1.2.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hoá những cơ sở lý luận, thực tiễn liên quan đến hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh; - Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Nghiªn cøu gi¶i ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶
kinh doanh cña c¸c hé t¹i chî Hµ §«ng
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI - 2013
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
-
NGUYỄN THỊ THU HÀ
Nghiªn cøu gi¶i ph¸p n©ng cao hiÖu qu¶
kinh doanh cña c¸c hé t¹i chî Hµ §«ng
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyªn ngµnh : Quản trị kinh doanh M· sè : 60.34.01.02
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc : PGS TS TRẦN HỮU CƯỜNG
HÀ NỘI - 2013
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và chưa hề ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà nội, ngày tháng năm 2013
Tác giải
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4và thực hiện ñề tài nghiên cứu khoa học
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Hữu Cường – người ñã ñịnh hướng, chỉ bảo và hết lòng tận tụy, dìu dắt tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu ñề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến những người thân trong gia ñình, bạn
bè và ñồng nghiệp ñã ñộng viên, cổ vũ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu khoa học Nếu không có những sự giúp ñỡ này thì chỉ với sự cố gắng của bản thân tôi sẽ không thể thu ñược những kết quả như mong ñợi
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2013
Tác giải
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 5MụC LụC
LỜI CAM ðOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MụC LụC iii
DANH MụC CáC BảNG vi
DANH MụC BIểU Đồ viiii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
1 ĐặT VấN Đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Về không gian 3
1.4.2 Về thời gian nghiên cứu 3
1.4.3 Về nội dung 3
1.5 Đối tượng nghiên cứu 3
2 Cở Sở Lí LUậN Và THựC TIễN 4
2.1 Cơ sở lý luận 4
2.1.1 Các khái niệm và đặc điểm kinh doanh của hộ kinh doanh 4
2.1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh 18
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh 19
2.1.4 Chuẩn hoá một số khái niệm dùng trong nghiên cứu: 23
2.2 Cơ sở thực tiễn 26
2.2.1 Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới 26
Trang 62.2.2 Kinh nghiỷm tõ Viỷt Nam 28
2.2.3 Bài học rút ra từ nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn: 29
3 ậẳC ậIÓM ậỡA BộN Vộ PHẩầNG PHịPNGHIặN CụU 31
3.1 ậẳc diÓm ệỡa bộn nghiến cụu 31
3.1.1 ậẳc ệiÓm ệiÒu kiỷn tù nhiến 31
3.1.2 ậẳc ệiÓm kinh tạ xở héi 32
3.2 Quị trừnh hừnh thộnh vộ phịt triÓn cựa chĩ Hộ ậềng 35
3.2.1 Giắi thiỷu chung vÒ chĩ Hộ ậềng 35
3.2.2 Quy trừnh hừnh thộnh vộ phịt triÓn cựa chĩ Hộ ậềng 35
3.3 Ph−ểng phịp nghiến cụu 36
3.3.1 Ph−ểng phịp thu thẺp sè liỷu 36
3.3.2.Ph−ểng phịp phẹn tÝch sè liỷu 39
3.3.3 Cịc chử tiếu nghiến cụu 40
4 KạT QUờ NGHIặN CụU 42
4.1 Thùc trỰng hoỰt ệéng kinh doanh vộ hiỷu quờ kinh doanh cựa hé kinh doanh tỰi chĩ Hộ ậềng 42
4.1.1 đặc ựiểm sản phẩm của hàng hóa 42
4.1.2 điều kiện kinh doanh của các hộ kinh doanh tại chợ Hà đông 44
4.1.3 Từnh hừnh hoỰt ệéng kinh doanh cựa cịc hé kinh doanh hộng hãa ẻ chĩ Hộ ậềng 53
4.1.4 Kết quả và hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh tại chợ Hà đông 58
4.2 Cịc yạu tè ờnh h−ẻng ệạn kạt quờ kinh doanh cựa hé kinh doanh tỰi chĩ Hộ ậềng 70
4.2.1 Các yêú tố bên trong 70
4.2.2 Các yếu tố bên ngoài 75
4.3 Mét sè giời phịp nẹng cao hiỷu quờ kinh doanh cựa hé kinh doanh tỰi chĩ Hộ ậềng 83
4.3.1 ậỡnh h−ắng phịt triÓn 83
Trang 74.3.2 Mét sè giời phịp 87
5 KẾT LUẬN 92
5.1 Kết luận 92
5.2 Kiạn nghỡ 93
5.2.1 đối với chắnh phủ: 93
5.2.2 đối với Sở Thương mại Hà Nội: 94
5.2.3 đối với UBND quận Hà đông: 94
5.2.4 ậèi vắi Ban quờn lý chĩ 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH MôC CịC BờNG
Bờng 3.1.Sè ng−êi tõ 15 tuữi trẻ lến cựa quẺn Hộ ậềng chia theo giắi tÝnh vộ ệé tuữi (thêi ệiÓm 1/6/2010) 33 Bờng 3.2 Sè l−ĩng hé trong mÉu ệiÒu tra 38 Bờng 4.1 Cể cÊu vÒ trừnh ệé hảc vÊn cựa cịc chủ hé kinh doanh nềng sờn ẻ chĩ
Hộ ậềng 47 Bờng 4.2.Vèn bừnh quẹn cựa hé ệiÒu tra thịng 9/2012 49 Bờng 4.3 Cể cÊu sè lao ệéng cựa hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 50 Bờng 4.4 Cể cÊu ph−ểng tiỷn phôc vô hoỰt ệéng kinh doanh cựa hé kinh doanh tỰi chĩ Hộ ậềng 51 Bờng 4.5 Diỷn tÝch trung bừnh quẵy hộng kinh doanh cựa cịc hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 53 Bờng 4.6 Cể cÊu nguăn cung ụng hộng hãa cho cịc hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ
ậềng 54 Bờng 4.7 ậèi t−ĩng mua hộng hãa cựa hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 56 Bờng 4.8 Ph−ểng thục bịn hộng hãa cựa cịc hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 57 Bảng 4.9 Doanh thu bình quân/hộ/tháng và vốn kinnh doanh bình quân/hộ/tháng 58 Bảng 4.10 Các khoản chi phắ bình quân/hộ/tháng 60 Bảng 4.11 Kết quả hoạt ựộng kinh doanh của các hộ kinh doanh ở chợ Hà đông 61 Bảng 4.12 Hiệu quả hoạt ựộng kinh doanh của các hộ kinh doanh 62 Bảng 4.13 Ảnh hưởng của kinh nghiệm, trình ựộ học vấn ựến kết quả hoạt ựộng kinh doanh 71 Bảng 4.14 Ảnh hưởng của vốn bán ựầu của hộ kinh doanh ựến kết quả hoạt ựộng kinh doanh của hộ 74 Bờng 4.15 Trang thiạt bỡ PCCC ẻ chĩ Hộ ậềng 78 Bờng 4.16 Thùc trỰng lao ệéng cựa Ban quờn lý chĩ Hộ ậềng 82
Trang 9DANH MôC BIÓU ậă
Biểu ựồ 4.1.Cơ cấu hàng hóa nông sản và công nghiệp trong chợ Hà đông 42
Biểu ựồ 4.2.Cơ cấu từng nhóm sản phẩm hàng hóa trong chợ Hà đông 43
Biểu ựồ 4.3 Cơ cấu sản phẩm hàng hóa của các hộ kinh doanh hàng hóa nông sản 43
Biểu ựồ 4.4 Cơ cấu sản phẩm hàng hóa của các hộ kinh doanh sản phẩm của ngành công nghiệp 44
BiÓu ệă 4.5 Cể cÊu giới cựa ng−êi ệụng ra kinh doanh trong chĩ Hộ ậềng 45
BiÓu ệă 4.6 Cể cÊu giới cựa ng−êi ệụng ra kinh doanh trong chĩ Hộ ậềng ệèi vắi tõng hé kinh doanh 45
BiÓu ệă 4.7.Sè nẽm kinh doanh cựa cịc hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng theo sè liỷu ệiÒu tra thịng 1/2013 46
BiÓu ệă 4.8 Trừnh ệé hảc vÊn cựa cịc chủ hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 48
