Tài liệu này dành cho sinh viên, giảng viên viên khối ngành tài chính ngân hàng tham khảo và học tập để có những bài học bổ ích hơn, bổ trợ cho việc tìm kiếm tài liệu, giáo án, giáo trình, bài giảng các môn học khối ngành tài chính ngân hàng
Trang 1Chương III: Thị trường tài chính
I Tổng quan về Thị trường tài chính
1 Khái niệm
Trong nền kinh tế, luôn phát sinh các nhu cầu về vốn của các chủ thể khác nhau.Trong đó, có những người có cơ hội đầu tư sinh lời thì thiếu vốn, còn những ngưòi có vốn nhàn rỗi lại không có cơ hội đầu tư hay không biết đầu tư vào đâu Từ đó hình thành nên một cơ chế chuyển đổi từ tiết kiệm sang đầu
tư Cơ chế đó được thực hiện và điều chỉnh trong khuôn khổ một thị trường,
đó là Thị trường tài chính (TTTC) Thị trường tài chính đã gắn kết những
người đó với nhau bằng cách luân chuyển vốn từ những người có dư vốn tới những người thiếu vốn Những ngưòi thiếu vốn huy động vốn bằng cách phát hành ra các công cụ tài chính như cổ phiếu, trái phiếu … còn những người có vốn dư thừa, thay vì trực tiếp đầu tư vào máy móc thiết bị và nhà xưởng để sản xuất hàng hoá thì sẽ mua các công cụ tài chính được phát hành bởi người huy động vốn
Vậy TTTC có thể được hiểu là nơi diễn ra việc mua bán, trao đổi và chuyển nhượng các công cụ tài chính theo các quy tắc và luật lệ đã được ấn định
2 Các chủ thể tham gia vào TTTC
Chính phủ: Tham gia chủ yếu với tư cách là ngưòi đi vay Chính phủ phát hành Tín phiểu kho bạc, Trái phiếu để bù đắp sự thiếu hụt của Ngân sách Nhà nước Ngoài ra, Chính phủ còn tham gia với tư cách là người cho vay mỗi khi
có tiền nhàn rỗi
Các hãng kinh doanh: Vào những thời gian chưa đến kỳ sản xuất kinh doanh, các hãng kinh doanh đang có một khoản tiền nhàn rỗi thì họ có thể mua trái phiếu của các chủ thể khác Tuy nhiên, các hãng kinh doanh này lại tham gia TTTC chủ yếu với tư cách là người đi vay do họ luôn có nhu cầu vốn cho việc sản xuất kinh doanh
Dân cư (các gia đình): Tham gia TTTC chủ yếu với tư cách là ngưòi cho vay do dân cư thường có xu hướng tiết kiệm, chi tiêu ít hơn thu nhập Tuy
Trang 2nhiên, họ cũng tham gia với tư cách là người đi vay để tài trợ cho việc mua xe hơi, đồ đạc, nhà cửa … của mình
Người nước ngoài: Có thể là công dân, các hãng kinh doanh hay Chính phủ nước ngoài Chủ thể này tham gia TTTC với tư cách chủ yếu là người cho vay Khi có tiền nhàn rỗi, họ đều tìm cách làm sinh lời dưới dạng mua trái phiếu hoặc gửi tiền vào Ngân hàng
3 Chức năng của thị trường tài chính
TTTC thực hiện chức năng kinh tế nòng cốt trong việc dẫn vốn từ những chủ thể thừa vốn tới những chủ thể cần vốn Sự chuyển dịch vốn này được thực hiện theo sơ đồ sau:
Qua sơ đồ trên, ta thấy sự chuyển dịch vốn được thực hiện qua hai con
đường: Tài chính trực tiếp và Tài chính gián tiếp
Tài chính trực tiếp: Là con đường mà những người cần vốn sẽ huy
động trực tiếp từ những người có vốn bằng cách phát hành và bán các công cụ
tài chính như cổ phiếu, tín phiếu …
Tài chính gián tiếp: Là con đường mà thông qua các trung gian tài chính, vốn sẽ được dịch chuyển từ người dư vốn sang những người cần vốn Trung gian tài chính thực hiện điều này bằng cách vay vốn của người cho vay
Trang 3sau đó cho người đi vay vay vốn Các trung gian tài chính là các ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các tổ chức bảo hiểm …Ngoài việc tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, các tổ chức này cũng có vai trò quan trọng trong việc cấp vốn và hỗ trợ cho dòng tài chính trực tiếp: thông qua các hoạt
