Những khó khăn khi đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của cải cách theo các cam kết khi gia nhập WTO Không dễ dàng để phân tích các tác động kinh tế xã hội của việc gia nhập WTO do nh
Trang 1và Phạm Chi Lan, Lê Đăng Doanh,Võ Trí Thành, Đinh Hiền Minh, Nguyễn Thị Lan Hương, Trần Thị Miêng, Nguyễn Đức Thanh, Dương Ngọc Thí, Bùi Trung Nghĩa, Đặng Đức Anh, Nguyễn Đăng Bình, Nguyễn Lê Minh, Nguyễn Ngọc Sơn, Bùi Thanh Huấn và Nguyễn Thị Thủy
Hà Nội, tháng 5 năm 2008
Báo cáo này được chuẩn bị với sự hỗ trợ tài chính của Ủy ban Châu Âu Những quan điểm trong báo cáo này
là của các tác giả và không thể hiện quan điểm chính thức của Ủy ban Châu Âu hay Bộ Công thương
DỰ ÁN HỖ TRỢ CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI ĐA BIÊN GIAI ĐOẠN II
(MUTRAP II)
Bộ Công Thương phối hợp với Uỷ ban Châu Âu
ASIE/2003/005711
Trang 3MỤC LỤC
GIỚI THIỆU 2
1 Nội dung nghiên cứu 2
2 Những khó khăn khi đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của cải cách theo các cam kết khi gia nhập WTO 3
3 Không thể (hoặc không có khả năng) đo lường tác động mang tính chủ quan và dài hạn 3
TÓM TẮT 5
CHƯƠNG I TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VĨ MÔ 14
1 Giới thiệu 14
2 Cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế vĩ mô 15
3 Kinh tế vĩ mô của Việt Nam sau một năm gia nhập 19
3.1 Cơ cấu và tăng trưởng kinh tế 19
3.2 Cán cân thương mại 24
3.3 Thu ngân sách 27
3.4 Cán cân thanh tóan và chu chuyển vốn 31
3.5 Chính sách tiền tệ và tỷ giá 33
4 Kết luận và các bài học rút ra 38
5 Tài liệu tham khảo 41
CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG TỚI HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG 44
1 Giới thiệu: cải cách chính sách thương mại, kết quả thương mại và phát triển: Cách tiếp cận lý luận 44
2 Lợi ích mong đợi và mối nguy tiềm tàng: mô hình biến hoá 47
3 Ảnh hưởng của WTO đến thương mại hàng hoá của Việt nam 51
3.1 Mức tăng trưởng xuất nhập khẩu và thị phần trên thế giới của Việt nam 51
3.2 Chỉ số mở cửa của Việt nam 53
3.3 Chỉ số tập trung 54
3.4 Chỉ số đa dạng 55
3.5 Cơ cấu thương mại 57
3.6 Cán cân thương mại theo sản phẩm 60
3.7 Cơ cấu thương mại và yếu tố hàm lượng 64
Trang 43.8 Thành tích xuất nhập khẩu và chuyên môn hoá theo sản phẩm 79
3.9.Điều kiện thương mại 81
3.10 Luồng thương mại 82
4 Ảnh hưởng của WTO đối với thương mại dich vụ của Việt nam 85
5 Kết luận 89
6 Tài liệu tham khảo 92
7 Phụ lục I 97
8 Phụ lục II 98
9 Phụ lục III 99
10 Phụ lục IV 100
11 Phụ lục V 103
12 Phụ lục VI: Giá hàng hoá-theo thời gian 106
13 Phụ lục VII: Cam kết thương mại của Việt nam theo hiệp định gia nhập WTO 107
CHƯƠNG III: TÁC ĐỘNG ĐẾN NGÀNH CÔNG NGHIỆP 110
1.Lời mở đầu 110
2 Quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam từ sau năm 1996 112
2.1 Mục tiêu của quá trình công nghiệp hóa và phát triẻn 112
2.2 Các chính sách khuyến khích công nghiệp hóa sau năm 1996 113
2.2.1 Chính sách thương mại trước khi gia nhập WTO 113
2.2.2 Chính sách thương mại sau khi gia nhập WTO 117
2.2.3 Các chính sách khác (FDI, khuyến khích phát triển khu vực tư nhân và SME) 119
3 Bức tranh công nghiệp Việt Nam 120
3.1 Công nghiệp Việt Nam theo độ thâm dụng nhân tố sản xuất 120
3.2 Cơ cấu các cơ sở sản xuất của công nghiệp chế biến: số lượng và tỷ lệ 123
3.3 Lao động trong các ngành công nghiệp chế biến 126
3.4 Cơ cấu vốn trong ngành công nghiệp chế biến 130
3.5 Cơ cấu sở hữu ngành công nghiệp 133
4 Tăng trưởng sản lượng công nghiệp 134
5 Xuất khẩu hàng chế biến theo mức độ sử dụng nhân tố sản xuất 136
6 Các đặc trưng khác của ngành công nghiệp 139
Trang 56.1 Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa 139
6.2 Hiệu quả của ngành công nghiệp 139
7 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và ngành công nghiệp Việt Nam 141
7.1 Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế 141
7.1.1 Chỉ số RCA và ERP về sức cạnh tranh và bảo hộ 141
7.1.2 Xếp hạng quốc tế về năng lực cạnh tranh của Việt Nam 143
7.2 Năng lực cạnh tranh nhị nguyên của thị trường xuất khẩu và thị trường trong nước 145
8 Tác động của thay đổi chính sách 145
9 Các kiến nghị hành động 147
10 Tài liệu tham khảo 150
Phụ lục 152
CHƯƠNG III PHẦN II TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTOTỚI NÔNG NGHIỆP VIỆTNAM 153
1 Nền tảng cơ sở của nông nghiệp Việt Nam 153
1.1 Đầu tư cho nông nghiệp 153
1.2.Tăng trưởng GDP và chuyển biến vị thế của ngành nông nghiệp 153
2 Thương mại nông sản 1 năm sau khi gia nhập WTO 155
3 Tác động mong đợi của gia nhập WTO lên thương mại hàng nông sản 157
3.1 Tác động lên thương mại 157
3.2 Các nguyên tắc của WTO về trợ cấp và chính sách thương mại nông sản 162
3.3 Tác động của gia nhập WTO đến thu nhập của nông dân và đói nghèo ở nông thôn 164
5 Một số gợi ý về chính sách 166
6 Tài liệu tham khảo 176
Phụ lục 1 – Quá trình thực hiện đổi mới nông nghiệp Việt nam từ năm 1995 179
Phụ lục 2 Những thay đổi về cơ cấu thuế quan ở Việt Nam từ năm 1995 185
Phụ lục 3 Các biện pháp Phi thuế quan của Việt Nam 195
Phụ lục 4 Các rào cản thương mại của các nước khác áp đặt đối với nông sản xuất khẩu của Việt Nam 204
Phụ lục 5 Những bước phát triển gần nhất trong ngành nông nghiệp Việt Nam 205
Phụ lục 6 Thương mại một số mặt hàng nông sản chủ yếu 212
Trang 6CHƯƠNG IV: PHẦN I Ý N G H ĨA CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO 235
1 Dẫn nhập 235
2 Tác động của WTO đối với doanh nghiệp: Các Vấn đề và Quan điểm 236
3 Môi trường Kinh doanh ở Việt Nam được cải thiện 238
4 Cơ hội Xuất khẩu Mới 244
5 Tiếp cận các yếu tố Đầu vào Chi phí thấp và Công nghệ từ nước ngoài 246
6 Đe dọa từ Cạnh tranh Nước ngoài 247
7 Thu hút Đầu tư Trực tiếp Nước ngoài 248
8 Kết luận 249
CHƯƠNG IV: PHẦN II ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA VIỆT NAM 253
1 Bối cảnh 255
2 Thách thức đối với các DNNVV 256
3 Những tác động tiêu cực - các mối đe dọa 259
4 Tác động tích cực - cơ hội 262
6 Kinh nghiệm của các thành viên WTO khác 269
6.1 Các trung tâm hỗ trợ DNNVV Nhật Bản 269
6.2 Ấn Độ 270
6.3 Nam Phi 270
6.4 Đài Loan Trung Quốc 271
7 Bài học kinh nghiệm 273
8 Khuyến nghị nhằm thúc đấy sự phát triển thành công của khu vực DNNVV sau khi gia nhập WTO 273
9 Tài liệu tham khảo 276
CHƯƠNG V: TÁC ĐỘNG XÃ HỘI CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP WTO 278
1 Tự do hóa thương mại và nghèo đói: phương pháp tiếp cận khung khái niệm 278
1.1 Mối liên kết kinh tế vĩ mô 279
1.2 Mối liên kết kinh tế vi mô 279
1.2.1 Hệ thống phân phối 280
1.2.2 Doanh nghiệp: lợi nhuận, tiền lương và việc làm 282
1.2.3 Thuế mậu dịch và chi tiêu chính phủ 284
Trang 72 Mô hình tổng thể về nền kinh tế và các nghiên cứu ngành 285
3 Nghiên cứu thực tiễn 288
3.1 Xóa đói giảm nghèo 288
3.2 Phát triển con người 290
3.3 Việc làm 292
3.4 Tiền lương 294
3.5 Quan hệ lao động 296
3.6 Vấn đề giới 297
3.7 Lao động trẻ em 300
4 Các tác động tiêu cực dự kiến 302
4.1 Tác động của một số cam kết khi gia nhập WTO 302
4.1.1 Nông nghiệp 303
4.1.2 Công nghiệp 304
4.1.3 Dịch vụ 305
4.1.4 Quyền sở hữu trí tuệ 306
4.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế 306
4.2.1 Những cú sốc từ bên ngoài 306
4.2.2 Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) 309
4.2.3 Di dân trong nước 311
4.2.4 Bất bình đẳng về thu nhập 312
5 Lựa chọn chính sách 315
6 Tài liệu tham khảo 320
Trang 9GIỚI THIỆU
1 Nội dung nghiên cứu
Trở thành thành viên của WTO và tham gia vào các hiệp định thương mại tự do mang lại cho Việt Nam cả những cơ hội và thách thức to lớn Thực hiện các cam kết đối với WTO làm nảy sinh các vấn đề xã hội khi tiến hành cải cách và tự do hóa thương mại Các ngành công nghiệp trong nước cũng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình điều chỉnh do sức ép cạnh tranh Cũng giống như các quốc gia khác, việc thực hiện các nghĩa vụ khi gia nhập WTO của Việt Nam đang
có những tác động sâu sắc đến kinh tế và xã hội nói chung
Để đảm bảo quá trình gia nhập WTO của Việt Nam mang lại sự phát triển kinh tế cân bằng và bền vững, cần thiết phải có đánh giá tác động của việc gia nhập này cũng như đề ra các chính sách và khuyến nghị hành động nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế những tác động tiêu cực Nghiên cứu này được tài trợ bởi dự án MUTRAP nhằm tập trung đánh giá tác động về cải cách thể chế và thương mại mà Việt Nam đã thực hiện trong quá trình gia nhập WTO Đặc biệt, với sự hợp tác của các chuyên gia trong nước và Liên minh Châu Âu, nghiên cứu này tập trung phân tích vào những chủ đề sau:
1 Tác động đến các chính sách kinh tế vĩ mô;
2 Tác động đến hoạt động ngoại thương;
3 Tác động đến một số ngành, cụ thể là công nghiệp và nông nghiệp
4 Tác động đến môi trường kinh doanh và đầu tư nước ngoài;
5 Tác động đến xã hội
Phương pháp nghiên cứu của báo cáo dựa chủ yếu vào phân tích số liệu định lượng và định tính như phỏng vấn, điều tra, với mục tiêu chủ yếu là đánh giá về tình hình kinh tế xã hội sau một năm gia nhập WTO Các tài liệu liên quan, đặc biệt về tác động của tự do hóa thương mại về kinh tế xã hội, cũng được xem xét Nghiên cứu cũng không dựa trên việc áp dụng các mô hình kinh tế lượng với các giả định không thực tế và chuỗi số liệu không đủ dài Các kết luận của báo cáo được dựa trên suy luận logic và vào các số liệu thu thập được; đồng thời các tác giả cũng nhận thức được rằng cải cách thương mại theo quy định của WTO chỉ phần nào giải thích được
xu thế của của các biến số được phân tích
Có thể nhận thấy rằng tác động ngắn hạn của việc thực hiện các quy tắc của WTO đến nền kinh
tế của một quốc gia mới gia nhập có thể không lớn do các lĩnh vực phải tuân thủ theo các quy tắc của WTO chỉ bao gồm thương mại hàng hóa và dịch vụ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Hơn nữa, hầu hết các các quy định trong cam kết với WTO mang tính tiêu cực (ví dụ như không phân biệt đối xử, không được dùng hạn chế định lượng, ) hơn là mang tính tích cực Điều đó có nghĩa là các cải cách kinh tế mà Việt Nam thực hiện chú yếu trên tinh thần tự nguyện hoặc do các ràng buộc bên ngoài không liên quan đến việc gia nhập WTO Tuy nhiên, tư cách thành viên của WTO cũng thúc đẩy mở cửa thị trường; và do đó Việt Nam buộc phải thực hiện các hoạt động hỗ trợ ngoài các cam kết theo yêu cầu của WTO nhằm cải thiện hiệu quả và khả năng cạnh tranh của tất cả các chủ thể, cho dù đó là khu vực công hay tư nhân, trong nền kinh tế khi phải đối mặt với thách thức ngày càng tăng của cạnh tranh quốc tế
Trang 102 Những khó khăn khi đánh giá tác động ngắn hạn và dài hạn của cải cách theo các cam kết khi gia nhập WTO
Không dễ dàng để phân tích các tác động kinh tế xã hội của việc gia nhập WTO do những lý do chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, những suy diễn từ các xu thế có thể do biến động mang tính chu kỳ hoặc các thay đổi tạm thời trong khi những tác động mang lại bởi thay đổi trong chính sách thương mại chỉ có thể xem xét trong trung và dài hạn
Thứ hai, do các cam kết khi gia nhập WTO tương đối nhiều và phức tạp nên cũng tạo khó khăn khi lựa chọn các tham số và các chỉ tiêu để đánh giá Điều đó có nghĩa là nghiên cứu chỉ tập trung vào một số lĩnh vực và tham số được lựa chọn
Thứ ba, hầu hết các cải cách về chính sách thương mại được Việt Nam thực hiện tương đối lâu trước ngày gia nhập chính thức, trong đó một vài cam kết thực hiện đơn phương, một số khác là kết quả của thực thi các hiệp định song phương (như Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hoa Kỳ) hoặc khu vực (như tham gia vào AFTA) Một số còn lại được đưa ra theo yêu cầu cụ thể của các thành viên WTO trong quá trình đàm phán Do đó, không thể tách bạch được những thay đổi về thể chế do cam kết WTO và các cam kết quốc tế Đồng thời, chỉ có một số tham số
