Hoạt động tín dụngTín dụng ngân hàng TDNH hiểu theo nghĩa rộng là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế các doanh n
Trang 1- -®inh thÞ thanh
Mét sè gi¶I ph¸p nh»m N¢NG cao
chÊt lîng tÝn dông xuÊt nhËp khÈu
t¹i chi nh¸nh ng©n hµng no&PTNT LONG BI£N
chuyªn ngµnh: TµI CHÝNH - NG¢N HµNGm· sè: 60.34.20
Ngêi híng dÉn khoa häc:
Ts HOµNG THÞ KIM THANH
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu trong luận văn được lấy từ các báo cáo sơ kết, báo cáo kết quả kinh doanh, các báo cáo phân tích hoạt động kinh doanh, chiến lược, định hướng của chi nhánh Ngân hàng No &PTNT chi nhánh Long Biên từ năm 2010 đến 2012.
Hà nội, ngày 26 tháng 6 năm 2013TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đinh Thị Thanh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN 1
MỤC LỤC 2
DANH MỤC KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT 5
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ 7
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2
1.1.TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại 3
1.1.2 Hoạt động tín dụng 5
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường 9
1.2.TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU 10
1.2.1.Sự cần thiết phát triển xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho XNK: 10
1.2.2 Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động tín dụng XNK: 12
1.2.3 Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu 20
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu 24
1.3.KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XNK VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM 30
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế 30
1.3.2 Bài học rút ra cho Việt Nam 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 32
Trang 5THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NO&PTNT LONG BIÊN 33 2.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NO&PTNT VIỆT NAM: 33 2.2 KHÁI QUÁT VỀ CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NO&PTNT LONG BIÊN 35
2.2.1 Quá trình hình thành và chức năng nhiệm vụ của chi nhánh: 352.2.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy của chi nhánh 372.2.3 Khái quát về hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT CN Long Biên .38
2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XNK TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG No&PTNT LONG BIÊN 49
2.3.1 Đặc điểm hoạt động tín dụng XNK của chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Long Biên 492.3.2 Cơ sở pháp lý về hoạt động cho vay XNK bằng ngoại tệ: 492.3.3 Thực trạng hoạt động tín dụng XNK tại chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Long Biên những năm gần đây 54
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XNK TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NO&PTNT LONG BIÊN 71 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG XNK CỦA CHI NHÁNH TRONG THỜI GIAN TỚI 71
3.1.1 Phương hướng hoạt động tín dụng XNK của Ngân hàng No&PTNT Việt Nam trong thời gian tới: 713.1.2 Phương hướng hoạt động tín dụng của chi nhánh Long Biên trong những năm tới: 72
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XNK TẠI CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NO&PTNT LONG BIÊN 73
Trang 63.2.2.Nhóm giải pháp lâu dài: 77
3.3.KIẾN NGHỊ 86
3.3.1 Đối với Chính phủ: 86
3.3.2.Đối với ngân hàng nhà nước 87
3.3.3.Đối với NHNo&PTNT Việt Nam 87
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 89
KẾT LUẬN 1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2
Trang 7ATM : Máy rút tiền tự động.
BHXHVN : Bảo hiểm xã hội Việt Nam
D/A : Nhà nhập khẩu ký chấp nhận thanh toán và nhận bộ
chứng từ
DNNN : Doanh Nghiệp Nhà Nước
D/P : Nhà nhập khẩu thanh toán và nhận bộ chứng từ
NHNo : Ngân hàng Nông Nghiệp
NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Trang 8TTQT : Thanh toán quốc tế
Trang 9TT Bảng,
1 Bảng 2.1 Tình hình huy động vốn trong giai đoạn 2010-2012 39
8 Bảng 2.8 Phân tích chỉ tiêu chất lượng tín dụng XNK 63
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
1 Sơ đồ 2.1 Cơ cầu tổ chức Ngân hàng No&PTNT Việt Nam 35
2 Sơ đồ 2.2 Cơ cấu tổ chức Ngân hàng No&PTNT Long Biên 38
3 Biểu đồ 2.1 Cơ cấu huy động vốn theo loại tiền tệ 41
4 Biểu đồ 2.2 Tỷ trọng dư nợ XNK so với tổng dư nợ 03 năm 2010-2012 54
5 Biểu đồ 2.3 Doanh số cho vay XNK theo thành phần kinh tế 59
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng phát triển, không một quốc gia nào có thể đóng cửa mà không gia nhập vào kinh tế thế giới, mặt khác tài nguyên thiên nhiên, nguyên nhiên vật liệu của mỗi quốc gia đôi khi không đáp ứng đủ nhu cầu sản xuất trong nước mà cần phải nhập khẩu thêm các nguyên vật liệu của các nước khác trên thế giới Thêm nữa, nhu cầu tiêu dùng của dân cư ngày càng đa dạng đòi hỏi không chỉ có sản xuất trong nước đáp ứng
đủ mà cần có hàng hóa của các nước khác trên thế giới
Trước tình hình đó, việc XNK hàng hóa, dịch vụ là một nhu cầu tất yếu Khách hàng tùy theo quan hệ cung cầu để nhập các mặt hàng cần thiết như: nguyên liệu, vật liệu, máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, hàng tiêu dùng thiết yếu mà trong nước không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng chi phí sản xuất cao Mặt khác, khi tham gia kinh tế quốc tế chúng ta có thể tận dụng được lợi thế so sánh trong nước, nhằm sản xuất ra những loại hàng hóa không chỉ phục
vụ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài để tăng ngoại tệ cho đất nước, nhập khẩu những dây chuyền công nghệ phục vụ nhu cầu trong nước và góp phần hiện đại hóa đất nước Như vậy, do yêu cầu phát triển kinh
tế mà hoạt động trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia với nhau ngày càng phát triển
và là một yêu cầu tất yếu khách quan trong nền kinh tế
Tuy nhiên, phần lớn các doanh nghiệp đều hạn hẹp về vốn Vì vậy, để thực hiện tốt chức năng XNK hàng hóa, dịch vụ thì ngoài việc sử dụng vốn tự có của bản thân các doanh nghiệp rất cần các nguồn vốn tài trợ khác mà đặc biệt là nguồn tài trợ từ các NHTM Mặt khác, đối với các NHTM, việc tài trợ vốn cho các doanh nghiệp có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ đem lại lãi vay cho ngân hàng làm tăng thu nhập cho ngân hàng mà còn phát triển được các dịch vụ gia tăng khác như dịch vụ thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối và dịch vụ chuyển tiền Việc tham gia tài trợ vốn cho các doanh nghiệp trong hoạt động
Trang 11XNK cũng đem lại nguồn ngoại tệ cho các ngân hàng đồng thời làm tăng uy tín
và vị thế của ngân hàng trên trường quốc tế
Ngay từ khi mới thành lập, Ngân hàng No&PTNT Long Biên đã luôn quan tâm, chú trọng phát triển hoạt động tín dụng XNK cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng XNK Nhận thức được tầm quan trọng cũng như tính
thực tiễn của vấn đề này tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm
nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu tại chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Long Biên”
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Luận văn giải quyết được ba vấn đề cơ bản sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hoạt động tín dụng, chất lượng tín dụng XNK tại các NHTM
- Thực trạng hoạt động kinh doanh và hoạt động tín dụng của chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Long Biên từ đó đưa ra những mặt được và chưa được của hoạt động tín dụng
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng XNK tại chi nhánh Long Biên
3 Phương pháp nghiên cứu:
Tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, kết hợp với phương pháp thống kê, so sánh, phân tích tổng hợp đi từ cơ
sở lý thuyết đến thực tiễn nhằm làm sáng tỏ mục đích đặt ra trong luận văn
4 Kết cấu luận văn.
Luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Một số lý luận cơ bản về chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu.
No&PTNT Long Biên
nhập khẩu tại chi nhánh Ngân hàng No&PTNT Long Biên
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XUẤT NHẬP KHẨU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 121.1.1 Khái niệm Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng thương mại (NHTM) là trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế Đây là hình thức tài chính gián tiếp
có vai trò hết sức quan trọng trong lưu chuyển vốn trên thị trường tài chính
Theo Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam được Quốc hội khóa 12 thông qua vào ngày 16/06/2010 quy định: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”, trong đó:
“Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng”, và “Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín
dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”.[Luật các tổ chức tín dụng năm
2010]
Trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ đề cập đến NHTM Theo đó, NHTM được quan niệm là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận
1.1.1.1 Các chức năng cơ bản của Ngân hàng thương mại là:
- Chức năng trung gian tín dụng: được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay, góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay
- Chức năng trung gian thanh toán: Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế
Trang 13không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán.
- Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Khối lượng tiền do các NHTM tạo ra có ý nghĩa to lớn, nó mở ra những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sản xuất, đáp ứng nhu cầu sử dụng tiền của xã hội bên cạnh lượng tiền do Ngân hàng trung ương phát hành
1.1.1.2 Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại
Khi xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng gia tăng với chất lượng đòi hỏi càng cao, theo đó hoạt động ngân hàng ngày càng phát triển để đáp ứng vai trò là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế Các ngân hàng hiện nay không ngừng đổi mới, phát triển về mọi mặt cả về số lượng và chất lượng, tiến tới mô hình ngân hàng đa năng, chính vì vậy hoạt động của NHTM rất phong phú đa dạng Sau đây là những hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại:
Thứ nhất, hoạt động tạo lập vốn: Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn
của NHTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ riêng bản thân các ngân hàng thương mại mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh
tế Nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn chủ sở hữu; vốn huy động; vốn vay của TCTD khác và của Ngân hàng trung ương; nguồn vốn khác
Thứ hai, hoạt động sử dụng vốn: hoạt động sử dụng vốn bao gồm các
hoạt động chủ yếu sau: hoạt động ngân quỹ, hoạt động tín dụng, hoạt động đầu
tư, hoạt động dịch vụ
Trang 141.1.2 Hoạt động tín dụng
Tín dụng ngân hàng (TDNH) hiểu theo nghĩa rộng là các quan hệ vay mượn vốn tiền tệ phát sinh giữa các ngân hàng với các chủ thể kinh tế khác trong nền kinh tế (các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội và nhà nước các cấp) theo các nguyên tắc tín dụng (sử dụng vốn vay đúng mục đích và phải hoàn trả gốc lãi đúng thời hạn)
1.1.2.1 Tính tất yếu khách quan của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ TDNH tồn tại khách quan được thể hiện trên các khía cạnh sau:
* Thứ nhất, do mâu thuẫn của quá trình luân chuyển vốn trong xã hội:
Do tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các tác nhân trong nền kinh tế thị trường, tại một thời điểm nhất định, có những chủ thể tạm thời thiếu vốn để thực hiện kế hoạch kinh doanh của mình, trong khi đó lại có những chủ thể có những nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi Sự ra đời của TDNH góp phần đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, không để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển, giải quyết những mâu thuẫn của quá trình tuần hoàn vốn trong xã hội
* Thứ hai, do cơ chế tự chủ về tài chính: hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải tự chủ về tài chính
Cơ chế này buộc các chủ thể phải chủ động trong việc cân đối các nguồn vốn để thực hiện các kế hoạch kinh doanh Với vai trò quan trọng bậc nhất là trung gian cung cầu vốn, TDNH là cầu nối điều hòa vốn giữa các chủ thể trong nền kinh tế
1.1.2.2 Đặc điểm của tín dụng ngân hàng
Là một trong các loại hình tín dụng của nền kinh tế, TDNH cũng mang những đặc điểm chung của tín dụng trong nền kinh tế thị trường (phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả; hoạt động tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá
Trang 15cả) Ngoài ra, xuất phát từ chủ thể và đối tượng của mình, TDNH còn có những đặc điểm sau:
- Các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung gian trong quá trình huy động vốn và cho vay vốn: Khi đi vay, với tư cách là người mắc nợ nhưng các ngân hàng lại là người chủ động ra điều kiện vay Người cho vay chấp nhận các điều kiện do ngân hàng đưa ra thì chủ động cho vay và nhận về những giấy tờ chứng nhận nợ
Khi cho vay, với tư cách là người cho vay, ngân hàng sẽ chủ động đưa ra điều kiện cho vay, người đi vay nếu chấp nhận thì phải ký kết hợp đồng vay mượn và ngân hàng đôn đốc việc thực hiện hợp đồng vay mượn
- Hoạt động theo nguyên tắc thương mại và thị trường: Hoạt động NHTM tác động tới nhiều chủ thể trong nền kinh tế, tham gia vào hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề Chính vì vậy, hoạt động phải tuân theo những nguyên tắc thương mại và thị trường
- Hoạt động TDNH luôn tính tới yếu tố hiệu quả: Mục tiêu của NHTM là đạt lợi nhuận cao nhất, lựa chọn hình thức và nguồn vốn huy động phải thực hiện trên quan điểm có chi phí thấp nhất đồng thời tìm kiếm danh mục đầu tư hiệu quả, đem lại nguồn thu cao nhất, bảo toàn và phát triển vốn
- Hình thức biểu hiện: TDNH huy động vốn và cho vay đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ Tiền ở đây là công cụ thực hiện tín dụng, đó là loại tiền tín dụng hay còn gọi là công cụ lưu thông tín dụng ngân hàng
- Hoạt động tín dụng tuân thủ các quy định nghiêm ngặt, quy chế đặc biệt: Để bảo vệ người gửi tiền và người đi vay trong trường hợp ngân hàng phá sản, Ngân hàng trung ương áp dụng những quy định nhằm đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng bằng một cơ chế chặt chẽ như:
+ Quy định việc đa dạng hóa danh mục đầu tư của ngân hàng: Theo quy định này, các ngân hàng không được phép cho một khách hàng hoặc nhóm khách hàng liên quan vay vượt quá một tỷ lệ so với vốn tự có (dư nợ tín dụng không vượt quá 15% vốn tự có đối với một khách hàng; dư nợ tín dụng và bảo lãnh đối với một khách hàng không vượt quá 25% vốn tự có; đối với nhóm
Trang 16khách hàng liên quan lần lượt là 50% và 60% vốn tự có); dư nợ tín dụng của 10 khách hàng tốt nhất không được phép vượt 30% tổng dư nợ.
+ Điều khoản về “van an toàn” được quy định dưới dạng tái chiết khấu thương phiếu của các NHTM Thông qua hoạt động tái chiết khấu này, NHTW thực hiện tái cấp vốn cho ngân hàng thương mại
+ Các quy định buộc các NHTM theo dõi, giám sát hoạt động của chính mình thông qua việc lập các báo cáo tài chính, quản trị rủi ro và giám sát từ xa các hoạt động ngân hàng
1.1.2.3 Phân loại tín dụng ngân hàng
Có nhiều tiêu thức phân loại các loại TDNH, tuy nhiên trên thực tế, người
ta thường dựa vào các tiêu thức sau:
* Căn cứ vào thời hạn tín dụng
+ TDNH ngắn hạn: Là loại hình tín dụng không quá 12 tháng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của doanh nghiệp và nhu cầu thanh toán, chi tiêu ngắn hạn của cá nhân
+ TDNH trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ của doanh nghiệp; xây dựng nhà ở hoặc mua sắm tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân
+ TDNH dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 60 tháng, có thể kéo dài 20-30 năm hoặc thậm chí lâu hơn Tín dụng dài hạn được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng mới, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn
* Căn cứ vào đối tượng tín dụng
+ Tín dụng vốn lưu động: Là loại tín dụng được ngân hàng cấp nhằm được hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp hoặc chủ thể kinh tế khác
Trang 17+ Tín dụng vốn cố định: Là loại tín dụng được ngân hàng cấp nhằm hình thành vốn cố định của doanh nghiệp hoặc chủ thể khác dưới hình thức cho vay trung và dài hạn.
* Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
+ Tín dụng công nghiệp và thương mại: Là loại tín dụng cấp cho các doanh nghiệp và chủ thể trong nền kinh tế thuộc lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
+ Tín dụng nông nghiệp: Là loại tín dụng để trang trải các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp
+ Tín dụng tiêu dùng: Là loại tín dụng cấp cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng
* Căn cứ theo hình thức bảo đảm tiền vay
+ Tín dụng được đảm bảo bằng tài sản: Là loại tín dụng mà ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có bảo đảm như thế chấp, cầm cố tài sản hoặc phải có
sự bảo lãnh của người thứ ba Loại hình này thường được áp dụng đối với các khách hàng không có uy tín cao đối với ngân hàng Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu thứ hai bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
+ Tín dụng đảm bảo không phải bằng tài sản: Là loại tín dụng được ngân hàng cấp trên cơ sở tín chấp, cho vay theo chỉ định của Chính Phủ hoặc bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể, chính quyền địa phương
* Căn cứ theo phương pháp hoàn trả: theo phương pháp hoàn trả,
hoạt động tín dụng có thể phân thành:
+ Tín dụng có thời hạn: Là loại tín dụng có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo hợp đồng, bao gồm: Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ, cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ
+ Tín dụng không có thời hạn cụ thể: Đối với loại hình tín dụng này, ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể thỏa thuận trong hợp đồng
* Căn cứ theo xuất xứ tín dụng
Trang 18+ Tín dụng trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu vay, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Tín dụng gián tiếp: Là loại hình tín dụng được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán Các NHTM thường cho vay gián tiếp theo các loại sau: Chiết khấu thương phiếu, bao thanh toán (mua lại các khoản phải thu)
1.1.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Thứ nhất, TDNH góp phần đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh
diễn ra thường xuyên, liên tục Vai trò này của TDNH xuất phát từ tính đa dạng trong luân chuyển vốn của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Theo
đó, tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng, thông qua việc cung cấp vốn kịp thời cho các chủ thể trong nền kinh tế, đã tạo ra khả năng đảm bảo tính liên tục của quá trình sản xuất kinh doanh, cho phép các doanh nghiệp thỏa mãn nhu cầu về vốn luôn thay đổi, không để tồn đọng vốn trong quá trình luân chuyển
Thứ hai, TDNH góp phần tích tụ, tập trung vốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh:
nguồn vốn từ hoạt động TDNH (do tích tụ, tập trung từ những người tích lũy) giúp cho các chủ thể trong nền kinh tế duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh của mình
Thứ ba, TDNH là công cụ để thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của
Nhà nước: Nhà nước sử dụng công cụ lãi suất của mình để điều chỉnh nền kinh tế
vĩ mô, đồng thời cũng có thể thay đổi quy mô tín dụng và điều chuyển hướng cấp tín dụng bằng cách phân bổ nguồn lực TDNH trong nền kinh tế Nhờ đó mà thúc đẩy hoặc hạn chế một số ngành phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội
Thứ tư, TDNH góp phần quan trọng vào việc giảm chi phí lưu thông tiền tệ:
với sự tham gia của tín dụng thông qua dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt đã giảm chi phí lưu thông và an toàn trong thanh toán
Thứ năm, TDNH là công cụ thực hiện chính sách xã hội, nâng cao đời sống
dân cư Thông qua các ưu đãi về vốn, lãi suất, điều kiện và thời hạn vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách, TDNH đã đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi các chính sách việc làm, dân số, các chương trình xóa đói
Trang 19giảm nghèo, và phát triển sản xuất công nông nghiệp Ngoài ra, TDNH giúp cho người dân cải thiện và nâng cao mức sống cho mình thông qua việc vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất và tiêu dùng.