động như đại lý, bảo lãnh, thanh toán…
Các trung gian tài chính không những mang lại lợi ích cho người gửi tiền mà còn tạo ra nhiều cơ hội hơn cho người đi vay để họ có được các khoản tiền để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh Có thể nói vắng bóng của trung gian tài chính thì thị trường tài chính khó có thể đạt được lợi ích trọn vẹn
4 Vai trò của thị trường tài chính
Với chức năng dẫn vốn, TTTC đã thực hiện vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy, phát triển và ổn định nền kinh tế Cụ thể là:
- Góp phần tạo lập vốn để đầu tư phát triển kinh tế
Thông thường, Ngân sách Nhà nước không đủ để đáp ứng toàn bộ các nhu cầu xây dựng và chi tiêu bởi để có thể tiến hành xây dựng các công trình
cơ sở hạ tầng của Chính phủ và chính quyền địa phương buộc phải đòi hỏi nhu cầu về tiền vốn với quy mô rất lớn đồng thời phải huy động trong một thời gian ngắn TTTC sẽ góp phần giải quyết khó khăn này qua việc thúc đẩy việc tích luỹ và tập trung vốn, tạo nên nguồn vốn cần thiết phục vụ cho việc
đầu tư của Chính phủ
Ngoài ra dân chúng có thể vay mượn trên TTTC để đáp ứng nhu cầu chi tiêu và vì vậy cũng làm nhà sản xuất tiêu thụ được hàng hoá, kích thích sản xuất phát triển
- Tích tụ, tập trung và phân phối vốn trong nền kinh tế, trên cơ sở đó
làm tăng năng suất và hiệu quả cho toàn bộ nền kinh tế, góp phần thoả mãn, giải quyết mâu thuẫn giữa cung và cầu vốn
Những người có vốn nhàn rỗi: có thêm cơ hội đầu tư, giúp họ có thể làm sinh lời trên đồng tiền của họ qua việc gửi tiết kiệm hoặc mua cổ phần
Trang 4Những người đi vay: giúp họ có ý thức sử dụng đồng vốn vay một cách hợp lý và hiệu quả Như vậy mới có thể hoàn trả khoản vay, trả lãi và tạo một phần thu nhập cho bản thân
- Là môi trường quan trọng để thực hiện các điều tiết vĩ mô của nền kinh tế
Chính phủ là cơ quan quản lý vĩ mô nền kinh tế bằng cách sử dụng chính sách tài khoá và chính sách tiền tệ để điều tiết nền kinh tế Ngân hàng Trung ương có thể căn cứ vào nhu cầu của từng thời kỳ để điều tiết hoạt động thị trường mở để khống chế sự co dãn của cung - cầu tiền tệ, tiến tới khống chế quy mô và hướng đầu tư tín dụng tiền tệ, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển, kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền
Ngoài ra, Ngân hàng Trung ương cũng có thể mua bán ngoại tệ trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh lượng cung và cầu ngoại tệ nhằm giúp Chính phủ ổn định tỷ giá hối đoái
- Hoạt động trên thị trường tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển kinh tế đối ngoại
+ Thông qua TTTC, các công ty và Chính phủ có thể bán cổ phần, phát hành trái phiếu ra nước ngoài, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài
+ TTTC rất nhạy cảm với các hoạt động kinh tế, thị trường tài chính thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng thời nhìn vào sự phát triển của TTTC của một quốc gia có thể đo được hiệu quả các hoạt động kinh tế của quốc gia đó
VD: giá trị cổ phiếu: Thị giá cổ phiếu tỷ lệ thuận với mức lợi nhuận mà công ty đạt được
Chỉ số chung của Thị trường chứng khoán phản ánh mức tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia
- Cải thiện đời sống cho người tiêu dùng bằng cách giúp họ lựa chọn thời điểm mua sắm tốt hơn
