Cúc xinh xắn làm sao!” diễn tả cảm xúc phải thốt nên lời của chim sơn ca hay nói khác hơn là nhà văn khi đứng trước bông cúc trắng – một vẻ đẹp của thiên nhiên... Đoạn 3: Trong tù Nội
Trang 1HANS CHRISTIAN
ANDERSEN
(2/4/1805-4/8/1875)
Trang 2CHIM SƠN CA VÀ
BÔNG CÚC TRẮNG
(Sách Tiếng Việt lớp 2, tập 2/ 23)
Trang 31 Bên bờ rào, giữa đám cỏ dại, có bông cúc trắng Một chú sơn ca sà
xuống, hót rằng:
- Cúc ơi! Cúc xinh xắn làm sao!
Cúc sung sướng khôn tả Chim véo von mãi rồi mới bay về bầu trời
xanh thẳm.
2 Nhưng sáng hôm sau, khi vừa xòe cánh đón bình minh, bông cúc đã nghe thấy tiếng sơn ca buồn thảm Thì
ra, sơn ca đã bị nhốt trong lòng.
Bông cúc muốn cứu chim nhưng chẳng làm gì được.
Trang 43 Bỗng có hai cậu bé đi vào vườn, cắt cả đám cỏ lẫn bông cúc đem về bỏ vào lồng sơn ca Con chim bị cầm tù, họng khô bỏng vì khát, rúc mỏ vặt đám cỏ ẩm ướt Cúc tỏa hương thơm ngào ngạt an ủi chim Sơn ca
dù khát, phải vặt hết nắm cỏ, vẫn không đụng đến bông hoa.
Tối rồi, chẳng ai cho con chim khốn khổ một giọt nước Đêm ấy, sơn ca lìa đời Bông cúc héo lả đi vì
nó vẫn đang tắm nắng mặt trời
Theo AN – ĐÉC – XEN (Nguyễn Văn Hải, Vũ Minh Toàn dịch)
Trang 5Tìm hiểu nghĩa của từ
• Sơn ca (chiền chiện): loài chim nhỏ hơn chim
sẻ, hót rất hay; khi hót thường bay bổng lên
cao.
• Khôn tả: không tả nổi.
• Véo von: (âm thanh) cao, trong trẻo.
• Bình minh: lúc mặt trời mới mọc.
• Cầm tù: bị giam giữ.
• Long trọng: đầy đủ nghi lễ, rất trang nghiêm.
• Trắng tinh: trắng đều một màu, sạch sẽ.
Trang 6CHIA ĐOẠN
Đoạn 1: “Bên bờ rào … bầu trời xanh thẳm”: Cuộc
sống tự do, sung sướng của sơn ca và bông cúc.
Đoạn 2: “Nhưng sáng hôm sau … chẳng làm gì
Trang 7PHÂN TÍCH
Trang 8Nội dung:
Trước khi bị bỏ vào lồng:
- Chim sơn ca tự do bay nhảy, hót véo von, sống trong một thế giới rất rộng lớn – là cả bầu trời xanh
thẳm.
- Cúc sống tự do bên bờ rào, giữa đám cỏ dại Nó tươi tắn và xinh xắn, xoè bộ cánh trắng đón nắng mặt trời, sung sướng khôn tả khi nghe sơn ca hót ca ngợi
vẻ đẹp của mình.
Sự hòa hợp của tự nhiên tạo nên một bức tranh sinh động về cuộc sống gắn kết của muôn loài: động vật và thực vật khi sống giữa đất trời
Đoạn 1: Cuộc sống tự do, sung sướng
của sơn ca và bông cúc.
Trang 9- Nhà văn sử dụng biện pháp nhân hóa
(nhà văn dùng từ “chú” để gọi sơn ca).
- Nhà văn sử dụng câu cảm thán : “Cúc ơi! Cúc xinh xắn làm sao!” diễn tả cảm xúc phải thốt nên lời của chim sơn ca hay nói
khác hơn là nhà văn khi đứng trước bông
cúc trắng – một vẻ đẹp của thiên nhiên.