1.2.TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU
1.2.1.Sự cần thiết phát triển xuất nhập khẩu và nhu cầu tài trợ cho XNK:
1.2.1.1.Sự cần thiết phát triển hoạt động XNK
Trong điều kiện hội nhập quốc tế và thương mại toàn cầu như hiện nay, vấn đề giao thương quốc tế và hoạt động XNK ngày càng trở nên phổ biến và
mở rộng không ngừng, điều này tạo ra cơ hội cũng như thách thức đối với các doanh nghiệp XNK Việc mở rộng giao thương với thế giới tạo thị trường rộng lớn cho các nhà xuất khẩu, giúp mở rộng và quảng bá sản phẩm dịch vụ cũng như văn hoá của một quốc gia ra toàn thế giới; đồng thời giúp tăng thu nhập quốc dân tạo điều kiện phát triển kinh tế quốc gia Thêm nữa việc nhập khẩu góp phần kích thích sản xuất trong nước với nguồn nguyên vật liệu phong phú, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ kích thích tiêu dùng phát triển
Tuy nhiên, cùng với những lợi ích mang lại của hoạt động XNK, các doanh nghiệp XNK cũng gặp phải sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi phải tìm kiếm một sự hỗ trợ lớn về mặt tài chính cũng như kỹ thuật để hạn chế rủi ro phát sinh
và đủ khả năng để tiến hành một thương vụ quốc tế an toàn
Hoạt động XNK không chỉ mang lại lợi ích không nhỏ cho các doanh nghiệp XNK, cho nền kinh tế và cho cả các NHTM Các NHTM thông qua hoạt động tài trợ XNK có thể tăng được lợi nhuận, sử dụng nguồn vốn được hiệu quả đồng thời khuếch trương được uy tín cũng như mở rộng được mạng lưới ra phạm vi thế giới Chính mối quan hệ gắn bó chặt chẽ về lợi ích giữa ngân hàng
và các doanh nghiệp XNK là động lực thúc đẩy hoạt động XNK ngày càng phát triển và thúc đẩy nhu cầu tài trợ XNK ngày càng phát triển
1.2.1.2 Nhu cầu tài trợ cho XNK:
Hoạt động ngoại thương được hiểu là sự trao đổi hàng hóa, dịch vụ (vận tải, bảo hiểm hàng hóa) giữa các nước thông qua hợp đồng mua bán Sự trao đổi này là một hình thức của các mối quan hệ xã hội, phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau
Trang 20về kinh tế giữa những nhà sản xuất hàng hóa riêng biệt của mỗi quốc gia Để tạo điều kiện cho hoạt động ngoại thương được diễn ra suôn sẻ thì nhu cầu tài trợ XNK là rất cần thiết Nhu cầu tài trợ XNK là một nhu cầu ngày càng trở lên cần thiết với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia bởi lẽ:
- Rủi ro trong hoạt động ngoại thương: hoạt động ngoại thương luôn tiềm
ẩn rủi ro do sự khác biệt về mặt địa lý, về đồng tiền thanh toán, về sự khác biệt
về pháp luật…
- Do các nhà xuất nhập khẩu cần được tài trợ: hoạt động XNK trước khi được diễn ra thành công cần quá trình lâu dài và chuẩn bị kỹ càng Đối với nhà xuất khẩu thì trong quá trình tìm hiểu, nghiên cứu khách hàng, quá trình sản xuất hàng hóa đều rất cần nhu cầu tài trợ; đối với nhà nhập khẩu nhu cầu tài trợ phát sinh trong mọi khâu của quá trình nhập khẩu đặc biệt là khi tiến hành thanh toán hàng hóa nhập khẩu
Chính vì điều đó, nhu cầu tài trợ XNK là một đòi hỏi cần thiết để một giao dịch ngoại thương diễn ra suôn sẻ và thành công
1.2.1.3 Các nguồn tài trợ cho hoạt động XNK:
Tài trợ XNK là tập hợp các hình thức hỗ trợ về mặt tài chính trực tiếp hay gián tiếp cho các doanh nghiệp hay tổ chức kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh thương mại, trong một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường thế giới nhằm mục đích sinh lời Hoạt động XNK gồm những nguồn tài trợ chính sau:
- Tài trợ của các nhà xuất, nhập khẩu: Tài trợ của các nhà XNK thường là ngắn hạn, trong phạm vi từng hợp đồng Hình thức tài trợ thuộc loại tín dụng thương mại như: ứng tiền trước, thanh toán ghi sổ
- Tài trợ XNK của Chính phủ: Tài trợ của Chính phủ rất quan trọng đối với các nhà XNK để khuyến khích hoạt động kinh doanh ngoại thương, được thực hiện thông qua các công cụ chủ yếu: Hệ thống luật lệ, chính sách, thông qua các tài chính tiền tệ như thuế, cung cấp hạ tầng với giá thấp, các khoản tín dụng nhà nước, quỹ bảo hiểm XNK, cung cấp thông tin trong và ngoài nước
Trang 21- Tài trợ XNK của Ngân hàng TW: với chức năng quản lý vĩ mô về hoạt động tiền tệ tín dụng, NHTW tác động, ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh ngoại thương thông qua các công cụ tỷ giá và lãi suất
- Tài trợ XNK của các tổ chức tín dụng: các tổ chức tín dụng bao gồm các NHTM và các tổ chức phi ngân hàng (Công ty tài chính, quỹ đầu tư phát triển) Tài trợ XNK của NHTM chủ yếu được thông qua hình thức: cho vay, bảo lãnh, chiết khấu, bao thanh toán, thanh toán nhờ thu chứng từ, tín dụng bộ chứng từ So với hình thức tài trợ của các nhà XNK thì tài trợ của các tổ chức tín dụng là quan trọng,
áp dụng rộng rãi nhất Hình thức tài trợ này được thực hiện trực tiếp từ người tài trợ đến người nhận tài trợ, không thông qua tổ chức trung gian
1.2.2 Tín dụng ngân hàng đối với hoạt động tín dụng XNK:
1.2.2.1 Khái niệm, vai trò của tín dụng ngân hàng đối với hoạt động XNK
Tín dụng XNK của các NHTM là sự tài trợ về vốn và các trợ giúp liên quan của NHTM cho khách hàng để thực hiện hoạt động XNK hàng hóa Tài trợ XNK là một hoạt động nghiệp vụ quan trọng của NHTM Người tài trợ là các NHTM, người nhận tài trợ là các doanh nghiệp, các tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh XNK
Tài trợ XNK của NHTM là những hoạt động của NHTM nhằm đáp ứng nhu cầu đặc thù về tài chính và uy tín trong kinh doanh của các doanh nghiệp, các tổ chức XK và NK trong quá trình giao dịch ngoại thương
Cùng với các nghiệp vụ quốc tế khác, tài trợ XNK ra đời, phát triển đáp ứng nhu cầu đa dạng của hoạt động kinh doanh ngoại thương, giúp các nhà XNK chống đỡ những rủi ro, nâng cao hiệu quả và tăng khả năng cạnh tranh trong thương mại quốc tế Thông qua họat động tài trợ ngoại thương, các NHTM cung cấp hệ thống giải pháp và kỹ thuật tài trợ rất phong phú, hiệu quả, góp phần giải quyết phần lớn những khó khăn về tài chính và uy tín trong kinh doanh của các tổ chức XNK Bên cạnh đó hoạt động trài trợ XNK cũng mang lại một nguồn thu nhập đáng kể cho ngân hàng (lãi cho vay, phí dịch vụ); vị thế của ngân hàng ngày càng được khẳng định trên thương trường quốc tế