II Cấu trúc của Thị trường tài chính
Trang 51.Thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần
Dựa vào căn cứ: Doanh nghiệp sẽ tài trợ cho vốn của mình như thế nào (phương thức huy động vốn của chủ thể phát hành)
- Tăng nợ phải trả: tham gia vào thị trường Nợ
- Tăng vốn của chủ: tham gia vào thị trường Vốn cổ phần
Căn cứ vào kỳ hạn nợ: công cụ nợ dưới 1 năm; công cụ nợ ngắn hạn
Công cụ nợ trên 1 năm: công cụ nợ trung và dài hạn
Đặc trưng của thị trường Nợ:
- Thể hiện quan hệ tín dụng
Trang 6- Hàng hoá trên thị trường này đã được biết trước về lãi suất (biết được
về thu nhập và lợi tức trong tương lai), biết về phương thức thanh toán, thời
điểm thanh toán
- Hàng hoá có thời hạn, ghi rõ ngày đáo hạn
- Giá cả ít biến động, rủi ro thấp, an toàn nhưng kém hấp dẫn
- Thể hiện quan hệ sở hữu
- Hàng hoá trên thị trường này không được biết trước về lợi tức
- Hàng hoá này không có thời hạn, tồn tại cùng thơi gian với doanh nghiệp
- Giá cả có sự biến động lớn, chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, rủi ro cao, lợi nhuận kỳ vọng cao
2 Thị trường tiền tệ và thị trường vốn
Căn cứ: Dựa vào thời hạn thanh toán của các công cụ tài chính
a.Thị trường tiền tệ:
Khái niệm: Là thị trường tại đó diễn ra các hoạt động mua bán và trao đổi các công cụ nợ ngắn hạn
Các chủ thể tham gia:
- NHTW: Tham gia mua bán trên thị trường này nhằm mục tiêu:
+ Điều tiết nền kinh tế
+ Ổn định giá trị đồng tiền
- Các NHTM: các NHTM tham gia thị trường này với tư cách là người mua
và người bán với mục đích là lợi nhuận
- Các tổ chức tài chính trung gian phi ngân hàng: Các công ty tài chính, các quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ bảo hiểm…
Trang 7- Các doanh nghiệp: tham gia với tư cách người bán là chủ yếu nhằm mục
đích tài trợ vốn cho mình và tham gia với tư cách là người mua với mục đích
lợi nhuận
- Dân cư: tham gia chủ yếu với tư cách là ngưòi mua (người cho vay) với mục
đích lợi tức
Đặc trưng thị trường tiền tệ:
- Hàng hoá trên thị trường này tất cả đều là ngắn hạn
- Hàng hoá có tính thanh khoản cao
- Giá cả ít biến động, độ an toàn lớn
Thị trường tiền tệ gồm: Thị trường tín dụng, thị trường liên ngân hàng, thị trường ngoại hối và thị trường chứng khoán ngắn hạn
Thị trường tiền tệ làm tăng khả năng thanh khoản của các công cụ tài chính, hỗ trợ vốn lưu động cho doanh nghiệp và tài trợ ngắn hạn cho NSNN, cung cấp lãi suất tham chiếu cho thị trường vốn và tăng khả năng kiểm soát, cung ứng tiền của NHTW
b Thị trường vốn
Khái niệm: Là thị trường tài chính tại đó diễn ra việc mua bán các công cụ nợ dài hạn và cổ phiếu của các công ty cổ phần
Các chủ thể tham gia: So với thị trường tiền tệ thì có hạn chế hơn, một
số chủ thể không được tham gia vào việc mua bán một số háng hoá nhất định trên thị trường này
Đặc trưng thị trường Vốn:
- Hàng hoá mua bán trên thị trường này là trung, dài hạn
Trang 8- Hàng hoá có tính thanh khoản thấp hơn so với hàng hoá trên thị trường tiền tệ
- Giá cả biến động mạnh, rủi ro cao
Thị trường vốn đóng vai trò quan trọng trong việc tài trợ các khoản đầu
tư dài hạn cho chính phủ, các doanh nghiệp và hộ gia đình Thị trường vốn, nhất là thị trường chứng khoán phát triển còn được xem là “ hàn thử biểu “ đo
“sức khoẻ “ của nền kinh tế
3 Thị trường cấp 1 và thị trường cấp 2
Căn cứ: vào quá trình phát hành và lưu thông
