1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

thực trạng hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp tại ngân hàng tmcp đt&pt việt nam – chi nhánh sở giao dịch 1

97 501 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm đánh giá một cách cụ thể và chính xác hiệuquả cho vay đối với các doanh nghiệp thi công xây lắp, qua đó đưa ra các giảipháp góp phần khai thác tối đa n

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 4

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP THI CÔNG XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp 1.1.1 Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 8

1.1.1.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 8

1.1.1.2 Phân loại họat động cho vay của ngân hàng thương mại 9

1.1.1.3 Vai trò hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 11

1.1.2 Hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp 12

1.1.2.1 Đặc trưng của ngành thi công xây lắp 12

1.1.2.2 Đặc điểm hoạt động cho vay các DNTCXL 17

1.1.2.3 Rủi ro hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp 22

1.2 Hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp của ngân hàng thương mại 1.2.1 Quan niệm về hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp 24

1.2.2 Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay các DNTCXL 25

1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu tài chính: 26 1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phi tài chính 32

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay các DNTCXL 33

1.2.3.1 Từ phía ngân hàng 34

1.2.3.2 Từ phía các doanh nghiệp thi công xây lắp 37

1.2.3.3 Các nhân tố khác 38

Trang 2

CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP THI CÔNG XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐT&PT VIỆT NAM – CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH 1

2.1 Giới thiệu về Chi nhánh Sở giao dịch 1

2.1.1 Giới thiệu chung về Chi nhánh Sở giao dịch 1 41

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của Chi nhánh Sở giao dịch 1 41

2.1.3 Mô hình tổ chức của Chi nhánh Sở giao dịch 1 43

2.1.4 Tình hình họat động kinh doanh của Chi nhánh Sở giao dịch 1 44

2.1.4.1 Tình hình hoạt động huy động vốn 44

2.1.4.2 Tình hình hoạt động tín dụng 47

2.1.4.3 Tình hình hoạt động thu phí, dịch vụ 56

2.2 Thực trạng hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 2.2.1 Quy mô tổng dư nợ cho vay các DNTCXL 58

2.2.2 Cơ cấu tổng dư nợ cho vay các DNTCXL 60

2.2.3 Thu nhập từ hoạt động cho vay các DNTCXL 61

2.2.4 Chất lượng hoạt động cho vay các DNTCXL 63

2.3 Đánh giá hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 2.3.1 Ưu thế của Chi nhánh Sở giao dịch 1 trong hoạt động cho vay xây lắp 67

2.3.2 Những kết quả đạt được 67

2.3.3 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân 70

2.3.3.1 Những hạn chế còn tồn tại 70

2.3.3.2 Nguyên nhân 72

Trang 3

CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐT&PT VIỆT NAM - CHI NHÁNH SỞ GIAO DỊCH 1

3.1 Định hướng hoạt động cho vay của Chi nhánh Sở giao dịch 1

3.1.1 Định hướng hoạt động của Chi nhánh Sở giao dịch 1 77

3.1.1.1 Hoạt động huy động vốn 77

3.1.1.2 Hoạt động cho vay 78

3.1.1.3 Hoạt động dịch vụ 79

3.1.2 Định hướng hoạt động cho vay xây lắp tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 79

3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 3.2.1 Xây dựng định hướng cho vay phù hợp 80

3.2.2 Đẩy mạnh hoạt động chăm sóc, marketing khách hàng 81

3.2.3 Tăng cường đào tạo, bổi dưỡng trình độ đội ngũ nhân viên 82

3.2.4 Từng bước hoàn thiện quy trình cho vay xây lắp 83

3.2.5 Nâng cao hiệu quả hệ thống thu thập & xử lý thông tin tín dụng 85

3.2.6 Tăng cường công tác đánh giá khách hàng, kiểm tra, giám sát món vay nhằm nâng cao chất lượng 86

3.2.7 Tăng cường hoạt động huy động vốn 88

3.2.8 Hiện đại hóa công nghệ Ngân hàng 89

3.3 Một số kiến nghị 3.3.1 Kiến nghị với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam 89

3.3.2 Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 92

3.3.3 Kiến nghị với các DNTCXL 93

3.3.4 Kiến nghị với Nhà nước và các cơ quan liên quan 93

KẾT LUẬN 95

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cho vay các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp là mộttrong những hoạt động truyền thống của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ViệtNam (nay là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam) nói chung và củaChi nhánh Sở giao dịch 1 nói riêng Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thế giớicũng như nền kinh tế Việt Nam lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ năm

2008 đến nay, hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung cũng như mỗi ngân hàngnói riêng đã bộc lộ nhiều yếu kém

Đối với Chi nhánh Sở giao dịch 1, trong những năm qua hoạt động cho vayđối với các doanh nghiệp thi công xây lắp tuy đã đạt được nhiều thành tựu đángkhích lệ, song vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần khắc phục đặc biệt là trong giaiđoạn nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay

Xuất phát từ thực tiễn đó, nhằm đánh giá một cách cụ thể và chính xác hiệuquả cho vay đối với các doanh nghiệp thi công xây lắp, qua đó đưa ra các giảipháp góp phần khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có, nâng cao hiệu quả cho

vay tại Chi nhánh Sở giao dịch 1, tác giả đã chọn đề tài “Nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” để nghiên cứu.

Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay các doanh nghiệpthi công xây lắp tại Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát

Trang 5

triển Việt Nam.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắpcủa ngân hàng thương mại

- Phạm vi nghiên cứu: Bài viết chỉ áp dụng nghiên cứu trong phạm vi tại Chinhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tronggiai đoạn 2008-2011

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp như: thống kê và so sánh….để làm sáng tỏ các vấn đề đặt ra nhằm tìm ra các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạtđộng cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp

5 Kết cấu của Luận văn

Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 3phần, mỗi phần là 1 chương Bao gồm:

Chương 1: Lý luận về hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp của

ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp tại

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Sởgiao dịch 1

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công

xây lắp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chinhánh Sở giao dịch 1

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BIDV: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

DNTCXL: Doanh nghiệp thi công xây lắp

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

[Sơ đồ 2.1] Mô hình tổ chức bộ máy của CN Sở giao dịch 1 43

[Bảng 2.1] Tình hình huy động vốn của CN Sở giao dịch 1 44

[Bảng 2.2] Kết quả hoạt động tín dụng của CN Sở giao dịch 1 47

[Bảng 2.3] Hệ số an toàn vốn của CN Sở giao dịch 1 51

[Bảng 2.4] Các nhóm khách hàng theo Hệ thống XHTDNB 53

[Bảng 2.5] Quy mô dư nợ cho vay xây lắp tại CN Sở giao dịch 1 58

[Bảng 2.6] Thu lãi từ hoạt động cho vay xây lắp CN Sở giao dịch 1 61

[Bảng 2.7] Tỷ lệ nợ quá hạn các DNTCXL của CN Sở giao dịch 1 63

[Biểu đồ 2.1] Nguồn vốn huy động của CN Sở giao dịch 1 45

[Biểu đồ 2.2] Cơ cấu huy động vốn của CN Sở giao dịch 1 46

[Biểu đồ 2.3] Quy mô tín dụng của CN Sở giao dịch 1 47

[Biểu đồ 2.4] Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn cho vay của CN Sở giao dịch 1 48

[Biểu đồ 2.5] Cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế của CN SGD1 49

[Biểu đồ 2.6] Cơ cấu tín dụng theo tài sản bảo đảm của CN SGD1 50

[Biểu đồ 2.7] Tỷ lệ nợ quá hạn của CN Sở giao dịch 1 52

[Biểu đồ 2.8] Tỷ lệ nợ xấu, nợ nhóm 2 của CN Sở giao dịch 1 54

[Biểu đồ 2.9] Tỷ lệ nợ cơ cấu của CN Sở giao dịch 1 55

[Biểu đồ 2.10] Hoạt động thu phí dịch vụ của CN Sở giao dịch 1 56

[Biểu đồ 2.11] Quy mô dư nợ cho vay xây lắp của CN Sở giao dịch 1 59

[Biểu đồ 2.12] Cơ cấu dư nợ cho vay các DNTCXL của CN Sở giao dịch 1 60

[Biểu đồ 2.13] Thu phí hoạt động bảo lãnh của các DNTCXL CN SGD1 62

[Biểu đồ 2.14] Tỷ lệ nợ từ nhóm 2 trở lên các DNTCXL của CN SGD1 65

[Biểu đồ 2.15] Tỷ lệ dư nợ cơ cấu của các DNTCXL của CN SGD1 66

Trang 8

CHƯƠNG I : LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP THI CÔNG XÂY LẮP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp

1.1.1 Hoạt động cho vay của NHTM

1.1.1.1 Khái niệm về hoạt động cho vay của NHTM

Cho vay theo nghĩa chung là việc 1 bên thỏa thuận để cho đối tượng khácđược quyền sử dụng tài sản của mình trong 1 thời gian nhất định với điều kiện cóhoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của 2 bên và thường kèm theo lãi suất Cho vay là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu(Ngân hàng) sang người sử dụng (khách hàng) sau một thời gian nhất định lạiquay về với lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu

Từ khái niệm trên có thể thấy tín dụng ngân hàng hàm chứa ba nội dung: Có

sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người sử dụng;

Sự chuyển nhượng này có thời hạn; Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí.Tiếp cận theo chức năng hoạt động của ngân hàng, tín dụng ngân hàng làmột giao dịch (tiền hoặc hàng hóa) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chếtài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong

đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạnnhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốngốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán

Với tư cách là người cho vay, Ngân hàng thương mại có quyền yêu cầukhách hàng - người đi vay muốn vay được vốn phải tuân thủ những điều kiện nhấtđịnh, là cơ sở ràng buộc về mặt pháp lý đảm bảo cho người cho vay có thể thu hồiđược vốn (gốc và lãi) sau một thời gian nhất định