Trang 22Tín dụng XNK có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động tín dụng XNK
Sự ra đời và phát triển của nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hóa trên thế giới gắn liền với sự ra đời và phát triển các nghiệp vụ đa năng của các NHTM Sự không thống nhất về thời gian và chu kỳ sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, hoạt động thanh toán quốc tế - khâu kết thúc của một giao dịch ngoại thương cũng trở lên bức thiết và thường xuyên hơn, yêu cầu phải được xem xét để hoàn thiện nghiệp vụ tín dụng XNK, luật lệ quốc tế cũng phải phù hợp với thông lệ quốc tế
và đáp ứng đòi hỏi của thị trường thương mại hóa toàn cầu là hết sức cần thiết
Tín dụng XNK được coi là khâu tất yếu cần thiết đầu tiên để đảm bảo một chu trình mua bán hàng hóa hay dịch vụ Tín dụng XNK mà các ngân hàng cung ứng cho doanh nghiệp là hết sức cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
sự phát triẻn của doanh nghiệp cũng như của nền kinh tế nói chung Nếu việc tổ chức cho vay nhanh chóng sẽ góp phần thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện kịp thời các thương vụ quốc tế, vịệc trả nợ đúng hạn thể hiện chất lượng kinh doanh nói lên hiệu quả kinh tế về tài chính của các doanh nghiệp
Đối với hoạt động ngân hàng, việc hoàn thiện và phát triển hoạt động tín dụng XNK có vị trí và vai trò hết sức quan trọng, nó không chỉ là hoạt động tín dụng, hoạt động dịch vụ thuần túy mà nó được coi là một mặt không thể thiếu,bổ sung và hỗ trợ cho các mặt hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng Hoạt động tín dụng XNK tốt giúp cho ngân hàng phát triển được các nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ, bảo lãnh và các dịch vụ thanh toán quốc tế khác Do có được nguồn vốn ngoại tệ thu về lớn và đa dạng, nghiệp vụ tín dụng XNK phát triển sẽ giúp các ngân hàng nâng cao được uy tín trên thị trường trong nước cũng như thế giới, trên
cơ sở đó thu hút được nguồn tài trợ của các tổ chức tài chính, tín dụng trong nước, ngoài nước nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu vốn vay của khách hàng
Hoạt động tín dụng XNK giúp tăng thu nhập và tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trong cơ chế thị trường, đồng thời nó giúp cho hoạt động ngân hàng vượt qua phạm vi quốc gia và hòa nhập vào hệ thống tài chính quốc tế
Như vậy, tín dụng XNK có vị trí hết sức quan trọng Nó là một mắt xích không thể thiếu trong toàn bộ sợi dây chuyền, mà lại là mắt xích đầu tiên, quan trọng
Trang 23nhất chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đến khi đàm phán ký kết hợp đồng, đến khi bán được hàng hóa và đồng tiền thu về tay nhà xuất khẩu.
1.2.2.2 Các hình thức và quy trình tín dụng XNK của NHTM:
Tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại bao gồm nhiều hình thức khác nhau và tuỳ trình độ phát triển của ngân hàng và những qui định của pháp luật mà các ngân hàng lựa chọn áp dụng các hình thức cho phù hợp Dưới đây ta sẽ xem xét một số hình thức tín dụng xuất khẩu và tín dụng nhập khẩu thông dụng
Một là, tín dụng xuất khẩu, ngân hàng thương mại cho các cơ sở xuất
khẩu vay dưới các hình thức như cho vay thông thường, cho vay trên cơ sở hối phiếu, cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán nhờ thu, cho vay trên cơ sở phương thức thanh toán tín dụng chứng từ
a) Cho vay thông thường: cho vay thông thường là việc ngân hàng giao
cho khách hàng một khoản tiền để họ sử dụng trong một thời gian nhất định Đây là hình thức tín dụng truyền thống, về kỹ thuật và phương pháp cho vay giống như các dạng tín dụng nội địa tương ứng thông thường khác Nó bao gồm các phương thức như cho vay một lần, cho vay theo hạn mức tín dụng và cho vay theo hợp đồng tín dụng tuần hoàn Đối với các nhà xuất khẩu hình thức tín dụng này ngoài việc được sử dụng cho các mục đích thu mua sản xuất, chế biến xuất khẩu, đáp ứng nhu cầu vốn lưu động nó còn được sử dụng để trang trải các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất như: phí thuê tàu, thuế xuất khẩu
* Tín dụng chiết khấu hối phiếu: nhà xuất khẩu khi cần tiền có thể vay ngân hàng bằng cách đem chiết khấu các hối phiếu chưa đến hạn trả tiền Giá trị chiết khấu thường được xác định ở các ngân hàng theo công thức:
Trong đó: Tck: Giá trị chiết khấu
M: Mệnh giá hối phiếu
P: Lệ phí
t: thời gian chiết khấu (ngày)
Trang 24Lck: lãi suất chiết khấu theo năm
(1) Nhà xuất khẩu sau khi giao hàng, chuyển chứng từ vận chuyển và hối phiếu đòi nợ tới nhà nhập khẩu
(2) Nhà nhập khẩu chấp nhận hối phiếu và chuyển hối phiếu đã chấp nhận cho nhà xuất khẩu
(3) Nhà xuất khẩu đề nghị ngân hàng của mình cấp tín dụng trên cơ sở hối phiếu
đã được chấp nhận
(4) Ngân hàng xuất khẩu đồng ý cấp tín dụng cho nhà xuất khẩu (ghi có vào tài khoản của nhà xuất khẩu sau khi đã trừ đi giá trị chiết khấu và lệ phí nhờ thu)
(5) Ngân hàng nhà xuất khẩu đem hối phiếu đến ngân hàng trung ương (NHTƯ),
để tái chiết khấu và thu hồi khoản tín dụng đã cấp cho nhà xuất khẩu
(6) Khi tới hạn thanh toán, NHTƯ chuyển hối phiếu cho ngân hàng nhà nhập khẩu và nhờ thu khoản nợ trên hối phiếu
(7) Ngân hàng nhà nhập khẩu chuyển hối phiếu cho nhà nhập khẩu và đề nghị thanh toán
(8) Nhà nhập khẩu chấp nhận thanh toán và cho phép ngân hàng ghi nợ vào tài khoản của mình
(9) Ngân hàng nhà nhập khẩu ghi có vào tài khoản của NHTƯ, giá trị hối phiếu sau khi đã trừ đi lệ phí nhờ thu và thông báo khoản thu đã được thực hiện
(10) Trường hợp nhà nhập khẩu không chấp nhận thanh toán, nhà nhập khẩu chuyển trả hối phiếu cho ngân hàng của mình Từ đó hối phiếu được chuyển trả NHTƯ
(10a) NHTƯ truy đòi ngân hàng nhà xuất khẩu
Trang 25(10b) NHTƯ cũng có thể truy đòi trực tiếp nhà xuất khẩu.