Nghệ thuật:
Trang 10Đoạn 2: Sơn ca bị cầm tù.
Nội dung:
- Khi xòe cánh chào đón bình minh vào sáng hôm sau, bông cúc đã nghe thấy tiếng chim sơn ca buồn bã vì sơn
ca đã bị nhốt vào lồng Cúc muốn cứu sơn ca lắm nhưng đành bất lực.
Trang 11Nghệ thuật:
cũng biết “nghe”, biết “thấy” như con người, sơn ca cũng biết “buồn thảm” khi mất tự
do.)
Trang 12Đoạn 3: Trong tù Nội dung:
Các cậu bé rất vô tình đối với chim sơn ca và bông cúc trắng:
- Đối với chim sơn ca: Hai cậu bé bắt chim nhốt vào lồng nhưng lại không nhớ cho chim ăn uống, để chim chết vì đói và khát.
- Đối với bông cúc trắng: Hai cậu bé chẳng cần thấy bông cúc đang nở rất đẹp, cầm dao cắt cả đám cỏ lẫn bông cúc bỏ vào lồng sơn ca.
Kết quả của hành động và sự vui thích nhất thời của hai cậu bé đã đẩy sơn ca và bông cúc trắng đến chỗ không bao giờ còn được nhìn thấy “bầu trời xanh thẳm” kia nữa.
Trang 13 Qua đó, nhà văn còn khắc họa cho chúng ta thấy tình bạn cao đẹp giữa chim sơn ca và bông cúc trắng Mặc dù, cả hai người bạn đang bị cầm tù, mất đi bầu trời tự do và nguy hiểm đến ngay cả sự sống (đói
và khát) nhưng không vì thế mà sơn ca lẫn bông cúc
nỡ làm hại đến bạn mình: sơn ca dù chết khát, vẫn
không đụng đến bông cúc, và ngược lại, cúc đã giành hết vẻ đẹp và hương thơm còn lại của mình để an ủi chim Sự sống là rất quý giá nhưng không phải vì
muốn sống, muốn thỏa cái đam mê, thú vui thích nhất thời mà chúng ta lại làm hại đến người khác để mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình
Đồng thời, nhà văn còn muốn gửi gắm đến một điều: tất cả mọi việc trong cuộc sống nên để phát triển một cách tự nhiên thì tốt hơn là phải sống khiên
cưỡng, tù túng
Trang 14sơn ca lìa đời.)
Trang 15Đoạn 4: Sự ân hận muộn màng.
Nội dung:
- Khi thấy sơn ca chết, hai cậu bé đã chôn cất sơn ca thật long trọng trong một chiếc hộp rất đẹp Sự ân hận của hai cậu bé cũng trở thành vô ích khi sơn ca lẫn bông cúc
không thể “sống và ca hát” cũng như “tắm nắng mặt trời”
thêm lần nào nữa.
- Lời trách móc của nhà văn hay của chính những bạn đọc như chúng ta trước hành động vô tình của hai cậu bé đã gây ra chuyện đau lòng đối với sơn ca và bông cúc Mặc dù, hai cậu bé có ân hận nhưng đã quá muộn màng.
Trang 16- Hành động của hai cậu bé khi thấy
sơn ca chết: “hai cậu bé đặt con chim
vào một chiếc hộp rất đẹp và chôn cất
thật long trọng”.
Qua hình ảnh đó, nhà văn muốn nhắc nhở chúng ta rằng: khi sống trên
đời cần trân trọng những điều quý giá
xung quanh, dù là điều nhỏ nhất Đừng
để đến khi chúng mất đi, tuột khỏi tầm
tay thì lúc đó mới biết trân trọng, tiếc
nuối Vì điều đó đã trở nên vô nghĩa
và quá muộn màng.
Trang 17Nghệ thuật
- Nhà văn sử dụng câu cảm thán “Tội nghiệp con chim!” cảm xúc và thái độ thương xót của những bạn đọc hay nói khác hơn là chính bản thân nhà văn trước số phận của sơn ca bé
nhỏ.
