giữa cổ đông trong nước và nước ngoài về tỷ lệ sở hữu Nguyêntắc phân bổ tỷ lệ sở hữu là tùy thuộc vào vai trò của từng nhà đầu tư trong việc hìnhthành sự ra đời và hoạt động của CRA

3/ Các hình thức của ĐMTN

Kinh doanh thông tin tín nhiệm từ lâu đã không còn xa lạ trên thế giới Hoạtđộng của các tổ chức ĐMTN rất đa dạng với nhiều hình thức và dịch vụ khác nhau Về

cơ bản, có ba loại hình dịch vụ chính:

3.1/ Cung cấp thông tin tín nhiệm DN

● Thông tin tín nhiệm DN:

Thông tin tín nhiệm là những thông tin ngắn gọn, chính xác được kiểm chứngbởi một tổ chức ĐMTN có uy tín Thông tin tín nhiệm nhằm đánh giá khả năng thanhtoán, mức độ tín nhiệm của một cá nhân, một DN, một nghành hoặc một quốc gia.Thông tin tín nhiệm DN giúp các nhà quản lý ra quyết định nhanh hơn và chính xáchơn nhằm hạn chế rủi ro trong kinh doanh

● Cung cấp thông tin tín nhiệm DN:

Đây là một dịch vụ mà các CRA có nghĩa vụ sẽ thường xuyên ĐMTN các công

ty có yêu cầu được định mức xếp hạng nhằm phục vụ cho nhà đầu tư của công ty.Trong suốt thời gian hiệu lực của hợp đồng, CRA sẽ luôn cập nhật thông tin, theo sátcác công ty và nghành những sự kiện có ý nghĩa hoặc những sự phát triển có ảnhhưởng tới kết quả định mức nhằm đảm bảo quá trình ĐMTN một cách chính xác Ítnhất một năm một lần, CRA sẽ đánh giá lại mỗi công ty Bất cứ lúc nào trong suốt quátrình giám sát, CRA cũng có thể ban hành hai loại công bố:

Trang 6

 Cảnh bảo tín nhiệm:

Là lời cảnh báo cho công chúng rằng, đã xảy ra một sự kiện gì đó hoặc là vềđiều kiện kinh doanh hoặc là một sự kiện trong công ty mà có thể ảnh hưởng đếnĐMTN Cảnh báo tín nhiệm có nghĩa là CRA sẽ đánh giá các sự kiện và các sự kiệnnày có thể được cho rằng “tích cực”, “tiêu cực”, hoặc “đang phát triển” phụ thuộc vàocác tình huống cụ thể ĐMTN hiện thời vẫn còn hiệu lực cho đến khi CRA hoàn thànhđánh giá đầy đủ

 Cập nhật tín nhiệm:

Là việc xem xét lại ĐMTN đã ban hành trước đó Bản mới được công bố saukhi CRA đánh giá được ảnh hưởng của một sự kiện có ý nghĩa và nó bao gồm nhữngthông tin bổ sung cho ĐMTN đã công bố trước đó Cập nhật ĐMTN và công bốĐMTN sẽ “thăng hạng”, “xuống hạng” hoặc bị hủy bỏ

3.2/ Đánh giá tín nhiệm và xếp hạng DN

Đây là một trong những dịch vụ chính của loại hình kinh doanh tín nhiệm DN.Đánh giá tín nhiệm là một dịch vụ rất phổ biến trên thế giới Ở hầu hết các nước pháttriển và nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á đã có các tổ chức hoạt động trong lĩnhvực này Đây là một dịch vụ hết sức cần thiết đối với nền kinh tế thị trường, đặc biệt làđối với các NH

Đánh giá tín nhiệm hay xếp hạng tín nhiệm DN là việc đánh giá khả năng đápứng các nghĩa vụ nợ của một công ty, hay đánh giá mức độ rủi ro gắn liền với các loạiđầu tư khác nhau Các loại đầu tư này có thể dưới dạng các công cụ cho vay như vay

và gửi tiền tại NH, hay có thể dưới dạng các chứng khoán như trái phiếu, cổ phiếu,thương phiếu…

Xếp hạng DN là một phần của quá trình cung cấp thông tin tín nhiệm DN thongqua các khâu thu thập, sàng lọc, chia nhóm, phân tích, đánh giá, so sánh và cho điểmcác thong tin tín nhiệm để xếp hạng các DN theo các cấp độ khác nhau Mục đích củaviệc xếp hạng DN là đưa ra ý kiến về khả năng thực hiện một nghĩa vụ tài chính của

DN vì các DN thường sử dụng vốn kinh doanh từ nhiều nguồn khác nhau, từ các nhàđầu tư, các NH hay từ nguồn vốn của các nhà cung cấp Vì vậy mà nó rất cần thiết chonền kinh tế, đặc biệt là đối với hoạt động của NH