Hình thức tín dụng này rất phổ biến ở các nước và vai trò của NHTƯ hết sức quan trọng Việc tái chiết khấu của NHTƯ tạo điều kiện thu hồi vốn cho các
tổ chức tín dụng đặc biệt vào thời điểm phải đảm bảo dự trữ bắt buộc
b) Tín dụng ứng trước cho người xuất khẩu
Trong quá trình chuẩn bị và thực hiện hợp đồng xuất khẩu các doanh nghiệp cũng có thể đề nghị ngân hàng tạm ứng cho một nghiệp vụ xuất khẩu cho đến khi thu được lợi nhuận từ hoạt động xuất khẩu Hình thức tín dụng này bao gồm hai hình thức cơ bản sau:
+ Tín dụng ứng trước trong phương thức nhờ thu kèm chứng từ : Sau khi lập song bộ chứng từ hàng hoá, vận chuyển, bảo hiểm và các chứng từ liên quan khác, nhà xuất khẩu sẽ nộp lên ngân hàng của mình nhờ thu hộ tiền Ngân hàng của nhà xuất khẩu sẽ chuyển đến ngân hàng của nhà nhập khẩu (hoặc ngân hàng giao dịch) với chỉ thị chỉ giao chứng từ khi đã thanh toán (điều kiện D/P: documents against payment) hoặc chấp nhận một hối phiếu đòi nợ kèm theo (điều kiện D/A: documents against acceptance)
+ Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ : Tín dụng chứng từ phục vụ đặc biệt cho việc đảm bảo nhiệm vụ cung ứng và thanh toán trong quan hệ ngoại thương nhưng nó cũng bao hàm cả các nhân tố tín dụng Tín dụng ứng trước trong phương thức tín dụng chứng từ được sử dụng với L/C điều khoản đỏ Đây là loại thư tín dụng qui định một khoản tiền ứng trước của nhà nhập khẩu cho nhà xuất khẩu vào một thời điểm xác định, trước khi xuất trình
bộ chứng từ hàng hoá Các điều khoản ứng trước thường được qui định trong một điều kiện thuận lợi cho các bên thực hiện
Điều khoản này yêu cầu ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận cấp cho nhà xuất khẩu một khoản tín dụng trước khi giao hàng Nhà xuất khẩu chịu chi phí liên quan còn ngân hàng mở L/C chịu trách nhiệm về khoản ứng trước này Nhà nhập khẩu sẽ qui định rõ tổng giá trị tiền ứng trước, nó có thể là
tỉ lệ phần trăm hoặc thậm chí toàn bộ giá trị L/C (tuỳ thuộc quan hệ với nhà xuất khẩu) và nhà nhập khẩu sẽ quyết định liệu nhà xuất khẩu sẽ phải xuất trình vật
Trang 26gì làm đảm bảo cho ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận khi nhận tiền ứng trước Ngân hàng thông báo hoặc ngân hàng xác nhận sẽ thu hồi số tiền ứng trước cộng với lãi sau khi ngân hàng mở L/C thanh toán (nếu có bộ chứng từ phù hợp) Nếu nhà xuất khẩu vì một lí do gì đó không xuất trình được chứng từ phù hợp với điều kiện của L/C, các ngân hàng cũng có quyền đòi số tiền này ở ngân hàng mở L/C
Hai là, tín dụng nhập khẩu, các ngân hàng thương mại cung cấp tín dụng
cho nhà nhập khẩu dưới các hình thức như cho vay mở thư tín dụng, chấp nhận hối phiếu, cho vay thấu chi
- Cho vay mở L/C : Thư tín dụng L/C là một văn bản pháp lí trong đó ngân hàng mở L/C cam kết trả tiền cho nhà xuất khẩu nếu họ xuất trình được bộ chứng phù hợp với những nội dung của L/C Thư tín dụng có tính chất quan trọng là nó được hình thành trên cơ sở của hợp đồng mua bán nhưng sau khi được thiết lập, nó lại độc lập hoàn toàn với hoạt động mua bán
Ngay việc mở L/C đã thể hiện việc cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu bởi vì mọi thư tín dụng đều do ngân hàng mở theo đề nghị của nhà nhập khẩu nhưng không phải lúc nào nhà nhập khẩu cũng có đủ số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng, trong khi đó L/C lại là một đảm bảo thanh toán của ngân hàng tức là ngân hàng mở L/C phải chịu mọi rủi ro khi nhà nhập khẩu không thanh toán hoặc không muốn thanh toán khi L/C đã đến hạn trả tiền Trong thực tế khoảng thời gian từ khi mở L/C đến khi thanh toán L/C là khá dài
Vì vậy, nếu ngân hàng khống chế số dư trên tài khoản của nhà nhập khẩu để đảm bảo khả năng thanh toán của L/C thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của họ Song mặt khác, nếu không làm như vậy sẽ dễ dẫn đến L/C không được thanh toán và ngân hàng sẽ bị mất lòng tin của bạn hàng Ngoài ra, chúng ta cũng biết rằng nhà nhập khẩu có thể mở L/C bằng vốn tự có của mình hoặc vay ngân hàng Nhưng nếu sử dụng vốn tự có để mở L/C, đến hạn thanh toán với bên nước ngoài mà nhà nhập khẩu không đủ khả năng thanh toán thì họ phải nhận nợ với ngân hàng và phải chịu lãi suất phạt cao hơn nhiều so với lãi suất cho vay (ở Việt Nam lãi suất này thường là 150%) Để tránh rủi ro, trước
Trang 27khi cho vay các ngân hàng sẽ kiểm tra mục đích, đối tượng nhập khẩu cũng như khả năng của nhà nhập khẩu để làm căn cứ cho khoản tín dụng cung cấp Qui trình nghiệp vụ phương thức tín dụng chứng từ:
(3) Khi nhận được thông báo trên ngân hàng thông báo sẽ thông báo cho nhà xuất khẩu toàn bộ nội dung về việc mở L/C và khi nhận được bản gốc L/C thì chuyển ngay cho nhà xuất khẩu
(4) Nhà xuất khẩu nếu chấp nhận thư tín dụng thì tiến hành giao hàng nếu không thì đề nghị ngân hàng mở L/C sửa đổi, bổ sung L/C cho phù hợp với hợp đồng.(5) Sau khi giao hàng nhà xuất khẩu lập bộ chứng từ theo yêu cầu của L/C và xuất trình thông qua ngân hàng thông báo cho ngân hàng mở L/C xin thanh toán
(6) Ngân hàng thông báo gửi chứng từ cho ngân hàng phát hành yêu cầu thanh toán cho nhà xuất khẩu
(7) Ngân hàng mở L/C kiểm tra bộ chứng từ nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả tiền cho nhà xuất khẩu, nếu không thấy phù hợp thì từ chối thanh toán
và gửi trả lại bộ chứng từ cho nhà xuất khẩu
(8) Ngân hàng mở L/C đòi tiền nhà nhập khẩu và chuyển bộ chứng từ cho nhà nhập khẩu sau khi nhận tiền hoặc chấp nhận thanh toán
c Tín dụng chấp nhận hối phiếu
Trang 28Tín dụng chấp nhận hối phiếu là hình thức tín dụng được thực hiện trên cơ
sở ngân hàng kí hợp đồng tín dụng với nhà nhập khẩu Trong đó, các ngân hàng cam kết chấp nhận các hối phiếu mà khách hàng của mình phải thanh toán Hình thức tín dụng này đảm bảo cho nhà nhập khẩu thanh toán khi đến hạn Tín dụng chấp nhận hối phiếu thường được dùng trong trường hợp người bán thiếu tin tưởng khả năng thanh toán của người mua và họ đề nghị bên mua có một ngân hàng đứng ra chấp nhận trả tiền hối phiếu do họ kí phát Nếu ngân hàng đồng ý cũng có nghĩa là ngân hàng đã chấp nhận cấp một khoản tín dụng cho bên mua
Đối với ngân hàng kể từ khi kí chấp nhận hối phiếu cũng chính là thời điểm bắt đầu gánh chịu rủi ro, nếu người mua không có tiền thanh toán cho bên bán khi hối phiếu đến hạn thanh toán Tuy nhiên, nếu đến thời hạn thanh toán người mua có
đủ tiền thì ngân hàng có thể không phải ứng tiền ra Tín dụng chấp nhận hối phiếu đem lại sự thuận lợi cho không chỉ người xuất khẩu mà cả với người nhập khẩu:
+ Với sự chấp nhận của ngân hàng, nhà xuất khẩu có được một sự đảm bảo vững chắc về khả năng chi trả của hối phiếu và họ có thể đem hối phiếu đi chiết khấu tại bất kì ngân hàng nào Khả năng thương mại của hối phiếu này rất lớn
+ Đối với nhà nhập khẩu, hình thức tín dụng này có vai trò quan trọng trong nghệ thuật thương mại, nó tạo cho họ có được uy tín với nhà xuất khẩu và khả năng thanh toán cần thiết khi đến hạn thanh toán cho nhà nhập khẩu
d Tín dụng ứng trước cho nhập khẩu
Cũng như các nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu cũng rất cần được cho vay theo hình thức ứng trước của ngân hàng Đó là khi họ cần phải thanh toán tiền mặt cho nhà xuất khẩu Ngoài ra, nhà nhập khẩu cũng có thể phát sinh nhu cầu tài trợ để thanh toán cho bộ chứng từ khi hàng hoá chưa về đến cảng và doanh nghiệp chưa tiêu thụ được hàng hoá để thu hồi vốn Ngân hàng tài trợ trong trường hợp này có thể sử dụng các chứng từ hàng hoá làm vật đảm bảo Đây cũng chỉ là việc tài trợ cho các mục tiêu thanh toán ngắn hạn của ngân hàng dành cho các nhà nhập khẩu
e Tín dụng theo phương thức chi trả trực tiếp
Theo hình thức này sau khi nhà nhập khẩu kí hợp đồng mua bán hàng với nhà xuất khẩu nước ngoài nếu họ không có đủ tiền họ có thể xin vay ngân hàng
Trang 29theo phương thức đề nghị ngân hàng gửi chuyển trả tiền cho người xuất khẩu thông qua ngân hàng đại lý ở nước ngoài.