- Nhà văn đã nhẹ nhàng gửi gắm lời trách móc của chính bản thân ông một cách trực tiếp nhưng qua đó, ông đã để ẩn bài học giáo dục
thật sâu sắc đến cho tất cả chúng ta
Trang 18TỔNG KẾT
Trang 19Nghệ thuật:
- Bài “Chim sơn ca và bông cúc trắng” sử dụng nghệ thuật nhân hóa: (“chú” – sơn ca, bông cúc cũng có thái độ và tình cảm như con người) tạo nên sự gần gũi, quen thuộc, gắn kết với tự
nhiên, nhẹ nhàng đưa trẻ em hòa nhập vào một đời sống mới
- Giọng đọc được thể hiện khác nhau ở từng đoạn tùy theo tâm trạng, tình cảm của nhân vật trong truyện:
• Đoạn 1: giọng vui tươi khi tả cuộc sống tự do
của sơn ca và bông cúc
• Đoạn 2, 3: ngạc nhiên, bất lực, buồn thảm khi kể
về nỗi bất hạnh dẫn đến cái chết của sơn ca và bông cúc
• Đoạn 4: thương tiếc, trách móc khi nói về đám tang long trọng mà các chú bé dành cho chim sơn ca
Trang 20Nội dung:
Câu chuyện khuyên chúng ta phải biết yêu thương, trân trọng và bảo vệ thiên nhiên: mà ở trong truyện này là chim sơn ca và bông cúc
trắng Vì thế, hãy để cho chim được tự do ca hát, bay lượn trên bầu trời trong xanh Hãy để cho
hoa được tự do tắm nắng mặt trời Bởi vì chúng làm cho cuộc sống thêm tươi đẹp hơn Đừng đối
xử với chúng vô tình Hãy sống hòa nhập giữa thiên nhiên
Qua đó, câu chuyện còn muốn nhắn gửi đến bạn đọc: Đừng vì một thú vui nhất thời, chỉ biết nghĩ đến bản thân mình mà làm hại đến
cuộc sống của người khác Và, trước khi làm
một việc gì, cũng phải suy nghĩ kĩ để không phải
ân hận về sau
Trang 21CON VỊT XẤU XÍ
(Den grimme Aelling)
(Truyện đọc lớp 3)
Trang 221 Sắp đến mùa đông, vợ chồng thiên nga cùng đứa con nhỏ xíu bay về phương Nam tránh rét Vì đứa con quá nhỏ và yếu ớt nên chúng phải nghỉ lại dọc
đường May mắn, ở chỗ dừng chân, chúng gặp một
cô vịt đang chuẩn bị cho đàn con xuống ổ Hai vợ
chồng liền nhờ cô chăm sóc giùm thiên nga con và
hứa sang năm sẽ quay trở lại đón con.
2 Thiên nga con ở lại cùng đàn vịt Nó buồn lắm
vì không có bạn Vịt mẹ thì bận bịu suốt ngày vì phải kiếm ăn, chăn dắt cả thiên nga con lẫn mười một đứa con vừa rời ổ Còn đàn vịt con thì luôn tìm cách chành chọe, bắt nạt, hắt hủi thiên nga Đối với chúng, thiên nga là một con vịt vô tích sự và vô cùng xấu xí: cái cổ thì dài ngoẵng, thân hình gậy guộc, lại rất vụng về…
Trang 23Một năm sau, thiên nga bố mẹ trở lại tìm gặp vịt
mẹ Cả hai vô cùng sung sướng vì thấy thiên nga con
giờ đã cứng cáp, lớn khôn Thiên nga con gặp lại bố mẹ cũng vô cùng mừng rỡ Nó quên luôn những ngày tháng
cô đơn, buồn tẻ trước đây, quên cả cách cư xử chẳng lấy gì làm thân thiện của đàn vịt con Nó chạy đến cảm
ơn vịt mẹ, và bịn rịn chia tay với các bạn vịt con để còn kịp theo bố mẹ lên đường, bay tới những chân trời xa…
3 Mãi đến lúc này, đàn vịt con mới biết con vịt xấu
xí mà chúng thường chê bai, dè bỉu chính là thiên nga, loài chim đẹp nhất trong vương quốc của những loài có cánh, đi bằng hai chân Chúng rất xấu hổ và ân hận vì
đã đối xử không phải với thiên nga
Theo AN – ĐÉC – XEN
Trang 24CHIA ĐOẠN
Đoạn 1: “Sắp đến mùa đông … trở lại đón con”:
Hoàn cảnh thiên nga ở lại cùng đàn vịt.