BiÓu ệă 4.9.Trừnh ệé hảc vÊn cựa chủ hé kinh doanh hộng hãa nềng sờn vộ hé kinh doanh sờn phÈm cựa ngộnh cềng nghiỷp 48
BiÓu ệă 4.10 Nguăn vèn cựa hé ệiÒu tra thịng 9/2012 50
BiÓu ệă 4.11 Cể cÊu lao ệéng cựa hé kinh doanh trong chĩ Hộ ậềng 51
BiÓu ệă 4.12 Nguăn cung ụng hộng hãa cựa hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 53
BiÓu ệă 4.13 Cể cÊu thiạt bỡ bờo quờn cựa cịc hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 55
BiÓu ệă 4.14 Ph−ểng thục bịn hộng cựa cịc hé kinh doanh ẻ chĩ Hộ ậềng 57
Biểu ựồ 4.15 Doanh thu và vốn kinh doanh tháng/hộ 60
Biểu ựồ 4.16 đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa 63
ở chợ Hà đông 63
Biểu ựồ 4.17 đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa nông sản và sản phẩm ngành công nghiệp ở chợ Hà đông 64
Biểu ựồ 4.18 đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng hàng hóa nông sản ở chợ Hà đông 65
Biểu ựồ 4.19 đánh giá của người tiêu dùng về chất lượng sản phẩm 66
Trang 10ngành công nghiệp ở chợ Hà đông 66
Biểu ựồ 4.20 Mức ựộ quan tâm của người tiêu dùng về vệ sinh ATTP 67
Biểu ựồ 4.21 đánh giá của người tiêu dùng về thái ựộ phục vụ của 68
người bán hàng ở chợ Hà đông 68
Biểu ựồ 4.22 đánh giá của người tiêu dùng về thái ựộ phục vụ của người bán hàng hóa nông sản ở chợ Hà đông 69
Biểu ựồ 4.23 đánh giá của người tiêu dùng về thái ựộ phục vụ của người bán sản phẩm ngành công nghiệp ở chợ Hà đông 70
Biểu ựồ 4.24 Ảnh hưởng của kinh nghiệm kinh doanh ựến kết quả hoạt ựộng kinh doanh 72
Biểu ựồ 4.25 Ảnh hưởng của trình ựộ học vấn ựến kết quả hoạt ựộng kinh doanh .73
Biểu ựồ 4.26 Ảnh hưởng của mức vốn ban ựầu ựến kết quả kinh doanh 74
Trang 11DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BQL Ban quản lý
CB-CNV Cán bộ - công nhân viên
PCCC Phòng cháy chữa cháy
ANTT An ninh trật tự
HTX Hợp tác xã
TMCP Thương mại cổ phần
VSATTP Vệ sinh an toàn thực phẩm
CNMM Công nghiệp may mặc
CNðT Công nghiệp ñiện tử
CBTP Chế biến thực phẩm
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TTTM Trung tâm thương mại
KT- XH Kinh tế- xã hội
Trang 121 ĐặT VấN Đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như hiện nay, thị trường xuất khẩu cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức Triển vọng từ thị trường bán lẻ trong nước có thể được coi là cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam trong việc giải quyết đầu ra sản phẩm
Kể từ ngày chính thức đi vào hoạt động (ngày1/1/2009), thị trường bán
lẻ Việt Nam đã bước sang tuổi thứ 3 Mặc dù nền kinh tế chung còn nhiều khó khăn song thị trường bán lẻ vẫn được đánh giá là mảnh đất màu mỡ đầy sức hút cho các nhà đầu tư Theo dự báo, từ nay đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn ở mức 23-25%/năm Trong báo cáo mới nhất về thị trường bán lẻ của Việt Nam, trang mạng Research and Markets khẳng định Việt Nam là một trong năm thị trường bán lẻ sinh lời nhất trên thế giới Sự phát triển mạnh nhất của thị trường bán lẻ Việt Nam nằm ở hình thức bán lẻ hiện đại, với khoảng 600 siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, đã mang đến cho người tiêu dùng những dịch vụ mua sắm thuận tiện hơn Bên cạnh đó là vai trò không nhỏ với sự đa dạng của khoảng 9000 chợ truyền thống đã phục vụ nhiều loại đối tượng tiêu dùng Chợ truyền thống
là một sinh hoạt đời thường nhưng lại rất có ý nghĩa đối với nhiều người dân Việt Nam Chợ không những là nơi trao đổi, buôn bán hàng hoá mà còn là nơi giao lưu văn hoá thoả mãn nhu cầu về thể chất và tinh thần của người dân Theo bà Stephanie Geertman-chuyên viên tư vấn của tổ chức HealthBridge(Canada) chợ truyền thống góp phần tạo nên một thành phố sống tốt bởi 7 lý do: sự tạo lập các mối quan hệ xã hội; sự thoải mái về tinh thần; sự chuyển đổi dinh dưỡng và an toàn thực phẩm; sự đắt và rẻ; lối sống văn hoá; nền kinh tế địa phương; mối quan hệ giữa nội thành và ngoại thành.Từ những
lý do đó đó tạo mối liên hệ mạnh mẽ giữa thành phố và các vùng lân cận Vì vậy việc tồn tại của chợ truyền thống là điều đáng lưu tâm Tuy nhiên trong
Trang 13quá trình đô thị hoá, những năm qua, Hà Nội nói riêng và một số thành phố khác trong cả nước nói chung,đã phá bỏ nhiều chợ truyền thống để xây dựng siêu thị, trung tâm thương mại Trong xu thế phát triển hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đô thị hoá, với tốc độ tăng chóng mặt về số lượng của các siêu thị, trung tâm thương mại, chợ truyền thống đang ngày càng yếu thế, có nguy cơ
bị “chết yểu” Điều này đã gây ảnh hưởng lớn đến một bộ phận không nhỏ các
hộ kinh doanh trong các chợ truyền thống
Hà Đông là một quận phía Tây thuộc thủ đô Hà Nội Hà Đông là một trong những địa phương có tốc độ phát triển nhanh nhất của Hà Nội Hà Đông
có vị trí chiến lược trong Quy hoạch phát triển thủ đô Hà Nội Hà Đông sẽ trở thành một trong những trung tâm thành phố của Hà Nội trong nay mai Hiện nay, trung tâm giao thương mua bán chính của Quận Hà Đông là chợ Hà
Đông Đây cũng là một chợ truyền thống Và không nằm ngoài quỹ đạo của các chợ truyền thống khác, các hộ ở chợ Hà Đông cũng đang gặp nhiều khó khăn trong kinh doanh
Xuất phát từ lý do trên đây, tác giả đó chọn đề tài: “ Nghiên cứu giải
pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của các hộ tại chợ Hà Đông ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng tình hình kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của các hộ tại chợ Hà Đông thời gian qua đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các hộ kinh doanh trên địa bàn nghiên cứu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hoá những cơ sở lý luận, thực tiễn liên quan đến hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh của các hộ kinh doanh trong chợ Hà Đông;
- Đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh trong chợ Hà Đông trong thời gian tới
Trang 141.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Sự hình thành và phát triển kinh doanh của các hộ kinh doanh trong chợ Hà Đông như thế nào?
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh trong chợ như thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh trong chợ Hà Đông?