có thể giải thích bởi của cách thương mại và thể chế do việc trở thành viên của WTO Hơn nữa,
do số liệu chỉ được thu thập trong thời gian một năm sau khi gia nhập có thể cũng đánh giá thấp tác động của việc gia nhập WTO
Thứ tư, giá trị của các tham số và chỉ số được chọn lựa để đánh giá tác động của việc gia nhập có thể chịu tác động của các biến ngoại sinh (ví dụ như biến động giá trên thị trường quốc tế, chi phí của các nguyên liệu thô, )
Thứ năm, cần nhấn mạnh rằng tác động của những cải cách thương mại gần đây chỉ có thể được đánh giá trong dài hạn, tức là sau khi các điều chỉnh trong nước đã được thực hiện toàn bộ như thay đổi về mô hình sản xuất; cơ cấu lại các doanh nghiệp nhằm tập trung vào các hoạt động kinh doanh chính để các doanh nghiệp này khai thác được lợi thế kinh tế nhờ quy mô và tác động học hỏi; những nỗ lực sáng tạo mà các doanh nghiệp cần thực hiện để cạnh tranh trên cả thị trường trong nước và toàn cầu với các doanh nghiệp nước ngoài Vì vậy, trong ngắn hạn, các doanh nghiệp có thể thua lỗ trên thị trường do không thể tăng giá nhưng trong dài hạn, các doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận từ việc tăng doanh số bán hàng và giảm chi phí Do đó, tác động của việc gia nhập có thể phức tạp hơn là cú sốc một lần đối với nền kinh tế Việc tuân thủ với các quy định của thương mại quốc tế và tăng trưởng trong nội tại nền kinh tế có thể lại có tác động lớn nhất đến các vấn đề về kinh tế và xã hội trong trung và dài hạn
3 Không thể (hoặc không có khả năng) đo lường tác động mang tính chủ quan và dài hạn
Cần lưu ý rằng rất khó đo lường những tác động tích cực tức thời do việc gia nhập WTO của một
thành viên mới Thứ nhất, trở thành thành viên của WTO ngăn cản các thành viên khác của
WTO áp dụng các chính sách phân biệt đối xử và hạn chế đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt
Trang 11Nam ngoại trừ những biện pháp đã được quy định trong các thảo thuận WTO Thứ hai, Việt Nam
đã cải thiện được việc tiếp cận xuất khẩu đến thị trường của các nước thành viên Các nước chưa phải là thành viên phải đàm phán các hiệp định riêng lẻ với đối tác thương mại song phương hoặc khu vực và có thể chịu rủi ro do sức mạnh của đối tác Tình huống này đặc biệt quan trọng khi các liên kết kinh tế mang tính tiêu cực và các quốc gia cố gắng bảo hộ các ngành công
nghiệp trong nước Thứ ba, tư cách thành viên của WTO tăng cường tính tin cậy của các chính
sách của chính phủ của các đối tác Các nước đang phát triển thường gặp phải vấn đề “khoảng cách về độ tin cậy” khi cố gắng thuyết phục các nhà đầu tư trong nước và quốc tế cũng như cộng đồng doanh nhân với những cam kết của họ đối với những chính sách cụ thể Do những chính sách của Việt Nam trong một số lĩnh vực được thể hiện bằng các cam kết pháp lý nên tư cách thành viên WTO đưa ra sự cam kết quan trọng đối với định hướng chính sách của Chính phủ Như Bacchetta và Drabeck (2002) đã cho thấy “không giống như trong trường hợp của cải cách chính sách đơn phương, cải cách chính sách được hỗ trợ bởi các cam kết đa phương có độ tin cậy cao hơn, và đặc biệt do mối quan hệ mang tính chiến lược giữa chính phủ và khu vực tư nhân càng làm cho các cam kết này đáng tin cậy Trong bối cảnh đó, các chính phủ sử dụng các hiệp định thương mại quốc tế để tăng cường độ tin cậy trong lựa chọn chính sách đối với khu vực tư nhân” Hơn nữa, tư cách thành viên này lại càng có ý nghĩa hơn đối với một nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam như các tác giả trên đã nhấn mạnh rằng ““khoảng cách về độ tin cậy” đặc biệt quan trọng và xuất hiện ở nhiều nước nếu không muốn nói là ở hầu hết các nước đang
chuyển đổi do lịch sử của cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bất định chính trị”.Thứ tư, từ quan
điểm thể chế, Việt Nam đã được yêu cầu thiết lập một bộ quy tắc và thể chế nhằm hỗ trợ cho tự
do hóa thị trường và tăng cường tính minh bạch và thúc đẩy pháp trị, cưỡng chế thực thi và phát
triển hệ thống tư pháp độc lập Thứ năm, gia nhập WTO đóng góp vào việc tăng tính dự đoán, an
toàn và tính minh bạch khi tiếp cận thị trương đối với cả hàng hóa xuất khẩu và nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đối với nhà xuất khẩu của Việt nam đến các nước thành viên WTO khác
Ví dụ, trước khi gia nhập WTO, Việt Nam không được hưởng lợi từ điều khoản “Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn” với Hoa Kỳ và điều khoản này chỉ được dành cho Việt Nam
một tháng trước khi chính thức gia nhập WTO Thứ sáu, Việt Nam và các thành viên khác của
WTO có khả năng giải quyết các mâu thuẫn dựa trên cơ chế giải quyết xung đột Bên ngoài WTO, việc giải quyết các xung đột dựa trên các quy tắc chung về luật quốc tế: các thủ tục về
đàm phán, trọng tài hay các biện pháp trả đũa được quy định bởi luật quốc tế chung Thứ bảy,
Việt Nam có cơ hội định hướng được các quy tắc và nghĩa vụ trong tương lai của WTO thông sự tham gia tích cực vào các cuộc đàm phán thương mại song phương Gia nhập WTO cũng mang tới cơ hội đàm phán nhằm tăng mức ưu đãi về thị trường và yêu cầu về giảm trợ cấp; những điều
có thể làm tổn hại đến phát triển sản xuất trong nước Thứ tám, người ta có thể đặt câu hỏi liệu
có hay không quyết định chính sách được đưa ra và cải cách được thực hiện sau khi diễn ra với/không với việc gia nhập WTO Chi phí của việc không gia nhập WTO là gì? Cần lưu ý rằng gia nhập WTO tác động đến hoạt động kinh tế thậm chí ở những kênh gián tiếp như lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng lên do hệ thống pháp lý và kinh doanh mang tính ổn định và dự đoán cao hơn Hệ thống này sẽ không có được kết quả đó khi thiếu những cải cách cần thiết, trực tiếp hay gián tiếp khi gia nhập WTO
Trang 12TÓM TẮT
Báo cáo này được chuẩn bị nhằm đánh tác giá tác động về kinh tế xã hội khi Việt Nam gia nhập WTO Các nghiên cứu về kinh tế vĩ mô, khung khổ pháp lý, xã hội và phân tích ngành đã xác định những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện các cam kết của mình Các khuyến nghị mang tính dài hạn đưa ra nhằm giúp Việt Nam củng cố thêm những lợi ích khi tham gia vào hệ thống thương mại đa biên Báo cáo được chia thành sáu lĩnh vực chủ yếu: kinh tế vĩ
mô, hoạt động ngoại thương, đầu tư và phát triển công nghiệp, phát triển nông nghiệp nông thôn, môi trường kinh doanh và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ và các tác động xã hội
1 Tác động về kinh tế vĩ mô của việc gia nhập WTO
Năm đầu tiên gia nhập WTO của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới có những biến động bất thường Cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng ở Mỹ dẫn đến những xáo trộn trên thị trường tài chính quốc tế và có ảnh hưởng nhất định đến kinh tế Việt Nam Ngoài ra cũng phải kể đến tác động của sự tăng giá dầu và các hàng hóa khác ở mức cao kỷ lục Năm 2007 cũng chứng kiến các thảm họa thiên nhiên, đặc biệt là hạn hán và bão lụt, cũng như các bệnh dịch khác như cúm gà và bệnh trên gia súc Tất cả các yếu tố trên đã tác động đến sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu Nói cách khác, những nhân tố khách quan này cũng tác động trực tiếp đến kinh tế vĩ mô của Việt Nam năm 2007
Sự đan xen những tác động từ những chính sách khác và các yếu tố khách quan khiến việctách bạch tác động chính xác những tác động gia nhập WTO đến kinh tế vĩ mô trở nên vô vùng khó khăn Quan trọng hơn, có độ trễ nhất định từ việc thực hiện chính sách mới và sự phản ứng của các khu vực kinh tế đối với những thay đổi đó, làm cho việc phân tích trở nên phức tạp hơn khi
đo lường tác động kinh tế vĩ mô của việc gia nhập WTO Báo cáo cố gắng tách nguồn tác động đến các biến kinh tế vĩ mô gộp nhưng các yếu tố kể trên vẫn là một phần không thể tách rời khi thực hiện suy diễn chính sách
Các nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại hay gia nhập WTO đến kinh tế vĩ mô cho đều đi đến nhận định chung là:
• Tăng trưởng kinh tế ở mức cao hơn do tiếp cận về công nghệ, hiệu ứng động về năng lực cạnh tranh, và tăng đầu tư Tuy nhiên, quá trình điều chỉnh có thể dẫn đến việc thu hẹp đối với một
số ngành Chi phí điều chỉnh có thể trầm trọng hơn do chính sách tỷ giá cố định cũng như sự điều chỉnh chậm chạp của thị trường lao động và vốn;
• Biến động kinh tế vĩ mô thấp hơn khi có ưu đãi về tiếp cận thị trường đối với khu vực sản xuất hàng phi nông nghiệp như trường hợp của Việt Nam;
• Đầu tư tăng thêm do môi trường chính sách ổn định hơn và thực thi các quy tắc thương mại quốc tế và tự do hóa các dịch vụ tài chính;
• Rủi ro cao hơn đối với các cú sốc từ bên ngoài, có thể tác động đến các biến vĩ mô gộp khác, bao gồm thâm hụt ngân sách;
• Tác động không rõ ràng đến thâm hụt ngân sách Thâm hụt ngân sách thấp thường gắn với cải cách kinh tế trong nước mạnh mẽ; trong khi thâm hụt ngân sách cao sẽ dẫn đến nền kinh tế dễ
bị tổn thương và cải cách kinh tế ở mức thấp hơn;
Trang 13• Cán cân thương mại dự kiến sẽ xấu hơn trong ngắn hạn nhưng sẽ trở nên cân bằng trong dài hạn;
• Tăng tiếp cận đến nguồn vốn từ bên ngoài và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Luồng vốn đầu
tư gián tiếp cũng được đổ vào thị trường tài chính trong nước;
• Khó khăn hơn trong quản lý chính sách tiền tệ khi đối mặt với dòng vốn chuyển vào nhiều, với chính sách tỷ giá và hệ thống tài chính phát triển;
Năm đầu tiên gia nhập WTO của Việt Nam chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc, ở mức 8,5% mà nền tảng là sự tăng trưởng của đầu tư, xuất khẩu và tiêu dùng Một số yếu tố đóng góp vào sự tăng trưởng nói trên có thể do gia nhập WTO mặc dù giá cả trên thị trường thế giới ở mức cao và xu hướng tăng vốn đầu tư trực tiếp từ khi thực hiện Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ cũng là các yếu tố quan trọng Đồng thời, giá tiêu dùng dường như đã vượt ra khỏi tầm kiểm sóat và tăng ở mức hai chữ số, tín dụng tăng ở mức báo động và cán cân thương mại bị suy giảm nghiêm trọng Tuy nhiên, trái ngược với các dự báo, giảm thuế khi gia nhập WTO không làm giảm nguồn thu từ thuế Thay vào đó, thu ngân sách thực tế đã tăng trong năm 2007 với mức đóng góp nhiều hơn của nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đến tổng thu ngân sách Điều này một phần là do giảm thuế của Việt Nam theo cam kết WTO là tương đối nhỏ và được thực hiện dần dần, do đó chỉ tác động đến một số ít ngành Quan trọng hơn, tăng nhập khẩu đã dẫn đến mức thuế được áp dụng cho diện thu thuế lớn hơn Chính phủ cũng thực hiện các cải cách mạnh mẽ
về thủ tục hải quan và chính sách thuế trong năm trước và tiếp tục được phát huy trong năm đầu gia nhập đã nâng được tỷ lệ thu thuế
Nền kinh tế của Việt Nam ngày càng phụ thuộc vào xu thế biến động trên thị trường thế giới khi gia nhập WTO với việc tăng rủi ro đối với hàng nhập khẩu và cũng như tăng rủi ro đối với thị trường xuất khẩu Ngoài ra, các dòng vốn đầu tư gián tiếp cũng ngày càng tăng để tài trợ cho thâm hụt thương mại, có thể dẫn đến sự đảo chiều vốn nhanh khi có sự thay đổi về kỳ vọng của nhà đầu tư Dòng vốn vào nhiều cũng làm suy yếu hiệu quả của chính sách tiền tệ và đặt ra vấn
đề về các công cụ mới cần thiết để quản lý lạm phát Gia nhập WTO, các sáng kiến hội nhập khu vực và mối quan hệ tăng lên về thương mại và đầu tư khiến Việt Nam chịu nhiều tác động từ thị trường quốc tế và cần có những công cụ mới trong tác động đến các biến số kinh tế