a.Thị trường cấp 1 (primary market)
Khái niệm: Là thị trường tài chính diễn ra sự phát hành lầu đầu của các chứng khoán
Đặc trưng:
- Phạm vi hoạt động hẹp, thông thường chỉ có 2 chủ thể tham gia
+ Chủ thể phát hành: gồm các cá nhân, doanh nghiệp, Chính phủ, kho bạc nhà nước Ngoài ra còn có các công ty chuyên nghiệp như các NHTM, công ty chứng khoán có uy tín lớn
+ Những người mua đầu tiên: các chủ thể kinh doanh và đầu tư
- Quy mô nhỏ
- Gắn với vốn chủ phát hành
Ý nghĩa :
- Thị trường cấp 1 tạo hàng hoá và tiền đề cho thị trường cấp 2
- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp cần huy động vốn mở rộng kinh doanh, giúp chính phủ giải quyết vấn đề thâm hụt ngân sách và huy động vốn
đầpu tư kết cấu hạ tầng
b Thị trường cấp 2 (secondary market)
Khái niệm: Là thị trường tài chính diễn ra các hoạt động mua, bán, trao đổi các công cụ tài chính đã được phát hành trên thị trường cấp 1
(gồm có thị trường hối đoái, thị trường tài chính kỳ hạn: futures markets và thị trường chọn lựa: options)
Trang 9- Tạo điều kiện cho thị trường cấp 1 phát triển
- Giá cả hàng hoá trên thị trường cấp 2 góp phần xác định giá cả trên thị trường cấp 1
Hai thị trường này có tác động tương hỗ lẫn nhau Thị trường cấp 1 sản xuất ra công cụ tài chính còn thị trường cấp 2 khẳng định tính thanh khoản của các công cụ này
Hàng hoá được mua bán, trao đổi trên thị trường cấp 2 thông qua sở giao dịch và thị trường trao tay
• Sở giao dịch (Stock Exchange): Hàng hoá được mua bán một cách công khai, có tổ chức và có địa điểm cụ thể
VD: Thị trường Giao dịch Chứng khoán Mỹ và New York
• Thị trường trao tay OTC (Over the Counter Market): Các nhà buôn tại các địa điểm khác nhau có một danh mục chứng khoán
và họ sẵn sàng đứng ra mua và bán chứng khoán theo kiểu mua bán thẳng cho ai đến và chấp nhận giá của họ Thị trường này có tính cạnh tranh cao và không khác nhiều so với Trung tâm giao dịch có tổ chức nói trên
4 Thị trường chính thức và không chính thức
Ngoài ra nếu căn cứ vào sự can thiệp của Nhà nước còn có:
a.Thị trường chính thức (Formal Market)
Là thị trường mà tuân thủ 100% quy định của Nhà nước VD: các NHTM Thị trường này có quy mô lớn và khá an toàn
b Thị trường không chính thức (Informal Market)
Là thị trường mà không tuân theo hoàn toàn các quy định của Nhà nước
Trang 10VD: Các hiệu cầm đồ
Tuy nhiên trên thực tế, cả hai thị trường này cùng song song tồn tại vì thị trường chính thức vẫn chưa thể đáp ứng hết nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế, việc tiếp cận với thị trường chính thức còn gặp nhiều khó khăn
Vì vậy mà thị trường không chính thức tồn tại bên cạnh, gắn liền với thị trường chính thức như một sự bổ xung Tuy nhiên đây là một thị trường không chịư sự giám sát chặt chẽ của Chính phủ do đó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro
Vì vậy phải kiểm soát sát sao thị trường này nhằm đảm bảo an toàn cho các hoạt động diễn ra trên thị trường
III Các công cụ tài chính
Các công cụ tài chính được hiểu là những quyền đòi nợ tài chính và có thể được phân loại thành các công cụ của từng thị trường
Nếu căn cứ vào thời hạn:
1 Các công cụ trên thị trường tiền tệ
a Tín phiếu kho bạc (tín phiếu Chính phủ) (treasury bill )
Là công cụ vay nợ ngắn hạn, được phát hành với kỳ hạn thanh toán 3 tháng, 6 tháng hoặc dưới 1 năm, có tính lỏng cao, được trả với mức lãi suất