Khi tham gia đánh giá tín nhiệm, DN sẽ được nhận những thông tin đánh giáđộc lập, khách quan về tình hình tài chính, khả năng thanh toán nợ Mặt khác, các DN

Trang 7

còn nhận được dich vụ tư vấn tài chính, quản lý, quan hệ công chúng (PR),…Tuynhiên, để có thể đánh giá tín nhiệm của một DN, các CRA phải dựa trên hai chỉ tiêu làtài chính và phi tài chính Có hơn 100 chỉ tiêu tính điểm và các phương pháp kiểm trachéo phức tạp để có thể đưa tới việc xếp hạng từ AAA, AA, BB,… cho mức độ tínnhiệm của DN.

Chỉ tiêu tài chính bao gồm các con số về vốn, vòng vay, khả năng thanh toán,tín dụng, thua lỗ, các chỉ số tài chính,… Các chỉ tiêu phi tài chính bao gồm nhữngthông tin liên quan tới giám đốc, ISO, thương hiệu hoặc nhân sự, những tai tiếng, uytín trên thương trường,…

Những chỉ tiêu tài chính sẽ được lượng hóa, còn những chỉ tiêu phi tài chính sẽqua sự đánh giá bởi các chuyên gia trong ngành

4 Tiêu chuẩn của một tổ chức ĐMTN

Các tiêu chí tối thiểu của một CRA cần phải đạt được gồm: Khách quan, độclập, minh bạch, công khai và chuyên nghiệp Những tiêu chuẩn này do NH Thanh toánquốc tế đề ra và đã được các nhà đầu tư trên thế giới thừa nhận

Điều cần lưu ý ở đây là, tuy nhiệm vụ chính của các CRA là đánh giá mức độtín nhiệm của các DN, nhưng khách hàng chủ chốt của các CRA là các nhà đầu tư chứkhông phải các DN hay các nhà phát hành mặc dù họ là người trả phí dịch vụ ĐMTN

Vì vậy mà yêu cầu đối với tổ chức này là khá khắt khe

Đó phải là một tổ chức hoạt động với tư cách độc lập Độc lập là mình khôngchịu sức ép của bất cứ quyền lực nào, không chịu sự chi phối trong các qui định đượcđưa ra bởi bất cứ một cơ quan nào, không xung đột hay có mối quan hệ lợi ích với các

tổ chức được ĐMTN Có như vậy các đánh giá tín nhiệm mới mang tính khách quan

và đáng tin cậy Đó cũng là nhu cầu tồn tại của bản thân các CRA

Ngoải ra, các CRA phải có một đội ngũ chuyên gia thực sự giỏi cùng với việcxây dựng một qui trình đánh giá khoa học, khách quan và chính xác, phù hợp với từngđiều kiện của mỗi nền kinh tế Kết quả xếp hạng phải được thực hiện bởi một đội ngũchuyên gia về các lĩnh vực tài chính và phi tài chính Từ việc thu thập thông tin đếnviệc kiểm tra, thẩm định phải được tiến hành một cách đầy đủ, chính xác và được đánhgiá theo đúng tiêu chuẩn quốc tế

Trang 8

Tóm lại, điều kiện để một tổ chức ĐMTN hoạt động thành công là được tin cậy,độc lập, không thiên vị, có năng lực về kỹ thuật - nhân lực, đầy đủ về cả số lượng lẫnchất lượng, tiếp cận được với những thông tin đáng tin cậy về tổ chức được định mức

và tạo dựng được hình ảnh của mình trong cộng đồng DN

5/ Hoạt động của ĐMTN ở Việt Nam

Kinh doanh thông tin tín nhiệm từ lâu đã không còn xa lạ trên thế giới Hầu hếtcác nước phát triển và trong khu vực Đông Nam Á đã có các tổ chức hoạt động tronglĩnh vực này Tuy nhiên tại VN, khái niệm trên vẫn còn rất mới mẻ và loại hình kinhdoanh này mới chỉ ở bước khởi đầu

Từ năm 1996, một nhóm các cán bộ chuyên nghiệp từng công tác trong các cơquan thông tin tín dụng, dự án đánh giá tín nhiệm của Nhà nước đã tập hợp nhau lại

và hoạt động thông tin tín nhiệm 5 năm sau, Công ty TNHH Giải Pháp Việt Nam

chính thức thành lập đầu năm 2001 tại Hà Nội Công ty tập trung vào ba mảng hoạtđộng chính là: Thông tin tín nhiệm, tư vấn luật và dịch vụ đại diện cho các hãng của

nước ngoài Sau 4 năm hoạt động, năm 2004 Công ty C&R (Credit and Ratings) chính

thức được tách riêng, đánh dấu một bước phát triển lớn của Giải Pháp Việt Nam.