Đoạn 2: “Thiên nga con … chân trời xa”: Tâm
trạng của thiên nga con khi ở cùng đàn vịt và
khi gặp lại bố mẹ.
Đoạn 3: Phần còn lại: Bài học mà đàn vịt con
rút ra.
Trang 25PHÂN TÍCH
Trang 26Đoạn 1: Hoàn cảnh thiên
nga con ở lại cùng đàn vịt.
Trang 27Nghệ thuật:
dùng từ “cô” để gọi vịt mẹ,
“hai vợ chồng” thiên nga biết
“hứa”, “cô” vịt biết “chăm
sóc” con như con người).
Trang 28Đoạn 2: Tâm trạng của thiên nga con khi ở cùng đàn vịt và khi gặp lại bố mẹ.
của vịt con nó là một con vịt xấu xí, vô tích sự.
Thái độ của thiên nga khi được bố mẹ đến đón:
Nó vô cùng vui sướng Nó quên hết mọi chuyện buồn đã qua Nó cảm ơn vịt mẹ và lưu luyến chia tay với đàn vịt con.
Trang 29Thiên nga vẫn còn là một đứa trẻ nhỏ
Mặc dù chú đã rất buồn và cảm thấy cô đơn khi không hòa nhập được với đàn vịt con, bị đàn vịt con chê bai, dè bỉu nhưng khi gặp lại
bố mẹ thì nỗi buồn bỗng chốc hóa thành niềm vui sướng khôn tả và ngay lập tức thiên nga con đã quên hết mọi chuyện cùng cách đối
xử không tốt của đàn vịt con, để rồi “bịn rịn
chia tay các bạn”
Trang 30Nghệ thuật:
- Nhà văn dùng những từ ngữ gợi cảm, gợi tả khi miêu tả hình dáng của thiên nga và tâm trạng của nó: nhỏ xíu, quá nhỏ, yếu ớt, buồn lắm, chành chọe, bắt nạt, hắt hủi, vô cùng xấu xí, dài ngoẵng, gầy guộc, vụng về, vô cùng sung sướng, cứng cáp, lớn khôn, vô cùng mừng rỡ, bịn rịn,…
- Nhà văn sử dụng biện pháp nhân hóa (thiên nga con biết
“buồn”; biết “cô đơn”, “buồn tẻ” khi bị đàn vịt con “chành chọe”,
“bắt nạt”, “hắt hủi”, và cũng biết “mừng rỡ” khi gặp lại bố mẹ, biết
“cảm ơn” vịt mẹ và “bịn rịn chia tay” với đàn vịt con hệt như con người.)
- Nhà văn sử dụng nghệ thuật miêu tả, liệt kê (cái cổ thì dài ngoẵng, thân hình gậy guộc, lại rất vụng về…) khi tả hình dáng đối lập của thiên nga hoàn toàn khác biệt so với đàn vịt con
Trang 31Bài học cho đàn vịt con: Dù là bất kì ai (thiên nga – loài chim đẹp nhất hay vịt con xấu xí) thì chúng ta cũng phải đối xử bình đẳng, thân thiện và yêu thương họ - nhất là khi chúng ta
đang sống giữa một tổ chức, một cộng đồng, một xã hội Vì khi mỗi người sinh ra đều có một khả năng và vẻ đẹp riêng để tạo nên chính bản thân họ Hãy suy xét thật kĩ trước khi đối xử với một ai đó, vì tâm hồn họ tạo nên chính họ chứ không phải vẻ đẹp hay hình thức bên ngoài
Trang 32Nghệ thuật:
- Nhà văn sử dụng nghệ thuật miêu tả “thiên nga - loài chim đẹp nhất trong vương quốc của những loài có
cánh, đi bằng hai chân.”