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Về không gian
Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn chợ Hà Đông - quận Hà Đông
– thành phố Hà Nội
1.4.2 Về thời gian nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trong năm 2013, do đó số liệu phản ánh trong luận văn sẽ chủ yếu tập trung vào khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm
2013 để thấy rõ những thuận lợi, khó khăn hiện tại, tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh ở chợ Hà Đông trong thời gian tới
1.4.3 Về nội dung
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung chủ yếu sau:
- Thực trạng tình hình kinh doanh của các hộ kinh doanh trong chợ Hà
Đông, những khó khăn, tồn tại mà các hộ kinh doanh đã gặp phải trong thời gian qua
- Thực trạng hiệu quả kinh doanh của các hộ kinh doanh năm 2012
kinh doanh
1.5 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng về nội dung nghiên cứu là hiệu quả hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh cố định trên địa bàn chợ Hà Đông
- Đối tượng thu thập thông tin: Hộ kinh doanh cố định, khách hàng mua hàng hoá ở chợ Hà Đông, Ban quản lý chợ
Trang 15Thống kê Liên hợp quốc cũng có khái niệm về hộ: “Hộ gồm những người sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung, làm chung và có cùng chung một ngân quỹ” [2]
Các học gỉa lý thuyết phát triển cho rằng “Hộ là một hệ thống các nguồn lực tạo thành một nhóm các chế độ kinh tế riêng nhưng lại có mối quan
hệ chặt chẽ và phục vụ hệ thống kinh tế lớn hơn”
Nhóm “hệ thống thế giới”(các đại biểu Wallertan(1982), Wood (1981,
1982), Smith(1985), Martin và Bell Hel (1987) cho rằng “Hộ là một nhóm người có cùng chung sở hữu, chung quyền lợi trong cùng một hoàn cảnh Hộ
là một đơn vị kinh tế giống như các xí nghiệp khác” [2]
Từ những khái niệm trên chúng ta có thể khái quát như sau:
Hộ là những tập hợp người chủ yếu có quan hệ huyết thống và hôn nhân, cùng sinh sống và lao động sản xuất, bên cạnh đó cũng có một số ít thành viên khác tự nguyện và được gia đình cho sống cùng
Hộ nhất thiết phải là một đơn vị kinh tế tự chủ, có nguồn lao động và phân công lao động chung, có vốn, kế hoạch sản xuất kinh doanh chung, có ngân quỹ chung và chi tiêu được thỏa thuận có tính chất gia đình Hộ không phải là một thành phần đồng nhất mà hộ có thể thuộc các thành phần kinh tế cá thể, tư nhân và nhà nước
Trang 16Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dù có chung huyết thống nhưng gia đình có thể là nhiều hộ cùng chung sống trong một mái nhà, và các hộ độc lập nhau về sinh sống và ngân sách
Hộ không chỉ là đơn vị kinh tế mà còn là một đơn vị cơ bản của xã hội, các thành viên trong hộ có quan hệ mật thiết với nhau Hộ có khả năng tái sản
xuất sức lao động Hộ vừa sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đồng thời là nơi tiêu dùng sản phẩm và các hàng hóa khác của xã hội
Gia đình và Hộ là hai khái niệm khác biệt Một hộ có thể chỉ bao gồm một cá nhân hay nhiều thành viên có hoặc không có quan hệ huyết thống với nhau Hộ có thể là một gia đình mở rộng hay một đại gia đình Ngược lại, một gia đình có thể trải rộng trong nhiều hộ Thông thường gia đình và hộ trùng tên nhau, tạo thành tên gọi “hộ gia đình”
b.Kinh doanh
Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm kinh doanh
ở góc độ pháp lý thì kinh doanh được hiểu là: “Việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [18]
Trong một số trường hợp, hoạt động kinh doanh được hiểu như hoạt
động thương mại : “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”
Có thể hiểu một cách ngắn gọn, kinh doanh là các hoạt động nhằm mục
tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường [15]
Như vậy,kinh doanh phải gắn với thị trường, thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng Và kinh doanh phải do một chủ thể thực hiện
được gọi là chủ thể kinh doanh (có thể là các tư nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp…)
Trang 17Mục đích chủ yếu của kinh doanh phải là sự sinh lợi, sự sinh lợi hợp pháp được Nhà nước bảo hộ và thị trường hiện chấp nhận công khai Còn sự sinh lợi bất hợp pháp bị Nhà nước nghiêm cấm và chỉ có thể tồn tại trong phạm vi thị trường ngầm
c.Hộ kinh doanh
Trên thế giới,cá nhân kinh doanh được gọi là thương nhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể Còn về mặt học thuật, người ta gọi là thương nhân thể nhân để phân biệt với các công ty, thường được gọi là thương nhân pháp nhân Nhưng ở Việt Nam sự hình thành các thương nhân đơn lẻ có sự khác biệt
Thời kỳ trước khi bị Pháp xâm lược, với chính sách bế quan tỏa cảng và
bị ảnh hưởng bởi Khổng giáo cũng như chế độ gia đình thời đó, thương mại không phát triển được Hộ gia đình khi đó là thành phần lấn át Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, với chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất, các loại hình kinh doanh mới nhen nhúm đã vụt tắt, chỉ còn lại một số hộ kinh doanh nhỏ lẻ ở một số nghành nghề liên quan đến tiêu dùng hoặc những thành phần đang trong quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa Phải đến khi đường lối đổi mới được thực thi với sự nỗ lực chủ quan của nhà nước, các loại hình kinh doanh dần được hồi sinh Chính vì vậy các thương nhân ở Việt Nam(thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân) mang đậm dấu tích của sự nỗ lực chủ quan của Nhà nước, phần nào đó khác với thương nhân của các nước có truyền thống kinh tế thị trường chỉ bị nhà nước kiểm soát Trải qua một thời gian dài với rất nhiều vấn đề nan giải của nền kinh tế, nhân dân túng thiếu, đói kém, Đảng đã phân tích nguyên nhân và xây dựng đường lối chính sách để khắc phục Đại hội VI của Đảng có thể được coi là mốc lịch sử quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam Đại hội đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Với những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần
Trang 18kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất
Để đáp ứng nhu cầu bức bách của toàn xã hội, sau Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành Trương ương Đảng khóa VI,Hội đồng Bộ trưởng đó ra Nghị định số 27-HĐBT về chính sách đối với kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp, xây dựng, vận tải Theo bản qui
định kèm theo Nghị định 27-HĐBT, các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh
được xem là các đơn vị kinh tế tự quản có tư liệu sản xuất và các vốn khác, tự quyết định mọi vấn đề sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về thu nhập,
lỗ lãi Các đơn vị kinh tế này được tổ chức theo những hình thức: (1)Hộ cá thể;(2) Hộ tiểu công nghiệp;(3) xí nghiệp tư doanh Từ các hình thức này dần tiến tới hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân và các công ti ngày nay ở Việt Nam Theo Bản qui định này, hộ cá thể có thể hiểu chính là cá nhân kinh doanh hay thương nhân thể nhân tiến hành hoạt động kinh doanh cho chính mình Ngày nay, dấu ấn gia đình Việt Nam và dấu ấn quan niệm về các thành phần kinh tế trong cơ chế cũ vẫn còn, người ta vẫn gọi cá nhân kinh doanh là
“hộ kinh doanh” [29]
Đến nay, luật pháp Việt Nam quy định về hộ gia đình như sau: Tại điều
49 Nghị định 43/2010/NĐ-CP quy định, hộ kinh doanh là một chủ thể kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một
hộ gia đỡnh làm chủ, được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh [11]
Theo quy định này, chúng ta thấy hộ kinh doanh là khái niệm chung cho những cơ sở do một cá nhân là công dân Việt Nam làm chủ và những cơ
sở do hộ gia đình làm chủ nhưng với quy mô và doanh thu chưa đủ để được coi là doanh nghiệp, đồng thời chỉ đăng ký kinh doanh tại một địa điểm Ngoài ra, một nhóm người cũng có thể hợp tác kinh doanh dưới hình thức này Như vậy có thể thấy hộ kinh doanh là một chủ thể hợp pháp tham gia vào các
Trang 192.1.1.2 Đặc điểm kinh doanh của hộ kinh doanh
*Là loại hình kinh doanh nhỏ,thuộc sở hữu tư nhân:
Xét về cơ cấu chủ sở hữu, hộ kinh doanh được chia làm ba loại là: hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ sở hữu, hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân làm chủ sở hữu và hộ kinh doanh do một gia đình làm chủ sở hữu
Hộ kinh doanh do một cá nhân duy nhất làm chủ sở hữu có bản chất là một cá nhân kinh doanh Cá nhân này có quyền quyết định các vấn đề tổ chức hoạt động và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của hộ
Hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân đầu tư vốn có tư cách pháp lý của một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên về pháp lý giữa nhóm kinh doanh và các thành viên của nhóm không có sự tách bạch về tài sản
Hộ kinh doanh do một gia đình làm chủ sở hữu, khái niệm hộ kinh doanh được sử dụng trong pháp luật Việt Nam có lẽ xuất phát từ sự tham gia
đầu tư của đông đảo các hộ gia đình vào hình thức tổ chức kinh doanh này Hộ gia đình là loại chủ thể pháp luật không thường gặp trong pháp luật các nước, nhưng lại được công nhận bởi pháp luật Việt Nam trong nhiều giao dịch dân
sự, trong đó có quan hệ pháp luật đầu tư kinh doanh Trong hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm, vốn kinh doanh thuộc sở hữu của cả hộ, các thành viên
cử người đại diện cho hộ trong các giao dịch dân sự, thương mại [14]
* Quy mô kinh doanh nhỏ
Đặc điểm này không xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh mà xuất phát từ các quy định của pháp luật Việt Nam căn cứ vào số lượng lao động được sử dụng trong hộ kinh doanh [27] Về mặt pháp lý, quyền tự do kinh doanh của hộ kinh doanh bị hạn chế hơn so với các loại hình doanh nghiệp Sự hạn chế cơ bản phải nhắc đến là quy mô và phạm vi hoạt