(1) Giao dịch hàng hoá giữa nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu
(2) Nhà nhập khẩu viết đơn yêu cầu chuyển tiền
(3) Ngân hàng nhà nhập khẩu chuyển tiền ra nước ngoài qua ngân hàng đại lý(4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho nhà xuất khẩu
(5) Thông báo đã hoàn thành việc chuyển tiền
(6) Ngân hàng Nhập khẩu báo nợ cho nhà nhập khẩu
Nhiều khi nhà nhập khẩu có đủ tiền họ cũng sử dụng hình thức chuyển tiền Nhưng trường hợp này ngân hàng không phải cung cấp tín dụng cho nhà nhập khẩu
mà chỉ thực hiện hình thức dịch vụ thông thường và thu phí dịch vụ
Hình thức tín dụng này, số tiền được chuyển dựa vào trị giá của hoá đơn thương mại hoặc kết quả của việc nhận hàng về số lượng và chất lượng để quy ra số tiền phải chuyển Chuyển tiền bằng thư chậm hơn chuyển tiền bằng điện Thường là sau khi nhận hàng hoá mới chuyển tiền để tránh bị nhà xuất khẩu chiếm dụng vốn
1.2.3 Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
1.2.3.1 Khái niệm chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu được hiểu là sự đáp ứng một cách tốt nhất yêu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng Đảm bảo an toàn và hạn chế rủi ro về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp với sự phát triển kinh
tế đối ngoại nói riêng và sự phát triển kinh tế xã hội nói chung Nói cách khác, một khoản tín dụng xuất nhập khẩu có chất lượng phải đảm bảo kết hợp hài hoà lợi ích của ba bên Ngân hàng, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu và của xã hội
Trang 30Xét trên giác độ hoạt động kinh doanh của ngân hàng: chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu là khoản tín dụng tài trợ cho xuất nhập khẩu được bảo đảm an toàn,
sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chính sách tín dụng của ngân hàng, hoàn trả gốc và lãi đúng hạn, đem lại lợi nhuận cho ngân hàng và với chi phí nghiệp vụ thấp nhất tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường, làm lành mạnh các quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển
Xét trên giác độ lợi ích của khách hàng: thì khoản tín dụng có chất lượng
là cung cấp đầy đủ, kịp thời và phù hợp với mục đích sử dụng của khách hàng với lãi suất và thời hạn hợp lí, thủ tục đơn giản thuận tiện thu hút được khách hàng, góp phần tích cực đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu của khách hàng
Xét trên toàn bộ nền kinh tế: khoản tín dụng xuất nhập khẩu có chất lượng
là phải hỗ trợ cho hoạt động xuất nhập khẩu một cách thiết thực, góp phần thúc đẩy, sản xuất, lưu thông hàng hoá xuất nhập khẩu, giải quyết công ăn việc làm, góp phần xây dựng các cơ sở hạ tầng kinh tế, khai thác khả năng tiềm tàng về xuất nhập khẩu của nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu, giải quyết tốt mối quan hệ tăng trưởng tín dụng xuất nhập khẩu và tăng trưởng hoạt động kinh tế đối ngoại
Để đánh giá chất lượng của các khoản tín xuất nhập khẩu của ngân hàng một cách hoàn toàn chính xác là một công việc không dễ bởi nó đòi hỏi phải xem xét trên nhiều mặt, thông qua sự tổng hợp kết quả phân tích nhiều chỉ tiêu khác nhau Dưới đây là một chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
1.2.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thương mại
Một là, nhóm chỉ tiêu đánh giá chung chất lượng tín dụng
* Tổng nguồn vốn huy động: Chỉ tiêu này cho biết khả năng thu hút và cung ứng vốn của Ngân hàng cho khách hàng Ngoài ra, nó còn cho thấy uy tín
và qui mô của Ngân hàng trên thị trường Nguồn vốn huy động lớn thường gắn với những ngân hàng có uy tín cao
Trang 31* Tổng dư nợ tín dụng: chỉ tiêu này cho biết Ngân hàng cho vay được nhiều hay ít Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, cho các tổ chức tín dụng hay khách hàng vay nhiều cho thấy Ngân hàng đã tạo được uy tín với các bạn hàng, cung cấp nhiều hình thức dịch vụ đa dạng, phong phú, tham gia nhiều nghiệp vụ thanh toán.
Chỉ tiêu này giúp các nhà phân tích đánh giá khả năng cho vay của ngân hàng cũng như so sánh giữa các ngân hàng với nhau trong việc sử dụng vốn vay Hiệu suất sử dụng vốn vay cao chưa hẳn đã tốt bởi nó còn phụ thuộc vào cơ cấu nguồn vốn Chẳng hạn, trong cơ cấu nguồn vốn tỉ trọng vốn vay thương mại lớn thì cho vay nhiều chưa hẳn là đưa đến chất lượng tín dụng cao, vì lãi suất với các khoản vốn vay thương mại thường lớn trong khi ngân hàng khó có thể cho vay với lãi suất quá cao hơn do phải cạnh tranh lãi suất để thu hút khách hàng
Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tổ chức, quản lí vốn tín dụng, đồng thời thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn tín dụng và đáp ứng nhu cầu khách hàng Để có thể đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, các tiêu chuẩn tính toán cần phải đồng nhất trong việc áp dụng đối với từng loại cho vay cụ thể
* Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ : Nợ quá hạn là những khoản nợ đã đến hạn thanh toán nhưng khách hàng chưa trả được Ngân hàng có chỉ tiêu nợ quá hạn trên tổng dư nợ càng thấp khả năng gặp rủi ro càng thấp chất lượng tín dụng càng cao Chỉ tiêu này lại chia ra hai chỉ tiêu cụ thể hơn:
Nợ quá hạn từ 6-12 tháng
Trang 32Đây là một trong những chỉ tiêu định lượng quan trọng nhất phản ánh chất lượng tín dụng của khoản tín dụng Nếu tỉ lệ này càng cao mà ngân hàng không có biện pháp xử lí kịp thời thì khả năng tổn thất của ngân hàng càng lớn.
Nợ quá hạn từ 12 tháng trở lên
Nếu tỉ lệ này cao có nghĩa là ngân hàng không những phải chịu rủi ro tín dụng cao, chất lượng tín dụng kém mà còn có nguy cơ mất khả năng thanh toán bởi việc đòi nợ các khoản vay này là rất khó khăn Một khoản tín dụng có chất lượng cao thì tỷ lệ nợ quá hạn khó đòi phải thấp
Hai là, nhóm chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
Đối với tín dụng xuất nhập khẩu để đánh giá chất lượng của nó thông thường ta cũng xem xét trên các chỉ tiêu như trên Tuy nhiên, tập trung vào các chỉ tiêu cơ bản sau:
Chỉ tiêu này cho thấy vị trí của tín dụng xuất nhập khẩu trong hoạt động tín dụng chung của ngân hàng Ngoài ra, nó còn được sử dụng để xem xét sự biến động trong cơ cấu tín dụng thông qua việc so sánh giữa các thời kỳ khác nhau Tỉ lệ này càng cao cho thấy mức độ phát triển nghiệp vụ này càng lớn, tín dụng xuất nhập khẩu đóng góp càng nhiều cho các doanh nghiệp và được khách hàng tín nhiệm
Trang 33Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng xuất nhập khẩu Nó cho biết có bao nhiêu đồng lợi nhuận được sinh ra từ một đồng dư nợ Chất lượng tín dụng tốt phải gồm cả lợi nhuận mà tín dụng đó mang lại cho ngân hàng Ngoài ra, khi xem xét chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu bên cạnh những chỉ tiêu định lượng, ta còn phải chú trọng tới cả những chỉ tiêu định tính như về quan hệ hợp tác, khả năng mở rộng tín dụng
Với những chỉ tiêu trên đây ta mới chỉ có thể xem xét được khoản tín dụng xuất nhập khẩu có chất lượng tốt hay chưa Nhưng vấn đề đặt ra không phải chỉ dừng lại ở đó mà là phải tìm ra các giải pháp để khắc phục các hạn chế và phát huy những mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng cho hoạt động sau này Tức là
ta cần phải nắm bắt được các nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng XNK
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu
1.2.4.1 Các nhân tố từ phía ngân hàng
Các nhân tố từ phía ngân hàng được xem là các nhân tố chủ quan, bởi nó
là yếu tố nội tại trong ngân hàng và có tác động một cách trực tiếp đến chất lượng hoạt động ngân hàng nói chung và chất lượng hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu nói riêng Các nhân tố này bao gồm: chính sách tín dụng, công tác huy động vốn, công tác tổ chức của ngân hàng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, qui trình nghiệp vụ tín dụng, hoạt động, kiểm tra, kiểm soát nội bộ, trang thiết bị và sự phối hợp giữa các phòng ban liên quan
Thứ nhất, chính sách tín dụng: Bao gồm các chủ trương, đường lối đảm
bảo cho hoạt động tín dụng đi đúng mục tiêu của ngân hàng đồng thời tuân thủ tốt qui định của Chính phủ, NHNN, nó có liên quan đến việc mở rộng hay thu hẹp tín dụng, thay đổi cơ cấu tín dụng trong từng thời kỳ và có ý nghĩa quyết định sự thành bại của một ngân hàng Bất cứ một ngân hàng nào muốn có được chất lượng tín dụng cao đều phải có chính sách tín dụng phù hợp với điều kiện của ngân hàng, phải căn cứ vào đòi hỏi của thị trường