- Nhà văn sử dụng nghệ thuật đối lập tương phản : hình dáng thiên nga lúc đầu và lúc sau:
cái cổ thì dài ngoẵng, thân hình gậy guộc >< loài chim đẹp nhất trong vương quốc của những loài có cánh, đi bằng hai chân tạo ra hình ảnh tương phản để làm nổi bật
hình dáng xinh đẹp, trả lại cho thiên nga con vẻ đẹp của chính nó.
- Nhà văn sử dụng biện pháp nhân hóa (đàn vịt con biết “xấu hổ”, “ân hận” khi nhận ra lỗi lầm của mình.)
Trang 33TỔNG KẾT
Trang 34Nghệ thuật:
- Nhà văn sử dụng chủ yếu biện pháp nhân hóa tạo sự gần gũi, dễ hiểu, hấp dẫn đến với bạn đọc nhỏ
tuổi vì các loài vật cũng biết suy nghĩ
và hành động như con người.
- Nhà văn sử dụng nghệ thuật miêu tả, liệt kê, đối lập tương phản
cùng những từ ngữ giàu sức gợi
cảm, gợi hình để miêu tả hình dáng
và tâm trạng của thiên nga con cùng đàn vịt con.
Trang 35Nội dung:
Câu chuyện muốn khuyên chúng ta phải biết yêu thương, giúp đỡ mọi người
Không nên bắt nạt, hắt hủi người khác
Qua câu chuyện Vịt con xấu xí, nhà văn An – đec – xen muốn khuyên chúng ta: Phải biết nhận ra cái đẹp của người khác vì không phải ai cũng giống ai Mỗi người có
một vẻ đẹp riêng Chúng ta phải luôn yêu
thương, giúp đỡ lẫn nhau Không nên lấy
mình làm mẫu để đánh giá người khác Qua câu chuyện này, chúng ta hãy biết yêu quý bạn bè xung quanh, biết yêu thương, giúp đỡ người khác và nhận ra những nét đẹp riêng trong mỗi người
Trang 36NGƯỜI MẸ
(Historien om en Moder)
(Sách Tiếng Việt lớp 3, tập 1/ 29)
Trang 371 Bà mẹ chạy ra ngoài, hớt hải gọi con Suốt mấy đêm ròng thức trông con ốm, bà vừa thiếp đi một lúc, Thần Chết đã bắt nó đi.
Thần Đêm Tối đóng giả một bà cụ mặc áo choàng đen, bảo bà:
- Thần Chết chạy nhanh hơn gió và chẳng bao giờ trả lại những người lão đã cướp đi đâu.
Bà mẹ khẩn khoản cầu xin Thần chỉ đường cho mình đuổi theo Thần Chết Thần Đêm Tối chỉ đường cho bà.
2 Đến một ngã ba đường, bà mẹ không biết phải đi lối nào Nơi đó có một bụi gai băng tuyết bám đầy Bụi gai bảo:
- Tôi sẽ chỉ đường cho bà, nếu bà ủ ấm tôi.
Bà mẹ ôm ghì bụi gai vào lòng để sưởi ấm nó Gai đâm vào da thịt bà, máu nhỏ xuống từng giọt đậm Bụi gai đâm chồi, nảy lộc và nở hoa ngay giữa mùa đông buốt giá Bụi gai chỉ đường cho bà
Trang 383 Bà đến một hồ lớn Không có một bóng thuyền Nước hồ quá sâu Nhưng bà nhất định vượt qua hồ để tìm con Hồ bảo:
- Tôi sẽ giúp bà, nhưng bà phải cho tôi đôi mắt
Hãy khóc đi, cho đến khi đôi mắt rơi xuống!