C&R chỉ tập trung vào hoạt động trong lĩnh vực Thông tin tín nhiệm và xếp hạng

DN Công ty được tổ chức dưới hính thức các nhóm hạt nhân làm việc độc lập, sángtạo và linh hoạt Bên cạnh đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, công ty còn có một mạnglưới cộng tác viên, và các đại diện trên khắp đất nước Sự tích cóp liên tục và bền bỉnhững thông tin nhỏ nhất đã đem đến cho C&R một kho dữ liệu đồ sộ và chính xác vềhoạt động của các DN Việt Nam

Công ty thường cung cấp thông tin tín nhiệm ở 3 dạng:

 Báo cáo cơ bản

 Báo cáo chuẩn

 Báo cáo tổng hợp chi tiết

Hiện nay, hoạt động của C&R cũng đã được mở rộng thông qua cổng thông tincủa trang web “Doanh nhân Việt Nam” (www.doanhnhanvietnam.com) Khi là thànhviên của website này, các DN có quyền cung cấp thông tin về mình và cũng có quyềntiếp cận các thông tin tín nhiệm về các DN khác trên hầu hết các lĩnh vực kinh tế ởViệt Nam và trên thế giới

Trang 9

Cho đến nay, VN mới có hai DN hoạt động trong lĩnh vực ĐMTN Một làCông ty Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng DN (C&R) - được tách ra từ Công ty Giảipháp VN năm 2004 Hai là Trung tâm đánh giá tín nhiệm Vietnamnet (Credit RatingsVietnamnet Center - CRVC) thuộc công ty phần mềm truyền thông VASC, vừa đi vàohoạt động trong gần một năm qua (Bắt đầu hoạt động chính thức từ ngày 4/6/2005).Những dịch vụ chủ yếu của C&R là cung cấp thông tin tín nhiệm, xếp hạng tín nhiệm

DN và điều tra thị trường theo ngành kinh tế

Trong khi đó, dù mới ra đời, CRVC cũng đã cung cấp khá nhiều dịch vụ đadạng liên quan đến loại hình ĐMTN CRVC sẽ là tổ chức chuyên cung cấp cho DNcác dịch vụ thu thập thông tin; đánh giá xếp hạng; ĐMTN các tổ chức tài chính; xếphạng DN Đồng thời, đơn vị này cũng nhận tư vấn, hỗ trợ DN trong việc tạo dựng uytín trên thị trường, xây dựng thương hiệu có sức cạnh tranh; thẩm định lại các thôngtin; xây dựng cơ sở dữ liệu về các DN, doanh nhân, từ đó phát triển dịch vụ tư vấn tàichính, môi giới đầu tư

Đối tượng phục vụ chính của C&R và CRVC là các nhà đầu tư, các DN hay hệthống các NH trong nước và quốc tế Trong quá trình xây dựng các chỉ tiêu, cả C&R

và CRV đều tham khảo đánh giá của các tổ chức định giá tín nhiệm lớn nhất trên thếgiới là Standard & Poor's, Moody's và Equifax… và xây dựng được hệ thống đánh giáriêng, phù hợp với điều kiện của VN Theo đó, hơn 100 chỉ tiêu tính điểm và cácphương pháp kiểm tra chéo phức tạp để có thể đưa tới việc xếp hạng từ AAA, AA,BB cho mức độ tín nhiệm của DN

Sau một thời gian hoạt động, dù số lượng không nhiều nhưng những hợp đồng

mà C&R nhận được cũng cho thấy các DNVN cũng bắt đầu có sự quan tâm tới lĩnhvực này Tính đến nay, C&R đã cung cấp rất nhiều báo cáo tín nhiệm cho các DNtrong và ngoài nước Còn CRV dù chỉ mới thành lập chưa được một năm nhưng chođến nay cũng đã nhận được rất nhiều hợp đồng yêu cầu cung cấp thông tin đánh giátín nhiệm của các khách hàng khắp cả nước

Trang 10

II/ TIỀM NĂNG VÀ VAI TRÒ CỦA ĐMTN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NHTM VIỆT NAM

1/ Tổng quan về hoạt động của NHTM Việt Nam

Qua gần 15 năm hình thành và chuyển đổi từ tập trung bao cấp sang kinhdoanh thị trường, hệ thống NHTM Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ và có nhiều đónggóp to lớn cho sự phát triển của nền kinh tế Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong việcđổi mới nhưng cho đến nay, thực trạng về hoạt động của hệ thống NHTM Việt Namvẫn còn có rất nhiều bất cập và hạn chế, gây khó khăn cho việc phát triển của hệthống NHTM nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung

1.1/ Về khả năng huy động vốn

Trong vài năm trở lại đây, cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế, nhucầu về vốn của nền kinh tế luôn ở mức cao đã buộc các NHTM phải tăng cường huyđộng vốn và tăng khối lượng tín dụng cho các DN Tuy nhiên, sự có mặt của các NHnước ngoài với khả năng tài chính dồi dào, loại hình dịch vụ NH đa dạng, hiện đạidựa trên công nghệ cao đã buộc các NHTM Việt Nam phải quan tâm đầu tư hiện đạihóa nghiệp vụ NH, hệ thống hạ tầng kỹ thuật để cung cấp các dịch vụ NH hiện đại,tiện ích hơn Nhưng quan trọng nhất vẫn là phải tăng cường nguồn vốn tự có củachính bản thâm NH mới có thể đáp ứng các nhu cầu về đầu tư và mở rộng cho vay Vìvậy, trước khi đề cập đến khả năng huy động vốn, chúng ta cần quan tâm đến tìnhhình vốn tự có của các NHTM Việt Nam vì nó có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạtđộng kinh doanh của NH – là loại hình DN kinh doanh tiền tệ nhằm thu hút vốn củacác DN và dân cư

■ Tình hình vốn tự có trong các NHTM Việt Nam:

Tỷ trọng Vốn tự có/ Tổng tài sản là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ antoàn của một NH do Luật TCTD (12/97) điều 81 đã qui định Theo thông lệ quốc tế,

tỷ trọng này phải tối thiểu là 8% Nhưng cho đến nay, các NHTM Việt Nam mới chỉđạt cao nhất gần 5%

Trang 11

Bảng 1: Tỷ lệ Vốn tự có/ Tổng tài sản có của 4 NHTM Việt Nam

3,09

1,39

1,741,47

4,57

3,08

3,383,00

Nguồn: Đề án cơ cấu lại NHTM Nhà nước

Nhìn chung, qua bảng số liệu ta có thể thấy được tỷ lệ vốn tự có trong cácNHTM Việt Nam vẫn còn khá nhỏ bé, thậm chí trong các NHTM lớn của Việt Nam

và tỷ lệ này lại tăng giảm không đều qua các năm trong các NH Việt Nam Cao nhấtcũng chỉ có 4,7% ở NH NN & PTNT Nhưng tỷ lệ này cũng giảm dần trong năm tiếp

đó Năm 2001 chỉ còn 3,09% và đến năm 2002 lại tăng trở lại với 4,57%

Ở các NH khác cũng diễn ra với tình hình tương tự Đặc biệt là trong năm

2001, tỷ lệ vốn tự có của các NH hầu như đều giảm đồng loạt Đó là nguyên nhân làmcho tỷ lệ chung của ngành giảm chỉ còn 1,92% so với năm 2000 là 2,8%

Sang năm 2002, tình hình đã tốt hơn, các NH đều đồng loạt tăng vốn tự có.Thậm chí là tăng cao hơn cả trong năm cũ 2000 Đây là một dấu hiệu rất tốt Trong

đó, cao nhất là NH Đầu tư & PT, với tỷ lệ tăng đến 0,64% Tuy nhiên, chỉ riêng NH

NN & PTNT dù có tăng đến 4,57% song vẫn còn thấp hơn so với năm 2000 là 4,7%

Vốn tự có là tiềm lực tài chính, là điều kiện đảm bảo hoạt động trong cácNHTM, là uy tín của NHTM để tạo lòng tin đối với công chúng Song tỷ trọng nàytrong các NHTM Việt Nam vẫn còn quá thấp Điều này làm cho rủi ro tiềm ẩn trongcác NH ngày càng tăng lên Làm mất đi động lực tích cực của các NH trong việc thuhồi các khoảng nợ cũng như việc tham gia vào các dự án lớn, đòi hỏi nhiều vốn sẽ làđiều rất khó khăn đối với các NH

■ Tình hình huy động vốn:

Trang 12

Trong thời gian qua, hệ thống NHTM Việt Nam đã huy động được nguồn vốnđáng kể gồm cả nội tệ và ngoại tệ cho nền kinh tế Song nó vẫn chưa đáp ứng đủ nhucầu đang ngày càng tăng lên.

Bảng 2: Tổng nguồn vốn huy động của NHTM Việt Nam

ĐVT: Tỷ đồng

Chỉ tiêu 2003 2004 T6/2005 Tốc độ tăng (%)

2004/2003 2005/2004NHTM Nhà nước

NH Cổ phần

NH nước ngoài &

liên doanh

250.23859.26719.756

305.84182.49922.135

381.44590.93832.841

22,22

39,20

12,04

24,7210,23

48,37

Nguồn: www.sbv.gov.vn (Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Nhìn chung, nguồn vốn huy động từ các NHTM qua 3 năm đều tăng Trong đó,năm 2005 tổng vốn huy động toàn ngành đạt đến 505.224 tỷ đồng, có tốc độ tăng sovới năm 2004 là 23,08% Nhưng tốc độ tăng của năm này lại thấp hơn tốc độ tăng củanăm 2004 so với năm 2003 là 24,67%, với số vốn huy động tăng đến 46.620 tỷ đồng