Trang 34Thứ hai, công tác huy động vốn: Huy động vốn đối với ngân hàng được
coi như hoạt động cung cấp đầu vào cho sản xuất để tạo ra sản phẩm đầu ra ở các doanh nghiệp Nếu nguồn vốn không được huy động đầy đủ về số lượng và phù hợp về thời hạn cũng như loại tiền thì ngân hàng khó có thể đáp ứng được các nhu cầu đa dạng của khách hàng một cách nhanh chóng và đầy đủ Do vậy, chất lượng tín dụng khó có thể được nâng cao, thậm chí còn trở nên kém hơn
Thứ ba, công tác tổ chức của ngân hàng: Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức
khoa học sẽ đảm bảo được sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa các cán bộ nhân viên trong cùng một phòng, giữa các phòng ban với nhau và cao hơn là giữa các ngân hàng trong cùng hệ thống, từ đó nắm bắt và triển khai tốt việc đáp ứng nhu cầu khách hàng, nâng cao được chất lượng hoạt động tín dụng và đảm bảo được tính thống nhất và hiệu quả trong quá trình hoạt động
Thứ tư, trình độ đội ngũ cán bộ, nhân viên tín dụng xuất nhập khẩu: Đây có
thể coi là yếu tố quan trọng nhất có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của không chỉ hoạt động tín dụng mà cả sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Hoạt động kinh
tế đối ngoại càng phức tạp, công nghệ ngân hàng càng hiện đại thì đòi hỏi trình độ, năng lực của cán bộ ngân hàng trong lĩnh vực xuất nhập khẩu phải được nâng cao hơn Với một đội ngũ cán bộ nhân viên có nghiệp vụ giỏi, có đạo đức và năng lực trong sáng tạo - quản lí, hiểu biết về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu sẽ giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro, nắm bắt được những cơ hội tốt để cho vay
và tất yếu sẽ dẫn đến nâng cao chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng
Thứ năm, qui trình tín dụng: Đây là những trình tự, những giai đoạn,
những bước, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất định trong việc cho vay bắt đầu từ việc xem xét đơn xin vay của khách hàng đến khi thu nợ nhằm bảo đảm an toàn vốn tín dụng Chất lượng tín dụng XNK phụ thuộc vào việc lập ra một qui trình tín dụng XNK đảm bảo tính khoa học vừa nhanh chóng, thuận tiện, vừa đảm bảo thực hiện đầy đủ nghiêm túc các bước của qui trình Qui trình tín dụng xuất nhập khẩu cũng thường gồm ba bước chính:
Trang 35Một là, xét đề nghị vay của khách hàng và thực hiện cho vay: Giai đoạn này chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu phụ thuộc nhiều vào công tác thẩm định khách hàng và việc chấp hành các qui định về điều kiện và thủ tục cho vay của ngân hàng.
Hai là, kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và theo dõi dự báo rủi ro: việc thiết lập hệ thống kiểm tra hữu hiệu, áp dụng có hiệu quả các hình thức kiểm tra sẽ góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng tín dụng
Ba là, thu nợ và thanh lí: Sự linh hoạt của cán bộ tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng trong khâu thu nợ sẽ giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro và hạn chế
nợ qua hạn, bảo toàn vốn và nâng cao chất lượng tín dụng cho xuất nhập khẩu
Thứ sáu, thông tin tín dụng: Thông tin tín dụng là hết sức cần thiết, nó là
cơ sở để xem xét quyết định cho vay và theo dõi, quản lí khoản cho vay Thông tin tín dụng xuất nhập khẩu có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau như: hồ
sơ vay vốn của khách hàng, nguồn số liệu thống kê của Tổng cục thống kê, số liệu của Bộ thương mại về tình hình xuất nhập khẩu của các đơn vị, doanh nghiệp hay điều tra trực tiếp tại các cơ sở Chất lượng tín dụng chỉ có thể được nâng cao khi ngân hàng có những nguồn thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời để dự đoán
và đề ra các biện pháp ngăn ngừa phòng chống rủi ro
Thứ bảy, công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ: Chất lượng tín dụng xuất
nhập khẩu phụ thuộc vào việc chấp hành những qui chế, thể lệ, chính sách và mức độ kịp thời phát hiện sai sót cũng như những nguyên nhân dẫn đến sai sót lệch lạc trong quá trình thực hiện các khoản tín dụng
Thứ tám, trang thiết bị phục vụ hoạt động tín dụng: trang thiết bị tuy
không là yếu tố cơ bản nhưng nó góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng Nó là công cụ, phương tiện thực hiện tổ chức, quản lí, kiểm tra, kiểm soát nội bộ Đặc biệt với sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin hiện nay các trang thiết bị tin học đã giúp cho ngân hàng có được thông tin về các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, thị trường trong tương lai
Thứ chín, các hoạt động bổ trợ cho hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu: các
hoạt động bổ trợ như: Kinh doanh ngoại tệ , Thanh toán quốc tế có ảnh hưởng
Trang 36đến nguồn vốn ngoại tệ , cũng như tỷ giá hối đoái mà ngân hàng sử dụng và khả năng đáp ứng nhanh, kịp thời vốn cho hoạt động xuất nhập khẩu của ngân hàng.
1.2.4.2 Các nhân tố từ phía khách hàng:
Khách hàng có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tín dụng bởi họ là những người trực tiếp sử dụng các khoản tín dụng để đưa vào sản xuất kinh doanh và thực hiện chi trả cho ngân hàng Một khoản tín dụng chỉ gọi là có chất lượng khi mà nó được khách hàng sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Để đạt được điều đó bản thân khách hàng cũng cần phải chú trọng đến nhiều khía cạnh khác nhau như: trình độ, đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng tài chính Cụ thể là:
Thứ nhất, trình độ khả năng và đạo đức của đội ngũ cán bộ lãnh đạo của
doanh nghiệp: Trong điều kiện nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một tất yếu
Để tồn tại các doanh nghiệp phải biết nắm bắt và tận dụng các cơ hội trong kinh doanh, điều này đòi hỏi ban lãnh đạo của doanh nghiệp phải có trình độ có năng lực quản lí và ra quyết định Khi việc kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thuận lợi sẽ có tác động tích cực đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng Ngoài ra, trình độ và đạo đức của người lãnh đạo cũng có tác động rất lớn đến việc sử dụng vốn vay cũng như mong muốn trả nợ của doanh nghiệp từ đó tác động đến chất lượng của khoản tín dụng
Thứ hai, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp: trên cơ sở nhận định,
đánh giá chính xác tiềm năng thế mạnh của doanh nghiệp, xu hướng phát triển của mặt hàng XNK của doanh nghiệp cùng với những khó khăn thuận lợi hiện tại và trong tương lai Doanh nghiệp sẽ quyết định chiến lược mở rộng, thu hẹp hay giữ qui mô kinh doanh ổn định từ đó xây dựng các kế hoạch cụ thể về sản xuất tiêu thụ Việc xây dựng một chiến lược kinh doanh đúng đắn có ý nghĩa quan trọng đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Từ đó tác động đến khả năng huy động và trả nợ đối với các nguồn tài trợ
Thứ ba, tổ chức hoạt động sản xuất và công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh
nghiệp: Hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp được tổ chức hợp
lí sẽ nâng cao được năng suất lao động, tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành sản
Trang 37phẩm đồng thời tăng được doanh số bán hàng và tăng lợi nhuận Doanh nghiệp sẽ
có điều kiện mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng vòng quay và hiệu quả sử dụng vốn
và như thế cũng chính là nâng cao được chất lượng các khoản tín dụng được cung cấp trong đó có khoản tín dụng xuất nhập khẩu do ngân hàng tài trợ
Thứ tư, khả năng tài chính của doanh nghiệp: Đây là một yếu tố có tác
động đến việc lựa chọn các nguồn tài trợ của doanh nghiệp, bởi vì thường thì doanh nghiệp chỉ đi vay khi mà khả năng tài chính của họ không đáp ứng được nhu cầu vốn cho hoạt động của mình Mặt khác, khả năng tài chính của doanh nghiệp nó còn là cơ sở để ngân hàng quyết định có cho vay hay không, cho vay bao nhiêu và khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào Điều này, có ý nghĩa đến việc nâng cao chất lượng tín dụng từ cả hai phía ngân hàng và doanh nghiệp
1.2.4.3 Các nhân tố khách quan khác