cố định và được hoàn trả vốn khi đến hạn thanh toán Trên thực tế, chúng
được thanh toán lãi do việc bán lần đầu có chiết khấu, tức là với giá thấp
hơn so với khoản tiền đã định được thanh toán khi đáo hạn Đây là công cụ
an toàn nhất do Chính phủ luôn đáp ứng được các món nợ bằng cách tăng thuế hay phát hành thêm tiền Tín phiếu kho bạc thường được NHTW dùng làm công cụ điều tiết lượng tiền cung ứng và chủ yếu do các ngân hàng nắm giữ để thu lợi tức và bảo đảm khả năng thanh khoản , phần còn lại do các hộ gia đình, các công ty và các trung gian tài chính khác nắm giữ
b Thương phiếu: (commercial paper) Chỉ xuất hiện trong thương mại
Đây là giấy xác nhận một khoản nợ trong thương mại gồm các hoạt động trong tín dụng thương mại và cung ứng dịch vụ Đây là công cụ tài
Trang 11chính ngắn hạn Thương phiếu chủ yếu được giao dịch trên thị trường sơ cấp
Thương phiếu gồm có 2 loại:
+ Hối phiếu: (bill of exchange) : là một giấy ghi nợ do người bán ký phát trao cho ngưòi mua trong đó yêu cầu người mua phải trả một số tiền nhất
định khi đến hạn cho người bán hoặc bất kỳ người nào thụ hưởng hối
phiếu
+ Lệnh phiếu: (promissory note): là một giấy nợ do người mua ký phát trao cho người bán, trong đó người mua cam kết trả một số tiền nhất định khi đến hạn thanh toán cho người thụ hưởng lệnh phiếu
c Các loại chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn CD (certificate deposit)
Là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền Nó thanh toán lãi hàng năm theo một khoản đã định và khi đến kỳ hạn thanh toán thì hoàn trả hết giá mua ban đầu Chứng chỉ tiền gửi được phát hành bởi hầu hết các NHTM và có thể được bán lại ở thị trường thứ cấp
d Hợp đồng mua lại (Repurchase Agreement)
Thực tế đây là những món vay ngắn hạn Khi các NHTM gặp khó khăn
về tiền mặt trong việc thanh toán, nhưng trong tay họ lại đang giữ một lượng chứng khoán Các NHTM có thể đem bán lượng chứng khoán này với một thời hạn nhất định Tại thời điểm bán có hai hợp động được ký kết
và giá bán được xác định ngay
NHTM Mỹ còn có “Giấy tờ phụ” được dùng để vay nóng của dân chúng khi quá kẹt tiền mặt Đây là công cụ mang lại lãi suất cao nhưng chứa đựng tiềm năng rủi ro cũng rất lớn
e Hối phiếu được Ngân hàng chấp nhận (Chấp phiếu )
Là một hối phiếu ngân hàng, do một công ty phát hành được thanh toán trong thời hạn sắp tới và được ngân hàng bảo đảm với một khoản lệ phí bằng cách ngân hàng đóng dấu: “đã chấp nhận” lên hối phiếu Hối phiếu của công ty sẽ được tăng thêm khả năng chấp nhận khi mua hàng hoá bởi
đã có sự bảo đảm về việc thanh toán, ngay cả khi công ty phá sản thì hối
Trang 12phiếu vẫn được ngân hàng thanh toán đầy đủ Chấp phiếu thường được bán lại trên thị trường thứ cấp với giá thấp hơn, và như vậy có tác dụng tương
tự như tín phiếu kho bạc
f Các khoản vay ngắn hạn ở nước ngoài
Là các khoản vay ngắn hạn có tính lỏng cao, có thể mang với tiền mặt
2 Các công cụ trên thị trường vốn
Các công cụ trên thị trường vốn có thời gian đáo hạn từ một năm trở lên Các công cụ này có mức độ biến động giá mạnh hơn và có tính thanh khoản thấp hơn các công cụ trên thị trường tiền tệ do đó nó cũng có mức rủi ro cao hơn và lợi tức cao hơn
a Cổ phiếu (stocks) : là một trái quyền xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp đối với thu nhập ròng và tài sản của một chủ thể nào đó trong công ty cổ phần Căn cứ vào nhiều tiêu thức người ta chia cổ phiếu thành các dạng sau:
• Căn cứ vào tính ưu đãi
- Cổ phiếu ưu đãi
- Cổ phiếu thông thường
• Căn cứ vào phương thức góp vốn
- Cổ phiếu hiện kim: phát hành cho những người góp vốn bằng tiền
- Cổ phiếu hiện vật: phát hành cho những người góp vốn bằng tài sản như máy móc thiết bị
• Căn cứ vào số lần góp vốn:
- Cổ phiếu góp vốn 1 lần
- Cổ phiếu góp vốn nhiều lần
• Căn cứ vào khả năng chuyển nhượng
- Cổ phiếu có khả năng chuyển nhượng
- Cổ phiếu không có khả năng chuyển nhượng
• Căn cứ vào việc ghi danh trên cổ phiếu
- Cổ phiếu ghi danh
Trang 13- Cổ phiếu không ghi danh
b Trái phiếu (bonds)
Là một giấy xác nhận một khoản nợ và người nắm giữ nó được hưởng một trái quyền Căn cứ vào nhiều tiêu thức người ta chia trái phiếu thành nhiều loại
Khả năng bán của trái phiếu Chính phủ lớn hơn so với trái phiếu công
ty Việc phát hành trái phiếu Chính phủ luôn chiếm một tỷ trọng lớn
• Căn cứ vào tính chất kinh tế:
- Trái phiếu vay đơn: là trái phiếu mà người mua nó sẽ được lấy gốc và lãi vào cùng một ngày mãn hạn
- Trái phiếu hoàn trả cố định: là trái phiếu mà người mua sẽ được trả lãi vào cuối mỗi kỳ
- Trái phiếu giảm giá (trái phiếu chiết khấu)(discount bond) là trái phiếu là để trả thu nhập cho người mua, người ta bán trái phiếu với mệnh giá thấp hơn mệnh giá của nó
- Trái phiếu Coupon: là trái phiếu mà người mua nó sẽ được thanh toán số lợi nhuận ở dạng tiền coupon cố định hàng năm và đến năm cuối cùng của kỳ hạn sẽ nhận nốt số coupon cuối cùng và toàn bộ tiền vốn
Ngoài ra còn có trái phiếu Consol: đây là loại trái phiếu tồn tại vĩnh viễn, nó không có ngày đáo hạn
• Căn cứ vào khả năng chuyển đổi
- Trái phiếu không có khả năng chuyển đổi
- Trái phiếu có thể chuyển đổi
Trang 14• Căn cứ vào việc ghi danh trên trái phiếu
- Trái phiếu vô danh
- Trái phiếu ghi danh
c Các loại chứng chỉ tiền gửi trung và dài hạn
d Các món vay thế chấp (mortgage)
Đây là những món tiền cho các cá nhân hoặc các công ty kinh doanh
vay để đầu tư Những công trình kiến trúc, nhà cửa, đất đai được dùng làm vật thế chấp cho các món vay Tại những công ty của các nước phát triển, hình thức này chiếm một phần lớn trong các nguồn tài trợ
Nếu căn cứ vào thu nhập công cụ tài chính chia làm 3 loại:
1)Công cụ tài chính mang lại thu nhập cố định
Căn cứ vào lãi suất ghi trên công cụ đó Vd: công cụ nợ như trái phiếu, tín phiếu, kì phiếu
Những loại này có mức an toàn cao nhưng lại không hấp dẫn Tuy nhiên nó đáp ứng nhu cầu cho những nhà đầu tư không thích rủi ro và thích hợp với thời kì mà thị trường chứng khoán chưa phát triển
2)Công cụ tài chính mang lại thu nhập biến đổi
Đặc trưng là cổ phiếu Gồm có:
- Cổ phiếu ưu đãi: là loại cổ phiếu mà thường được hưởng với một mức cổ tức nhất định Loạ cổ phiếu này chỉ được phát hành với một tỷ lệ nhất định khi công ty mới thành lập và thị giá của nó phụ thuộc vào sự thay đổi của lãi suất trái phiếu kho bạc và tình hình tài chính của công ty
Trên thực tế người sở hữu cổ phiếu ưu đãi sẽ có thu nhập không đổi trong chừng mực của tỷ suất lợi nhuận ( P’)
Nếu P’≤ 10% thì thu nhập không đổi
P’> 10% thì thu nhập sẽ được điều chỉnh theo hướng:
Nếu P’ < - 10% thì trừ bớt thu nhập
P’ > 10% thì cộng thêm thu nhập
- Cổ phiếu thông thường: là loại cổ phiếu có thu nhập không ổn định, lợi tức biến động theo sự thay đổi lợi nhuận công ty Thị giá cổ phiếu thường rất