Riêng đối với từng khối NH lại có sự chênh lệch nhau rất lớn Nhìn về mặttuyệt đối, ta có thể thấy rõ số vốn huy động trong các khối NHQD là cao nhất Trong

đó, năm 2003 là 250.238 tỷ đồng và cao nhất là vào năm 2005 đạt đến 381.445 tỷđồng Kế đến là khối NHCP với số vốn huy động được cao nhất trong năm 2005 là90.938 tỷ, thấp nhất là khối NH nước ngoài, chỉ có 32.841 tỷ trong năm 2005

Thực tế số vốn huy động như trên là hoàn toàn hợp lý Các NHQD vốn là các

NH thuộc Nhà nước nên có được nguồn hỗ trợ mạnh mẽ Còn các NHCP và NHNước ngoài chỉ mới xuất hiện được vài năm Nhất là các NH Nước ngoài, chỉ mớiđược Nhà nước ta cho phép tham gia vào thị trường trong thời gian gần đây Vì vậy sốvốn huy động được từ các khối NH này còn khá thấp Nhưng nếu nhìn vào tốc độ tăngtrưởng, ta sẽ dễ dàng thấy được tiềm năng mạnh mẽ từ các NH Nước ngoài Tốc độtăng của số vốn huy động qua các năm rất cao Từ năm 2003 đến 2004 tăng 12,04%

và đến năm 2005 là 48,37%, cao nhất trong toàn ngành Còn đối với khối các NHQD

Trang 13

thì tạm chấp nhận với tốc độ tăng khá ổn định qua các năm là 22,22% và 22,24% Tuynhiên, đáng lo ngại nhất chính là khối NHCP Với tốc độ tăng 39,28% vào năm 2004,

là tốc độ cao nhất trong toàn ngành thì sang năm 2005 lại giảm đột biến, chỉ còn10,23%, là tốc độ thấp nhất Đó cũng là nguyên nhân làm cho tốc độ tăng của toànkhối NH bị giảm xuống

Với tốc độ tăng không ổn định của hệ thống NH trong thời gian này đã ảnhhưởng không nhỏ đến tình hình kinh tế đất nước Và nhìn chung, dù số vốn huy độngtrong các khối NH vẫn không ngừng tăng lên song vẫn chưa đáp ứng được nhu cầuvốn của nền kinh tế nước ta trong giai đoạn hiện nay

1.2/ Về hoạt động cho vay

Để có thể cung cấp đủ vốn cho nền kinh tế, hoạt động cho vay trong cácNHTM luôn đóng một vai trò rất quan trọng Trong những năm qua, thị phần cho vaycủa các NHTM không ngừng tăng lên và đang ngày càng được mở rộng Mục đích lànhằm phục vụ cho nhiều thành phần kinh tế trong nhiều lĩnh vực khác nhau chứkhông tập trung cho vay vào các thành phần kinh tế nhà nước như trước đây Đó làmột dấu hiệu tốt của nền kinh tế và cũng giúp cho hoạt động của NHTM có nhiều đổimới tốt hơn

Bảng 3: Tình hình dư nợ trong hệ thống NHTM Việt Nam

NH Cổ phần

NH Nước ngoài

239.07136.52556.448

72

11

17

302.98953.95758.108

731314

398.71278.65765.096

73,5

14,512TỔNG CỘNG 332.044 100 415.054 100 542.465 100

Nguồn: www.sbv.gov.vn (Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Qua bảng số liệu ta có thể thấy, khối NHQD chiếm tỷ lệ dư nợ cao nhất trongtoàn ngành Còn lại là 2 khối NHCP và NH Nước ngoài có sự đổi chỗ cho nhau quacác năm

Trang 14

Trong năm 2003, NHQD đứng đầu về số dư nợ với 239.071 tỷ, chiếm 72% Là

NH có vị trí cao nhất Kế đến là khối NH Nước ngoài với 56.488 tỷ đồng, đạt 17%.Thấp nhất là khối NHCP, chỉ cho vay được 36.525 tỷ, chiếm khoảng 11% toàn ngành

Nhưng đến năm 2004, giữa các khối NHCP và NH Nước ngoài lại có sự thayđổi lớn Trong khi tỷ lệ dư nợ trong các NH Nước ngoài bắt đầu giảm xuống chỉ cònchiếm 14% thì các NHCP lại tăng lên đến 13% với số dư nợ 53.957 tỷ Như vậy,trong năm 2004 giữa 2 khối NH này có vị trí gần như tương đương nhau Cao nhấtvẫn là khối NHQD với 302.989 tỷ, chiếm tỷ lệ là 73%