Các bài học có thể rút ra từ kinh nghiệm của Việt Nam sau một năm gia nhập WTO Giảm sự thiên lệch về chính sách thuế đối với các sản phẩm phi nông nghiệp được kỳ vọng làm tăng ổn định kinh tế vĩ mô Những biến động gần đây về giá cả nông nghiệp và năng lượng cho thấy tầm quan trọng của việc giảm sự phụ thuộc vào giá năng lượng và hàng hóa trên thị trường thế giới Giảm sự phụ thuộc, cũng như giảm tỷ lệ bảo hộ thực tế, không những đem lại lợi ích đối với môi trường kinh tế mô mà còn tạo ra tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ và bền vững hơn Trợ cấp đối với khu vực nông nghiệp cần tiếp tục được duy trì, không những nhằm mục tiêu phát triển vì người nghèo mà còn nhằm giảm sức ép lạm phát từ việc tăng giá đầu vào đối với khu vực nông nghiệp
và tăng giá lương thực trên thị trường thế giới
Gần đây, nguồn vốn ngắn hạn và mang tính đầu cơ có khả năng gây mất ổn định cán cân thanh tóan và kinh tế vĩ mô Các cơ quan quản lý cần giám sát chặt chẽ những rủi ro đang tăng lên đối với dòng vốn ngắn hạn mà yêu cầu trước mắt là cải thiện khả năng thu thập thông tin về dòng vốn đầu tư gián tiếp để đảm bảo khả năng giám sát có thể được tiến hành
Trang 14Chính sách tiền tệ chịu tác động mạnh mẽ bởi luồng vốn đổ vào nhiều và việc dỡ bỏ các kiểm sóat vốn (và nhập khẩu) mà cơ quan quản lý của Việt Nam đã thực hiện trong quá khứ Các sức
ép từ việc gia nhập IMF đã hạn chế cách thức mà Ngân hàng Nhà nước có thể can thiệp vào thị trường tiền tệ Các cơ quan quản lý tiền tệ cần tìm ra các cách thức mới để kiểm sóat lạm phát và
sử dụng các công cụ trung hòa hóa khác với các công cụ mà họ đã sử dụng trong quá khứ Hơn nữa, sự tăng nhanh của mức độ thanh khỏan trong nước do dòng vốn vào khiến cho chính sách
cố định tỷ giá, chính sách tiền tệ độc lập và tài khoản vốn mở ngày càng mất tính bền vững Hơn nữa, cơ chế tỷ giá cố định sẽ kéo dài quá trình điều chỉnh nền kinh tế tới điểm cân bằng mới khi thực hiện các cam kết gia nhập Như vậy, các cơ quan quản lý cần tiến hành điều chỉnh chính sách tỷ giá hiện tại, chính sách đang làm trầm trọng thêm các tổn thất mà nền kinh tế đang phải gánh chịu trong giai đoạn điều chỉnh
2 Tác động đến hoạt động ngoại thương
Không thể tách riêng tác động đến hoạt động ngoại thương do cải cách theo yêu cầu của WTO
mà Việt Nam đã thực hiện đơn phương hoặc trong khuôn khổ các hiệp định thương mại khu vực (Hiệp định thương mại tự do ASEAN, Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ)
từ lâu trước ngày ngày chính thức gia nhập WTO Do đó, kết quả của hoạt động ngoại thương chỉ là một phần do tác động của cải cách theo cam kết với WTO
Cải cách thương mại đóng góp tích cực vào mở cửa của nền kinh tế, làm cho kinh tế Việt Nam nhạy cảm hơn với các cú sốc của kinh tế thế giới như việc gia tăng bất thường gần đây trong giá nguyên liệu thô và giá hàng hóa trên thị trường quốc tế Thâm hụt thương mại của Việt Nam gia tăng nhanh chóng trong năm 2007, chủ yếu do nhập khẩu thép, phôi thép, xăng dầu, máy móc, hàng điện tử và linh kiện điện tử Việt Nam dựa nhiều vào nhập khẩu các nguyên liệu thô và máy móc thiết bị, đặc điểm cho thấy mức độ phát triển công nghiệp và khả năng cạnh tranh thấp đối với hàng các sản phẩm công nghiệp nặng
Đối với xuất khẩu, tăng tỷ trọng hàng chế tạo trong tổng kim ngạch xuất khẩu trong thời kỳ 1995 -2007 cho thấy sự mở rộng của xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp nhẹ và hàng thủ công Đặc biệt, các lĩnh vực cho thấy sự tăng trưởng nhanh nhất là dệt may, da giầy và sản phẩm điện tử Các sản phẩm sơ chế trong cơ cấu xuất khẩu đã giảm tỷ trọng từ 54% đến 41% trong giai đoạn
1995 – 2005, giảm đối với tất cả các sản phẩm nông nghiệp, chỉ có giá trị xuất khẩu dầu thô tăng Tuy nhiên, trong năm 2006, cả sản phẩm nông nghiệp và dầu thô đều tăng giá trị xuất khẩu Năm
2007, thủy sản, cà phê, gạo và than đá là những sản phẩm xuất khẩu nhiều nhất và giá trị xuất khẩu tăng tương ứng là 13%, 52%, 14 % và 11,4%
Các sản phẩm xuất khẩu có sự dịch chuyển từ các sản phẩm sơ chế, ban đầu là các sản phẩm sử dụng nhiều lao động giản đơn sang các sản phẩm sử dụng nhiều kỹ năng và công nghệ Cùng với những thay đổi đó, có sự gia tăng về thương mại nội ngành Thương mại nội ngành đặc biệt cao đối với các sản phẩm chế tạo phức tạp (hóa chất, máy móc, thiết bị vận tải, thiết bị điện và điện tử) Ngoại thương của Việt Nam tăng trưởng ở mức độ cao mặc dù vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ của thương mại trong vùng
Trang 15Về xu hướng nhập khẩu, từ khi Trung Quốc gia nhập WTO, tỷ trọng nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam có nguồn gốc từ Trung Quốc đã gia tăng đột biến Trung Quốc đã trở thành nhà cung cấp hàng hóa hàng đầu của Việt Nam từ năm 2003 Trong các nước ASEAN, chỉ có Thái Lan liên tục tăng tỷ trọng xuất khẩu vào Việt Nam từ 2001 – 2006 và là nhà xuất khẩu lớn thứ sáu vào Việt Nam
Sự tái phân bố các nguồn cung cấp cho thấy sự tái cơ cấu sản xuất ở khu vực Châu Á khi xuất hiện mô hình thương mại hình tam giác Trong nhiều lĩnh vực, Trung Quốc từng được xem như
cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu của nhiều doanh nghiệp ở các nước phát triển Châu Á Các nước này thay vì xuất khẩu đến Hoa Kỳ và Châu Âu đã xuất khẩu hàng hóa trung gian đến các cơ sở sản xuất ở Trung Quốc Xu hướng này cùng với chi phí lao động đang tăng lên ở Trung Quốc, sự
lo ngại bởi các tranh chấp và các biện pháp tự vệ được Châu Âu và Hoa Kỳ áp dụng, có thể được các doanh nghiệp áp dụng đối với Việt Nam như là một bộ phận của chiến lược “Trung Quốc cộng một”, trong đó các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Trung Quốc và và một quốc gia Đông Nam Á khác Ngoài ra, chi phí ngày càng gia tăng ở Trung Quốc và mong muốn của các công ty đa quốc gia muốn đa dạng hóa rủi ro đang mở ra cơ hội cho các quốc gia như Việt Nam, nơi mặc dù mức lương đang tăng lên song chi phí về lao động vẫn thấp hơn khoảng 30% so với chi phí tại các vùng duyên hải của Trung Quốc
Đối với xuất khẩu, thị trường xuất khẩu đã có sự thay đổi đáng kể từ hiệp định thương mại song phương với Hòa Kỳ Trên thực tế, năm 2002, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn nhất, tiếp theo đó là Hoa Kỳ, Australia, Trung Quốc và Đức trong khi các nước Đông Nam Á là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba Năm 2007, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, tiếp theo đó là Liên minh Châu Âu, các nước Đông Nam Á và Trung Quốc Từ khi bắt đầu quá trình Đổi Mới và thực hiện các hiệp định thương mại song phương và đa phương, Việt Nam đã đa dạng hóa mạnh mẽ các thị trường xuất khẩu Có thể nói Việt Nam đang chuyên môn hóa vào
“các thị trường đang đi xuống” – khi mà xuất khẩu của Việt Nam vượt quá tốc độ tăng trưởng nhập khẩu của các thị trường này, trong đó đáng chú ý là thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản, Đức, Anh và Italia.Trong khi đó, Việt Nam đang giảm thị phần đối với các thị trường đang phát triển mạnh mẽ như Trung Quốc, Singapore hay Hà Lan và Hàn Quốc, nơi mà tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn khả năng nhập khẩu của các quốc gia này
3 Tác động đối với công nghiệp
Từ khi tiến hành đổi mới thương mại, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã có sự dịch chuyển đáng kể
từ lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản sang lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, trong đó có công nghiệp chế biến Trong quá trình công nghiệp hóa, cũng có sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ trong nội bộ ngành công nghiệp chế biến, từ những lĩnh vực sử dụng nhiều lao động giản đơn sang những lĩnh vực phức tạp và có giá trị gia tăng cao hơn
Công nghệ sản xuất trong ngành công nghiệp chế biến đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế
Từ năm 1995 đến 2006, nhờ có sự gia tăng của FDI với việc trang bị những công nghệ tiên tiến,
tỷ trọng của các ngành có kỹ thuật trung bình và cao trong tổng sản phẩm của ngành công nghiệp chế biến đã tăng lên đáng kể
Trang 16Cùng với sự gia tăng về số lượng doanh nghiệp và sản phẩm, số lượng nhân công trong các doanh nghiệp sản xuất cũng tăng lên nhanh chóng, nhất là trong lĩnh vực may mặc, thuộc và chế biến da, sản xuất đồ dùng gia đình - những lĩnh vực thu hút số lượng nhân công cao nhất Cùng với sự tăng trong số lượng cơ sở sản xuất và nhân công, có sự tăng đáng kể về số lượng vốn sản xuất, tạo ra công suất hoạt động lớn của các nhà máy
Về số lượng các cơ sở công nghiệp, các DNNN đang giảm tương đối trong khi các cơ sở sản xuất ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài không kể quy mô và các doanh nghiệp quy mô nhỏ, vừa và lớn đang tăng nhanh về số lượng
Mặc dù giá trị tổng sản phẩm tăng lên trong tất cả các lĩnh vực, tăng trưởng của khu vực ngoài quốc doanh và khu vực đầu tư nước ngoài đạt khoảng 20%/năm trong một vài năm gần đây, trong khi khu vực DNNN chỉ tăng khoảng 10%/năm (một phần là do cải cách DNNN, trong đó
có cổ phần hóa) Do đó, tỷ trọng của khu vực DNNN trong tổng sản phẩm công nghiệp đã giảm xuống
Phân tích về các hoạt động công nghiệp chỉ ra rằng các lĩnh vực công nghiệp có lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu (như các lĩnh vực sản xuất sử dụng nhiều lao động và sử dụng nhiều tài nguyên trong nông nghiệp) đã duy trì được mức tăng trưởng cao trong năm 2006 (tương đương mức tăng trưởng thời kỳ 2001-2005) Trong khi đó, tăng trưởng của các lĩnh vực thay thế nhập khẩu (thuốc lá, giấy và sản phẩm giấy, sản phẩm khai khoáng phi kim loại, máy móc, thiết bị, dụng cụ y tế, chính xác, quang học, đồng hồ và xe máy) đã tăng trưởng thấp hơn thời kỳ 2001-
2005
Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam được đánh giá khá thấp Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) đã xếp hạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam ở mức cuối của danh sách xếp hạng, mặc dù đã có những cải thiện Nếu xem xét cụ thể chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2007, cũng có một số điểm tích cực đối với nền kinh tế Việt Nam như thay đổi về thể chế và
sự ổn định kinh tế vĩ mô
Để kết luận, đặc điểm nổi bật về cơ cấu sản xuất hiện nay của Việt Nam là tính nhị nguyên, giữa một khu vực xuất khẩu mạnh với một khu vực nội địa yếu và được bảo hộ (cạnh tranh nhập khẩu) Ngoài ra, có sự liên kết yếu giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước, giữa các ngành sản xuất sản phẩm đầu vào và đầu ra Trong nhiều ngành, như ngành dệt may, da giày, điện tử, sản xuất ô tô, xe máy, hầu hết nguyên liệu và đầu vào trung gian phải nhập khẩu Nhiều nghiên cứu và khảo sát chỉ ra một kết quả chung là các ngành phụ trợ của Việt Nam vừa thiếu lại vừa yếu Nhiều ngành phụ trợ phục vụ các ngành công nghiệp mới tại Việt Nam chỉ phát triển ở giai đoạn sơ khai, như công nghiệp đúc Việt Nam hiện nay chỉ có những ngành phụ trợ công nghệ thấp và trung bình, như sản xuất sản phẩm kim loại, hộp carton v.v Sự liên kết yếu giữa các doanh nghiệp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước cũng đã hạn chế sự phát triển lan tỏa của FDI Các hoạt động sử dụng hàm lượng tri thức cao như nghiên cứu và phát triển (R&D) thực hiện bởi các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam rất hạn chế Hầu hết các công nhân Việt Nam được tuyển dụng để làm các công việc lắp ráp giản đơn Mặc dù FDI ngày càng đóng góp nhiều hơn trong xuất khẩu, các dự án FDI định hướng xuất khẩu trong những năm gần đây nhìn chung có tác động trở lại hạn chế đối với các doanh nghiệp trong nước và ảnh hưởng lan tỏa hạn chế tới nền kinh tế trong nước