Bà mẹ khóc, nước mắt tuôn rơi lã chã, đến nỗi đôi mắt theo dòng lệ rơi xuống hồ, hóa thành hai hòn ngọc Thế là bà được đưa đến nơi ở lạnh lẽo của Thần Chết.
4 Thấy bà, Thần Chết ngạc nhiên, hỏi:
- Làm sao ngươi có thể tìm đến tận nơi đây?
Trang 39Tìm hiểu nghĩa của từ
• Mấy đêm ròng: mấy đêm liền.
• Thiếp đi: lả đi hoặc chợp mắt ngủ do
quá mệt.
• Khẩn khoản: cố nói để người khác
đồng ý với yêu cầu của mình.
• Lã chã: (mồ hôi, nước mắt) chảy
nhiều và kéo dài.
• Hớt hải: hoảng hốt, vội vàng.
Trang 40CHIA ĐOẠN
Đoạn 1: “Bà mẹ … chỉ đường cho bà”: Tâm trạng
hoảng hốt của người mẹ khi bị mất con.
Đoạn 2: “Đến một ngã ba đường … Thần Chết”:
Sự sẵn lòng hi sinh tất cả của người mẹ trên
đường đi tìm con
Đoạn 3: Phần còn lại: Thái độ ngạc nhiên của
Thần Chết và sự cương quyết giành lại con của người mẹ.
Trang 41PHÂN TÍCH
Trang 42Nội dung:
Bà mẹ thức mấy đêm ròng trông đứa con ốm Mệt quá, bà thiếp đi Tỉnh dậy, thấy mất con, bà
“hớt hải” gọi tìm Thần Đêm Tối nói cho bà biết:
con bà đã bị Thần Chết bắt Bà cầu xin Thần Đêm Tối chỉ đường cho bà đuổi theo Thần Chết Thần Đêm Tối chỉ đường cho bà.
Khi biết Thần Chết đã cướp đi đứa con của mình, bà mẹ quyết tâm đi tìm con.
Đoạn 1: Tâm trạng hoảng hốt của
người mẹ khi bị mất con.
Trang 43Nghệ thuật:
- Thời gian: đêm tối thời gian đáng sợ, lạnh lẽo và đầy nguy hiểm
- Nhà văn sử dụng biện pháp so sánh
(“Thần Chết chạy nhanh hơn gió”)
- Nhà văn sử dụng nghệ thuật đối thoại
giữa Thần Đêm Tối và người mẹ nhưng ẩn lời nói trực tiếp của người mẹ mà dẫn lời nói trực tiếp của Thần Đêm Tối trong hình dạng “một bà
cụ mặc áo choàng đen” tạo nên sự kì ảo,
huyền bí cho câu chuyện Ngoài ra, nhà văn còn cho chúng ta thấy rằng thế lực bóng tối đang
ngự trị mạnh mẽ và đáng sợ, lấn át và đe dọa con người – mà ở đây là sự trơ trọi của người
mẹ, càng chứng tỏ lòng thương yêu con vô bờ của bà bất chấp hiểm nguy, xua tan bóng tối để tìm con
Trang 44Đoạn 2: Sự sẵn lòng hi sinh của người
mẹ trên đường đi tìm con.
Nội dung:
Bà mẹ chấp nhận yêu cầu của bụi gai: ôm ghì bụi gai vào lòng để sưởi ấm nó, làm nó đâm chồi, nảy lộc và
nở hoa giữa mùa đông buốt giá.
Chính tình thương ấm nóng và sự hi sinh của người
mẹ đã khiến quy luật tự nhiên phải thán phục và chấp
nhận nhường cho bà sức mạnh của nó: khiến giữa mùa đông buốt giá, bụi gai ven đường kia lại “đâm chồi, nảy lộc” và tràn đầy sức sống như đang giữa mùa xuân