Và năm 2005 là một năm có sự thay đổi vị trí thực sự Các NHCP trong nămnày đã cho vay được đến 78.657 tỷ, chiếm đến 14,5% Còn các NH Nước ngoài dù sốcho vay có tăng so với năm trước, nhưng nó chỉ chiếm 12% trong toàn ngành

Như vậy, với gần 75% thị phần cho vay là của hệ thống NHTM Việt Nam đãcho ta thấy, NHTM Việt Nam đang giữ vai trò chủ đạo trong việc cung ứng vốn chonền kinh tế Thế nhưng, trong hoạt động tín dụng của NH nói chung và tình hình chovay nói riêng, không phải bao giờ tín dụng cũng mang lại kết quả tốt Quan trọng nhất

là phải cho vay một cách có hiệu quả các chương trình, dự án với một mức độ rủi rothấp nhất Do đó, để đảm bảo NH hoạt động có hiệu quả thì các NH phải cho vay vớidoanh số lớn và đặc biệt là phải an toàn Có như vậy mới có thể đạt được lợi nhuậncao nhất và tránh không để cho vốn huy động được bị sử dụng một cách lãng phí

1.3/ Về khả năng thu hồi nợ

Bảng 4: Tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ của hệ thống NHTM Việt Nam

ĐVT: %

Nguồn: IMF, Vietnam: Statistical Appendix and Background Notes, IMF Staff

Counrtry Report _ 10/5/2003, trang 75

Nợ quá hạn / Tổng dư nợ là chỉ số thể hiện tỷ lệ an toàn của một NH Chỉ sốnày để đo lường chất lượng nghiệp vụ NH Những NH có chỉ số này thấp cũng cónghĩa là chất lượng tín dụng của NH này cao Theo qui định, nó phải đạt từ 5% trở

Trang 15

xuống Nhưng qua bảng số liệu ta có thể thấy, mặc dù tỷ lệ này đang dần được cảithiện, song nó vẫn đang ở mức khá cao Trong khi đó, tỷ lệ này qua các năm ở cáckhối NH Nước ngoài là khá thấp (chỉ khoảng từ 3% đến 5%) Xét trên cả hệ thống

NH cao nhất là vào năm 2000 với 12,1%, thấp nhất vào T8/2002 với 9,4%

Riêng đối với các NHTM Việt Nam trong giai đoạn này, ta có thể thấy rõchênh lệch về tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ từ năm 2000 là 12,1% đến T8/2002 chỉcòn là 5,5%, tức là số nợ quá hạn đã giảm được đến 50%, nhưng vẫn còn lớn hơn rấtnhiều so với tỷ lệ an toàn là 5%

■ Một vài nguyên nhân:

Thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống NHTM Việt Nam trong thời gianqua là do có nhiều nguyên nhân khác nhau Một trong những nguyên nhân chính gây

ra sự kém hiệu quả của hoạt động NHTM Việt Nam trong giai đoạn này chính làquyền tự chủ của các NH chưa được tôn trọng Việc cho vay của các NH này chịu ảnhhưởng của những yếu tố kinh tế, đặc biệt là các khoảng cho vay đối với các doanhnghiệp Nhà nước (DNNN) Chẳng hạn như cho phép cung ứng các khoản vay màkhông phải thế chấp các tài sản cũng như gia hạn thêm đối với một số khoản nợ,chuyển các khoản nợ NH thành vốn ngân sách cấp Tình hình trên là một trong nhữngtồn tại còn hạn chế của hệ thống NHTM Việt Nam

Bảng 5: Dư nợ cho vay của 4 NHTM Việt Nam với các DNNN

Nguồn: Tạp chí Ngân Hàng, số 9/2004 – trang 14

Từ bảng số liệu cho thấy, số dư nợ mà các NHTM dành cho các DNNN là rấtlớn Lớn nhất là ngành mía đường với 3.881 tỷ đồng; hai ngành sắt thép và phân bóngần như tương đương nhau với 896 và 858 tỷ đồng Thấp nhất là ngành công nghiệp

Trang 16

giấy với 746 tỷ Dù được cho vay với số dư nợ lớn như vậy nhưng hoạt động ở cácDNNN là khá yếu kém Thực tế trong thời gian qua, các DNNN trên hoạt động hầunhư không có lãi Tình hình này đã đặt các NHTM Việt Nam trong tình trạng rủi rorất lớn Chính điều đó là nguyên nhân khiến cho tiềm lực tài chính của các NHTMtăng rất chậm, nguồn tài chính để tái đầu tư bị suy kiệt theo chu kỳ xử lý nợ.