Trang 9

1.1.1.2 Phân loại họat động cho vay của NHTM

Các ngân hàng cung cấp nhiều loại hình cho vay khác nhau tương ứng với

sự đa dạng trong mục đích vay vốn của khách hàng : từ việc mua ô tô và sắm sửacác phương tiện sinh hoạt, chuẩn bị cho cuộc sống mới, tài trợ cho quá trình họctập của bản thân cũng như con em đến việc xây nhà ở và các tòa nhà văn phòng.Chúng ta có thể sắp xếp danh mục cho vay rất đa dạng của ngân hàng bằng cáchphân nhóm theo mục đích sử dụng vốn vay, tức là khách hàng dự định sẽ làm gìvới khoản vay

Tại Mỹ, ít nhất một lần trong năm, hệ thống Dự trữ liên bang, Công ty bảohiểm tiền gửi và Cục quản lý tiền tệ yêu cầu từng ngân hàng phải báo cáo danhmục cho vay của mình, nộp chung với Bảng cân đối kế toán Theo tiêu thức mụcđích cho vay, các khoản cho vay của một ngân hàng ở Mỹ có thể chia làm 7nhóm: Cho vay kinh doanh bất động sản; Cho vay đối với các tổ chức tài chính;Cho vay hỗ trợ sản xuất nông nghiệp và các khoản cho vay khác dành cho nôngdân; Cho vay công nghiệp và thương mại; Cho vay cá nhân; Cho vay khác; Tàitrợ thuê mua

Tuy nhiên, tùy thuộc vào các mục đích quản lý khác nhau mà có thể phân loại các hoạt động cho vay của một NHTM theo các tiêu chí khác nhau Dưới đây là một số cách phân loại phổ biến hoạt động cho vay của NHTM.

Theo tiêu chí loại hình cho vay, có thể phân loại hoạt động cho vay của NHTM thành các loại:

Thấu chi: Là nghiệp vụ cho vay mà qua đó ngân hàng cho phép người vay được

chi trội lên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định vàtrong một khoảng thời gian xác định Giới hạn đó được gọi là hạn mức thấu chi.Thấu chi là hình thức cho vay ngắn hạn, linh hoạt, phần lớn không có đảm bảo vàthường được sử dụng với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập đều đặn

Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến, đặc biệt áp

dụng với các khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên, không đủ điềukiện để được cấp hạn mức thấu chi Khi khách hàng phát sinh nhu cầu vay vốn

Trang 10

của ngân hàng, khách hàng sẽ phải làm đơn trình ngân hàng phương án sử dụngvốn vay cùng các điều kiện khác liên quan để ngân hàng tiến hành phân tích, xétduyệt khách hàng xem có đủ điểu kiện cho vay hay không Nếu khoản vay đượcchấp thuận, khách hàng sẽ được ký kết hợp đồng cho vay với các điều khoản chovay như quy mô cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và các yêucầu bảo đảm … Đứng ở góc độ của ngân hàng, nghiệp vụ cho vay từng lần tạothuận lợi để ngân hàng có thể kiểm soát được từng khoản vay tách biệt.

Cho vay theo hạn mức: Là nghiệp vụ cho vay mà theo đó ngân hàng sẽ thỏa thuận

cấp cho khách hàng một hạn mức tín dụng Hạn mức tín dụng có thể được tínhcho cả kỳ hoặc cuối kỳ, và là số dư tối đa tại thời điểm tính Nếu là hạn mức cuối

kỳ thì dư nợ tại thời điểm cuối kỳ không được vượt quá hạn mức Còn đối với hạnmức trong cả thời kỳ thì trong kỳ khách hàng không được có dư nợ vượt quá hạnmức Hạn mức được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn vànhu cầu vay vốn của khách hàng

Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên sự luân chuyển của hàng

hóa Doanh nghiệp có thể thiếu vốn khi mua hàng và ngân hàng đồng ý cho vayđể mua hàng và thu nợ khi doanh nghiệp bán được hàng Với hình thức này, giátrị hàng hóa mua vào với hóa đơn hợp lệ sẽ là đối tượng được ngân hàng cho vay

và thu nhập từ bán hàng sẽ là nguồn để chi trả cho ngân hàng Việc cho vay dựatrên sự luân chuyển của hàng hóa nên đòi hỏi doanh nghiệp và ngân hàng phảinghiên cứu kỹ kế hoạch lưu chuyển hàng hóa để dự đoán dòng ngân quỹ Phươngpháp cho vay này thường được áp dụng đối với các doanh nghiệp thương nghiệphoặc các doanh nghiệp sản xuất có chu kỳ tiêu thụ ngắn, quan hệ vay trả thườngxuyên với ngân hàng

Cho vay trả góp: Đây là hình thức tín dụng mà theo đó ngân hàng cho phép khách

hàng trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng thỏa thuận Cho vay trả gópthường được áp dụng với các khoản cho vay trung và dài hạn, cho vay mua cáctài sản cố định

Cho vay gián tiếp: Đây là hình thức cho vay qua các tổ chức trung gian như : hội

phụ nữ, hội sản xuất, hội nông dân … Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu

Trang 11

trong quá trình cho vay sang các tổ chức trung gian như khâu thu nợ, phát tiềnvay … Hình thức này thường được áp dụng đối với nhiều món vay nhỏ, ngườivay phân tán, giúp tiết kiệm chi phí và thời gian cho ngân hàng.

Theo tiêu chí thời gian cho vay, có thể chia thành các loại sau đây:

Cho vay ngắn hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn ngắn, thường là dưới 12

tháng Được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn lưu động của doanh nghiệp vànhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân

Cho vay trung hạn: Là các khoản cho vay có thời hạn từ 12 tháng đến 60 tháng,

sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm trang thiết bị, sửa chữa tài sản cố định, đổimới công nghệ hay mở rộng sản xuất kinh doanh

Cho vay dài hạn: Là các khoản cho vay có thời gian dài (từ 5 năm trở lên và có

thể kéo dài đến 20 – 30 năm), để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn như xây dựng cơ

sở hạ tầng, mua máy móc thiết bị, phương tiện vận tải quy mô lớn…

Theo tiêu chí tài sản đảm bảo cho khoản vay có thể phân loại thành:

Cho vay có tài sản đảm bảo: Khi để được chấp thuận cho vay, người đi vay phải

đáp ứng điều kiện về tài sản đảm bảo Bao gồm có 2 loại là cho vay cầm cố (khibên đi vay phải chuyển quyền quản lý và sử dụng tài sản cầm cố cho bên cho vay/bên nhận cầm cố) và cho vay thế chấp (khi bên đi vay được giữ lại tài sản thếchấp, chỉ chuyển quyền sở hữu tài sản thế chấp cho bên cho vay/bên nhận thếchấp để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ)

Cho vay không có tài sản đảm bảo: Người đi vay không cần thiết phải có tài sản

đảm bảo mới được chấp thuận cho vay

1.1.1.3 Vai trò hoạt động cho vay của NHTM

Đối với NHTM, hoạt động cho vay là hoạt động quan trọng và mang lại thunhập lớn cho ngân hàng Thông thường, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trịtổng tài sản và tạo ra 50% đến 70% nguồn thu của ngân hàng Đồng thời rủi rotrong hoạt động ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào danh mục các khoảncho vay Tuy nhiên, đây cũng là một hoạt động rất phức tạp và chứa đựng nhiều

Trang 12

rủi ro Rủi ro tín dụng xảy ra khi Ngân hàng không thu được gốc và/hoặc lãi củakhoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi khoản vay không đúng kỳ hạn.Rủi ro này dễ mang lại những tổn thất lớn cho Ngân hàng và có thể làm cho Ngânhàng đi đến chỗ phá sản

Ngày nay, đối với các ngân hàng thương mại hiện đại tỷ lệ nguồn thu từhoạt động cho vay có giảm đi, thay vào đó là các hoạt động dịch vụ, phi tín dụng.Tuy nhiên, hoạt động cho vay vẫn là một trong những hoạt động chính của cácngân hàng thương mại

Đối với các doanh nghiệp và nền kinh tế, cho vay là chức năng kinh tế hàngđầu của ngân hàng để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơquan chính phủ Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết vớitình hình phát triển kinh tế tại khu vực ngân hàng phục vụ Bởi vì cho vay thúcđẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo ra sức sống cho nền kinh tế

1.1.2 Hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp

Trước tiên, chúng ta cần hiểu về một số đặc điểm của lĩnh vực thi công xâylắp và đặc điểm tổ chức quản lý, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hoạtđộng trong lĩnh vực thi công xây lắp

1.1.2.1 Đặc trưng của ngành thi công xây lắp:

Hoạt động thi công xây lắp được hiểu một cách cơ bản là những công việcthuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình.Công trình xây dựng là sản phẩm của công nghệ lắp đặt gắn liền với đất (bao gồm

cả khoảng không, mặt nước, mặt đất, mặt biển, thềm lục địa…) được tạo thànhbởi vật liệu xây dựng, thiết bị và lao động

Doanh nghiệp thi công xây lắp là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phầnkinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinhdoanh trong lĩnh vực thi công, xây lắp Hoạt động chính của các doanh nghiệp thicông xây lắp là thi công các công trình xây dựng

So với các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản có những đặc điểm

Trang 13

về kinh tế - kỹ thuật riêng biệt, thể hiện rất rõ nét ở sản phẩm xây lắp và quá trìnhtạo ra sản phẩm của ngành Những đặc điểm riêng này sẽ chi phối công tác tổchức quản lý, điều hành Việc nghiên cứu nắm rõ các đặc điểm này giúp Ngânhàng nắm rõ được những hạn chế và đưa ra những quyết định chính xác nhằmnâng cao chất lượng cho vay, hiệu quả kinh doanh.