động của hộ kinh doanh Nghị định số 88/2006 NĐ-CP ngày 29/8/2006 quy
định hộ kinh doanh chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá 10 lao động và không có con dấu [14]
Trang 20*Công nghệ kinh doanh đơn giản
Với loại hình kinh doanh và quy mô kinh doanh nhỏ, bị hạn chế như vậy, hộ kinh doanh thực chất không được phép mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh Vì vậy công nghệ kinh doanh của hộ kinh doanh chỉ có thể dừng lại ở mức đơn giản
*Lao động thường là thân nhân trong gia đình
Đặc điểm này xuất phát từ bản chất bên trong của hình thức kinh doanh Vì đây là hình thức kinh doanh nhỏ,mang tính chất cá nhân hoặc gia đình là chủ yếu
2.1.1.3 Hiệu quả kinh doanh
a.Hiệu quả kinh doanh:
Trong cơ chế thị trường như hiện nay, mọi tổ chức, doanh nghiệp hoạt
động kinh doanh đều chung một mục tiêu là tối đa hoá lợi nhuận Lợi nhuận là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp Để đạt
được mức lợi nhuận cao, các tổ chức, doanh nghiệp cần phải hợp lí hoá quá trình sản xuất-kinh doanh Mức độ hợp lí hoá của quá trình được phản ánh qua một phạm trù kinh tế cơ bản được gọi là: Hiệu quả kinh doanh
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh Có thể chia các quan điểm thành các nhóm như sau:
Nhóm thứ nhất có quan điểm như sau: Hiệu quả kinh doanh là kết quả thu được trong hoạt động kinh doanh,là doanh thu tiêu thụ hàng hoá
Theo quan điểm này, hiệu quả kinh doanh đồng nhất với kết quả kinh doanh
và với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh Quan điểm này không đề cập đến chi phí kinh doanh, tức là nếu hoạt động kinh doanh tạo ra cùng một kết quả thì có cùng một mức hiệu quả, mặc dù hoạt động kinh doanh đó có hai mức chi phí khác nhau
Nhóm thứ hai có quan điểm như sau: Hiệu quả kinh doanh là quan hệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí
Trang 21Quan điểm này nói lên quan hệ so sánh một cách tương đối giữa kết quả đạt
được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó,nhưng lại chỉ xét đến phần kết quả và chi phí bổ sung
Nhóm thứ ba có quan điểm như sau: Hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó Quan điểm này phản ánh được mối liên hợp bản chất của hiệu quả kinh doanh, vì nó gắn kết quả với chi phí bỏ ra, coi hiệu quả kinh doanh là sự phản ánh trình độ sử dụng các chi phí Tuy nhiên, kết quả và chi phí đều luôn vận động, nên quan diểm này chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí
Nhóm thứ tư có quan điểm như sau: Hiệu quả kinh doanh phải thể hiện
được mối quan hệ giữa sự vận động của chi phí tạo ra kết quả đó,đồng thời phản ánh được trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất
Quan điểm này đã chú ý đến sự so sánh tốc độ vận động của hai yếu tố phản
ánh hiệu quả kinh doanh, đó là tốc độ vận động của kết quả và tốc độ vận
động của chi phí Mối quan hệ này phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sản xuất của tổ chức, doanh nghiệp
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn…) để đạt được mục tiêu xác định
Hiệu quả kinh doanh theo khái niệm rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Như vậy cần phân định sự khác nhau và mối liên hệ giữa
“kết quả” và “hiệu quả”
Bất kì hành động nào trong kinh doanh đều mong muốn đạt được những kết quả hữu ích cụ thể nào đó, kết quả đạt được trong kinh doanh mà cụ thể là trong lĩnh vực sản xuất, phân phối lưu thông mới chỉ đáp ứng được phần nào tiêu dùng của cá nhân và xã hội Tuy nhiên,kết quả đó được tạo ra ở mức độ nào, với giá nào là vấn đề cần xem xét vì nó phản ánh chất lượng của hoạt
Trang 22động tạo ra kết quả Mặt khác nhu cầu tiêu dùng của con người bao giờ cũng
có xu hướng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm được nhiều nhất Vì vậy nên khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là đánh giá chất lượng của hoạt động kinh doanh tạo ra kết quả mà nó có được
Như vậy, hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh : So sánh giữa
đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương quan cả về lượng và chất trong quá trình kinh doanh
để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng…
Tóm lại, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các yếu tố sản xuất nói riêng,trình đọ tổ chức và quản lí nói chung để
đáp ứng các nhu cầu xã hội và đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác
định Hiệu quả kinh doanh biểu thị mối tương quan giữa kết quả mà doanh nghiệp đạt được với các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được kết quả đó
và mối quan hệ giữa sự vận động của kết quả với sự vận động của chi phí tạo
ra kết quả đó trong những điều kiện nhất định [17]
b Bản chất của hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt
động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất ( lao
động, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, tiền vốn ) trong quá trình tiến hành
các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả
kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động sản xuất. Đây là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh doanh
Để đạt được mục tiêu kinh doanh,các doanh nghiệp buộc phải chú trọng các
điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu lực của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí
Trang 23c Đặc điểm của phạm trù hiệu quả kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù phức tạp và khó đánh giá Sở dĩ như vậy vì ở khái niệm này cho ta thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh được xác
định bởi mối tương quan giữa hai đại lượng là kết quả đàu ra và chi phí bỏ ra
để có được kết quả đó mà hai đại lượng này đều khó xác định
Về kết quả, chúng ta ít xác định được chính xác kết quả mà doanh nghiệp thu được Ví dụ như kết quả thu được của hoạt động kinh doanh chịu
ảnh hưởng của thước đo giá trị đồng tiền- với những thay đổi trên thị trường của nó
Về chi phí cũng vậy, việc xác định đại lượng này không dễ dàng Vì chi phí cũng chịu ảnh hưởng của đồng tiền, hơn thế nữa có thể một chi phí bỏ ra nhưng nó liên quan đến nhiều quá trình trong hoạt động kinh doanh thì việc
bổ xung chi phí cho từng đối tượng chỉ là tương đối, và có khi không phải là chi phí trực tiếp mang lại kết quả cho doanh nghiệp mà còn rất nhiều chi phí gián tiếp như: giáo dục, cải tạo môi trường, sức khoẻ…có tác động không nhỏ
đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, các chi phí đó rất khó tính toán trong quá trình xem xét hiệu quả kinh tế
d Phân loại hiệu quả kinh doanh
Trong công tác quản lý, phạm trù hiệu quả kinh doanh được biểu hịên dưới các dạng khác nhau Mỗi dạng có những đặc trưng và ý nghĩa cụ thể hiệu quả theo hướng nào đó Việc phân chia hiệu quả kinh doanh theo các tiêu thức khác nhau có tác dụng thiết thực cho công tác quản lý kinh doanh Nó là cơ sở
để xác định các chỉ tiêu và định mức hiệu quả kinh doanh để từ đó có biện pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
+) Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân
Hiệu quả tài chính còn gọi là hiệu quả sản xuất kinh doanh hay hiệu quả doanh nghiệp là hiệu quả xem xét trong phạm vi doanh nghiệp Hiệu quả tài chính phản ảnh mối quan hệ lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp nhận được và chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ để có được lợi ích kinh tế đó Hiệu quả tài
Trang 24chính là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, các nhà đầu tư Biểu hiện chung của hiệu quả doanh nghiệp là lợi nhuận mà mỗi doanh nghiệp đạt
được Tiêu chuẩn cơ bản của hiệu quả này là lợi nhuận cao nhất và ổn định
Hiệu quả kinh tế quốc dân hay còn gọi là hiệu quả kinh tế xã hội tổng hợp xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế Hiệu quả kinh tế quốc dân mà doanh nghiệp mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của doanh nghiệp vào phát ytiển xã hội, tích luỹ ngoại tệ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người lao động…
Hiệu quả tài chính là mối quan tâm của các doanh nghiệp hoặc các nhà
đầu tư Hiệu quả kinh tế quốc dân là mối quan tâm của toàn xã hội mà đại diện là nhà nước Hiệu quả tài chính được xem xét theo quan điểm của doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế quốc dân xem xét theo quan điểm toàn xã hội Quan
hệ giữa hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân là mối quan hệ giữa lợi ích bộ phận và lợi ích tổng thể, giữa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và toàn xã hội Đó là quan hệ thống nhất có mâu thuẫn Trong quản lý kinh doanh, không những cần tính hiệu quả tài chính doanh nghiệp mà còn phải tính đến hiệu quả kinh tế xã hội của doanh nghiệp đem lại cho nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp trong nền kinh tế Các doanh nghiệp phải quan tâm
đến hiệu quả kinh tế xã hội đó chính là tiền đề cho doanh nghiệp kinh doanh
có hiệu quả Để doanh nghiệp quan tâm đến hiệu quả kinh tế xã hội, nhà nước phải có chính sách đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích xã hội với lợi ích doanh nghiệp và lợi ích cá nhân
+) Hiệu quả chi phí xã hội
Hoạt động của bất kì doanh nghiệp nào cũng gắn với môi trường và thị trường kinh doanh của nó Doanh nghiệp nào cũng căn cứ vào thị trường để giải quyết các vấn đề then chốt: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai?