Trang 17
4 Tác động đối với nông nghiệp
Mặc dù tỷ trọng của ngành nông nghiệp trong nền kinh tế ngày càng giảm, nhưng ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò kinh tế, xã hội quan trọng, góp phần đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của nền kinh tế Sản xuất nông nghiệp của Việt Nam đã có sự tiến bộ rõ rệt về năng suất và sản lượng Tuy nhiên, ngành này vẫn đang phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro tiềm ẩn và có khả năng cạnh tranh hạn chế trong từng sản phẩm và từng lĩnh vực Trong thiên niên kỷ hội nhập khu vực và quốc tế, trong bối cảnh hội nhập WTO với những cơ hội và thách thức đan xen, việc phát triển một ngành nông nghiệp hiện đại, hiệu quả và bền vững đòi hỏi vốn đầu tư rất lớn
Bên cạnh đó, cơ hội xuất khẩu trở thành một thách thức cho Việt Nam khi phải đạt được các tiêu chuẩn về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm mà các nước nhập khẩu yêu cầu Kinh nghiệm của Trung Quốc và các sự kiện xảy ra với một số sản phẩm của Việt Nam đã cho thấy tầm quan trọng của vấn đề này Chương viết về nông nghiệp này xem xét tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế và xã hội chủ yếu và nỗ lực làm rõ những ảnh hưởng của WTO
Mặc dù ngành nông nghiệp có tăng trưởng quan trọng về giá trị gia tăng, với mức tăng hơn 3 lần theo giá hiện hành, đóng góp của ngành trong GDP đã giảm trong giai đoạn 1995-2007 do những ngành khác đã có sự phát triển năng động hơn
Từ năm 2001, đầu tư trong nông nghiệp không đổi về giá trị tuyệt đối nhưng giảm về giá trị tương đối, từ 9,5% tổng đầu tư của cả nước vào năm 2001 giảm xuống 7,5% vào năm 2006 Từ khi và trước khi gia nhập WTO, dòng vốn FDI vào Việt Nam đã tăng vọt, nhưng hầu hết nguồn vốn đã chảy vào các ngành phi nông nghiệp
Trước sự tăng trưởng mạnh về tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2007, với mức tăng 21,5%, xuất khẩu nông nghiệp1 tăng trưởng 19,5%, đạt 12,5 tỷ USD, nhờ đó tiếp tục là nguồn thu ngoại
tệ quan trọng của nền kinh tế Mặc dù vậy, mức tăng trưởng này thấp hơn những năm trước đây (22,2% vào năm 2006 và 26,7% vào năm 2005)
Việt Nam có khả năng cạnh tranh trong một số sản phẩm nông nghiệp Tuy nhiên, Việt Nam lại chuyên môn hóa trong nhiều sản phẩm mà nhu cầu thị trường toàn cầu đang có dấu hiệu chững lại hoặc tăng trưởng thấp như hoa quả, rau, hải sản, gỗ và gạo Mặt khác, Việt Nam thành công trong việc chuyên môn hóa vào sản xuất cà phê, sản phẩm hiện nay đang có cơ hội thị trường thuận lợi Tuy nhiên, Việt Nam đang mất thị phần trong thị trường cao su đang có mức tăng trưởng cao Xu hướng đã tồn tại trước hội nhập này dường như sẽ tiếp tục duy trì sau khi gia nhập WTO Nhìn chung, xuất khẩu trong năm đầu tiên là thành viên WTO dường như không bị ảnh hưởng
Trong 11 tháng đầu năm 2007, nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp đạt hơn 3,7 tỷ USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2006 Cơ cấu sản phẩm nông nghiệp nhập khẩu đã thay đổi không đáng
1 Gồm các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản
Trang 18kể sau khi gia nhập WTO vì hầu hết hàng hóa nhập khẩu là các sản phẩm mà Việt Nam không sản xuất được (như hạt lúa mì và bột mì) hoặc có khả năng cạnh tranh thấp (như sữa, sản phẩm sữa, bông, đường, mỡ động vật và dầu thực vật)
5 Môi trường kinh doanh Việt Nam và các DNNVV
Mặc dù những cải cách cơ cấu quan trọng và mở cửa thị trường đã được thực hiện trước khi gia nhập WTO, nhưng việc trở thành thành viên của tổ chức này đã tạo ra động lực thúc đẩy mạnh
mẽ hơn cho những cải cách trong nước mà nhờ đó đã cải thiện môi trường kinh doanh Điều này
đã có tác động tích cực đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ, trao đổi kiến thức về kỹ thuật, đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư qua biên giới về tài sản tài chính của Việt Nam
Là một bộ phận của thị trường toàn cầu, Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ những điều kiện khác nhau của kinh tế thế giới như sự biến động của thị trường nguồn lực và năng lượng, khả năng dễ bị tổn thương hiện tại của đồng đô la Mỹ và sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ , những điều đó làm khó khăn hơn cho việc tách biệt những tác động thực sự của việc gia nhập WTO với những ảnh hưởng bên ngoài khác tới Việt Nam
Những lĩnh vực cụ thể đã được tự do hóa trong dịch vụ, phân phối, viễn thông và dịch vụ tài chính đang có những ảnh hưởng mạnh mẽ đến lối sống truyền thống cũng như cách thức làm ăn kinh doanh của người Việt Nam, thông qua việc mở ra các dịch vụ viễn thông tới vùng nông thôn, tạo ra nhiều mạng lưới phân phối và cung cấp các sản phẩm tài chính có tính cạnh tranh hơn Nhiều dịch vụ và sản phẩm tiêu dùng hiện nay đã sẵn có hơn và đã có sự tham gia nhiều hơn của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Cùng với việc tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp và người tiêu dùng, sự cạnh tranh mới này cũng tạo ra mối đe dọa cho các doanh nghiệp nhỏ có cấu trúc giản đơn và tạo áp lực trên các nguồn lực và kết cấu hạ tầng trong nước
Hiệp định gia nhập WTO của Việt Nam đòi hỏi một sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống luật pháp với việc ban hành chính thức các luật lệ và quy định, sự công bằng về thủ tục ra quyết định,
rà soát lại các văn bản pháp quy và nguyên tắc không phân biệt đối xử cũng như sự minh bạch, hiệu lực quản lý nhà nước và đối xử quốc gia Hơn thế nữa, việc xác định rõ ràng các quyền sở hữu cũng là một trong những yêu cầu trong cam kết WTO, điều này liên quan đến việc tư nhân hóa hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam và xác định rõ tình hình hoạt động của các DNNN Báo cáo đã đề xuất các khuyến nghị nhằm tạo ra môi trường thuận lợi hơn như sau:
o Cần giảm thời gian thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp thương mại Việt Nam và giảm chi phí xuất khẩu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh về xuất khẩu của Việt Nam so với Trung Quốc, Malaysia và Singapore, nhất là khi tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phần lớn dựa trên sự phát triển của các lĩnh vực định hướng xuất khẩu
o Cam kết WTO về việc cho phép sở hữu nước ngoài trong lĩnh vực ngân hàng nhấn mạnh sự khẩn thiết trong cải cách các ngân hàng thương mại sở hữu nhà nước
o Một số lượng lớn FDI đã được cam kết tại Việt Nam từ khi gia nhập WTO nhưng để tiếp tục thu hút và nâng cao tỷ lệ giải ngân nguồn vốn đầu tư này, Việt Nam phải đưa ra nhiều giải
Trang 19pháp để bảo vệ nhà đầu tư hơn Ví dụ như những cải cách thể chế mới đưa ra nhiều nghĩa vụ
ủy thác cho các giám đốc nhưng không thành công trong việc thực thi các nghĩa vụ này Việc tăng cường trách nhiệm của giám đốc tại Việt Nam đang ở mức thấp nhất trên thế giới và do
đó cần có những cải thiện mạnh mẽ trong thời gian tới
o Một điều đã được thừa nhận rộng rãi là khu vực DNNVV mạnh và bền vững là trung tâm của một nền kinh tế mạnh Sự tăng trưởng của khu vực DNNVV Việt Nam trong thời gian qua là đáng khích lệ và kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng nhanh trong thời gian tới Tuy nhiên, cần có
sự chú ý nhiều hơn đến đào tạo, hỗ trợ, trang bị các kỹ năng về công nghệ và quản lý trong khu vực này nhằm giúp các DNNVV tồn tại và nâng cao khả năng cạnh tranh
o Đối với các DNNVV, vẫn còn tồn tại những vấn đề về tiếp cận tới đất đai, tài sản, vấn đề về
cơ sở hạ tầng cũng như vấn đề về cải cách cơ cấu nhanh và trên diện rộng cần được giải quyết
o Đối với việc thâm nhập thị trường nước ngoài, cả hàng hóa và dịch vụ Việt Nam đều phải đảm bảo tiêu chuẩn, chất lượng cao và ổn định để cạnh tranh trong các thị trường phát triển Cần chú ý và rút kinh nghiệm từ sự phản ứng của công chúng và sự giận dữ của người tiêu dùng đối với các mặt hàng chất lượng kém, nhất là đồ chơi, sản phẩm y tế được sản xuất tại Trung Quốc, những sản phẩm chứa chất độc gây ra cái chết của một số người tiêu dùng ở nước ngoài
o Khu vực thành thị đã thu được nhiều lợi ích từ FDI nhờ việc gia nhập WTO, nhưng khu vực nông thôn vẫn kém phát triển Chính quyền các địa phương phải tăng cường sự cạnh tranh trong đầu tư nhằm đảm bảo cho các khu vực truyền thống của địa phương phát triển tốt và hạn chế làn sóng di dân ra thành thị để tìm kiếm việc làm
o Nhiều DNNVV cho rằng đã có sự cải thiện trong môi trường thể chế nhưng vẫn có sự khác
biệt trong quá trình thực hiện, do đó vẫn còn những hàng rào thể chế cần phải được xóa bỏ
Đã có những tác động tích cực trong các lĩnh vực quan trọng như lĩnh vực giới, với sự tăng lên
về mức lương của phụ nữ, sự thu hẹp khoảng cách về giới trong thu nhập và lao động trẻ em, với
sự giảm đáng kể về số lượng trẻ em đang làm việc Ngược lại, lao động trong các DNNN là những người chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ quá trình toàn cầu hóa, nhất là về sự ổn định trong việc làm, nhưng họ đã được bảo trợ bởi một quỹ phúc lợi xã hội và hầu hết các hộ gia đình đó có mức sống ở trên mức chuẩn nghèo
Đang có những dấu hiệu đáng lo ngại về việc xảy ra ngày càng nhiều vụ tranh chấp lao động, nhất là trong các doanh nghiệp sở hữu nước ngoài và sự bất bình đẳng ngày càng tăng trong phân phối thu nhập: chênh lệch ngày càng tăng giữa lương của lao động có kỹ năng và lao động không
có kỹ năng, thường được gọi là "khoảng cách kỹ năng" và phân phối thu nhập đang ngày càng chênh lệch giữa các hộ gia đình và giữa các tỉnh Nếu xu hướng tiếp tục tăng mạnh thì sẽ ảnh hưởng đến mối liên kết xã hội, một trong những trụ cột của xã hội Việt Nam
Trang 20Một số cam kết gia nhập WTO, như cam kết trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến, dịch vụ
và quyền sở hữu trí tuệ, có thể gây ra những ảnh hưởng xã hội tiêu cực đối với nghèo đói và việc làm Rất may, Việt Nam đã được phép tự do hóa từng bước trong một số lĩnh vực nhạy cảm và một số biện pháp bảo vệ đã được triển khai nhằm hạn chế các tác động tiêu cực đối với xã hội Báo cáo này đã đưa ra một số lựa chọn chính sách để đối phó với những ảnh hưởng tiêu cực có thể của hội nhập kinh tế quốc tế đối với xã hội Việt Nam và tăng cường các tác động tích cực Những đề xuất này phù hợp với Chương trình Hành động "Hậu WTO" mà Chính phủ đã ban hành, bao gồm:
• Tăng cường khả năng tiếp cận của người nghèo và các nhóm dễ bị tổn thương tới các dịch vụ
an sinh xã hội, như y tế và bảo hiểm thất nghiệp, với những giải pháp nhằm giúp tạo việc làm
thiểu số, những nhóm người hầu như không được hưởng những lợi ích của toàn cầu hóa
• Thiết lập một hệ thống cảnh báo sớm để theo dõi những sản phẩm nông nghiệp "dễ bị tổn thương" hoặc nhóm dễ bị tổn thương, nhờ đó kịp thời triển khai những chương trình trợ giúp đặc biệt trong trường họp cần thiết Các nhóm dễ bị tổn thương nên là mục tiêu hàng đầu của các chương trình trợ giúp nông nghiệp trong các lĩnh vực như nghiên cứu, phát triển, đào tạo,
cơ sở hạ tầng và tín dụng Một cơ chế bảo vệ hiệu quả, tuân theo các quy định của WTO, nên được thiết lập để bảo vệ những cộng đồng dễ bị tổn thương ở nông thôn
• Thúc đẩy và đa dạng hóa các hoạt động xuất khẩu thông qua các kênh khác nhau, như trợ giúp về tài chính và kỹ thuật để xúc tiến xuất khẩu; nâng cao năng suất của các doanh nghiệp thông qua việc cung cấp các cơ sở hạ tầng hiện đại, hiệu quả và các hoạt động nghiên cứu và phát triển