Thứ hai, sản phẩm của ngành xây lắp được cố định tại nơi sản xuất ra nó

(trường học, bệnh viện, công trình thủy điện…) Một số điều kiện cần thiết luôn

đi cùng để sản xuất ra nó như: người lao động, máy móc thiết bị… phải di chuyểntheo địa điểm nơi sản phẩm được sản xuất ra

Thứ ba, sản phẩm của ngành xây lắp tồn tại dưới dạng tài sản cố định, có thời

gian sử dụng lâu dài, chất lượng của sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến hiệu quảhoạt động của các ngành khác Do đặc điểm thời gian sử dụng lâu dài nên sai lầmtrong xây lắp sẽ gây tổn thất lớn cả về giá trị và chất lượng công trình, từ đó gây

ra hậu quả cho xã hội

Thứ tư, sản phẩm của ngành xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc theo giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá đấu thầu).Tính chất hàng hoá của sản phẩm

xây lắp không thể hiện rõ như sản phẩm thông thường vì hàng hoá thông thườngxác định giá cả thông qua luật cung – cầu trong khi đó sản phẩm xây lắp đã đượcquy định trước giá, người mua, người bán thông qua hợp đồng giao nhận thầu

Đặc điểm về tổ chức quản lý và sản xuất kinh doanh

Thứ nhất, hoạt động xây lắp chủ yếu thực hiện ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn của các yếu tố tự nhiên, khí hậu, địa chất, thủy văn Điều kiện tự nhiên

Trang 14

như nắng, mưa, bão, lũ lụt ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý tài sản vật tư, máymóc, tiến độ thi công công trình Điều này khiến các đơn vị thi công xây lắpkhông thể lường trước được hết những khó khăn do tác động của thời tiết, khíhậu Rủi ro xảy ra tác động tới tiến độ thi công công trình, giá thành công trình,thậm chí cả chất lượng công trình Do đó, các doanh nghiệp xây lắp phải lập tiến

độ thi công, tổ chức thi công hợp lý, có phương án sử dụng cũng như bảo quảnnguyên, nhiên vật liệu để tránh bị tác động xấu của các điều kiện tự nhiên và quảnlý hiệu quả chi phí

Thứ hai, chu kỳ sản xuất, thời gian xây dựng công trình thường dài Thời gian

xây lắp một công trình bị chi phối bởi quy mô, mức độ phức tạp về kỹ thuật, vốncủa chủ đầu tư Thêm vào đó việc nghiệm thu chỉ được tiến hành theo giai đoạnhoàn thành và theo điểm dừng kỹ thuật của công trình

Đặc điểm này gây nên tình trạng ứ đọng vốn sản xuất trong khối lượng thi côngcủa doanh nghiệp, chưa kể đến những nguyên nhân khác về thủ tục, quy định vềxây dựng cơ bản dở dang của pháp luật và chủ đầu tư gây nên những chậm trễtrong thanh toán Do đó, để hạn chế đặc điểm này đòi hỏi công tác tổ chức quảnlý sản xuất của các đơn vị xây lắp phải chặt chẽ, hợp lý, tiết kiệm vốn, thi côngdứt điểm các hạng mục công trình, công trình, nghiệm thu và thanh toán từnghạng mục khi đưa công trình vào hoạt động

Thứ ba, công tác tổ chức quá trình sản xuất xây lắp rất phức tạp Do đặc điểm

của ngành xây lắp là sản xuất diễn ra ngoài trời, chịu ảnh hưởng rất lớn của điềukiện tự nhiên, chính vì vậy việc tổ chức thi công rất phức tạp để tránh tác độngcủa môi trường và quản lý hiệu qủa các loại chi phí Thêm vào đó, việc thi côngcác công trình quy mô lớn thường gồm nhiều đơn vị tham gia, nhiều thành phầnkinh tế tham gia thực hiện phần việc của mình theo một trình tự nhất định về thờigian và không gian trên một mặt bằng thi công chật hẹp Đặc điểm này đòi hỏicác DNTCXL phải có trình độ phối hợp cao trong sản xuất để đảm bảo tiến độ thicông và chất lượng công trình

Thứ tư, hoạt động kinh doanh của DNTCXL là hoạt động mang tính đặc thù,

các DNTCXL chỉ sản xuất những sản phẩm mà chủ đầu tư đặt hàng và được tiêu

Trang 15

thụ khi chủ đầu tư chấp thuận theo các điều kiện đã ký kết Hoạt động sản xuấtkinh doanh của DNTCXL phần nào phụ thuộc vào khả năng phát triển, đầu tư và

mở rộng của nền kinh tế, nếu đầu tư của nền kinh tế tăng trưởng cao thì thị trườngtiêu thụ của DNTCXL có khả năng được mở rộng Ngày nay, hoạt động sản xuấtkinh doanh của DNTCXL có mối liên hệ chặt chẽ với thị trường bất động sản.Khi thị trường bất động sản phát triển tốt cũng kéo theo ngành thi công xây lắpcũng phát triển và ngược lại Do đó, hoạt động cho vay của Ngân hàng đối vớicác DNTCXL trong mỗi thời kỳ cũng cần có sự điều chỉnh để phù hợp với tìnhhình kinh tế nói chung và tình hình các ngành kinh tế có liên quan nói riêng

Thứ năm, kết quả sản xuất kinh doanh của DNTCXL được thực hiện khi các công trình xây lắp (sản phẩm xây lắp) được chủ đầu tư chấp thuận và thanh toán, và chỉ khi đó DNTCXL mới có khả năng trả nợ ngân hàng Vì vậy, quan hệ

tín dụng giữa DNTCXL và Ngân hàng, hay nói cách khác chất lượng cho vay đốivới DNTCXL sẽ phụ thuộc lớn vào mối quan hệ giữa chủ đầu tư và DNTCXL,mối quan hệ này thể hiện ở: Chất lượng thực hiện công trình, phương thứcnghiệm thu thanh toán của chủ đầu tư, tiến độ xây dựng, nguồn vốn xây dựng cơbản của chủ đầu tư…

Từ những đặc trưng riêng về sản phẩm và cách thức tổ chức quản lý, sảnxuất kinh doanh của ngành xây lắp dẫn tới các DNTCXL có các đặc điểm sau:

Thứ nhất, khả năng tự chủ về tài chính thấp: Thực tế hiện nay, vốn chủ sở hữu

của DNTCXL thường chỉ chiếm khoảng 5-20% trong tổng nguồn vốn, còn lại làvốn vay ngân hàng và vốn chiếm dụng khác Do đó gánh nặng về chi phí lãi vaylớn gây áp lực đến hiệu quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp.Lợi nhuận đạt được của các DNTCXL không cao (thường chỉ từ 1-5% tổng doanhthu) nên khả năng bổ sung vốn chủ sở hữu và đầu tư nâng cao năng lực sản xuấtthi công thường hạn chế Trong khi đó, do sản lượng thi công tăng lên cùng vớiyêu cầu cao về chất lượng công trình đòi hỏi phải có những thiết bị thi công hiệnđại nên nhu cầu vốn (cả vốn lưu động và vốn đầu tư trung dài hạn) ngày càng

Trang 16

tăng Vì vậy, các DNTCXL phải vay ngân hàng ngày càng nhiều để tài trợ chonhu cầu vốn của mình.

Thứ hai, tốc độ chu chuyển vốn trong các DNTCXL thường không cao: Do đặc

điểm xây dựng một đơn vị sản phẩm đòi hỏi phải bỏ nhiều chi phí, thời gian thicông kéo dài dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn sản xuất ở các hạng mục công trìnhthi công dở dang Khi công trình hoàn thành, công tác nghiệm thu, quyết toán vàthanh toán còn phải phụ thuộc vào chủ đầu tư Các DNTCXL thường xuyên bịchiếm dụng vốn trong thời gian dài nên tốc độ quay vòng vốn lưu động thườngrất thấp, nhu cầu vốn lưu động cần thiết cho thi công lớn Trong khi đó vốn chủhữu chiếm tỷ lệ nhỏ trên tổng nguồn vốn nên để đủ vốn hoạt động, các DNTCXLphải huy động vốn bên ngoài mà chủ yếu là vốn vay ngân hàng Trong điều kiệnbình thường, các DNTCXL có vòng quay vốn lưu động phổ biến ở mức 1-2 vòng/năm

Thứ ba, tỷ trọng tài sản cố định thấp, khoản phải thu và hàng tồn kho cao: Để

tham gia vào ngành xây lắp các DNTCXL không cần đầu tư nhiều về tài sản cốđịnh Thông thường, do các công trình thường ở các địa điểm khác nhau trên mọimiền đất nước nên các DNTCXL chỉ đầu tư các MMTB cần thiết cho quá trìnhthi công các công trình mà ít chú trọng đến đầu tư các TSCĐ khác như vănphòng, nhà xưởng… Vì vậy, tỷ trọng tài sản cố định thường chỉ chiếm từ 10-15%tổng tài sản của DNTCXL Chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng tài sản của cácDNTCXL đơn thuần (chỉ có hoạt động thi công xây lắp) là khoản mục các khoảnphải thu và hàng tồn kho (thường chiếm từ 50-70% tổng tài sản)

Thứ tư, nhu cầu vốn lưu động thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh: Do tính chất hoạt động của DNTCXL

nên cơ cấu vốn có đặc thù riêng khác với ngành công nghiệp và các ngành khác,

cụ thể là nhu cầu vốn lưu động (vốn kinh doanh doanh ngắn hạn) cho hoạt độngSXKD chiếm tỷ trọng lớn nhất Các Ngân hàng thường cho vay các DNTCXLchủ yếu để tài trợ vốn lưu động phục vụ thi công các công trình Đối với nhu cầuđầu tư mới, thay thế và cải tiến máy móc thiết bị, nâng cao năng lực sản xuất,