Trang 25Mỗi doanh nghiệp đều tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình trong điều kiện cụ thể về tài nguyên, trình độ trang thiết bị kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý lao động quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường sản phẩm với chi phí cá biệt nhất định và người nào cũng muốn tiêu thụ hàng hoá của mình với giá cao nhất Tuy vậy khi đưa hàng hoá của mình ra thị trường,
họ chỉ có thể bán sản phẩm của mình theo giá thị trường nếu chất lượng sản phẩm của họ là tương đương Bởi vì thị trường chỉ chấp nhận mức hao phí xã hội cần thiết trung bình để sản xuất ra một đơn vị hàng hoá Quy luật giá trị
đặt tất cả các doanh nghiệp với một mức chi phí khác nhau trên cùng một mặt bằng trao đổi, thông qua mức giá cả thị trường
Suy cho cùng, chi phí bỏ ra là chi phí xã hội, nhưng tại mỗi doanh nghiệp chúng ta cần đánh giá hiệu quả kinh doanh, thì hao phí lao động xã hội thể hiện dưới dạng cụ thể:
- Giá thành sản xuất
- Chi phí sản xuất
Bản thân mỗi loại chi phí lại được phân chia chi tiết hơn Đánh giá hiệu quả kinh doanh không thể không đánh giá tổng hợp các chi phí trên đây, và cần thiét đánh giá hiệu quả của từng loại chi phí
+) Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối là hai hình thức biểu hiện mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Trong đó hiệu quả tuyệt đối được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí Hiệu quả tương đối được đo bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí
Trong công tác quản lý kinh doanh việc xác định hiệu quả nhằm mục tiêu cơ bản:
- Để thể hiện và đánh giá trình độ sử dụng các nguồn lực trong hoạt
động kinh doanh
- Phân tích luận chứng kinh tế của các phương án khác nhau trong việc thực hiện một nhiệm vụ cụ thể nào đó đẻ lựa chọn phương án tối ưu nhất
Trang 26Người ta xác định hiệu quả tuyệt đối khi phải bỏ chi phí ra để thực hiện một phương án quyết định nào đó Để biết rõ chi phí bỏ ra sẽ thu được bao nhiêu lợi ích cụ thể và mục tiêu cụ thể là gì, từ đó quyết định bỏ tiền ra thực hiện phương án hay quyết định kinh doanh phương án đó không Vì vậy trong công tác quản lý kinh doanh, bất cứ việc đòi hỏi chi phí, dù một phương án lớn hay một phương án nhỏ đều cần phải tính hiệu quả tuyệt đối
+) Hiệu quả trước mắt và lâu dài
Căn cứ vào lợi ích nhận được trong các khoảng thời gian dài hay ngắn
mà người ta đưa ra xem xét đánh giá hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài Lợi ích trong hiệu quả trước mắt là hiệu quả xem xét trong thời gian ngắn Hiệu quả lâu dài là hiệu quả được xem xét đánh giá trong một khoảng thời gian dài Doanh nghiệp cần phải xem xét thực hiện các hoạt động kinh doanh sao cho nó mang lại lợi ích trước mắt cũng như lâu dài cho doanh nghiệp Phải kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, không được chỉ vì lợi ích trước mắt mà làm thiệt hại đến lợi ích lâu dài của doanh nghiệp
e Vai trò của nâng cao hiệu quả kinh doanh đối với doanh nghiệp
+) Hiệu quả kinh doanh là mục tiêu của kinh doanh
Mục tiêu bao trùm và lâu dài của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, tối ưu hoá lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực sẵn có Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Trong đó hiệu quả kinh doanh là một trong những mục đích mà là nhà quản lý kinh tế kinh doanh muốn vươn tới và đạt tới Việc xem xét, đánh giá tính toán hiệu quả kinh doanh không chỉ cho biết sử dụng các nguồn lực vào các hoạt động kinh doanh ở mức độ nào mà còn cho phép nhà quản trị phân tích tìm ra các nhân
tố để đưa ra các biện pháp quản trị kinh doanh thích hợp trên cả hai phương diện : tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Bản chất của hiệu quả kinh doanh chỉ rõ trình độ sử dụng nguồn lực vào kinh doanh: trình độ sử dụng nguồn lực kinh doanh càng cao, các doanh
Trang 27hoặc tốc độ tăng của kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng của việc sử dụng nguồn lực đầu vào Do đó trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc so sánh đánh giá phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất, đưa ra phương pháp đúng
đắn nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Như vậy, hiệu quả kinh doanh không những là mục tiêu, mục đích của các nhà kinh tế, kinh doanh mà còn là một phạm trù để phân tích đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào nói trên
+) Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh
Kinh doanh cái gì? Kinh doanh như thế nào? Kinh doanh cho ai? Chi phí bao nhiêu? Câu hỏi này sẽ không thành vấn đề nếu nguồn lực đầu vào của sản xuất kinh doanh là không hạn chế, người ta sẽ không cần nghĩ tới vấn đề
sử dụng tiết kiệm và hiệu quả các nguồn đầu vào…nếu nguồn lực là vô tận Nhưng nguồn lực kinh doanh là hữu hạn Trong khi đó phạm trù nhu cầu của con người là phạm trù vô hạn: không có giới hạn của sự phát triển các nhu cầu – hàng hoá, dịch vụ cung cấp cho con người càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng càng cao càng tốt Do vậy của cải càng khan hiếm lại càng khan hiếm hơn theo cả nghĩa tuyệt đối và nghĩa tương đối của nó Khan hiếm nguồn lực đòi hỏi bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm càng tăng dẫn đến vấn đề lựa chọn tối ưu ngày càng đặt ra nghiêm túc và gay gắt Thực ra khan hiếm mới chỉ là điều kiện cần để lựa chọn kinh
tế Chúng ta biết rằng, lúc đầu dân cư còn ít mà của cải trên trái đất còn phong phú , chưa bị cạn kiệt vì khai thác và sử dụng: lúc đó con người chủ chú ý phát triển theo chiều rộng Điều kiện đủ cho việc lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triển nhân loại thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp sản xuất kinh doanh Vì vậy cho phép cùng một nguồn lực đầu vào nhất định người ta làm nhiều công việc khác nhau Điều này cho phép các doanh nghiệp
có khả năng lựa chọn kinh tế: lựa chọn kinh tế tối ưu Sự lựa chọn này sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi
Trang 28ích nhất Giai đoạn phát triển theo chiều rộng nhường chỗ cho phát triển theo chiều sâu: sự phát triển theo chiều sâu nhờ vào việc nâng cao của hiệu quả kinh doanh
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh là nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có sẵn của doanh nghiệp để đạt được sự lựa chọn tối ưu Trong
điều kiện khan hiếm nguồn lực thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện sống còn đặt ra đối với doanh nghiệp trong quá trình tiến hành các hoạt
động kinh doanh
Tuy nhiên, sự lựa chọn kinh tế của các doanh nghiệp trong cơ chế kinh
tế khác nhau là không giống nhau: Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, việc lựa chọn kinh tế thường không đặt ra cho mọi cấp xí nghiệp mọi quyết định kinh tế sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? đều
được giải quyết ở trung tâm duy nhất Các đơn vị kinh doanh cơ sở tiến hành các hoạt động của mình theo sự chỉ đạo từ một trung tâm Vì vậy mục tiêu cao nhất của các đơn vị này là hoàn thành kế hoạch nhà nước giao Do hạn chế nhất định của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, cho nên không những các đơn vị kinh tế cơ sở ít quan tâm đến hiệu quả kinh tế của mình mà trong nhiều trường hợp các đơn vị kinh tế hoàn thành kế hoạch bằng mọi giá
Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó có những doanh nghiệp vẫn đứng vững và phát triển, bên cạnh đó không ít doanh nghiệp bị thua lỗ, giải thể, phá sản Để
đứng vững trên thị trường các doanh nghiệp luôn phải chú ý tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nâng cao uy tín…của doanh nghiệp trên thị trường nhằm tối đa hoá lợi nhuận Các doanh nghiệp thu được lợi nhuận càng cao càng tốt Như vậy, để đạt được hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp và trở thành vấn đề sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển
Trang 292.1.1.4 Kết quả và hiệu quả kinh doanh của các hộ kinh doanh:
* Kết quả kinh doanh
Kết quả kinh doanh được biểu hiện bằng tiền chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của các hoạt động kinh tế đã được thực hiện Kết quả kinh doanh là lãi nếu doanh thu lớn hơn chi phí hoặc lỗ nếu doanh thu nhỏ hơn chi phí
Các chỉ tiêu:
-Số lượng hàng hóa
-Số lượng hàng hóa bán ra
-Giá trị hàng hóa bán được
-Doanh thu = Số lượng hàng hóa bán ra x Giá bán
-Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
-Tỷ lệ hàng hóa tiêu thụ = Số lượng hàng hóa tiêu thụ/Số lượng hàng hóa
*Hiệu quả kinh doanh
Từ các quan điểm về hiệu quả king doanh ở phần trước, có thể mô tả hiệu quả kinh doanh bằng các công thức chung nhất sau đây:
C: Hao phí nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đó
2.1.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh
Hiệu quả kinh doanh của các hộ kinh doanh phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của
hộ kinh doanh để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận
Muốn đạt hiệu quả kinh doanh, các hộ kinh doanh không chỉ có những biện pháp sử dụng nguồn lực bên trong hiệu quả mà còn phải thường xuyên
Trang 30phân tích sự biến động của môi trường kinh doanh, qua đó phát hiện và tìm kiếm cơ hội trong kinh doanh của mình Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh thường là:
+) Quan tâm tới đội ngũ lao động tham gia kinh doanh
+) Nâng cao hiệu quả huy động và sử dụng vốn của hộ kinh doanh +) Nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh của hộ kinh doanh
+) Xây dựng hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
+) Vận dụng khoa học kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào kinh doanh +) Nắm bắt cơ hội và vượt qua thử thách của môi trường bên trong và bên ngoài
Hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh được hiểu là hiệu quả kinh doanh cá biệt Đây là hiệu quả tài chính thu được của từng hộ kinh doanh Biểu hiện trực tiếp của loại hiệu quả này là lợi nhuận thu được của hộ kinh doanh hoặc hộ kinh doanh phải chịu lỗ Nó được tính bằng sự chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra
2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh
2.1.3.1 Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài:
a Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh
*Đối thủ cạnh tranh: Bao gồm các đối thủ cạnh tranh sơ cấp( cùng tiêu thụ các sản phẩm đồng nhất) và các đối thủ cạnh tranh thứ cấp (sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm có khả năng thay thế) Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh của các hộ kinh doanh, đồng thời tạo
ra sự tiến bộ trong kinh doanh, tạo ra động lực phát triển Việc xuất hiện càng nhiều đối thủ cạnh tranh thì hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh sẽ có nguy cơ bị giảm một cách tương đối [10]
* Thị trường: Bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của
hộ kinh doanh Đối với đầu vào: cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu,máy móc thiết bị…cho nên nó tác động trực tiếp đến giá
Trang 31với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của hộ kinh doanh trên cơ sở chấp nhận hàng hoá, dịch vụ của hộ kinh doanh, quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả kinh doanh của
hộ kinh doanh
* Tập quán dân cư và độ thu nhập bình quân dân cư:
Đây là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh
Nó quyết định mức độ chất lượng, số lượng, chủng loại, gam hàng…Hộ kinh doanh cần phải nắm bắt và nghiên cứu làm sao cho phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư Những yếu tố này có tác động gián tiếp lên hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh
* Mối quan hệ và uy tín của hộ kinh doanh trên thị trường:
Đây chính là tiềm lực vô hình của hộ kinh doanh tạo nên sức mạnh của
hộ kinh doanh trong hoạt động kinh doanh của mình,nó tác động rất lớn tới sự thành bại của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh Sự tác động này là sự tác
động phi lượng hoá bởi vì chúng ta không thể tính toán, định lượng được Một hình ảnh, uy tín tốt về hộ kinh doanh liên quan đến hàng hoá, dịch vụ chất lượng sản phẩm, giá cả….là cơ sở tạo ra sự quan tâm của khách hàng đến hộ kinh doanh, tạo cho hộ kinh doanh một ưu thế lớn trong việc tạo nguồn vốn, hay mối quan hệ với bạn hàng… Với mối quan hệ rộng sẽ tạo cho hộ kinh doanhnhiều cơ hội, nhiều đầu mối và từ đó hộ kinh doanh lựa chọn những cơ hội, phương án kinh doanh tốt nhất cho mình
Ngoài ra môi trường kinh doanh còn có các yếu tố khác như hàng hoá thay thế, hàng hoá phụ thuộc doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh…nó tác
động trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh Vì vậy hộ kinh doanh cần phải quan tâm đến nó để có những cách ứng xử với thị trường trong từng thời điểm cụ thể
b.Yếu tố môi trường tự nhiên:
Bao gồm các yếu tố như thời tiết, khí hậu, mùa vụ, vị trí địa lý…
Trang 32* Yếu tố thời tiết,khí hậu,mùa vụ
Các yếu tố này ảnh hưởng rất lớn đến tiến độ kinh daonh của các hộ kinh doanh, đặc biệt là các hộ kinh doanh các mặt hàng mang tính chất mùa
vụ như nông, lâm, thuỷ sản, đồ may mặc, giày dép…Với những điều kiện thời tiết, khí hậu và mùa vụ nhất định thì hộ kinh doanh phải có kế hoạch cụ thể phù hợp với điều kiện đó Như vậy khi các yếu tố này không ổn định sẽ làm cho kế hoạch kinh doanh của hộ kinh doanh không ổn định và là yếu tố đầu tiên làm mất ổn định hoạt động kinh doanh, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh
* Yếu tố vị trí địa lý
Yêú tố này tác động đến hiệu quả kinh doanh thông qua sự tác động lên các chi phí tương ứng trong các hoạt động có liên quan như giao dịch, vận chuyển…
c Môi trường chính trị -pháp luật
Các yếu tố thuộc môi trường chính trị- pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh Sự ổn định chính trị được xác
định là một trong những tiền đề quan trọng cho hoạt động kinh doanh Môi trường này tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh cuả hộ kinh doanh Vì môi trường pháp luật ảnh hưởng đến mặt hàng sản xuất,nghành nghề,phương thức kinh doanh…Không những thế nó còn tác động đến chi phí của hộ kinh doanh như chi phí lưu thông, chi phí vận chuyển, mức độ về thuế…
Tóm lại môi trường chính trị- luật pháp có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả kinh doanh thông qua hệ thống công cụ luật pháp, công cụ vĩ mô…
Trang 33để phát triển sản xuất, tăng tốc độ tiêu thụ sản phẩm, tăng doanh thu, giảm chi phí kinh doanh, do đó nâng cao hiệu quả kinh doanh Ngược lại, ở nhiều vùng nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo có cơ sở hạ tầng yếu kém, không thuận lợi cho mọi hoạt động như vận chuyển, mua bán hàng hoá, các hộ kinh doanh hoạt động với hiệu quả kinh doanh không cao