Ngoài ra, hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếudựa vào các tài sản dùng làm đảm bảo, thế chấp Khi rủi ro xảy ra, việc xử lý hoặcphát mãi những tài sản này là rất phức tạp Về mặt pháp lý phải qua nhiều khâu, gâymất nhiều thời gian và chi phí Nhưng quan trọng nhất vẫn là khâu xem xét, thẩm định

dự án Khâu này đòi hỏi cần có trình độ và tính chuyên nghiệp của bản thân NH trongviệc quản lý rủi ro

Mặc dù là khâu quan trọng và quyết định nhất, nhưng cho đến nay, hoạt độngcủa các bộ phận quản lý rủi ro, thẩm định dự án trong hệ thống các NHTM Việt Namvẫn còn rất yếu kém Trình độ nghiệp vụ, chuyên môn vẫn còn có sự chênh lệch rấtlớn so với các nước trong khu vực và quốc tế Trong khi đó, những khoảng cho vaylại thu hồi không đủ dẫn đến tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn vẫn còn rất cao Tính đến T5/

2005 thì tỷ lệ nợ xấu trong các NHTM vẫn còn từ 6,27% đến 7,7% Đó là một sự lãngphí rất lớn, vừa là gánh nặng không chỉ đối với hệ thống NH mà đối với cả nền kinh tếViệt Nam nói chung

Ngoài ra, sự yếu kém còn được biểu hiện cụ thể trong các kế hoạch hoạt độngkinh doanh của các NHTM Ở Việt Nam cho đến nay, các NHTM phần lớn vẫnthường tập trung vào các chỉ tiêu số lượng mà chưa thực sự quan tâm đến chỉ tiêu chấtlượng Thậm chí, các chỉ tiêu số lượng và chất lượng còn chưa phù hợp theo chuẩnquốc tế Một điểm hạn chế rất lớn trong hệ thống NHTM Việt Nam đó là sự thiếuminh bạch trong hoạt động tài chính của các NH Điều đó gây khó khăn không nhỏtrong việc xác minh chắc chắn điều kiện và tình trạng thật sự của chất lượng tín dụng

NH Hậu quả là lợi nhuận báo cáo của các NH dường như bị thổi phồng nhưng khôngthể xác định chắc chắn là đến mức nào

2/ Thực trạng tham gia vào ĐMTN của các NHTM Việt Nam:

Trang 17

Từ khi loại hình kinh doanh ĐMTN được ra đời ở Việt Nam cho đến nay, dù sốlượng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia ngày càng tăng lên, song các NHTM ViệtNam hầu như vẫn chưa chú ý nhiều đến loại hình kinh doanh này Trước tiên vì nó làmột dịch vụ còn quá mới ở Việt Nam Hơn nữa, các CRA Việt Nam vẫn chưa tạo được

sự tin tưởng cho các NHTM Có lẽ vì vậy mà loại hình kinh doanh này vẫn chưa thuhút được các NHTM Việt Nam tham gia Gần đây nhất là Ngân hàng Đầu tư & Pháttriển Việt Nam, ngân hàng này đã thuê hẳn một tổ chức ĐMTN Quốc tế Moody’s đểđánh giá năng lực của mình Trong đó:

+ Tín nhiệm của Tiền gửi tiền Đồng: Ba1

+ Tín nhiệm Nhà phát hành bằng tiền Đồng: Ba1

+ Tín nhiệm bằng Tiền gửi ngoại tệ: B1

+ Tín nhiệm Nhà phát hành bằng ngoại tệ: Ba3

+ Sức mạnh Tài chính độc lập: E với Triển vọng tích cực

Trong năm tiêu chí đánh giá của Moody’s, tiêu chí "năng lực tài chính độc lập"của BIDV là hạng E với “Triển vọng tích cực” Hạng E cho thấy tiềm lực tài chính củaBIDV là rất yếu so với chuẩn mực chung (Cao nhất là A, đến B, C, D và E,…)

Tuy nhiên, đây không phải là điều đáng quan tâm hay lo ngại vì hầu như aicùng biết tiềm lực tài chính hay vấn đề quản trị công ty của nhiều DN Việt Nam, nhất

là các DNNN là rất yếu Có đánh giá hay không thực tế vẫn vậy Nhưng ở đây, cái lợi

mà BIDV đạt được nó lại thuộc một khía cạnh khác và nó mang một ý nghĩa to lớnhơn

Từ trước đến nay, các NHTM Việt Nam thường có một thói quen chung là rất ítkhi chịu công bố những điểm yếu, những mặt hạn chế của bản thân ngân hàng Nhưng

ở đây, BIDV đã hoàn toàn làm ngược lại điều đó Tuy nhiên nếu xem kỹ một chút thìđây là một việc làm hết sức đúng đắn và cần thiết Rõ ràng là trước khi thuê Moody'sđánh giá, BIDV vẫn biết là họ yếu, nhưng không biết là yếu cỡ nào Đến khi có kếtquả đánh giá, họ biết rõ so với chuẩn mực thì tiềm lực tài chính của họ yếu ở mức nào