• Áp dụng các biện pháp nhằm tăng khả năng cạnh tranh của các cơ sở thương mại nhỏ trong nước, bao gồm việc cung cấp các khoản hỗ trợ tín dụng phù hợp, đào tạo kỹ năng quản lý hiện đại, kỹ năng marketing cũng như đẩy mạnh các hội nghề nghiệp và xây dựng mạng lưới cộng đồng để liên kết trong mua bán và vận tải
Trang 21CHƯƠNG I TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VĨ MÔ
Nội dung: 1 Giới thiệu; 2 Các quan điểm lý thuyết về tác động vĩ mô của tự do hóa thương mại;
3 Kinh tế vĩ mô của Việt Nam sau một năm gia nhập; 3.1 Cơ cấu và tăng trưởng kinh tế; 3.2 Cán cân thương mại; 3.3 Thu ngân sách; 3.4 Cán cân thanh tóan và chu chuyển vốn; 3.5 Chính sách tiền tệ và tỷ giá; 4 Kết luận và các bài học rút ra; 5 Tài liệu tham khảo
1 Giới thiệu
Có rất nhiều lý do để quan tâm các tác động có thể có của tự do hóa thương mại đến các biến số kinh số vĩ mô Lý do quan trọng nhất là tự do hóa có thể tác động đến định hướng, quy mô và phạm vi mà chính sách tài chính tiền tệ tác động đến ổn định chu kỳ kinh tế và trung hòa các cú sốc từ bên ngoài Tự do hóa có xu hướng làm cho các quốc gia dễ bị tổn thương hơn với các cú sốc về giá cả quốc tế và qua đó tăng khả năng rủi ro Tự do hóa cũng có thể tác động đến tỷ lệ trao đổi (term of trade) của một quốc gia; khả năng cạnh tranh và giá cả Tất cả các yếu tố này có thể có tác động mạnh mẽ đến việc làm và nghèo đói
Chương này tập trung vào một số tác động kinh tế vĩ mô của việc Việt Nam gia nhập WTO Nội dung của phân tích sẽ tập trung vào thời gian từ lúc Việt Nam thực hiện đàm phán gia nhập WTO vào năm 1995 cho đến khi chính thức gia nhập vào ngày 11 tháng 12 năm 2006 và một năm sau đó
Việt Nam đã bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế từ giữa những năm 1980 và gia nhập WTO là một
nỗ lực của cải cách kinh tế và đưa nền kinh tế hội nhập sâu hơn với kinh tế thế giới Việt Nam cũng thúc đẩy chính sách hội nhập khu vực thông qua các cam kết về Thỏa thuận thương mại tự
do ASEAN (AFTA), ASEA-Trung Quốc (ACFTA), ASEAN-Hàn Quốc và đang đàm phán một loạt các hiệp định thương mại song phương khác như giữa ASEAN và với Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ được ký năm 2001 đánh dấu một bước ngoặt to lớn trong nỗ lực tự do hóa và đảm bảo môi trường kinh doanh ổn định cho thương mại giữa hai nước Theo cam kết với WTO và các hiệp định song phương, các chính sách và quy định của Việt nam sẽ có tính minh bạch và trách nhiệm giải trình cao hơn, tạo ra một môi trường thuận lợi và bình đẳng cho cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài
Đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đến các biến số kinh tế vĩ mô gặp phải ít nhất một số khó khăn sau: (i) khó xác định năm thay đổi về các biến số kinh tế vĩ mô do cải cách đã được thực hiện trước khi gia nhập chính thức và do đó những cải cách này đã có những tác động đến kinh tế vĩ mô trước đó; (ii) diễn biến của thị trường tài chính thay đổi trong suốt quá trình gia nhập trước khi nó thực sự diễn ra; do đó cũng khó xác định chính xác thời điểm tác động; (iii) các tác động ngoại sinh như giá hàng hóa cao hơn (đặc biệt là các sản phẩm năng lượng và lương thực) và mất ổn định tài chính thế giới năm 2007 cũng có tác động đến bối cảnh kinh tế vĩ mô trong năm đầu gia nhập; và (iv) hội nhập khu vực và tham gia các hiệp định song phương cũng
đã có những động lực nhất định để Việt Nam tuân thủ các quy tắc thương mại quốc tế
Trang 22Một khó khăn khi đưa ra câu trả lời cho câu hỏi: Liệu các cải cách chính sách có được đưa ra hay không với kịch bản gia nhập và không gia nhập WTO Câu trả lời có thể mang tính chủ quan nhưng dường như nếu không gia nhập WTO, Việt Nam vẫn sẽ thực hiện hầu hết các cải cách, đơn giản là do phải cạnh tranh trong môi trường toàn cầu và yêu cầu phải cải cách thể chế Đây
là điều mà Việt Nam đã thực hiện từ khi cải cách kinh tế từ giữa những năm 1980 Hơn nữa, hội nhập vào ASEAN và các hiệp định thương mại cũng tạo sức ép để Việt nam cải thiện môi trường chính sách
Có thể nhận thấy điều này khi quan sát việc Việt nam tham gia ký các công ước quốc tế trước khi tham gia vào WTO như tham gia vào Ủy ban hợp tác Hải quan (nay là Tổ chức Hải quan Quốc tế) năm 1993 và ký Hiệp định Kyoto năm 1997 Rõ ràng, Việt Nam đã thực hiện các chính sách nhằm tăng cường tính minh bạch và ổn định trong môi trường thương mại trước khi đệ đơn gia nhập làm thành viên WTO Hiệp định thương mại với Hoa Kỳ là một cam kết vững chắc của Việt Nam trong việc thay đổi về môi trường thể chế
Tác động của việc gia nhập có thể phức tạp hơn là một cú sốc đối với nền kinh tế như được mô
tả bằng các mô hình định lượng Đó là sự ổn định do tuân thủ với các quy tắc thương mại quốc tế
và tăng trưởng nội sinh từ sự tuân thủ này có thể tác động mạnh nhất đến kinh tế vĩ mô Tương
tự như vậy, việc gia nhập có thể có rất ít tác động đến thị trường của các nước thành viên khác
do Việt Nam đã được hưởng các ưu đãi này thông qua các hiệp định song phương và đa phương khác với ASEAN, Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng như hệ thống ưu đãi chung của hầu hết các nước phát triển Do đó, lợi ích của gia nhập WTO có thể là môi trường kinh doanh mang tính dự đóan cao hơn, qua đó tác động đến quyết định đầu tư Gia nhập cũng tạo cơ hội cho Việt Nam trong đàm phán nhằm tăng mức ưu đãi về thị trường và yêu cầu về giảm trợ cấp; những điều có thể làm tổn hại đến phát triển sản xuất trong nước hoặc sử dụng cơ chế giải quyết xung đột của WTO để giải quyết các mâu thuẫn lợi ích Các yếu tố này có sẽ có tác động đến kinh tế vĩ mô trong dài hạn nhưng khó có thể dẫn đến những thay đổi trong các biến số kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn
Định nghĩa về kinh tế vĩ mô có thể rất rộng lớn vì nó bao gồm tất cả các quan hệ kinh tế gộp trong nền kinh tế Do đó, chúng tôi hạn chế phân tích của chương này ở năm lĩnh vực chính: (i) tăng trưởng và cơ cấu kinh tế ; (ii) cán cân thương mại; (iii) tác động đến ngân sách; (iv) cán cân thanh tóan quốc tế và chu chuyển vốn quốc tế; và (v) chính sách tiền tệ và tỷ giá Có thể nhận thấy sự đan xen và kết nối giữa các phần của chương nhằm đáp ứng mối quan tâm của các nhà hoạch định chính sách Các phần khác của báo cáo sẽ tập trung vào khu vực sản xuất và các tác động về mặt xã hội như việc làm, đói nghèo và thị trường lao động cũng như đầu tư nước ngoài Mỗi khu vực trên cần được phần tích kỹ lưỡng do tầm quan trọng của chúng tối với Việt Nam
2 Cơ sở lý luận về tác động của tự do hóa thương mại đến kinh tế vĩ mô
Cho đến nay, có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về tác động của tự do hóa thương mại đến tăng trưởng kinh tế2 Nhìn chung, có sự thống nhất chung rằng mở cửa thương mại sẽ đưa đến tăng
2 Tự do hóa thương mại và gia nhập WTO được sử dụng thay thế lẫn nhau do trong trường hợp của Việt Nam, gia nhập WTO thúc đẩy thực hiện các chính sách thương mại thương hướng tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ và đầu tư theo Phương thức 3
Trang 23trưởng kinh tế so với trường hợp không có sự thay đổi chính sách nào3 Lợi ích chủ yếu bao gồm phúc lợi của người tiêu dùng được tăng lên mặc dù nguồn thu ngân sách sẽ bị giảm sút; tiếp cận tốt hơn đến công nghệ, đến hiệu ứng động của khả năng cạnh tranh và nguồn vốn đầu tư Những kết quả này cho thấy kỳ vọng ổn định từ tự do hóa thương mại Tuy nhiên, như đã đề cập ở phần trên, sự điều chỉnh của kinh tế vĩ mô diễn ra sau khi gia nhập WTO (hay tự do hóa thương mại ở nghĩa rộng) có thể được chia thành tác động ngắn hạn (hiệu ứng tạm thời) và tác động dài hạn (hiệu ứng ổn định) Không phải tất cả các biến số kinh tế vĩ mô có thể điều chỉnh theo cùng tốc
độ tới điểm cân bằng mới, ví dụ như giá cả và tiền lương cứng nhắc, sự phản ứng chậm chạp của cung Những sự mất cân xứng đó có thể dẫn đến những tác động tiêu cực đến sản xuất, việc làm
và tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn
Phản ứng chậm chạp của khu vực sản xuất (ví dụ như thị trường lao động và tiền lương) khi có thay đổi chính sách dẫn đến phân bổ nguồn lực kém hiệu quả và tổn thất phúc lợi Tuy nhiên, trong dài hạn, phúc lợi tăng thêm của người tiêu dùng sẽ bù đắp lại khoản tổn thất về nguồn thu ngân sách Trong tất cả các kịch bản, các mô hình cho thấy tự do hóa thương mại với chính sách
tỷ giá linh hoạt sẽ giảm được mất mát về phúc lợi so với trường hợp tỷ giá cố định4 Do Việt nam duy trì chính sách tỷ giá neo với đồng đô la Mỹ, chúng tôi cho rằng nền kinh tế sẽ đòi hỏi nhiều thời gian hơn để chuyển tới trạng thái cân bằng mới do sự không nhất quán của các nhà hoạch định chính sách trong sử dụng tỷ giá để hạn chế nhập khẩu và khuyến khích xuất khẩu Điều đó giải thích tại sao khi giảm thuế, giá cả hàng nhập thấp hơn so với hàng sản xuất trong nước sẽ khuyến khích việc dịch chuyển cầu từ hàng sản xuất trong nước sang hàng nhập khẩu Do sản xuất trong nước điều chỉnh chậm chạp nên giá cả chưa thay đổi kịp, điều đó dẫn đến giảm sản lượng và việc làm Nếu tỷ giá hối đoái không được giảm giá, khu vực xuất khẩu không thể đẩy mạnh xuất khẩu (và qua đó tăng sản lượng và việc làm), để bù đắp cho thu hẹp trong những ngành thay thế nhập khẩu Tuy nhiên, mặc dù có tổn thất trong ngắn hạn, các mô hình mô phỏng cho thấy cho thấy lợi ích dài hạn từ tự do hóa vượt xa so với khoản tổn thất
Tác động của tự do hóa thương mại có mục tiêu5 đến biến động kinh tế vĩ mô có ý nghĩa quan trọng ở một quốc gia đang cố gắng chuyển từ các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động và nguyên liệu đầu vào sang các ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao như Việt Nam Các mô hình cho thấy mở cửa thị trường nông sản dẫn đến sự biến động lớn hơn với các biến số kinh tế
vĩ mô do tăng mức độ rủi ro khi đối mặt với các cú sốc hàng hóa sơ chế; thể hiện rõ nhất ở những
cú sốc về giá dầu và lương thực trên thị trường thế giới đang diễn ra Ngược lại, mở cửa thị trường phi nông nghiệp lại dẫn đến các tác động tích cực, ổn định kinh tế vĩ mô6 Cần lưu ý rằng cắt giảm thuế lớn nhất ở Việt Nam là đối với các mặt hàng phi nông nghiệp với mức thuế giảm
từ 16,3 % trước khi gia nhập xuống 12% vào năm 2019 (giảm 25%), so với các sản phẩm nông nghiệp với mức giảm từ 25,7% đến 21,7% vào năm 2012 (giảm 16%) Do đó, chúng tôi kỳ vọng
có sự ổn định hơn đối với kinh tế vĩ mô của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
Tác động của mở cửa thị trường dịch vụ dự kiến sẽ có tầm quan trọng đặc biệt đến các lĩnh vực như bảo hiểm và ngân hàng Việt Nam đã thực hiện một loạt các cam kết về tự do hóa trong lĩnh
3 Ví dụ xem các nghiên cứu nổi tiếng của Edwards (1998) và Rodrik (1999)
Trang 24vực dịch vụ trong khuôn khổ WTO Một số lý thuyết cho thấy tự do hóa thương mại làm gia tăng đầu tư và cầu lao động Do lao động tương đối khan hiếm, nên năng suất lao động sẽ tăng thêm nhằm đáp ứng sự thiếu hụt đó với mức đầu tư cao hơn7 Kết luận quan trọng cũng được rút ra là
tự do hóa trong lĩnh vực tài chính sẽ thúc đẩu đầu tư, điều này đến lượt nó sẽ tăng cường tác động phụ của tự do hóa thương mại với việc tăng năng suất trung bình và quy mô sản xuất (quy
mô danh nghiệp)8 Cả hai nhân tố này sẽ đóng vai trò quan trọng đối với khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế Ở tầm vĩ mô, tăng hiệu quả các trung gian tài chính khi mở cửa thị trường sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế9 Những phát hiện của nghiên cứu này dựa trên các tác động dài hạn và khác biệt với các tác động tạm thời, những tác động có thể đi theo chiều hướng ngược lại10