Trang 17

Ngân hàng chỉ tham gia tài trợ một phần, phần còn lại các DNTCXL phải bỏ vốn

tự có của mình

Ngoài ra, trong thực tế hiện nay, để phát triển hoạt động, tăng năng lực tài chính,

hiệu quả kinh doanh nhiều DNTCXL không chỉ hoạt động dưới hình thức nhàthầu thi công mà còn tiến hành đầu tư các dự án đầu tư bất động sản, thủy điện,kinh doanh nhà hàng khách sạn… Do đó, nhu cầu vốn vay của các doanh nghiệpnày ngày càng tăng cả về vốn ngắn hạn và trung dài hạn; các ngân hàng khi thẩmđịnh, tài trợ vốn cho DNTCXL cũng phải chú trọng đến tính chất hoạt động đangành, đa nghề của DNTCXL để quyết định mức cho vay, điều kiện cho vay phùhợp

1.1.2.2 Đặc điểm hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp:

Cho vay phục vụ thi công xây lắp là những khoản cho vay trực tiếp liênquan, phục vụ cho doanh nghiệp thực hiện các hợp đồng thi công xây lắp cáccông trình Đối tượng vay vốn của Ngân hàng là các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực thi công xây lắp (các nhà thầu thi công xây lắp)

Trên thực tế, thông thường các khoản cho vay phục vụ thi công xây lắp làcác khoản cho vay ngắn hạn bổ sung vào vốn lưu động để hỗ trợ các nhà thầu thicông xây lắp thực hiện các công trình Tuy nhiên, trong một số trường hợp cáckhoản cho vay này có thời hạn dài hơn 12 tháng như cho vay để nhà thầu thựchiện các hợp đồng theo hình thức chìa khóa trao tay, hoạt động cho vay đầu tưmáy móc thiết bị, phương tiện vận tải phục vụ hoạt động thi công xây lắp

Về cơ bản, quy trình cho vay các DNTCXL không có nhiều khác biệt so vớiquy trình cho vay thông thường, bao gồm 6 bước như sau:

Bước 1: Nhận và kiểm tra hồ sơ vay vốn của khách hàng

Bước 2: Thẩm định trước khi cho vay

Bước 3: Xét duyệt cho vay, ký kết hợp đồng tín dụng, bảo đảm tiền vay.Bước 4: Giải ngân, theo dõi, giám sát việc sử dụng vốn vay

Bước 5: Thu nợ, lãi, phí và xử lý phát sinh

Trang 18

Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng

Hoạt động xây lắp có đặc thù riêng vì vậy cho vay phục vụ thi công xây lắpcũng có những đặc điểm riêng sau:

Về mục đích vay, đối tượng cho vay: Đây là các khoản vay dùng để thanh toán

tiền mua nguyên vật liệu, vật tư, nhân công, chi phí máy móc thiết bị phương tiệnthi công và các chi phí hợp lý khác cấu thành nên giá trị công trình

Đối tượng cho vay là những chi phí trực tiếp liên quan và phục vụ cho doanhnghiệp thực hiện các Hợp đồng thi công xây lắp (ngoại trừ chi phí khấu hao tàisản cố định) phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể:

- Chi phí nguyên vật liệu phục vụ thi công xây lắp: cát, đá sỏi, thuê xe vậnchuyển, xi măng, sắt thép và các chi phí nguyên vật liệu khác

- Chi phí nhân công: Lương Cán bộ nhân viên, công nhân xây dựng, nhân côngthuê ngoài và các chi phí nhân công khác

- Chi phí thuê thiết bị máy móc thi công, chi phí sửa chữa nhỏ thiết bị, công cụphân bổ vào công trình

- Chi phí ban đầu triển khai thi công công trình như: Chi phí lán trại, chuyểnmáy móc thiết bị và các chi phí khác

Trang 19

Đối với DNTCXL không thi công trực tiếp mà giao thầu lại cho nhà thầu phụ: Làgiá trị khối lượng hoàn thành của nhà thầu phụ (chi phí thuê nhà thầu phụ)

Về căn cứ cho vay, mức cho vay: Việc cho vay được xác định căn cứ vào hợp

đồng/thỏa thuận giao nhận thầu xây lắp đã được ký kết giữa bên nhận thầu (cácDNTCXL/nhà thầu) và bên giao thầu (chủ đầu tư công trình hoặc nhà thầu chính).Để đảm bảo chất lượng khoản vay, quản lý được rủi ro tín dụng, các ngân hàngthường phải thực hiện cho vay theo từng công trình cụ thể Trên cơ sở đánh giáhiệu quả kinh doanh, khả năng trả nợ của từng công trình để đưa ra quyết địnhcho vay hay không

Doanh số cho vay (mức cho vay) đối với một công trình được xác định dựa trêncác yếu tố: Giá trị hợp đồng xây lắp công trình; Lợi nhuận dự kiến của công trình;Vốn ứng trước của bên giao thầu/chủ đầu tư; Vốn tự có và huy động khác thamgia vào công trình; Giá trị khấu hao MMTB tham gia vào công trình (nếu có); Theo đó, doanh số cho vay tối đa được xác định bằng giá trị hợp đồng trừ đi khấuhao cơ bản, lợi nhuận trước thuế, tạm ứng của chủ đầu tư và vốn tự có tham giacủa nhà thầu

Thông thường, tổng doanh số cho vay thi công công trình không vượt quá 80%giá trị công trình trúng thầu Đối với các công trình thi công kéo dài qua nhiềunăm mà nguồn vốn thanh toán là nguồn vốn ngân sách phân bổ hàng năm thìdoanh số cho vay trong năm không vượt quá nguồn vốn ngân sách phân bổ trongnăm đó; tổng doanh số cho vay luỹ kế của từng công trình không vượt quá hạnmức cho vay của công trình và không vượt quá xa giá trị mà chủ đầu tư đã thanhtoán từng phần cho công trình

Về thời gian cho vay: Từ đặc điểm ngành xây lắp (thời gian thi công, nghiệm thu

thanh quyết toán công trình thường kéo dài), đặc điểm các DNTCXL (vòng quayvốn lưu động thường chậm hơn vòng quay vốn lưu động của những lĩnh vực sảnxuất kinh doanh khác) dẫn đến thời gian thu hồi vốn đối với công trình xây lắpchậm hơn so với các ngành khác Vì vậy để đảm bảo sự tương hợp giữa thời điểmđáo hạn và nguồn vốn thanh toán công trình đòi hỏi ngân hàng khi quyết định cho

Trang 20

vay phải căn cứ vào tiến độ thanh toán của chủ đầu tư cho công trình và thôngthường thời gian cho vay của ngân hàng dài hơn thời gian vay các lĩnh vực khác.

Về nguồn trả nợ: Nguồn thu để trả nợ vay chính là nguồn vốn thanh toán giá trị

khối lượng hoàn thành của công trình mà các DNTCXL thực hiện được

Do vậy trước khi cho vay, ngân hàng phải xác định rõ nguồn vốn thanh toán củacông trình về loại nguồn, số lượng, thời gian thanh toán, điều kiện thanh toán.Đây là một trong những yếu tố rất quan trọng trong việc xem xét cấp tín dụng chocác DNTCXL, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế gặp nhiều khó khăn Vì nếubên giao thầu/chủ đầu tư các công trình chậm thanh toán hoặc không thanh toánsẽ dẫn tới khả năng trả nợ các khoản vay cho công trình đó của các DNTCXL bịảnh hưởng Ngoài ra, do tài sản của các DNTCXL phần lớn là các khoản phải thu

và hàng tồn kho nên khi nguồn thu của các công trình gặp khó khăn sẽ ảnh hưởnglớn đến khả năng tài chính và khả năng trả nợ nói chung của các DNTCXL

Để kiểm soát nguồn tiền thanh toán của công trình, Ngân hàng cho vay thườngyêu cầu các DNTCXL (bên nhận thầu/nhà thầu) thỏa thuận với bên giao thầu/chủđầu tư thực hiện chuyển tiền thanh toán phần khối lượng xây lắp hoàn thành vềtài khoản tiền gửi của nhà thầu tại ngân hàng cho vay Ngoài ra, để có thể tăngcường mức độ kiểm soát nguồn tiền thanh toán, ngân hàng cho vay có thể yêu cầubên giao thầu/chủ đầu tư, nhà thầu/các DNTCXL cùng ký kết biên bản xác nhậnchuyển tiền ba (3) bên về tài khoản tiền gửi của nhà thầu tại ngân hàng

Về thu hồi nợ vay: Ngân hàng sẽ xem xét thu nợ vào các đợt thanh toán của chủ

đầu tư Trên cơ sở tiến độ thực hiện, nghiệm thu, thanh toán công trình, có thểxem xét thực hiện thu nợ đảm bảo hạn chế tối đa khoản vay bị gia hạn nợ/chuyển

nợ quá hạn Để phù hợp với quy trình nghiệm thu thanh toán của chủ đầu tư vànguồn trả nợ của các DNTCXL, thông thường ngân hàng sẽ thu nợ một phần(hoặc toàn bộ) số tiền bên giao thầu/chủ đầu tư thanh toán cho nhà thầu tối thiểutương đương với tỷ lệ tài trợ vốn, đảm bảo số tiền có khả năng được chủ đầu tưthanh toán lớn hơn dư nợ vay hiện tại của công trình đó

Ngoài ra, do đến thời điểm quyết toán công trình, bên giao thầu/chủ đầu tưthường không thanh toán 100% giá trị công trình mà giữ lại một phần chờ quyết

Trang 21

toán, hoặc giữ lại để bảo hành công trình (thường thanh toán đến 90 – 95% giá trịcông trình) Trong khi đó, thời gian chờ quyết toán công trình và bảo hành thường

bị kéo dài (đôi khi từ 1-2 năm), do đó ngân hàng cho vay cần phải kiểm tra điềukiện thanh toán của hợp đồng, đánh giá tiến độ thanh toán phần quyết toán, đảmbảo có nguồn tiền để thu hồi nợ khi đến hạn (thông thường sẽ thực hiện thu hết nợvay trước thời điểm quyết toán công trình)