Trình độ dân trí tác động rất lớn đến chất lượng của lực lượng lao động xã hội nên tác động trực tiếp đến nguồn nhân lực của mỗi hộ kinh doanh Chất lượng của đội ngũ lao động lại là yếu tố bên trong ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh [10]
Như vậy, sự thay đổi công nghệ bao gồm cả sáng tạo và huỷ diệt, cả cơ hội và thách thức Những công nghệ mới ra đời làm biến đổi tận rễ những công nghệ truyền thống, tạo ra khả năng thay thế triệt để các hàng hoá truyền thống [24]
e.Khả năng tổ chức và quản lý của Ban quản lý chợ
Quản lý là hoạt động tất yếu nảy sinh khi có sự tham gia hoạt động chung của con người, vì vậy nó là hoạt động mang tính phổ quát Hoạt động quản lý tồn tại như một tất yếu ở mọi loại hình tổ chức khác nhau, trong đó có
tổ chức kinh tế
Quản lý đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và phát triển
tổ chức ở mọi cấp độ, mọi loại hình [31]
Môi trường kinh doanh ở các chợ luôn phức tạp Chính vì vậy, vai trò quản lý của Ban quản lý chợ rất quan trọng Khả năng tổ chức và quản lý của
Trang 34Ban quản lý chợ có ảnh hưởng không nhỏ đến kinh doanh của các hộ kinh doanh tại chợ Việc quản lý tốt sẽ là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc kinh doanh của các hộ kinh doanh
2.1.3.2 Các yếu tố bên trong
a Yếu tố vốn
Đây là yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của hộ kinh doanh thông qua khối lượng (nguồn) vốn mà hộ kinh doanh có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối, đầu tư có hiệu quả các nguồn vốn, khả năng quản
lý có hiệu quả các nguồn vốn kinh doanh Đồng thời cũng là sự đánh giá về hiệu quả kinh doanh của hộ kinh doanh
b Yếu tố con người
Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh Sức khoẻ, học vấn,… của người tham gia kinh doanh ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh
2.1.4 Chuẩn hoá một số khái niệm dùng trong nghiên cứu:
2.1.4.1 Hoạt động mua hàng
Mua hàng là một hoạt động nghiệp vụ cơ bản của các đơn vị kinh doanh nhằm tạo ra nguồn hàng hoá để đảm bảo cung ứng đầy đủ kịp thời, đúng quy cách chủng loại cho các nhu cầu của khách hàng
Xuất phát từ nhu cầu hàng hoá trên thị trường, các đơn vị kinh doanh nghiên cứu nguồn hàng, khả năng cung ứng từ các nhà cung cấp, đàm phán về giá cả, số lượng, chất lượng, thời gian, giao hàng, thanh toán,…để đi đến ký kết hợp đồng mua bán
* Mua hàng có vai trò hết sức quan trọng:
- Quan hệ giữa mua hàng và bán hàng trong doanh nghiệp:
+ Trong doanh nghiệp, bán hàng là chức năng chủ yếu, nó có vai trò chi phối các hoạt động chức năng và nghiệp vụ khác Các hoạt động chức năng khác như marketing, tài chính, mua hàng,…là những hoạt động cho việc bán hàng
Trang 35+ Mua hàng là nghiệp vụ tạo ra các yếu tố đầu vào một cách đầy đủ,
đồng bộ, kịp thời, phù hợp với nhu cầu của khách hàng, với kế hoạch bán ra của đơn vị kinh doanh với một chi phí thấp nhất
- Mua hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
+ Đóng góp vào việc nâng cao tỷ suất lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nếu không mua được hàng hoặc hàng không đáp ứng yêu cầu kinh doanh thì doanh nghiệp không bán được hàng hoặc không có hàng để bán do đó không thực hiện được doanh thu, không thu được lợi nhuận, bỏ lỡ cơ hội kinh doanh Ngược lại, khi mua hàng đáp ứng được yêu cầu thì giúp cho hoạt động kinh doanh tiến hành thuận lợi, kịp thời, đẩy nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hoá, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp bán hàng nhanh và nâng cao uy tín với khách hàng, làm cho việc cung ứng hàng diễn ra một cách liên tục, ổn định, tránh đứt
đoạn và do đó giảm chi phí, tăng lợi nhuận; doanh nghiệp có thể thu hồi vốn nhanh, tăng thu nhập cho người lao động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nhà nước
+ Mua hàng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý dự trữ
+ Mua hàng góp phần vào sự cân bằng dòng tiền của doanh nghiệp, cụ thể giúp doanh nghiệp huy động được các nguồn tín dụng của nhà cung cấp
* Một số quy tắc đảm bảo việc mua hàng có hiệu quả:
+ Nên mua hàng của nhiều nhà cung cấp Doanh nghiệp nên lựa chọn cho mình một số nhà cung cấp nhất định Việc đó nhằm để tránh rủi ro trong kinh doanh và tránh tình trạng thua thiệt trong đối tác như ép giá, ép nhận các
điều kiện bất lợi khi mua hàng và giao nhận
+ Luôn giữ thế chủ động trước các nhà cung cấp Điều này nhằm giúp doanh nghiệp có uy lực nhất định trong mua hàng, để từ đó có thể đạt được những mục tiêu mong muốn khi thoả thuận, đặt hàng Và cũng giúp cho doanh nghiệp giành quyền lợi, quyền tự do trong khi mua hàng, tránh cho doanh nghiệp khỏi bị thiệt thòi trong quá trình mua hàng
Trang 36+ Đảm bảo sự hợp lý trong tương quan quyền lợi giữa người mua và ngưòi bán Đây không chỉ là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp và nhà cung cấp gặp được nhau và cùng nhau thực hiện hợp đồng, tạo chữ “tín” trong quan
hệ làm ăn lâu dài, mà còn giúp cho doanh nghiệp sự tỉnh táo, sáng suốt trong
đàm phán, tránh những điều đáng tiếc có thể xảy ra Từ đó hạn chế thấp nhất rủi ro có thể xảy ra khi mua hàng, nhận hàng
2.1.4.2 Tổ chức dự trữ và bảo quản hàng hoá
Dự trữ hàng hoá trong doanh nghiệp là toàn bộ hàng hoá được tích luỹ lại chờ đợi sử dụng về sau nhằm đảm bảo cung cấp dần theo số lượng và thời gian mong muốn cho nhu cầu của doanh nghiệp Nó được hạch toán từ khi hàng đang đi đường, hàng nhập về kho, trạm, cửa hàng đến khi hàng được bán cho khách hàng Tất cả các loại hàng hoá dự trữ là tài sản của doanh nghiệp là biểu hiện dưới hình thái vật chất của vốn hàng hoá - một bộ phận vốn lưu
động rất lớn của doanh nghiệp thương mại
Dự trữ hàng hoá ở doanh nghiệp là lực lượng vật chất chủ yếu để đáp ứng nhu cầu đầy đủ, đồng bộ, liên tục của khách hàng; nhờ vào lực lượng dữ trữ đầy đủ, các doanh nghiệp thương mại có thể giữ vai trò chủ đạo trong việc chiếm lĩnh và làm chủ thị trường
Nếu dự trữ được duy trì hợp lý có thể tăng nhanh vòng quay hàng hoá,
sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh, tiết kiệm chi phí khấu hao, chi phí bảo
vệ và duy trì hàng hoá nâng cao hiệu quả kinh doanh
Dự trữ hàng hoá được coi là một phương tiện quan trọng để tăng cường sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Tóm lại, dự trữ hàng hoá trong doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả kinh doanh và quyết định sự thành công của doanh nghiệp trong tham gia điều tiết thị trường của nền kinh tế quốc dân
Dự trữ hàng hoá thì luôn luôn đi kèm với việc bảo quản hàng hoá vì bất
cứ một loại hàng hoá nào không được bảo quản đúng cách rất dễ bị hư hỏng
Trang 37Do vậy, bảo quản hàng hoá là một công việc tất yếu khi hàng hoá chưa được tiêu dùng
2.1.4.3 Hoạt động bán hàng
Bán hàng là nền tảng trong kinh doanh, đó là sự gặp gỡ giữa người mua
và người bán ở những nơi khác nhau giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu nếu cuộc gặp gỡ thành công trong đàm phán về việc trao đổi sản phẩm
Có nhiều hình thức bán hàng khác nhau, như bán lẻ, bán buôn ….Bán
lẻ là hình thức kinh doanh mà các đơn vị kinh doanh bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng để thoả mãn nhu cầu cá nhân và nhu cầu tập thể, đây cũng là hình thức bán hàng phổ biến nhất