Các chính sách giảm thuế quan được dự kiến sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách từ thuế thương mại, hiện nay đang chiếm dưới 10% nguồn thu ngân sách năm 2007 của Việt Nam Ví
dụ, trong trường hợp của Trung Quốc, trong năm đầu tiên gia nhập WTO, tổng thu ngân sách đã giảm sút Tuy nhiên, giảm nguồn thu từ thuế quan chỉ diễn ra nếu quy mô và cấu phần nhập khẩu không thay đổi sau khi gia nhập Điều đó không thể xảy ra trong trường hợp những thay đổi lớn
về thuế quan Thay đổi mạnh về mức thuế sẽ thay đổi cầu nhập khẩu cũng như tác động đến sản xuất trong nước do hàng nhập khẩu rẻ hơn tương đối với hàng sản xuất trong nước Tăng kim ngạch nhập khẩu, thậm chí với mức thuế thấp hơn, có thể tạo ra thu nhập cho chính phủ lớn hơn
để bù đắp cho mức thuế thấp hơn Tác động cuối cùng sẽ phụ thuộc vào mức độ thay thế lẫn nhau giữa hàng nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước và độ co giãn của thu nhập
Nghiên cứu định lượng đối 66 nước đang phát triển cho thấy mở cửa thương mại làm tăng rủi ro của quốc gia đối với các cú sốc từ bên ngoài11 Cú sốc tích cực dưới áp lực chính trị khiến chính phủ khó có khả năng điều hòa khoản chi tiêu nhằm dự phòng cho tình huống xấu diễn ra sau đó Kết quả là thâm hụt ngân sách tăng lên, sự bùng nổ kéo theo sự đổ vỡ Tác động chung không chỉ là thâm hụt ngân sách trở nên trầm trọng hơn mà sự không ổn định về ngân sách dẫn đến những biến động về lãi suất, tỷ giá và trong chính sách tiền tệ
Ngược lại, khi tự do hóa thương mại được thực hiện là một phần của một kế hoạch cả gói về cải cách như đã được thực hiện ở Việt Nam, nó có thể củng cố ngân sách và qua đó điều hòa các cú sốc tạm thời Trong bối cảnh đó, tự do hóa thương mại không làm suy yếu ngân sách mà thay vào đó củng cố sự bền vững Một số nghiên cứu cho thấy sự bù đắp của giảm thuế thương mại thông qua việc tăng nguồn thu gián tiếp trong nước hoặc cải thiện thực thi và quy định của luật quản lý thuế và hải quan12
Gia nhập WTO dự kiến sẽ tác động đến cơ cấu của nền kinh tế do thay đổi về tiếp cận thị trường
sẽ tác động đến giá tương đối của hàng nhập khẩu ở những khu vực có sự thay đổi về thuế quan Ngành có thể chịu tác động lớn bởi WTO là dệt may, khi mà mức thuế quan tối huệ quốc (MFN) trước khi gia nhập WTO là 36,4% nhưng mức thuế cuối cùng cho năm 2007 chỉ là 13,6% Thay
7 Baldwin và Forslid (2006)
8 Taylor (2008)
9 Chang et al (2005)
10 Abiad et al (2007)
11 Combes và Saadi-Sedik (2006) Báo cáo này không bao gồm Việt Nam trong các mẫu nước nghiên cứu
12 Suliman (2005), ECLAC (1999), Combes và Saadi-Sedik (2006)
Trang 25đổi thuế quan sẽ có tác động đến cạnh tranh trong nước của Việt Nam và dẫn đến tái cơ cấu khu vực này Có một sự thống nhất chung là trong trường hợp của Việt Nam, hội nhập kinh tế nói chung và gia nhập WTO nói riêng sẽ dẫn đến sự mở rộng nhanh đối với các ngành công nghiệp nhẹ, một phần do mở ra cơ hội cho các thị trường mới và một phần do lợi thế so sánh của Việt Nam trong các ngành sử dụng nhiều lao động Ngoài ra, các lợi ích động của hội nhập kinh tế quốc tế có thể từ việc: (i) tiếp cận tốt hơn đến kỹ năng và kiến thức từ bên ngoài; điều này tác động tích cực đến tăng trưởng năng suất lao động; (2) tăng lợi tức từ việc sử dụng cả vốn vật chất và con người, qua đó thúc đẩy đầu tư trong nước và nước ngoài; (iii) chính sách mở cửa được coi là công cụ hữu ích trong thúc đẩy cải cách kinh tế trong nước13 Nhìn rộng hơn, giảm bớt sự méo mó về giá cả gây ra bởi hàng rào thuế quan sẽ dẫn đến thay đổi đối với cơ cấu kinh
tế, làm tăng hiệu quả phân bổ nguồn lực Sự tái phân bổ này sẽ tác động tới lao động và vốn được sử dụng bởi các ngành
Giảm thuế quan được kỳ vọng sẽ dẫn đến giảm mức giá chung của nền kinh tế Mức giá thấp hơn
sẽ giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng cạnh tranh của sản xuất trong nước Nếu các doanh nghiệp có thể tận dung được cơ hội đó thì tự do hóa thương mại có thể dẫn đến năng suất lao động và khả năng cạnh tranh cao hơn, đồng thời thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu
Tự do hóa thương mại có tác động không rõ ràng đến xuất nhập khẩu Các nghiên cứu cho thấy
có mối quan hệ rõ ràng giữa tự do hóa thương mại và tăng trưởng nhập khẩu Tuy nhiên, có sự không thống nhất về tác động đến các ngành xuất khẩu, khi mà các ngành này đươc hưởng lợi từ giá cả đầu vào thấp hơn và dễ dàng hơn trong tiếp cận công nghệ và nguyên liệu sản xuất nhưng lại bị tác động tiêu cực bởi sự lên giá của đồng nội tệ Tác động tổng thể của cán cân thương mại
là tiêu cực trong ngắn hạn14 nhưng có khả năng với hiệu ứng động, cán cân sẽ cân bằng trong dài hạn
Tự do hóa thương mại được kỳ vọng sẽ làm tăng dòng vốn vào Điều này là do bản chất của các dòng thương mại giữa các thời kỳ khi thâm hụt của các cân vãng lai cần được tài trợ bởi các luồng vốn vào và do nền kinh tế mở cửa thu hút các cơ hội đầu tư mới, đặc biệt đối với ngành xuất khẩu và dịch vụ Dòng vốn vào sẽ bổ sung thêm cho đầu tư trong nước, dự trữ ngoại hối và thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn
Ở khía cạnh khác, dòng vốn vào dẫn đến sự mở rộng tín dụng trong nước thông qua hệ thống ngân hàng Lượng tín dụng nhiều hơn thúc đẩy chi tiêu thông qua tăng đầu tư và bùng nổ tiêu dùng (với khuynh hướng tăng tiêu dùng các mặt hàng nhập khẩu đắt tiền và tạo ra mức thêm hụt thương mại lớn hơn) hoặc đầu cơ vào bong bóng tài sản Trong trường hợp một quốc gia theo đuổi chính sách neo tỷ giá, chính sách tiền tệ thích ứng được áp dụng để ngăn cản sự lên giá của đồng nội tệ; điều này dẫn đến tăng cung tiền và sức ép lên lạm phát Ngân hàng trung ương có thể triệt tiêu sức ép này bằng việc sử dụng các công cụ nhằm trung hòa tác động của dòng vốn vào thông qua nghiệp vụ thị trường mở hoặc tăng dự trữ bắt buộc Tuy nhiên, hành động này có thể dẫn đến vòng xóay lãi suất cao hơn và thu hút nhiều hơn vốn từ bên ngoài vào, đẩy lãi suất
và giá trị của đồng nội tệ lên cao hơn Ngoài ra, dòng vốn vào đem lại nhiều rủi ro và làm trầm trọng thêm những yếu kém về cơ cấu kinh tế vĩ mô căn bản; đặc biệt khi các dòng vốn vào ngắn
13 Fukase và Winters (1999)
14 Ví dụ xem Santos-Paulino và Thirlwall (2004); Wu và Zeng (2008)
Trang 26hạn được dẫn dắt bởi các hoạt động đầu cơ có thể dễ dàng đảo chiều nếu có những thay đổi về các yếu tố căn bản của nền kinh tế và kỳ vọng của nhà đầu tư
3 Kinh tế vĩ mô của Việt Nam sau một năm gia nhập
Cải cách kinh tế ở Việt Nam được tiến hành trước khi gia nhập chính thức và sẽ tiếp tục cho đến giai đoạn hoàn thành vào năm 2019 Tuy nhiên, có một số thay đổi cơ bản diễn ra trong năm đầu tiên gia nhập bao gồm: mức thuế áp dụng đối với dệt may sẽ giảm từ 36,4% năm 2007 xuống 13,5% năm 2007; thuế đối với giày dép cũng giảm từ 43,9% năm 2006 xuống 27,3% năm 2007 Các hàng hóa khác có thời gian thay đổi lâu hơn nhưng sẽ dần được giảm bớt, chậm nhất đến trước năm 2012 đối với sản nông sản và hầu hết các sản phẩm nông nghiệp, và trước năm 2019 đối với một số mặt hàng công nghiệp khác15 Việt Nam cũng cho phép các tổ chức tài chính nước ngoài thành lập ngân hàng 100% sở hữu nước ngoài16; cho phép các công ty chứng khóan nước ngoài thành lập văn phòng ở Việt Nam với 51% vốn sở hữu thuộc về đối tác trong nước Khu vực phân phối cũng cho thấy sự tự do hoàn toàn bằng việc cho phép các công ty nước ngoài thành lập các doanh nghiệp bán buôn và bán lẻ
Trợ cấp đối với sản xuất nông nghiệp có thể được duy trì ở mức dưới 10% theo ngưỡng của các nước đang phát triển Tuy nhiên, các khoản trợ cấp làm méo mó thương mại trong các ngành sản xuất phải được bãi bỏ Thêm vào đó, kiểm sóat giá cũng phải được dỡ bỏ theo các cam kết đối với WTO
Mô hình gần đây nhất cho thấy việc gia nhập WTO dẫn đến giảm thu nhập từ thuế quan từ 0,3 đến 0,4% GDP năm 2007 Nghiên cứu này cũng cho thấy kết quả tương tự như các nghiên cứu khác17 Lợi ích tổng thể thu được trong năm đầu tiên gia nhập được ước tính ở mức 1,1% GDP
do tăng phúc lợi của người tiêu dùng do hưởng mức giá nhập khẩu thấp hơn Tác động ròng phụ thuộc vào các nhân tố khác như khả năng thích ứng của các ngành đối với cạnh tranh, cơ cấu tỷ
lệ bảo hộ hữu hiệu và tất nhiên cả tác động lan toản liên quan đến việc chuyển giao công nghệ, cạnh tranh, chất lượng và hiệu ứng đa dạng hóa sản phẩm
Phần này xem xét những thay đổi về các biến kinh tế vĩ mô và ở chừng mực nào đó là mối liên
hệ của chúng với việc gia nhập WTO
3.1 Cơ cấu và tăng trưởng kinh tế
Những cải cách theo hướng thị trường và chính sách mở cửa kinh tế được coi là bước ngoặt quan trọng tác động tích cực đến nền kinh tế Việt nam Trong gian đoạn 1996 – 2007, Việt Nam đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục; đồng thời duy trì lạm phát ở mức thấp, tăng nhanh xuất khẩu và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài Kinh tế của Việt nam có độ mở tương đối lớn so với
15 Đặc biệt, như chúng tôi sẽ thảo luận trong phần 1.3.5, Chính phủ đẩy nhanh việc giảm thuế đối với motọ số mặt hàng thiết yếu nhằm giảm bớt sức ép lạm phát (như ô tô, thức ăn gia súc, sản phẩm sữa, thịt lợn, thịt đỏ và vật liệu xây dựng)
16 Phải có mức vốn tối thiểu 10 tỷ USD và 20 tỷ USD để mở chi nhánh và chịu một số hạn chế về tiền gửi bằng Việt Nam đồng từ người cư trú cho đến năm 2011
17 IMF (2007) sử dụng mô hình cân bằng bộ phận tĩnh
Trang 27các nước trong khu vực thể hiện ở tỷ trọng thương mại so với GDP, đạt mức 152,7% năm 2007 (xem Hình 1)
Hình 1: Tỷ trọng thương mại so với GDP của Việt Nam và một số nước năm 2006 (%)
Nguồn: Số liệu về thương mại của Việt Nam (tổng xuất nhập khẩu hàng hóa) và GDP từ Tổng cục Thống
kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư và tỷ giá từ Quỹ tiền tệ quốc tế Các số liệu khác từ Tổ chức thương mại quốc tế
Có một sự thừa nhận chung rằng thương mại quốc tế là bộ phận năng động và hiệu quả nhất trong quá trình cải cách kinh tế trong thập kỷ vừa qua ở Việt Nam Ngoại trừ hai năm có tốc độ tăng trưởng thấp, giá trị xuất khẩu của Việt Nam tăng trung bình ở mức 20-25% một năm18 Cùng với tăng trưởng xuất khẩu nhanh, GDP của Việt Nam cũng tăng trung bình ở mức 7% một năm trong suốt những năm 90 Từ năm 2000, GDP tăng trung bình ở mức 7,8%, tương ứng mới mức tăng 6,7% GDP đầu người19 (xem Hình 2) So với các quốc gia Đông Á khác, tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ này chỉ đứng sau Trung Quốc và ở mức độ nào đó ngoạn mục hơn so với các nền kinh tế có mức độ phát triển cao hơn như Ấn Độ Trong năm 2007, GDP tăng
ở mức 8,5%, là mức tăng cao nhất trong vòng 10 năm gần đây, và đưa mức GDP đầu người lên 896USD
18 Tăng trưởng xuất khẩu giảm trong năm 1998 chủ yếu do cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á do các nước Châu Á
là thị trường quan trọng cho hàng xuất khẩu của Việt Nam Ngoài ra, giảm nhập khẩu từ năm 1997 cũng làm giảm sút xuất khẩu trong năm 1998 do 40% đầu vào cho sản xuất được nhập khẩu Xuất khẩu giảm năm 2001 là do suy giảm kinh tế thế giới và giảm giá các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam như gạo, cà phê và dầu
19 GDP đầu người tăng từ US$415 lên US$725
Trang 28Hình 2: GDP và tăng trưởng xuất khẩu (%)
Việt Nam ngày càng trở thành nền kinh tế hướng về xuất khẩu với tỷ trọng xuất khẩu trên GDP tăng trưởng ổn định, từ mức 27% năm 1995 lên 67,6% vào năm 2007 Sự thích ứng của các doanh nghiệp xuất khẩu với những cơ hội mở ra bởi các hiệp định song phương, đa phương và gia nhập WTO là yếu tố căn bản cho sự phát triển này Đồng thời, gia tăng xuất khẩu tới các thị trường mới không làm dịch chuyển nguồn lực ra khỏi các thị trường cũ; điều này cho thấy sự điều chỉnh năng động từ phía cung đối với thay đổi về cầu20