Về việc kiểm tra, giám sát khoản vay: Trước, trong và sau khi cho vay ngân hàng

phải thường xuyên kiểm tra tình hình thi công công trình, kiểm tra tiến độ thicông, nghiệm thu thanh toán so với quy định trong hợp đồng giao nhận thầu đểphát hiện những dấu hiệu của việc sử dụng vốn vay không đúng mục đích, nhữngkhó khăn vướng mắc của công trình và có biện pháp ứng xử kịp thời

Do đặc điểm của sản phẩm ngành xây lắp là các công trình cố định tại khắp mọimiền đất nước, trong khi đó một DNTCXL cùng lúc vay vốn để thi công nhiềucông trình nên việc thường xuyên kiểm tra giám sát khoản vay và tình hình thicông các công trình của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn Tuy nhiên, cũng dosản phẩm của ngành xây lắp là các công trình mang tính đơn chiếc theo đơn đặthàng nên Ngân hàng thuận lợi hơn trong việc nhận biết các công trình đang tài trợvốn

Các hình thức cho vay xây lắp:

Hoạt động cho vay đối với DNXL của ngân hàng có nhiều hình thức đadạng, việc phân loại chỉ có tính chất tương đối Tuỳ thuộc vào tiêu thức phân loại

mà có thể chia ra các hình thức cho vay khác nhau

Thông thường, thời hạn cho vay là một trong những tiêu chí phổ biến đểphân loại hoạt động cho vay các DNTCXL Theo đó, hoạt động cho vay xây lắpđược phân thành cho vay ngắn hạn và cho vay trung dài hạn Đối với cho vayngắn hạn, có thể chia nhỏ thành các loại cụ thể hơn như sau:

Cho vay từng lần (cho vay theo món): Thường áp dụng đối với các khách hàng

có quan hệ không thường xuyên với ngân hàng hoặc có nhu cầu vay đặc biệt.Mức cho vay thường được xác định như sau:

Trang 22

Chi phí cần

thiết cho SXKD =

Giá trịhợp đồngxây lắp

- Khấu haocơ bản - Thuế - Lợi nhuậnđịnh mứcMức trả nợ và kỳ hạn trả nợ có thể được xác định dựa trên cơ sở từng chu kỳ sảnxuất kinh doanh (vòng quay vốn lưu động cả năm), hoặc vòng quay vốn lưu động đối với công trình/phương án cụ thể

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Hạn mức tín dụng là số dư nợ tối đa của khách

hàng tại mọi thời điểm trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 1 năm).Hình thức cho vay này thường được áp dụng đối với các khách hàng tốt, có quan

hệ tín dụng thường xuyên và uy tín trong quan hệ tín dụng với ngân hàng

CF SX cần thiết trong năm KH

Hạn mức tín dụng = - - Vốn tự có - Các khoản

Chi phí sản xuất kinh doanh cần thiết tính như đối với cho vay theo món, trong

đó giá trị hợp đồng xây lắp được thay bằng giá trị sản lượng dự kiến thực hiện trong năm kế hoạch

Thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ, mức trả nợ được xác định căn cứ vào chu kỳ sảnxuất kinh doanh, vòng quay vốn lưu động, dòng tiền của doanh nghiệp để xácđịnh thời hạn cho vay, kỳ hạn trả nợ phù hợp Đối với cho vay thường xuyên thìmức trả nợ được xác định dựa vào mức độ luân chuyển, chu kỳ sản xuất, và dongân hàng và khách hàng thoả thuận với nhau

1.1.2.3 Rủi ro khi cho vay trong lĩnh vực xây lắp

Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra những tổn thất cho ngân hàng do kháchhàng vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi Khithực hiện cho vay một khách hàng cụ thể, ngân hàng không dự kiến khoản vay đósẽ bị tổn thất Tuy nhiên những khoản vay đó luôn hàm chứa rủi ro

Tiếp cận theo góc độ nguyên nhân xuất hiện rủi ro, hoạt động cho vay tronglĩnh vực xây lắp có khả năng gặp phải những rủi ro sau:

Trang 23

Các rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng: Rủi ro đối với hoạt động cho vay xây

lắp có thể xuất hiện khi chính sách tín dụng của ngân hàng chưa phù hợp, quytrình cho vay còn sơ hở, trình độ CBTD/QHKH còn yếu kém dẫn tới quyết địnhcấp tín dụng không phù hợp, đạo đức cán bộ tín dụng không tốt dẫn tới cố ý, cấukết với khách hàng vay gây ra thiệt hại cho ngân hàng

Ngoài ra, từ đặc điểm hoạt động cho vay xây lắp mà rủi ro còn có thể xuất hiệndo: việc xác định đối tượng cho vay và chi phí cho vay khó khăn (một số ítDNTCXL không quản lý chi phí SXKD theo từng công trình, ký kết hợp đồngmua bán nguyên vật liệu để thực hiện nhiều công trình cùng lúc dẫn đến ngânhàng khó xác định khách hàng vay sử dụng vốn vay để thanh toán cho chi phíthực hiện công trình nào); thời gian cho vay dài (dẫn tới sự chênh lệch lãi suất, kỳhạn, khả năng mất vốn cao); việc quản lý dòng tiền khó khăn (do việc thanh toándựa trên tiến độ thực hiện công trình và thỏa thuận giữa nhà thầu và bên giao thầunên ngân hàng khó kiểm soát); việc kiểm tra công trình khó khăn (do các côngtrình được thực hiện ở mọi miền đất nước dẫn tới việc kiểm tra công trình, kiểmtra mục đích sử dụng vốn… của ngân hàng không được thực hiện đều đặn vàthường xuyên) Bên cạnh đó, do hệ thống thông tin tín dụng của ngân hàng chưađầy đủ dẫn tới quyết định cấp tín dụng trong tình trạng thiếu thông tin, việc quảnlý, giám sát trước trong và sau khi cho vay còn kém…

Các rủi ro xuất phát từ phía các DNTCXL: Từ phía các DNTCXL, rủi ro đối với

hoạt động cho vay xây lắp của ngân hàng xuất hiện khi các DNTCXL không thựchiện đúng, đầy đủ các cam kết với ngân hàng, hoạt động kinh doanh yếu kém, sửdụng vốn vay sai mục đích (vay vốn ngắn hạn để đầu tư tài sản cố định, vay tiềnmặt để chi lương nhưng thực tế lại chi vào mục đích khác hoặc trả nợ ngân hàng),lừa đảo ngân hàng (tẩu tán tài sản, dùng một tài sản để thế chấp tại nhiều ngânhàng khi chưa được chấp thuận, lừa đảo, giả mạo giấy tờ ), không thực hiệnhoặc thực hiện không đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng Ngoài ra,rủi ro trong hoạt động cho vay xây lắp của ngân hàng còn xảy ra khi tình hình tàichính của các DNTCXL yếu kém, hoạt động sản xuất kinh doanh không hiệu quả,thua lỗ, năng lực quản lý, điều hành và thi công doanh nghiệp thấp (dẫn tới việc

Trang 24

chọn lựa các công trình có nguồn vốn không đảm bảo, năng lực tài chính của chủđầu tư kém, hoặc các DNTCXL không đủ khả năng thực hiện các công trình đúngtiến độ) Từ đó dẫn tới việc thanh toán khối lượng nghiệm thu không đảm bảo,xuất hiện nhiều khoản phải thu khó/không có khả năng thu hồi, chậm hoặc khôngđược thanh toán

Các rủi ro khác: Ngoài các rủi ro xuất phát từ phía ngân hàng và khách hàng,

hoạt động cho vay xây lắp còn có những rủi ro khách quan xuất phát từ nền kinh

tế chung, tình hình phát triển của các lĩnh vực kinh tế có liên quan như bất độngsản, chính sách đầu tư công của Chính Phủ, lạm phát, lãi suất, thiên tai bão lũ, bịchủ đầu tư chiếm dụng vốn…

1.2 Hiệu quả hoạt động cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp của

ngân hàng thương mại

1.2.1 Quan niệm về hiệu quả cho vay các doanh nghiệp thi công xây lắp

Hiệu quả là khái niệm dùng để đánh giá tổng hợp kết quả với chi phí laođộng trong một quá trình hoạt động hoặc so sánh kết quả chi phí của các hoạtđộng khác nhau hoặc một hoạt động trong các giai đoạn khác nhau, mà thực chất

là thực hiện quy luật tiết kiệm thời gian, huy động và sử dụng tiết kiệm các nguồnlực xã hội như tài nguyên, nhân lực, khoa học và công nghệ

Hiệu quả cho vay của ngân hàng là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh khảnăng thích nghi của ngân hàng đối với môi trường kinh doanh, kết quả đạt được

so với những chỉ tiêu đã đề ra, phản ánh sức mạnh của ngân hàng trong cuộc cạnhtranh để tồn tại và phát triển Hiệu quả cho vay không thể tự nhiên mà có, nó làkết quả của một quá trình phối hợp những hoạt động hợp lý và linh hoạt giữa cácthành viên trong ngân hàng với nhau vì một mục tiêu chung Do đó, muốn đạtđược hiệu quả cho vay cao đòi hỏi phải có một phương pháp quản lý khoa học,chặt chẽ

Ở góc độ khác, hiệu quả cho vay là sự đáp ứng tốt các yêu cầu của kháchhàng về vốn vay phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của địa phương cũngnhư của đất nước, đảm bảo sự tồn tại và phát triển vững chắc của ngân hàng

Trang 25

Đồng thời tạo tâm lý thoải mái cho khách hàng trước, trong và sau khi giao dịchvới ngân hàng.