Nhưng ở đây, chúng ta cần chú ý một điều là đối với những nước phát triển, nếumột doanh nghiệp được xếp sức mạnh tài chính độc lập ở hạng E thì gần như không có

cơ hội nào trên thị trường Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển và các nền kinh tếchuyển đổi thì lại hoàn toàn khác Đơn giản là vì ở các nền kinh tế như vậy, hầu nhưtất cả đều ở trong trạng thái yếu kém nên các doanh nghiệp chỉ hơn nhau về triển vọng

Trang 18

phát triển và cách thức tận dụng cơ hội như thế nào thôi Không đơn thuần chỉ là xếphạng E mà Moody’s đã còn cho BIDV thấy những yếu tố nào đã tạo ra mức xếp hạngnhư vậy Đây là cơ sở để BIDV tìm cách khắc phục nhằm nâng cao điểm tín nhiệm củamình, đồng thời tìm cách tận dụng những cơ hội đang ở phía trước.

Tuy nhiên, khi đã chấp nhận thuê một tổ chức ĐMTN Quốc tế để đánh giá nănglực cho mình, bản thân ngân hàng cũng phải chịu nhiều áp lực Nhưng một điều hiểnnhiên là vì mục tiêu phát triển dài hạn nên không có chuyện chỉ thuê đánh giá tínnhiệm một lần, mà theo định kỳ BIDV sẽ tiếp tục phải công bố mức độ tín nhiệm củamình Đây chính là áp lực rất lớn đối với BIDV vì nếu họ muốn đạt được mục tiêuphát triển bền vững và tồn tại lâu dài thì công việc hiển nhiên trước mắt đối với họ làlàm sao trong lần công bố tới, điểm tín nhiệm phải cao hơn lần này Nếu không, hậuquả sẽ rất khó lường Đây cũng chính là động lực để BIDV đẩy nhanh quá trình cảicách, sắp xếp, cơ cấu lại để có một mô hình ngân hàng theo chuẩn mực Đó chính làlợi ích lớn nhất mà bản thân ngân hàng đạt được

Nhưng câu hỏi đặt ra là liệu sau khi công bố mức tín nhiệm thấp như vậy cólàm cho giá trị của BIDV giảm đi so với việc không công bố không?

Câu trả lời là không Đơn giản là vì mục tiêu của BIDV là xây dựng một môhình doanh nghiệp hiện đại với các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài Đối với các nhàđầu tư chuyên nghiệp, khi quyết định một thương vụ đầu tư để trở thành cổ đông chiếnlược của một doanh nghiệp nào đó họ sẽ đánh giá rất kỹ Nếu doanh nghiệp chưa đượcđánh giá mức độ tín nhiệm thì các nhà đầu tư sẽ tự mình hoặc thuê các tổ chức khácđánh giá Lúc này, giá trị của doanh nghiệp được đánh giá tín nhiệm sẽ bằng giá trịdoanh nghiệm lúc chưa được đánh giá tín nhiệm cộng với giá trị của việc đánh giá tínnhiệm Hay nói khác hơn, một công việc vừa có tác dụng làm tăng giá trị doanhnghiệp, vừa làm cơ sở, vừa là áp lực để phải làm cho mình tốt lên là việc hết sức nênlàm

Ở góc độ vi mô của một ngân hàng là như vậy Còn ở góc độ vĩ mô điều nàycàng có ý nghĩa hơn, vì khi việc đánh giá tín nhiệm các ngân hàng trở thành thông lệ

và phổ biến thì nền kinh tế sẽ có một hệ thống tài chính các ngân hàng mạnh Đâychính là nền tảng quan trọng trong việc xây dựng một hệ thống ngân hàng phát triểnlâu dài, ổn định, tạo điều kiện cho mục tiêu tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững.Nhất là trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế chuẩn bị cho gia nhập WTO đang

Ngày đăng: 01/11/2014, 11:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ Vốn tự có/ Tổng tài sản có của 4 NHTM Việt Nam - tiềm năng và vai trò của đmtn đối với ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 1 Tỷ lệ Vốn tự có/ Tổng tài sản có của 4 NHTM Việt Nam (Trang 11)
Bảng 2: Tổng nguồn vốn huy động của NHTM Việt Nam - tiềm năng và vai trò của đmtn đối với ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 2 Tổng nguồn vốn huy động của NHTM Việt Nam (Trang 12)
Bảng 4: Tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ của hệ thống NHTM Việt Nam - tiềm năng và vai trò của đmtn đối với ngân hàng thương mại việt nam
Bảng 4 Tỷ lệ Nợ quá hạn/ Tổng dư nợ của hệ thống NHTM Việt Nam (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w