Một đặc điểm đáng chú ý khác trong quá trình phát triển của Việt Nam gần đây là tăng trưởng kinh tế có xu hướng ổn định hơn Hình 3 cho thấy khả năng thích ứng của Việt Nam trước những biến động tiêu cực từ kinh tế thế giới mặc dù có mức độ mở cửa lớn Lý do chủ yếu là tăng trưởng của Việt Nam dựa chủ yếu vào đầu tư trong nước và tiêu dùng; trong khi xuất khẩu ròng đóng góp âm vào GDP
20 CIEM/STAR (2007)
Trang 29Hình 3: Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam và kinh tế thế giới (%)
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế, Cơ sở dữ liệu Tổng quan kinh tế thế giới
Dịch vụ là ngành quan trọng của nền kinh tế, chiếm trung bình tới 38,3% GDP trong giai đoạn
2000 - 2007 Khu vực dịch vụ đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhất trong bảy năm vừa qua và cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP năm 2007 Tuy nhiên, tự do hóa thương mại không mang lại tác động mạnh mẽ đến cơ cấu ngành dịch vụ Các ngành có giá trị gia tăng thấp vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong các hoạt động dịch vụ (xem Hình 4) Các ngành này chủ yếu phục vụ cho tiêu dùng cuối cùng và không cải thiện được khả năng cạnh tranh của khu vực tư nhân Đóng góp của các dịch vụ giá trị gia tăng cao như ngân hàng tài chính, nghiên cứu và triển khai, thông tin, chỉ ở mức khiêm tốn, khoảng 7% GDP và không thấy có sự thay đổi đáng kể Hơn thế nữa, tỷ trọng của tài chính ngân hàng và nghiên cứu và triển khai chỉ ở mức 1,8 và 0,6% GDP trong vòng 10 năm qua Mức độ bảo hộ lớn và thiếu lao động có trình độ cao vẫn là những lý do chính giải thích cho sự đóng góp và phát triển thấp của các ngành này
Hình 4: Đóng góp của các ngành có giá trị gia tăng cao (%)
Tỷ trọng các ngành dịch vụ các giá trị gia tăng cao trong GDP
Tỷ trọng các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao trong giá trị gia tăng ngành dịch vụ
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Trang 30Cho dù trở thành thành viên của WTO không mang lại sự tăng trưởng đáng kể trong xuất khẩu, nhưng sự tăng trưởng ổn định của các ngành may mặc và da giầy trong xuất khẩu vẫn tiếp tục hỗ trợ thúc đẩy sản xuất trong các lĩnh vực này Hơn nữa, việc thực hiện các hiệp định thương mại
đa phương và mở cửa thị trường Hoa Kỳ thông qua hiệp định song phương và các thị trường khác sau khi gia nhập WTO, các sản phẩm xuất khẩu chế tác kỳ vọng sẽ đóng vai trò quan trọng hơn trong cơ cấu hàng xuất khẩu
Trong các sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, sự chiếm ưu thế của hàng may mặc và da giầy cho thấy lợi thế so sánh mạnh mẽ của Việt Nam đối với các sản phẩm sử dụng nhiều lao động truyền thống Tiếp cận với các thị trường mới là yếu tố chính cho việc mở rộng các ngành dệt may và da giầy trong khi mở rộng thị trường nội địa lại đóng vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng của các ngành còn lại Những thay đổi về thể chế, cải cách về môi trường đầu tư trong nước đã đem lại sự cải thiện về năng lực và năng suất của các ngành công nghiệp còn lại này21 Ngoài ra, tác động tích cực của việc gia nhập WTO có thể có độ trễ nhất định so với đánh giá sau một năm gia nhập ở đây
Tăng trưởng kinh tế theo hướng xuất khẩu và tăng tỷ trọng của các sản phẩm công nghiệp sử dụng nhiều lao động đã có tác động đến cơ cấu sản xuất công nghiệp Hình 5 cho thấy tốc độ tăng trưởng sản lượng của các ngành sử dụng nhiều lao động đã tăng đáng kể từ năm 2001 Tốc
độ tăng trưởng hàng năm ở mức 17,6% trong giai đoạn 1997 – 2000 lên 25,6% trong giai đoạn
2001 – 2005 Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng sản lượng của các sản phẩm sử dụng nhiều lao động cao hơn tốc độ tăng trưởng của các ngành sử dụng ít lao động Xu hướng này được kỳ vọng sẽ tiếp tục sau khi gia nhập WTO mặc dù cạnh tranh tăng lên trong một số lĩnh vực có thể dẫn đến tái cơ cấu các ngành sản xuất trong nước22
Hình 5: Tăng trưởng cơ cấu sản lượng công nghiệp (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính tóan của các tác giả
21 Abbott et al (2007)
22 Trong các ngành dệt may, các thành viên khác của WTO như Bangladesh, Madagascar và Trung Quốc có thể trở thành mối đe dọa thực sự đối với Việt Nam, thậm chí ngay cả trên thị trường nội địa
Trang 313.2 Cán cân thương mại
Xu hướng xuất khẩu của Việt Nam rõ ràng chịu tác động của biến động kinh tế thế giới Hình 6 cho thấy tăng trưởng xuất khẩu có mối tương quan chặt chẽ tăng trưởng kinh tế thế giới Điều đó cho thấy khi Việt Nam ngày càng mở cửa thì các biến động của kinh tế thế giới sẽ có ảnh hưởng sâu sắc hơn xuất khẩu và qua đó đến kinh tế trong nước
Hình 6: Quan hệ giữa xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế thế giới (%)
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Quỹ tiền tệ quốc tế, Cơ sở dữ liệu Tổng quan kinh tế thế giới
Việt Nam đang theo đuổi chính sách đa dạng hóa thị trường xuất khẩu (xem Hình 7) Với việc ký kết các hiệp định thương mại mới, khả năng về đa dạng hóa thị trường xuất khẩu cũng được gia tăng Gia nhập WTO sẽ đem lại nhiều cơ hội, không chỉ thông qua việc tiếp cận tới các thị trường mới nổi23, mà còn tạo ra môi trường thương mại ổn định hơn cho xuất khẩu hàng hóa Khả năng đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sẽ giúp Việt Nam giảm bớt sự phụ thuộc vào biến động kinh tế của từng nước bạn hàng; qua đó giúp ổn định nguồn thu từ xuất khẩu
Cơ cấu xuất khẩu cũng có sự thay đổi đáng kể từ các nguyên liệu thô sang các mặt hàng chế biến; thể hiện sự thay đổi tích cực về cơ cấu kinh tế với mức độ phát triển cao hơn Mặc dù tỷ trọng của các mặt hàng nông sản và khóang sản vẫn đóng vai trò quan trọng nhưng sự đóng góp của chúng đang giảm dần Tỷ trọng của các sản phẩn công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 37,3 % năm 1996 lên 50,4% năm 2005 Tỷ trọng này ước tính lên khoảng 52,4% năm 2007 Tiếp cận đến các thị trường mới sau khi gia nhập WTO có thể giúp duy trì xu thế này, mặc dù đây không phải là yếu tố then chốt nhất trong trung hạn
23 Như đã đề cập, các thị trường EU và OECD được hưởng ưu đãi chung, trong khi các nước phát triển khác thì có mức độ hạn chế hơn
Trang 32Hình 7: Các thị trường xuất khẩu chính (% trên tổng số)
Lưu ý: Trung Quốc (bao gồm cả Đài Loan và Hồng Kông); Đông Á (Nhật Bản và Hàn Quốc)
Hình 8 cho thấy xu hướng xuất khẩu của Việt Nam với việc mở rộng các mặt hàng công nghiệp nhẹ và thủ công mỹ nghệ sử dụng nhiều lao động, đặc biệt sau khi ký Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ
Hình 8: Tỷ trọng trung bình của các sản phẩm xuất khẩu
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính tóan của các tác giả
Tốc độ tăng trưởng nhập khẩu đạt 35,5% trong năm 2007 so với mức 15,7% năm 2005 và 21,4% năm 2006 Mức tăng trưởng này là do nhu cầu đầu tư tăng cao, đặc biệt là do nguồn vốn đầu tư nước nước và các nguyên liệu đầu vào cho mở rộng sản xuất công nghiệp Do mức thuế trong
Trang 33năm đầu tiên gia nhập chủ yếu giảm đối với hàng dệt may và giày dép nên đây không phải là tác động trực tiếp của việc gia nhập WTO
Cơ cấu hàng nhập khẩu cho thấy mức độ phát triển công nghiệp ở mức thấp (Hình 9) Hiện tại, Việt Nam không có khả năng cạnh tranh quốc tế trong hầu hết các sản phẩm công nghiệp cũng như nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp; do đó phải dựa chủ yếu vào nhập khẩu các mặt hàng này Tỷ trọng thấp của hàng tiêu dùng nhập khẩu là kết quả của chính sách thay thế nhập khẩu trong sản xuất hàng tiêu dùng24
Hình 9: Cơ cấu hàng nhập khẩu (% tổng nhập khẩu)
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính tóan của các tác giả
Tuy nhiên, đã có sự gia tăng đáng kể tỷ trọng của hàng tiêu dùng trong cơ cấu hàng nhập khẩu từ mức 7,5% trong gian đoạn 1996 – 2006 lên khoảng 11,4% năm 2007 Sự bùng nổ tiêu dùng bắt nguồn một phần từ thu nhập của dân cư tăng thêm, nhưng cũng do một lượng vốn lớn chuyển vào và tăng trưởng nhanh của tín dụng Mức thuế quan thấp hơn được áp dụng với các mặt hàng này do gia nhập WTO có thể làm tăng thêm khối lượng nhập, nhưng đây không phải là lý do chủ yếu do mức giảm thuế theo lộ trình và ở mức thấp
ASEAN và Trung Quốc là những nhà cung cấp chủ yếu cho Việt Nam Tỷ trọng nhập khẩu của Việt Nam từ các nước này đã tăng từ mức 30% năm 2005 lên mức 48% năm 2007 (Hình 10) Cụ thể là, tỷ trọng hàng xuất khẩu từ Trung Quốc đã tăng đột biến từ mức khoảng 5,2 % trong giai đoạn 1996 – 2000 lên 13,4% trong giai đoạn 2001 – 05 và đạt mức 20,2% năm 200725 Trung Quốc hiện nay không được hưởng lợi từ mức thuế quan thấp từ Việt Nam trong khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc nhưng mức thuế quan này sẽ được áp dụng từ năm
2020 Các nước Đông Nam Á vẫn áp dụng chủ yếu mức thuế quan tối huệ quốc Do đó, sự thay
24 Ngoài ra, tỷ trọng hàng tiêu dùng nhập khẩu ở mức thấp có thể do sự phân loại không rõ ràng giữa hàng nhập khẩu cho tiêu dùng và cho sản xuất
25 Nhập khẩu từ Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU chủ yếu là máy móc thiết bị công nghệ nguồn và một số nguyên vật liệu phụ trợ nhưng lượng nhập còn khiêm tốn và tỷ trọng có xu hướng giảm Rõ ràng, tiếp cận công nghệ nguồn tiên tiến chưa phải là điều phổ bến ở Việt Nam và điều này có ảnh hưởng không tốt đến khả năng cạnh tranh trong dài hạn của kinh tế Việt Nam
Trang 34đổi mức thuế sau khi gia nhập WTO chủ yếu tác động đến nhập khẩu của Việt Nam Tuy nhiên, rất khó định lượng tác động này chỉ một năm sau khi gia nhập WTO
Nguồn: Tổng cục Thống kê và tính tóan của các tác giả
Thâm hụt thương mại được thu hẹp từ mức 6,4% GDP năm 2003 xuống mức 2% năm 2005 Tuy nhiên, trong năm 2006 và đặc biệt năm 2007, thâm hụt thương mại đã tăng trở lại do tăng trưởng nhập khẩu cao và mức thâm hụt đạt mức 13,2% GDP vào cuối năm 2007 Như đã đề cập ở trên, thâm hụt thương mại sẽ trở nên trầm trọng hơn trong trung hạn mà một phần nguyên nhân do tác động của việc gia nhập WTO
3.3 Thu ngân sách
Tầm quan trọng của nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu đã thay đổi đáng kể Trước khi cải cách vào năm 1989, thuế xuất nhập khẩu đóng vai trò không đáng kể trong tổng thu ngân sách Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng ngày càng nhanh của thương mại, thuế xuất nhập khẩu (chủ yếu
là thuế nhập khẩu) ngày càng trở nên quan trọng, đóng góp từ mức khoảng 10% trong những năm đầu 1990 lên mức 25% tổng thu ngân sách năm 1995 Cùng với việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA và Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ, số dòng thuế đã được giảm bớt26
26 Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại Trương Đình Tuyển (2006) cho rằng cắt giảm thuế quan theo cam kết với WTO không rộng và sâu như mức mà Việt Nam cam kết với ASEAN trong khuôn khổ hiệp định CEPT/AFTA, và nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu trong danh sách giảm thuế WTO chỉ chiếm khoảng 20% tổng nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu Nguồn thu từ thuế nhập khẩu chỉ chiếm khoảng 9% tổng thu ngân sách và lịch trình giảm thuế diễn ra từ 5 đến 7 năm, và dẫn đến giảm khoảng 1% trong tổng thu ngân sách Trong khi đó, tư cách thành viên của WTO sẽ cho phép Việt Nam mở rộng sản xuất và thúc đẩy xuất nhập khẩu, mở rộng cơ hội đóng góp vào nguồn thu cho ngân sách
Trang 35Nhiều nghiên cứu27 dự báo việc thực hiện các cam kết WTO và các hiệp định thương mại khác