Hiệu quả cho vay nói chung, và hiệu quả cho vay đối với các DNTCXL nóiriêng đều bao gồm 2 nội dung: hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế - xã hội

Đối với ngân hàng, hiệu quả cho vay được xem xét trên hai phương diện là khả

năng cho vay của ngân hàng và khả năng thu hồi món vay Khi ngân hàng thựchiện cho vay được nhiều món vay đối với các DNTCXL và khả năng thu hồi nợtừ các món vay đó là cao tức là ngân hàng đã nâng cao được hiệu quả cho vay.Ngược lại, khi số món vay ít đi và/hoặc khả năng thu hồi nợ từ các món vay giảm

có nghĩa là hiệu quả cho vay của ngân hàng giảm sút

Đối với các DNTCXL, hiệu quả của hoạt động cho vay là việc vay vốn đảm bảo

các yếu tố như: vay đủ số lượng, tốc độ xử lý kịp thời đáp ứng nhu cầu của hoạtđộng sản xuất kinh doanh, tiến độ và kế hoạch đã đặt ra tạo điều kiện cho cácDNTCXL hoàn thành phương án/kế hoạch sản xuất kinh doanh (thi công cáccông trình xây dựng đảm bảo tiến độ, chất lượng) và trả nợ đầy đủ cho ngân hàng.Ngoài ra, yếu tố tâm lý thoải mãi cũng là một trong các yếu tố tạo nên hiệu quảcho vay dưới góc độ khách hàng vay vốn

Đối với nền kinh tế, hiệu quả cho vay đạt được khi hoạt động cho vay góp phần

thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo lập cơ sở hạ tầng, mở rộng hoạt động sản xuấtkinh doanh các ngành nghề, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, khaithác triệt để tiềm năng của nền kinh tế Bên cạnh đó, thông qua tăng trưởng tíndụng kích thích tăng trưởng kinh tế, góp phần quan trọng vào tăng thu ngân sách,tăng thu ngoại tệ cho địa phương, đất nước

1.2.2 Những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay các DNTCXL

Hiệu quả cho vay là một khái niệm trừu tượng, vì nó phụ thuộc rất lớn vàomối quan hệ giữa người cho vay (ngân hàng) và người đi vay Tuy nhiên, để đolường được hiệu quả của hoạt động cho vay, qua đó có thể nâng cao hiệu quả hoạtđộng cho vay, chúng ta phải đặt ra các chỉ tiêu (cả chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phitài chính) chung

Trang 26

1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu tài chính:

Thứ nhất, nhóm chỉ tiêu về quy mô tín dụng:

Thông qua việc xem xét các chỉ tiêu tín dung như: dư nợ, quy mô tín dụng, doanh

số cho vay, tăng trưởng tín dụng, thu nợ… có thể đánh giá một phần về hiệu quảhoạt động cho vay các DNTCXL

Dư nợ cho vay (quy mô tín dụng) là tổng số dư tiền cho vay của ngân hàng đối

với một khách hàng, một nhóm khách hàng hay toàn bộ khách hàng tại một thờiđiểm xác định Tổng dư nợ của một ngân hàng cho biết trạng thái thanh khoản,khả năng đáp ứng nhu cầu về vốn vay của ngân hàng đó Dư nợ cho vay xây lắp

là tổng số dư tiền vay của các DNTCXL tại ngân hàng

Chỉ tiêu 1: Dư nợ cho vay xây lắp

Tổng dư nợ tín dụng

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng dư nợ cho vay xây lắp so với tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng Sự biến động của chỉ tiêu này phản ánh sự biến động trong tình hình cho vay các DNTCXL của ngân hàng Chỉ tiêu này không phải là chỉ tiêu trực tiếp phản ánh hiệu quả cho vay xây lắp, nhưng nó phản ánh một bức tranh tổng quát về quy mô cho vay các DNTCXL và tỷ trọng

dư nợ cho vay xây lắp trong tổng dư nợ của ngân hàng Nếu tỷ lệ này cao cho thấy ngân hàng đang tập trung vào cho vay xây lắp Điều này vừa có lợi cho ngân hàng đồng thời cũng là mối lo tiềm tàng cho ngân hàng bởi hoạt động cho vay xây lắp luôn hàm chứa mức độ rủi ro cao Tỷ lệ này thấp cho thấy ngân hàng đang hạn chế hoạt động cho vay xây lắp và/hoặc hoạt động cho vay xây lắp không đạt được như kỳ vọng, điều này sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận, hiệu quả hoạt động cho vay xây lắp.

Chỉ tiêu 2: Dư nợ cho vay xây lắp

Tổng tài sản

Trang 27

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ lệ giữa quy mô cho vay xây lắp và tổng tài sản, thể hiện

cơ cấu sử dụng tài sản của ngân hàng Tỷ lệ này cao tức là tài sản của ngân hàngtập trung nhiều ở dư nợ cho vay xây lắp và ngược lại

Trên cơ sở quy mô tín dụng qua các năm có thể đánh giá tốc độ tăng trưởng tíndụng để thấy được sự thay đổi dư nợ cho vay các DNTCXL Tăng trưởng tíndụng cao cho thấy ngân hàng thương mại đang coi các DNTCXL là nhóm kháchhàng tiềm năng, cần tập trung đẩy mạnh khai thác và ngược lại

Ngoài ra, chỉ tiêu doanh số cho vay và thu nợ cũng cho thấy quy mô hoạt động

cho vay các DNTCXL của một ngân hàng thương mại Doanh số cho vay là tổng

số tiền mà ngân hàng giải ngân cho các DNTCXL trong một khoảng thời gian

nhất định Doanh số cho vay cho biết qui mô cho vay của ngân hàng đối với từng

khách hàng cụ thể, từng lĩnh vực riêng hoặc cả nền kinh tế trong một khoảng thờigian nhất định Doanh số cho vay phụ thuộc vào qui mô, chính sách cho vay củangân hàng, chu kì kinh tế, môi trường pháp lý Doanh số cho vay lớn cho thấyhoạt động cho vay của ngân hàng đang được mở rộng Ngược lại, doanh số chovay thấp cho thấy việc cấp tín dụng cho các DNTCXL của ngân hàng đang bị thu

hẹp Chỉ tiêu về thu nợ phản ánh công tác thu nợ của ngân hàng Công tác thu nợ

của ngân hàng thực hiện tốt, doanh số thu nợ cao có thể cho thấy hoạt động chovay các DNTCXL của ngân hàng thuận lợi, vòng quay vốn của ngân hàng nhanh,hiệu quả cho vay được nâng cao Ngược lại, khi doanh số thu nợ giảm có thể dodoanh số cho vay giảm và/hoặc công tác thu nợ gặp khó khăn, hiệu quả cho vaykhông cao Tuy nhiên, cần phải kết hợp giữa các chỉ tiêu về thu nợ với các chỉtiêu khác mới có thể đánh giá chính xác tình hình hoạt động của ngân hàng nóichung cũng như tình hình hoạt động cho vay xây lắp nói riêng

Thứ hai, các chỉ tiêu đánh giá tỷ trọng dư nợ, cơ cấu cho vay:

Tuỳ thuộc vào mỗi giai đoạn của nền kinh tế, tiềm năng thị trường mà mỗi ngânhàng xây dựng cho mình một danh mục cho vay khác nhau trong đó xác định tỷtrọng dư nợ cho vay các DNTCXL phù hợp Bởi mức độ rủi ro chung của cácDNTCXL tại mỗi giai đoạn sẽ khác nhau Nếu xây dựng được danh mục cho vayhợp lý thì ngân hàng có điều kiện để khai thác tối đa hiệu quả từ hoạt động cho

Trang 28

vay các DNTCXL trong mỗi thời kỳ Bên cạnh đó, việc xác định kỳ hạn cho vayhợp lý sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng, tăng vòng quay cho vayvốn đồng thời giảm thiểu rủi ro tín dụng.

Cơ cấu cho vay là tỷ trọng dư nợ từng loại hình cho vay so với tổng dư nợ chovay các DNTCXL của một ngân hàng thương mại Sự biến động của chỉ tiêu nàyphản ánh sự biến động trong tình hình cho vay các DNTCXL của ngân hàng.Trong mỗi giai đoạn khác nhau, vì các mục tiêu quản lý khác nhau mà cơ cấu chovay các DNTCXL sẽ khác nhau

Thứ ba, nhóm chỉ tiêu đánh giá thu nhập, lợi nhuận từ cho vay:

Hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng đối với các DNTCXL thể hiện bằng

hệ thống chỉ tiêu lợi nhuận và thu nhập của ngân hàng từ hoạt động cho vay cácDNTCXL, sự tăng trưởng của ngân hàng về nguồn vốn, sử dụng vốn, về kháchhàng và thị trường… Lợi nhuận từ hoạt động cho vay xây lắp của ngân hàng đượcxác định trên cơ sở thu nhập và chi phí

Hầu hết các doanh nghiệp khi tiến hành hoạt động kinh doanh đều hướng tới mục tiêuquan trọng nhất là lợi nhuận và sâu sa hơn đó là tối đa hoá vốn của chủ sở hữu, NHTMcũng không phải ngoại lệ Hiệu quả cho vay đối với các DNTCXL không thể nói là caonếu lợi nhuận do hoạt động này mang lại thấp Cụ thể người ta thường dùng các chỉ tiêusau để đánh giá hiệu quả cho vay đối với doanh nghiệp xây lắp về mặt lợi nhuận

Chỉ tiêu 1: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay xây lắp

Dư nợ cho vay xây lắpChỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của khoản cho vay các DNTCXL của ngânhàng Chỉ tiêu này cho biết một đồng dư nợ cho vay xây lắp sẽ mang lại bao nhiêu đồnglợi nhuận Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ hiệu quả hoạt động cho vay xây lắp càng lớn, đó

là một trong những nhân tố tạo nên hiệu quả cho vay của ngân hàng Chỉ tiêu này thấpcho thấy lợi nhuận từ hoạt động cho vay xây lắp so với dư nợ cho vay xây lắp thấp, hiệuquả cho vay thấp