Bán hàng có vai trò vô cùng quan trọng trong kinh doanh và xã hội vì: + Bán hàng giúp cho hàng hoá được lưu chuyển từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng Từ đó giúp cho nền sản xuất không bị đình trệ, nền kinh tế không bị suy thoái, xã hội có thể phát triển
+ Bán hàng đóng vai trò lưu thông tiền tệ trong guồng máy kinh tế + Bán hàng giúp cho luân chuyển hàng hoá từ nơi dư thừa sang nơi có nhu cầu Do đó bán hàng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc cân bằng nhu cầu xã hội
+ Bán hàng mang về lợi ích cho cả người bán và người mua Đối với người mua, lợi ích của họ là có được sản phẩm Còn với người bán, đó là lợi nhuận từ kinh doanh
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm từ các nước trên thế giới
Một vài nét về thị trường bán lẻ thế giới, trong năm 2012, mặc dù kinh
tế chưa khởi sắc, thị trường bán lẻ thế giới vẫn có xu hướng phát triển, đặc biệt
là các nước châu Mỹ La Tinh(Brazil dẫn đầu, Chile giữ vị trí số hai, Uruguay
vị trí thứ tư- theo xếp hạng Top 30 quốc gia có thị trường bán lẻ hấp dẫn do A.T Kearney xếp hạng).[19]
Trang 38Dù nền kinh tế thế giới vẫn còn khó khăn,các doanh nghiệp bán lẻ vẫn tiếp tục phát triển và mở rộng thị trường, châu á là điểm đến đang được các doanh nghiệp phân phối hàng đầu trên thế giới chú ý đầu tư Trong những năm tới, các ngành hàng phục vụ đời sống hàng ngày như thực phẩm, đồ uống, hàng may mặc có xu hướng phát triển mạnh Năm 2010, bán lẻ thực phẩm châu á khoảng 3.500 tỉ USD, dự báo đến 2015 lên trên 5.500 tỉ USD [H] Trong top 10 công ty bán lẻ hàng đầu thế giới, có đến một nửa công ty gốc từ
Mỹ, chủ yếu kinh doanh sản phẩm tổng hợp [38]
ở Mỹ, việc mua sắm của người dân chiếm tới 70% trong tổng các hoạt
động kinh tế.(dẫn theo [8]) Phần lớn thị phần của hệ thống bán lẻ ở Mỹ thuộc
về các công ty bán lẻ với quy mô lớn như Wal-Mart Stores.Inc, The Kroger Co., Costo Wholesale Corporation, Sam club Thị phần còn lại là của các siêu thị thông thường(hay còn gọi là các siêu thị truyền thống), các siêu thị giảm giá, các cửa hàng Dollar Store,các cửa hàng tạp hoá nhỏ lẻ, các cửa hàng tiện lợi (dẫn theo [20], [36])
Thói quen mua sắm của người dân Mỹ đã thay đổi, siêu thị không còn là lựa chọn tối ưu nữa, thay vào đó họ mua hàng ở các hệ thống bán lẻ lớn như Costo, Wal-Mart…hoặc mua ở các cửa hàng Dollar Store, các cửa hàng tiện lợi… Năm 2011, siêu thị ở Mỹ chỉ bán được 51% so với tổng hàng tạp hoá của cả nước, giảm so với 66% ở năm 2000 [1] Ngoài ra cũng có những dự đoán rằng việc mua hàng qua mạng sẽ tiếp tục được người dân Mỹ ưa chuộng Người dân Mỹ đang mua sản phẩm và dịch vụ rất nhiều thông qua Internet Bán hàng trực tuyến chiếm hơn 1 phần 10 của tất cả doanh số bán lẻ 57% người Mỹ đã mua ít nhất một mặt hàng gì đó thông qua mạng điện tử [3]
ở Nga, năm 2011, ngành bán lẻ đã tăng trưởng trở lại với tổng doanh
thu là 654 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2010 về giá (theo Rosstat) Trong đó,
88% doanh thu bán lẻ là từ các đại siêu thị, siêu thị và cửa hàng giảm giá Các khu chợ ngoài trời và các cửa hàng theo phong cách thời Xô-viết cũ đang dần
Trang 39bị thu hẹp và mất dần thị phần cho các loại hình bán lẻ hiện đại Doanh thu của các khu chợ ngoài trời năm 2011 giảm 2,2%, chiếm khoảng 12% tổng doanh thu bán lẻ tại Nga (dẫn theo [23])
Trung Quốc được đánh giá là thị trường bán lẻ lớn và phát triển nhất hiện nay Doanh số bán lẻ ở Trung Quốc là 1.000 tỉ USD/năm và hàng năm tăng 18% [32] Thống kê đến năm 2009 đã có hơn 100 tập đoàn bán lẻ lớn nhất toàn cầu ồ ạt vào Trung Quốc với hơn 500 đại siêu thị,chiếm hơn 80% thị phần bán lẻ ở quốc gia có hơn tỉ dân này Tốc độ tăng trưởng của ngành bán
lẻ do nước ngoài đầu tư ở Trung Quốc đạt trên 50% Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài xuất hiện đã ảnh hưởng trực tiếp đến ngành công nghiệp bán lẻ truyền thống của Trung Quốc Theo tính toán, một siêu thị lớn với diện tích 10.000 m2 có thể thay thế 300 cửa hàng bán lẻ với quy mô nhỏ Như vậy, khi hàng ngàn siêu thị lớn của nước ngoài được mở ra đồng nghĩa với việc hàng trăm ngàn cửa hàng nhỏ ở Trung Quốc bị đóng cửa và hàng vạn người bị thất nghiệp [35] Người dân Trung Quốc cũng đang thay đổi thói quen mua sắm,
từ chỗ mua ở các cửa hàng bên đường hoặc các chợ truyền thống,người dân đã thích mua sắm ở các siêu thị, và hiện nay người tiêu dùng có xu hướng mua hàng qua internet Tính đến năm 2010, Trung Quốc có khoảng 400 triệu người
sử dụng internet, và cứ 4 người thì có 1 người mua hàng trực tuyến [3] Người
ta ước tính rằng 27% người mua sắm trực tuyến của Trung Quốc đang chi tiêu
từ $157 đến $ 471 qua các trang web mỗi năm, và hầu hết các thể loại trực tuyến đều có mức tăng trưởng hai con số hàng năm [4]
2.2.2 Kinh nghiệm từ Việt Nam
Trong nhiều năm liên tiếp , thị trường bán lẻ Việt Nam luôn nằm trong top 10 thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới Tính đến hết năm 2012,cả nước
có xấp xỉ 1.000 địa điểm bán lẻ hiện đại, chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP
Hồ Chí Minh Tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm
2011 đạt 2004,4 nghìn tỉ đồng, tăng 24,2% so với năm trước [33] Các doanh nghiệp đã nỗ lực mở rộng hệ thống bán lẻ, như các nhóm siêu thị tổng hợp,
Trang 40nhóm chuyên doanh, cửa hàng tiện lợi, mạng lưới phân phối/bán lẻ của các nhà sản xuất, đặc biệt là mạng lưới chợ truyền thống [22] Năm 2012, tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ cũng đã đạt trên 2,32 triệu tỉ đồng, tăng 16% so với năm 2011 Tuy nhiên, thị trường bán lẻ Việt Nam còn có nhiều hạn chế, điều đó đã làm cho thị trường bán lẻ của Việt Nam sau thời gian tăng trưởng mạnh đang có dần những biểu hiện suy giảm Trong năm
2012, hàng trăm doanh nghiệp bán lẻ trong nước đóng cửa Từ chỗ là thị trường bán lẻ hấp dẫn nhất thế giới vào năm 2008, đến năm 2010 chỉ còn đứng
ở vị trí thứ 14 và năm 2012 Việt Nam đã tụt hạng xuống mức 32 [33] Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là thị trường bán lẻ hấp dẫn, đầy tiềm năng Để thị trường này phát triển bền vững, cần có nhiều giải pháp đồng bộ Trong đó giải pháp phát triển mô hình bán lẻ hiện đại kết hợp với mô hình bán lẻ truyền thống được coi là giải pháp để tạo ra kênh phân phối hữu hiệu cho hàng Việt Sau khi Việt Nam mở cửa, các tập đoàn bán lẻ nước ngoài đã ồ ạt kéo vào Hầu hết các tập đoàn này đều có tiềm lực lớn về kinh tế nên dễ dàng chiếm ưu thế về tìm kiếm mặt bằng, thêm vào đó là kinh nghiệm lâu năm về bán lẻ và lợi thế toàn cầu đã tạo thành một áp lực cạnh tranh lớn đối với các doanh nghiệp bán lẻ trong nước Ngoài ra do tác động của quá trình đô thị hoá cũng như ảnh hưởng của internet, thói quen mua sắm của người dân Việt Nam cũng
đang thay đổi, trào lưu mua hàng qua internet cũng đang ngày càng phát triển
ở Việt Nam
2.2.3 Bài học rỳt ra từ nghiờn cứu cơ sở lý luận và thực tiễn:
Sau khi nghiờn cứu cơ sở lý luận và thực tiễn ở trờn, chỳng tụi rỳt ra bài học làm cơ sở cho nghiờn cứu của mỡnh là:
- Hiệu quả kinh doanh của cỏc hộ là một phạm trự kinh tế phản ỏnh trỡnh ủộ sử dụng cỏc nguồn lực( nhõn lực, tài lực, vật lực ) ủể ủạt ủược mục tiờu xỏc ủịnh Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh thỡ:
Kết quả ủầu vào
H = -
Chi phớ ủầu ra