sẽ tác động trực tiếp làm giảm nguồn thu ngân sách Ngòai ra, nó cũng tạo ra các tác động gián tiếp tiêu cực khác như hàng nhập khẩu rẻ sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp trong nước trong cạnh tranh, do đó giảm nguồn thu trong nước (giảm nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp) Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thuế xuất nhập khẩu vẫn duy trì tỷ trọng trên 10% từ năm
tỷ lệ thu Tuy nhiên, chi phí để thực hiện các cải cách trên đã bị bỏ qua trong nghiên cứu này và
có thể có tác động tiêu cực đến thâm hụt ngân sách
Quan trọng hơn, thu ngân sách nhà nước trong năm đầu gia nhập WTO được thực hiện trong bối cảnh thuận lợi như tăng trưởng kinh tế nhanh29, giá cả nhiều mặt hàng ở mức cao và tiếp tục quá trình cải cách ngân sách Tuy nhiên, có một số yếu tố gây tác động bất lợi đến sản xuất trong nước như hạn hán, lũ lụt và đặc biệt là dịch bệnh cúm gia cầm; biến động bất thường của giá dầu
và các nguyên liệu nhập khẩu; giá hàng tiêu dùng tăng ở mức cao so với các năm trước
27 Bộ Tài chính (2007); Phạm (2003); Fukase and Martin (1999a) và Bhide (1997)
28 Bacchetta và Drabek (2004)
29 GDP tăng 8.5% năm 2007 (8.2% in 2006)
Trang 36Năm 2007, chính sách huy động vào ngân sách đã có những thay đổi đáng kể thông qua quá trình cải cách và cam kết theo lịch trình hợp tác kinh tế khu vực ASEAN và cam kết WTO như:
• Dỡ bỏ ưu đãi thuế để thúc đẩy xuất khẩu (cải cách thúc đẩy bởi WTO)
• Dỡ bỏ ưu đãi thuế đối với các doanh nghiệp nhà nước thực hiện cổ phần hóa (cải cách thúc đẩy bởi WTO)
• Đẩy mạnh phân cấp cho chính quyền địa phương trong việc quyết định mức phí và lệ phí (cải cách trong nước)
• Thay đổi cơ chế thu và một số mức phi và lệ phí để giảm chi phí cho doanh nghiệp và gánh nặng cho người dân (cải cách trong nước); và
• Thực thi Luật quản lý thuế từ 1 tháng 7 năm 2007, v.v (cải cách trong nước và được thúc đẩy bởi WTO)
Với hệ thống thu thuế được tăng cường cùng với tăng nhập khẩu và giá thế giới tăng cao đã tăng nguồn thu ngân sách năm 2007 khoảng 16% so với năm 2006 Đặc điểm đáng lưu ý là tỷ trọng thu từ thuế xuất nhập khẩu đã tăng từ 10% tổng thu năm 2006 lên mức 12% năm 2007 (xem Hình 12)
Hình 12: Cơ cấu nguồn thu năm 2006 và 2007
2006 Ước 2007
Nguồn: Trích từ Nắm bắt thời cơ: Điểm lại phát triển kinh tế Việt Nam gần đây, Ngân hàng Thế giới,
2007
Trong các thỏa thuận gia nhập WTO, Việt Nam đã cam kết thực hiện các mức thuế quan; nghĩa
là chỉ trong những trường hợp đặc biệt, Việt Nam mới có thể đàm phán để tăng mức thuế áp dụng so với mức cam kết Điều đó làm cho việc đảo ngược chính sách trở nên khó khăn và Chính phủ cũng mất dần sự chủ động khi sử dụng thuế quan để bù đắp khoản hụt thu bất ngờ do các cú sốc bên ngoài Những cú sốc như vậy không diễn ra trong năm 2007 và tác động của chúng vì vậy cũng không quan sát thấy được Tuy nhiên, trong một số trường hợp, mức thuế quan cam kết hiện đang ở mức cao hơn mức hiện hành và đòi hỏi Chính phủ phải giảm bớt mức thuế suất
CIT 15%
PIT 2%
Property 9%
Other 7%
Oil revenues 30%
Property 10%
Other 6%
Oil revenues 22%
Value Added 25%
Trade 12%
Excise 6%
Trang 37Chính phủ đã điều chỉnh mức thuế của 26 nhóm hàng hóa, bao gồm 1.812 dòng thuế (hầu hết liên quan đến hàng dệt may, rau và hoa quả), chiếm 17% tổng số dòng thuế năm 2007 Tính chung lại, mức thuế trung bình giảm từ 17,3% năm 2006 xuống 13,4% năm 2019 Trên thực tế, ngoài việc cắt giảm thuế theo cam kết, Chính phủ cũng đã cắt giảm thuế một số mặt hàng cao hơn mức cam kết nhằm đảm bảo sự hài hòa giữa các dòng thuế trong cùng một nhóm hàng; đảm
Hộp 1: Cam kết gia nhập WTO của Việt Nam về giảm thuế nhập khẩu
• Mức thuế trung bình hiện nay là 17,3% sẽ được giảm xuống 13,4% trong vòng 12
• Tham gia vào một số hiệp định tự do hóa thương mại trong các lĩnh vực như: thỏa
thuận công nghệ thông tin, dệt may và thiết bị y tế trong vòng 3 đến 5 năm
Nguồn: Quỹ tiền tệ quốc tế (2007) và Bộ Công thương
Hộp 2: Cải cách chính sách thu ngân sách trong quá trình gia nhập WTO
Những thành công trong cải thiện nguồn thu là nỗ lực nằm nhằm bù đắp cho các khoản hụt thu do tự do hóa thương mại nói chung và gia nhập WTO nói riêng Đơn giản hóa các thủ tục hành chính và thu thuế đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, qua đó làm tăng nguồn thu Thông các phương tiện thông tin đại chúng, cơ quan thế giúp đỡ các doanh nghiệp trong việc kê khai thuế, thiết lập đường dây giải đáp thắc mắc, đơn giản hóa và giải thích quy trình, thủ tục về đăng ký, tính và nộp thuế Cơ quan hải quan đã lần đầu tiên áp dụng thử nghiệm hệ thống hải quan điện tử
Cơ quan thuế và hải quan phối hợp với các cơ quan khác thực hiện các biện pháp chống buôn lâu, gian lận thương mai, gian lận và trốn thuế; tăng cường giám sát và thực thi thu thuế Cơ quan hải quan đã cải thiện quy trình kiểm tra, đánh giá giá trị của hàng nhập khẩu cũng như phát triển cơ sở dữ liệu giá và đưa ra mức giá chuẩn để quản lý các mặt hàng nhậy cảm dễ bị lợi dụng để chuyển giá và trốn lậu thuế Các khoản nợ thuế cũng được quản lý và xử lý tốt hơn
Việc thực thi Luật Quản lý thuế từ 1 tháng 7 năm 2007 mang lại những kết quả tích cực, đóng góp tăng nguồn thu ngân sách trong năm Việc giảm một số loại thuế và mức thuế, phí
và lệ phí cùng với mở rộng nguồn thu không chỉ giúp giảm gánh nặng thế đối với doanh nghiệp, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh mà còn làm tăng nguồn thu trong nước
và bù đắp nguồn hụt thu do giảm thuế nhập khẩu
Trang 38bảo mối tương quan hợp lý về thuế suất giữa sản phẩm toàn bộ và linh kiện cũng như đơn giản hóa mức thuế suất (Xem thêm Hộp 1) Đồng thời, để giảm bớt sức ép của lạm phát, Chính phủ đã tạm thời giảm thuế suất một số hàng hóa và nhóm hàng hóa như gas, thép, thịt, sữa và thức ăn chăn nuôi30
Do tăng nhanh về xuất nhập khẩu và hoạt động hiệu quả hơn của các cơ quan hải quan và quản
lý thuế (xem Hộp 2) nên thay đổi thuế quan có tác động không lớn Nguồn thu ngân sách ròng từ hoạt động xuất nhập khẩu ước tính ở mức trên 39% so với mức của năm 2006, cao hơn so với tốc
độ tăng 35,5% của nhập khẩu Như vậy, tăng trưởng nhập khẩu đóng góp đáng kể cho việc tăng nguồn thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu
3.4 Cán cân thanh tóan và chu chuyển vốn
Cán cân vãng lai của Việt Nam đã có sự thay đổi nhanh chóng từ năm 1996 khi mà mức thâm hụt trong năm này đã lên tới 9 % GDP Mức thâm hụt đã được thu hẹp trong các năm 1997 –
1998 và thặng dư năm 1999 Một trong những biện pháp đã được sử dụng để giảm bớt thâm hụt
là kiềm chế nhập khẩu Ngoài ra, khủng hoảng kinh tế Châu Á cũng tác động đến nền kinh tế và dòng vốn đầu tư nước ngoài; qua đó làm giảm cầu nhập khẩu Sự phục hồi của các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, chủ yếu là các nước bạn hàng Đông Nam Á từ năm 1999 đem lại
sự gia tăng về cầu đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam Cán cân thương mại và vãng lai do vậy vẫn tiếp tục có mức thặng dư đáng kể trong năm 2000 và 2001 trước khi thâm hụt trở lại kể từ năm 2002 Thâm hụt cán cân vãng lai đạt mức 9,85% GDP năm 2007 so với mức 0,3% năm
Do luồng vốn chuyển vào nhiều, dự trữ ngoại hối cũng tăng nhanh Từ năm 1996 đến 2002, dự trữ ngoại hối bổ sung hàng năm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chỉ ở mức hạn chế Tuy nhiên, mức dự trữ đã tăng nhanh từ năm 2003 và đặc biệt trong những năm gần đây Dự trữ ngoại hối đã tăng từ 11,5 tỷ USD vào cuối năm 2006 lên mức khoảng 23 tỷ USD vào cuối năm
2007, tương đương với 32% GDP (xem Hình 13) Đồng thời, dự trữ ngoại hối tính trên tuần nhập khẩu đã tăng lên mức đáng kể, từ 2 tháng nhập khẩu năm 2000 lên gần 4 tháng năm 2007
30 Sự tăng nhanh của giá cả bị làm trầm trọng thêm bởi sự phát triển quá nóng của nền kinhế, dòng vốn vào nhiều (xem phần 1.3.4) và tăng giá hàng hóa và lương thực trên thị trường quốc tế
Trang 39Hình 13: Cải thiện trong dự trữ ngoại hối
Cán cân vãng lai (%GDP) Cán cân thương mại (%GDP) Dự trữ ngoại hối (tỷ USD)
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước và tính tóan của tác giả
Lưu ý: Giá trị dự trữ ngoại hối bên trục phải và tỷ số cán cân thương mại và vãng lai bên trục trái
Mức dự trữ ngoại hối này được xem là phù hợp trong bối cảnh cán cân thương mại tương đối mở hiện nay Điều này là do càng thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư gián tiếp có khả năng đảo chiều không dự đoán trước được thì càng cần có lượng dự trữ ngoại hối lớn so với lượng dự trữ
mà Việt Nam đã có trong quá khứ Đồng thời, sự gia tăng này cũng đi theo xu hướng chung của các nước Châu Á khác, mặc dù mức tăng này còn thấp hơn nhiều các nước trong khu vực Hiện tại, Việt Nam đã có dòng vốn vào đủ bù đắp cho thâm hụt thương mại, Tuy nhiên, mức thâm hụt ở mức cao và dai dẳng có thể gây tổn hại tới tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Mặc dù gia nhập WTO sẽ hỗ trợ xuất khẩu nhưng giảm hàng rào thuế quan cũng làm cho hàng hóa nhập khẩu trở nên cạnh tranh hơn so với sản phẩm trong nước, do đó xuất khẩu ròng vẫn sẽ đóng góp
âm vào tăng trưởng trong trung hạn Điều này đặt ra câu hỏi về mức độ bền vững trong thâm hụt cán cân vãng lai Hiện tại, phần lớn nhất trong cán cân vốn và tài chính là giải ngân FDI và cấu phần nhập lớn nhất là máy móc thiết bị và nguyên vật liệu; do đó, khả năng cạnh tranh trong dài hạn có thể được cải thiện với mức thâm hụt lớn hiện nay
Tuy nhiên, cơ cấu tài trợ thâm hụt cũng đã có sự thay đổi đáng kể với tỷ trọng của các nguồn vốn ngắn hạn tăng lên31 Điều này đặt ra vấn đề về khả năng đảo chiều của dòng vốn và sự ổn định của cán cân thanh tóan
Trang 40Hình 14: Thâm hụt cán cân vãng lai và nguồn bù đắp
Lạm phát ở Việt Nam tăng khá nhanh trong những năm gần đây sau thời kỳ giảm phát vào năm
2000 Đối với các quốc gia đang phát triển và chuyển đổi như Việt Nam, lạm phát có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như giá hàng hóa tăng cao trên thị trường quốc tế, chính sách tiền tệ
mở rộng để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, sự phát triển quá nóng của nền kinh tế và dòng vốn vào quá nhiều Đồng thời, lạm phát cũng có thể do những nút thắt về cơ sở hạ tầng và quá trình
tự do hóa giá cả của các nguyên liệu đầu vào
Một trong những hiện tượng đáng lưu ý của kinh tế vĩ mô sau một năm gia nhập WTO là tốc độ gia tăng nhanh chóng của lạm phát; hiện tượng đã thu hút nhiều tranh luận giữa các nhà hoạch định chính sách về việc đề ra những đối sách thích hợp
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2007 đạt mức cao nhất trong vòng hơn 10 năm qua, ở mức 12,6% vào cuối tháng 12 năm 2007 so với cuối năm 2006 Con số này vượt xa so với mục tiêu của Chính phủ là cố gắng kiềm chế tốc độ tăng giá tiêu dùng dưới tốc độ tăng trưởng GDP thực
tế Thực tế này cũng cho thấy người tiêu dùng không được hưởng lợi do giá cả giảm từ việc giảm thuế theo cam kết WTO
Có nhiều giải thích cho nguyên nhân dẫn đến tăng giá tiêu dùng từ cả phía cung và cầu Quá trình tự do hóa giá cả vẫn tiếp tục được thực hiện Giá điện đã được tăng lên khoảng 7,6% vào tháng 1 năm 2007 Đối với mặt hàng xăng, dỡ bỏ kiểm sóat giá cũng đã được thực hiện vào tháng 5 năm 2007, một động thái thực hiện theo các cam kết quốc tế và trong nỗ lực chấm dứt tình trạng trợ cấp từ ngân sách Trong quá khứ, Chính phủ thường sử dụng linh hoạt chính sách thuế đối với xăng dầu để giảm bớt những tác động do biến động giá trên thị trường thế giới đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp nhập khẩu Sau khi dỡ bỏ kiểm sóat, giá xăng đã tăng 7,3%