Chỉ tiêu 2: Lợi nhuận từ hoạt động cho vay xây lắp

Tổng lợi nhuận của ngân hàng

Trang 29

Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đóng góp của hoạt động cho vay xây lắp vào toàn

bộ kết quả kinh doanh của ngân hàng Việc phân tích chỉ tiêu này giúp ta đánh giáđược khả năng sinh lời từ hoạt động cho vay xây lắp trong tổng lợi nhuận củangân hàng, qua đó thấy được tầm quan trọng và đưa ra những biện pháp nâng caochất lượng hoạt động này.Tỷ lệ này cao chứng tỏ lợi nhuận của ngân hàng cóđược hầu hết là từ hoạt động cho vay xây lắp Điều đó chỉ có thể có được khi quy

mô hoạt động cho vay xây lắp của ngân hàng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tàisản của ngân hàng và/hoặc hiệu quả từ hoạt động này mang lại cao Tuy nhiên,điều này cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ phải đối mặt với những nguy cơrủi ro tiềm ẩn do tập trung vốn quá mức vào một ngành, một lĩnh vực Tỷ lệ nàythấp cho thấy tỷ trọng đóng góp của hoạt động cho vay xây lắp ở ngân hàng đó làchưa cao Điều này có thể do tỷ trọng cho vay xây lắp của ngân hàng thấpvà/hoặc hoạt động cho vay chưa mang lại hiệu quả

Lợi nhuận từ hoạt động cho vay xây lắp được sử dụng ở đây là chỉ tiêu mang tínhtổng quát, không chỉ đơn thuần là lợi nhuận từ hoạt động cho vay các DNTCXLnói riêng mà cần phải tính đến cả lợi nhuận từ các hoạt động khác có được nhờviệc đẩy mạnh hoạt động cho vay xây lắp như: phí tín dụng và bảo lãnh, các dịch

vụ chuyển tiền, mua bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế và các sản phẩm tín dụngbán lẻ… (do ngân hàng đáp ứng các nhu cầu về vốn mà các DNTCXL đẩy mạnhquan hệ toàn diện với ngân hàng) Tuy nhiên, trên thực tế rất khó có thể tính toánchính xác tổng hòa lợi ích từ một khách hàng nói chung cũng như từ cácDNTCXL Thông thường, các ngân hàng có thể tính toán trên cơ sở 2 nguồnchính là lợi nhuận từ hoạt động cho vay xây lắp và phí tín dụng, bảo lãnh của cácDNTCXL

Để nâng cao được các chỉ tiêu lợi nhuận và thu nhập, ngân hàng cần phải giảmbớt chi phí đầu vào tín dụng (huy động vốn, đi vay), và đẩy mạnh doanh thu đầu

ra tín dụng (cho vay, bảo lãnh) và nâng cao chất lượng tín dụng

Thứ tư, nhóm chỉ tiêu phản ánh độ an toàn hoạt động cho vay:

Tỉ lệ nợ quá hạn: Nợ quá hạn (NQH) được hiểu là những khoản nợ đã đến kỳ hạn

trả nợ mà khách hàng không trả được nợ

Trang 30

Chỉ tiêu 1: Dư nợ quá hạn cho vay xây lắp

Tổng dư nợ cho vay xây lắp

Tỉ lệ nợ quá hạn cho biết tỉ trọng của các khoản cho vay đã bị quá hạn trả nợ gốc

và lãi trong tổng dư nợ Tỷ lệ này càng cao phản ánh chất lượng các khoản vaycàng thấp và độ an toàn của ngân hàng càng thấp và ngược lại Tuy luôn cố gắngkiểm soát chất lượng tín dụng song ngân hàng nào cũng phải chấp nhận một tỷ lệ

nợ quá hạn nhất định do rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh là không thểtránh khỏi

Có nhiều nguyên nhân gây ra nợ quá hạn cho ngân hàng, có những nguyên nhânkhách quan như sự thay đổi bất thường, không đồng bộ các chính sách kinh tế vĩ

mô của nhà nước tạo ra môi trường hoạt động bất ổn cho các doanh nghiệp; trình

độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp yếu kém; công nghệ lạc hậu; rủi

ro bất khả kháng như thiên tai, chiến tranh… nhưng cũng có những nguyên nhânxuất phát từ bản thân ngân hàng như: sự thiếu chặt chẽ trong quy chế hoạt độnghoặc quy trình nghiệp vụ của ngân hàng; trình độ yếu kém của cán bộ ngân hàng;nạn tham nhũng hối lộ trong hoạt động ngân hàng Nợ quá hạn có thể coi là tổnthất khi rủi ro tín dụng đã xảy ra

Tuy nhiên tỉ lệ nợ quá hạn của ngân hàng là chỉ tiêu mang tính thời điểm, và cácngân hàng thương mại thường xem xét cơ cấu/gia hạn thời hạn trả nợ các khoảnvay cho phù hợp với dòng tiền trả nợ thực tế của doanh nghiệp Do đó, chỉ tiêu tỷ

lệ nợ quá hạn không còn phản ánh nhiều về chất lượng hoạt động tín dụng củangân hàng, để đánh giá chính xác hơn về nợ quá hạn và khả năng trả nợ của cáckhoản nợ, các ngân hàng sử dụng thêm chỉ tiêu nợ xấu (nợ khó đòi), nợ cơ cấu

Tỷ lệ nợ xấu: Có thể hiểu nợ xấu là một phần của nợ quá hạn song mức độ nguy

hiểm cao hơn Nợ xấu là khoản nợ quá hạn và kèm theo một số tiêu chí khác nhưquá một kỳ gia hạn nợ, hoặc không có tài sản đảm bảo, hoặc tài sản không bán

được, con nợ thua lỗ triền miên, phá sản…

Chỉ tiêu 2: Dư nợ xấu cho vay xây lắp

Tổng dư nợ cho vay xây lắp

Trang 31

Các quan điểm khác nhau, các cách tính toán khác nhau có thể làm chỉ tiêu này bịbiến dạng như việc gia hạn nợ tràn lan; nợ nội bảng sau khi dùng quỹ dự phòngđể xử lý được đẩy sang ngoại bảng và không thể hiện trong số liệu báo cáo; việcphân loại nợ chủ yếu dựa vào yếu tố thời gian mà chưa đề cập đến vấn đề địnhtính liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp… Nếu một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao thì có nghĩa là chất lượng tín dụng thấp,việc trích lập dự phòng lớn sẽ dẫn đến lợi nhuận và hiệu quả cho vay thấp vàngược lại

Tỷ lệ nợ cơ cấu: Cho biết trong tổng dư nợ của ngân hàng, bao nhiêu phần trăm là

nợ đã được cơ cấu/điều chỉnh thời gian trả nợ

Chỉ tiêu 3: Dư nợ cơ cấu cho vay xây lắp

Tổng dư nợ cho vay xây lắpChỉ tiêu Tỷ lệ nợ cơ cấu thường được sử dụng cùng với chỉ tiêu nợ xấu để có mộtcái nhìn đầy đủ hơn về tình trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng

Tỉ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Tỉ lệ cho vay có đảm bảo bằng tài sản

được tính bằng tỷ lệ giữa dư nợ cho vay có đảm bảo bằng tài sản trên tổng dư nợcủa ngân hàng

Tài sản đảm bảo của khách hàng không phải là căn cứ duy nhất để xem xét chovay Tuy nhiên, tài sản đảm bảo là một trong những đệm đỡ an toàn cho hoạtđộng cho vay của ngân hàng, nhằm đảm bảo nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vàbảo toàn vốn cho ngân hàng Khoản vay càng rủi ro thì tỷ lệ dư nợ có tài sản đảmbảo đòi hỏi càng cao TSĐB không đơn thuần là tài sản ngân hàng sẽ phát mại để

bù đắp một phần (hoặc toàn bộ) cho dư nợ của khoản vay mà TSĐB còn có tácdụng ràng buộc trách nhiệm của khách hàng trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ.Đặc biệt, với các DNTCXL thường có tỷ trọng tài sản cố định thấp, ngân hàngthường ràng buộc thêm TSĐB của cá nhân ban lãnh đạo doanh nghiệp để tăngtính trách nhiệm trong việc điều hành sản xuất kinh doanh cũng như thực hiện cácnghĩa vụ với ngân hàng Do vậy, tỉ lệ cho vay có tài sản đảm bảo ảnh hưởng đến

độ an toàn của khoản vay Tỷ lệ này cao thì rủi ro không thu hồi được nợ thấp và

Trang 32

ngược lại Tỉ lệ này cao hay thấp thường phụ thuộc vào chính sách tín dụng củaNHNN nói chung và của các NHTM nói riêng trong từng thời kỳ.