- Nhóm nhân tố thuộc về môi trường kinh tế: Đối với hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu nó cũng bị tác động bởi nhiều nhân tố thuộc môi trường kinh tế như: các chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước, thị trường hàng hoá xuất nhập khẩu, mức độ cạnh tranh trên thị trường , chu kì kinh doanh Nhưng tác động cụ thể nhất đó là sự biến động của tỉ giá hối đoái và lãi suất trên thị trường tiền tệ và lạm phát Bởi vì, như ta đã biết nghiệp vụ tín dụng xuất nhập khẩu nó gắn với nghiệp vụ thanh toán quốc tế (thường sử dụng nhiều loại tiền tệ khác nhau được qui đổi lẫn nhau thong qua tỉ giá) và lãi suất của ngân hàng nó gắn với lãi suất trên thị trường, tín dụng ngân hàng là tín dụng bằng tiền tệ
- Với vấn đề tỉ giá: Khi tỉ giá hối đoái không ổn định Chẳng hạn giảm đi thì các doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc hoàn trả khoản tín dụng vay bằng ngoại tệ trước đó, vì cần phải có nhiều tiền vốn nội tệ hơn mới mua đủ số ngoại tệ cần để trả Do vậy, các doanh nghiệp hoặc là sẽ hạn chế sử dụng vốn tín dụng hoặc sẽ không trả được nợ cho ngân hàng điều này làm cho tín dụng xuất nhập khẩu giảm cả về qui mô và chất lượng
- Với nhân tố lãi suất: Mức độ phù hợp giữa lãi suất trên thị trường với mức lợi nhuận của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu trong nền kinh tế cũng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu Lợi nhuận ngân hàng thu
Trang 38được bị giới hạn bởi lợi nhuận của doanh nghiệp sử dụng vốn vay nên với mức lãi suất cao, các doanh nghiệp không trả được nợ, hoặc sẽ có ý định không muốn trả nợ,
từ đó hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng không còn là đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tất nhiên chất lượng tín dụng cũng giảm sút
- Lạm phát: Lạm phát có tác động mạnh lên nhiều mặt như khả năng tiêu thụ hàng hoá, giá cả thị trường, hiệu quả kinh doanh Do vậy, nó tác động mạnh đến không chỉ hoạt động tín dụng mà còn cả nền kinh tế Chẳng hạn trong thời kì lạm phát cao sản xuất kinh doanh bị thu hẹp, đầu tư, tiêu dùng giảm, nhu cầu tín dụng giảm, vốn tín dụng đã thực hiện cũng khó có thể sử dụng có hiệu quả hoặc trả nợ đúng hạn cho ngân hàng Ngoài ra còn phải kể đến việc công chúng không muốn gửi tiền vào ngân hàng để đề phòng việc mất giá tiền tệ Như thế việc đạt được chất lượng trong hoạt động tín dụng hầu như không thể
- Nhóm nhân tố thuộc môi trường pháp lí: Môi trường pháp lí tác động đến hoạt động ngân hàng thông qua hệ thống các luật và các văn bản pháp quy
có liên quan đặc biệt là các pháp lệnh của NHNN, các chủ trương chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước Trong nền kinh tế thị trường như ở Việt Nam
sự điều tiết của Nhà nước bằng pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra một môi trường kinh doanh bình đẳng thuận lợi, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinh tế tạo các mối quan hệ kinh tế lành mạnh Nhân tố pháp lý ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng xuất nhập khẩu, đó là tính đồng bộ thống nhất của hệ thống pháp luật về hoạt động kinh doanh đối ngoại, ý thức tôn trọng chấp hành nghiêm chỉnh những quy định của pháp luật và cơ chế để đảm bảo cho sự tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh triệt để Sự thay đổi chủ trương chính sách của Nhà nước, các pháp lệnh ngân hàng của NHNN sẽ làm tăng cao hay giảm bớt chất lượng của hoạt động tín dụng điều này nó cần phải được đánh giá trong mối quan hệ với việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu của Nhà nước, thực thi chính sách tiền tệ của NHNN Bên cạnh đó cũng cần thấy rằng sự thay đổi môi trường pháp lí còn có tác động rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu mà cụ thể là các chính sách về khuyến khích xuất khẩu hay hạn chế nhập khẩu
Trang 39Tóm lại, có rất nhiều nhân tố tác động đến chất lượng tín dụng xuất nhập
khẩu Song điều quan trọng không phải là biết tên các nhân tố đó mà cần phải hiểu rõ sự tác động của chúng và vận dụng sáng tạo trong điều kiện thực tế của ngân hàng sao cho sự vận dụng đó đem lại hiệu quả làm tăng được chất lượng của hoạt động tín dụng xuất nhập khẩu
1.3.KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG XNK VÀ BÀI HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM.
1.3.1 Kinh nghiệm quốc tế
Chính sách tín dụng XNK ở các nước rất được coi trọng, nhiều nước còn thành lập riêng các ngân hàng chuyên doanh phục vụ xuất nhập khảu, đặc biệt là
hỗ trợ những ngành xuất khẩu mũi nhọn Trong từng điều kiện, hoàn cảnh kinh
tế khác nhau, mỗi quốc gia sẽ có những chính sách riêng hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu
Tại Trung Quốc, Đầu những năm 90, Trung Quốc cấp phát 100 triệu nhân dân
tệ dự trữ bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để đẩy mạnh nghiệp vụ tín dụng trung và dài hạn Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc được thành lập năm 1994 thực hiện bảo hiểm tín dụng XNK, đồng thời nhà nước hỗ trợ vốn hàng năm và miễn thu thuế doanh thu đối với thu nhập từ phí bảo hiểm Đến năm 2001, ngay sau khi gia nhập WTO, Trung Quốc đã thành lập tổ chức Bảo hiểm tín dụng xuất khẩu trên cơ sở sát nhập hai phòng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu của Công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc và Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu để phục vụ hoạt động XNK tại nước mình
Tại các nước Đông Nam Á (ASEAN): Các nước ASEAN lại tập trung ưu
đãi về thuế, không coi trọng ưu đãi tín dụng về lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu Tại Thái Lan, năm 1993, Ngân hàng XNK Thái Lan được thành lập nhằm
hỗ trợ, thúc đẩy phát triển hoạt động XNK tại đây
Tại Nhật Bản: Ngân hàng Xuất Nhập Khẩu Nhật Bản (JEXIM) được ra
đời năm 1950 với nhiệm vụ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu thuộc các ngành công nghiệp then chốt JEXIM có bốn hình thức tài trợ chính: Tín dụng xuất khẩu, tín dụng nhập khẩu, tín dụng đầu tư ra nước ngoài và tín dụng không điều kiện
Trang 40Tại Hàn Quốc, Ngân hàng xuất nhập khẩu Hàn Quốc (EXIMBANK Hàn
Quốc) cung cấp 2 chương trình tài trợ chính: tài trực tiếp cho nhà xuất khẩu và tài trợ xuất khẩu gián tiếp qua người mua Hàn Quốc có chính sách cho vay ưu đãi và tài trợ cho xuất khẩu rõ ràng, cho doanh nghiệp xuất khẩu vay với lãi suất
ưu đãi từ những năm 1962 và những năm 70 Nhưng đến năm 1982 Hàn Quốc
đã áp dụng chế độ lãi suất thống nhất
Tại Mỹ, Ngân hàng XNK Mỹ là cơ quan chính phủ, là ngân hàng duy nhất ở
Mỹ dành riêng cho tài trợ và đơn giản hóa việc xuất khẩu ở Mỹ Nhiệm vụ chủ yếu của Ngân hàng này là tài trợ cho việc xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ phi quân sự với điều kiện ít nhất 50% hàm lượng hàng hóa, dịch vụ này được tạo ra ở Mỹ Ngân hàng xuất nhập khẩu cùng với tập đoàn đầu tư tư nhân ra nước ngoài (OPIC) thực hiện tài trợ xuất khẩu song phương, tài trợ dự án, bảo lãnh nợ và bảo hiểm
EXIMBANK tài trợ xuất khẩu hàng hóa của Mỹ bằng cách cung cấp tín dụng, bảo lãnh vốn lưu động và tín dụng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu Còn OPIC lại khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân Mỹ đầu tư vào các nước đang phát triển thông qua tài trợ vốn cho các dự án và bảo hiểm các rủi ro chính trị, trong đó có bảo hiểm trước rủi ro về tính không chuyển đổi của các bản tệ, quốc hữu hóa và biến động chính trị
Tại Đức, tín dụng cho người đặt hàng được thực hiện phổ biến ở Đức
Một trong những phương thức cho người nhập khẩu là các ngân hàng Đức ký kết hiệp định khung với các ngân hàng và Chính phủ nước ngoài cho phép các ngân hàng và Chính phủ này những khoản tín dụng riêng rẽ nhằm tài trợ cho việc nhập khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ từ Đức
Ưu điểm của loại hình tín dụng này:
- Nhà xuất khẩu: tránh được rủi ro ngưng trệ thanh toán về kinh tế, chính trị nằm ở nước ngoài; tránh được khó khăn đối với cán cân thanh toán và giữ được khả năng tín dụng của mình; cạnh tranh được với đối thủ nước ngoài
- Nhà nhập khẩu: có thể thanh toán từng phần cho cả công trình, thiết bị
đã nhập khẩu Đồng thời có thể thanh toán từ lợi nhuận của các sản phẩm là ra