1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu phi tài chính:

Ngoài các chỉ tiêu tài chính, còn có các chỉ tiêu phi tài chính để đánh giá hiệu quảhoạt động cho vay của ngân hàng

Trên giác độ ngân hàng, hiệu quả cho vay được thể hiện:

Thứ nhất, cần có một quy trình cho vay các DNTCXL hợp lý và thực hiện đúng

theo quy trình này Các bước trong quy trình cho vay bắt đầu từ bước tiếp xúckhách hàng để thu thập và xử lý thông tin, cho đến bước cuối cùng là thu nợ (gốc

và lãi) đầy đủ, thanh lý khoản vay

Thứ hai, hoạt động cho vay các DNTCXL của ngân hàng thương mại tiềm ẩn rất

nhiều rủi ro, một phần xuất phát từ đặc điểm của các DNTCXL Tuy nhiên, điều

đó không có nghĩa là cần phải hạn chế cho vay các DNTCXL, mà cần phải duy trìmột chính sách cho vay hợp lý để khai thác hết tiềm năng của các DNTCXL đồngthời tạo điều kiện phát triển cơ sở hạ tầng cho đất nước và các ngành kinh tế khác.Việc duy trì chính sách cho vay phù hợp sẽ hạn chế, phân tán rủi ro cho ngânhàng đồng thời vừa góp phần thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế đất nước

Thứ ba, thủ tục cho vay, thái độ phục vụ khách hàng, trình độ của cán bộ ngân

hàng, khả năng quản lý của cán bộ cấp cao cũng là những chỉ tiêu để đánh giáhiệu quả cho vay Ngân hàng nào cũng hướng tới một thủ tục cho vay đơn giảnvới thái độ phục vụ khách hàng chu đáo, nhiệt tình của một đội ngũ cán bộ năngđộng, trẻ trung và kinh nghiệm

Về phía khách hàng: Để một món vay có chất lượng cao ngoài sự cố gắng từ

phía ngân hàng, còn cần tới sự hợp tác của khách hàng vay Sự hợp tác này thểhiện ở chỗ, khách hàng cung cấp đầy đủ và chính xác những thông tin liên quancho ngân hàng phân tích như báo cáo tài chính, phương án sản xuất kinh doanh,những thông tin về tình hình vay nợ trước đó , hoặc sau khi nhận được khoảnvay thì sử dụng nó đúng mục đích như đã thoả thuận

Trang 33

Hiệu quả cho vay đạt được khi khách hàng tiếp cận được khoản vay một cách đơngiản, kịp thời, sử dụng vốn vay đúng mục đích và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụvới ngân hàng theo quy định

Về phía nền kinh tế, hiệu quả cho vay được thể hiện khi các chính sách cho vay

của ngân hàng được thực hiện đúng đắn, kịp thời, phù hợp với chủ trương chungcủa Nhà Nước Từ đó, tạo điều kiện để phát triển nền kinh tế ổn định, bền vững

1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cho vay các DNTCXL

1.2.3.1 Từ phía ngân hàng:

Thứ nhất, chiến lược phát triển của ngân hàng:

Chiến lược, định hướng phát triển của ngân hàng là một trong các yếu tố quantrọng ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng tín dụng của mỗi ngân hàng Một chiếnlược phát triển đúng đắn và phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của ngânhàng, ngược lại sẽ làm chậm quá trình phát triển của ngân hàng, thậm chí dẫn đếnkhó khăn hoặc thua lỗ, phá sản Bởi vậy để đảm bảo mục tiêu nâng cao hiệu quả,kiểm soát rủi ro, phát triển bền vững,nhất thiết phải xây dựng một chiến lược pháttriển nhất quán và hợp lý, phù hợp với đặc điểm của ngân hàng, phát huy đượccác thế mạnh, khắc phục và hạn chế được các điểm yếu nhằm mục tiêu an toàn vàsinh lợi

Thứ hai, chính sách tín dụng của ngân hàng:

Chính sách tín dụng của ngân hàng là hệ thống các văn bản về định hướng, biệnpháp liên quan đến việc mở rộng hoặc hạn chế cấp tín dụng (cho vay) trong từnggiai đoạn, thời kỳ nhằm đạt được mục tiêu đã được hoạch định, hiệu quả đề ra,hạn chế rủi ro và bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay Chính sách tín dụngcủa ngân hàng là cơ sở quan trọng để đảm bảo cho hoạt động tín dụng nói chung

và hoạt động cho vay nói riêng đi đúng quỹ đạo, góp phần quyết định đến sựthành công hay thất bại của ngân hàng Một chính sách tín dụng đúng đắn sẽ thuhút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên

cơ sở phân tán rủi ro, tuân thủ pháp luật, đường lối chính sách của Nhà nước vàđảm bảo công bằng xã hội

Trang 34

Trong mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế, các lĩnh vực kinh tế khác nhau sẽ

có mức độ phát triển khác nhau Đồng thời, mức độ rủi ro nói chung trong hoạtđộng cho vay đối với lĩnh vực đó cũng khác nhau Bên cạnh đó, mỗi NHTM đều

có các đặc điểm và thế mạnh riêng, vì vậy muốn tăng cường hiệu quả của hoạtđộng cho vay được nâng cao mỗi NHTM phải xây dựng cho mình một chính sáchtín dụng nói chung trong đó có chính sách cho vay đối với từng lĩnh vực phù hợpvới từng giai đoạn cụ thể

Đối với hoạt động thi công xây lắp, do có mối liên hệ chặt chẽ với các chính sáchđầu tư công của Chính Phủ và tình hình phát triển của thị trường bất động sản Do

đó, các NHTM cần phải căn cứ vào tình hình phát triển của thị trường bất độngsản, các cơ chế chính sách đầu tư xây dựng cơ bản của Chính Phủ trong mỗi thời

kỳ để đưa ra chính sách cho vay các DNTCXL hợp lý Có như vậy mới có thểkhai thác tối đa hiệu quả từ hoạt động này

Thứ ba, quy trình cho vay, đề xuất tín dụng:

Là tập hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cho vay Quy trìnhcho vay là biểu hiện cụ thể của việc phối hợp giữa các con người trong một tổchức và giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích chung Việc thực hiện đúngquy trình hay không sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến tính an toàn và khả năng sinh lờicủa khoản vay, tức là ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng tín dụng của hoạtđộng cho vay

Trên cơ sở quy trình cho vay, CBTD/QHKH sẽ đánh giá tính hiệu quả, khả thi vàkhả năng trả nợ của khách hàng để có đề xuất tín dụng (quyết định từ chối haycho vay và các điều kiện kèm theo) Đồng thời, bằng kinh nghiệm của mình ngânhàng cũng có thể tham gia góp ý, tư vấn cho khách hàng các vấn đề có liên nhằmtạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả đảm bảo khả năng trả nợcho ngân hàng

Với vai trò quan trọng như vậy, nếu công tác đề xuất tín dụng được thực hiện tốtthì ngân hàng sẽ giảm thiểu được rủi ro liên quan đến hoạt động cho vay, từ đóhiệu quả cho vay cũng được tăng lên

Trang 35

Thứ tư, chất lượng cán bộ tín dụng/quan hệ khách hàng:

Nhân tố con người là nhân tố trọng tâm trong mọi hoạt động Trong hoạt động tíndụng, CBTD/QHKH là cầu nối giữa ngân hàng và khách hàng, là người trực tiếptiến hành công tác khai thác khách hàng, hướng dẫn khách hàng; thẩm định kháchhàng và phương án, dự án vay vốn; giải ngân; theo dõi kiểm soát sau khi cho vay

và thu nợ Ngoài những kiến thức về chuyên môn thì việc trang bị những hiểu biết

về pháp luật và thông tin về thị trường có vai trò rất quan trọng hỗ trợ cho việc racác quyết định cho vay Bên cạnh đó kinh nghiệm thực tế cũng giúp CBTD/QHKH có được những dự báo, đánh giá và phát hiện ra những vấn đề của khoảnvay

Nếu CBTD/QHKH không đủ năng lực, phẩm chất thì sẽ không đánh giá chínhxác hoặc cố tình cho vay những khách hàng yếu kém dẫn đến nợ xấu, thậm chímất nợ Từ đó làm cho hiệu quả cho vay đối với DNTCXL giảm sút Ngược lại,người CBTD/QHKH có năng lực, phẩm chất tốt sẽ làm thoả mãn nhu cầu kháchhàng, kể cả việc tư vấn khai thác tối đa tiềm năng của khách hàng; đồng thời sẽđánh giá đúng, lựa chọn được khách hàng, công trình vay vốn, dự án đầu tư tốt đểcho vay, bảo lãnh Từ đó góp phần mở rộng đi đôi với nâng cao hiệu quả cho vay.Thi công xây lắp là lĩnh vực hoạt động có quy mô lớn, chịu ảnh hưởng nhiều củađiều kiện tự nhiên nên nguy cơ xảy ra rủi ro là rất cao, vì vậy chất lượng cán bộtín dụng lại đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng cho vay cácDNTCXL

Thứ năm, hệ thống thông tin tín dụng:

Việc cho vay đối với các DNTCXL thường gặp khó khăn trong việc thu thậpthông tin về: (i) Năng lực tài chính, năng lực quản lý kinh doanh của Nhàthầu/khách hàng vay vốn dẫn đến việc đánh giá sai về khách hàng hoặc bị kháchhàng lừa đảo, lợi dụng; (ii) Nguồn vốn thanh toán của công trình, năng lực tàichính, khả năng thanh toán và uy tín của Chủ đầu tư/Nhà thầu chính dẫn đến cótrường hợp nguồn thanh toán của công trình không đảm bảo dẫn tới khách hàngvay không đủ nguồn trả nợ ngân hàng Điều này làm giảm chất lượng và hiệu quảhoạt động cho vay các DNTCXL Chính vì vậy việc nắm bắt được nhiều thông tin

Trang 36

chính xác, kịp thời là một yếu tố quan trọng tạo sự tin cậy cho việc thẩm địnhkhách hàng.

Khi xem xét một khoản vay, ngân hàng phải tiến hành thu thập thông tin từ nhiềunguồn khác nhau như: từ hồ sơ vay vốn, từ khách hàng (theo chế độ báo cáo định

kỳ hoặc phản ánh trực tiếp), thông tin giữa các Chi nhánh trong cùng hệ thống, từcác phương tiện thông tin đại chúng (báo đài, internet…), từ các TCTD khác, từcác cơ quan chuyên cung cấp thông tin tín dụng trong và ngoài nước (trung tâmthông tin tín dụng CIC,…) hoặc từ các cơ quan quản lý kiểm tra như cấp chủquản, Bộ tài chính, cơ quan kiểm toán, cơ quan thuế… và nguồn tin cá nhân, sựphân tích của cán bộ tín dụng/quan hệ khách hàng

Số lượng và chất lượng thông tin thu nhận được có liên quan đến mức độ chínhxác trong việc phân tích, nhận định tình hình thị trường, khách hàng…để đưa ranhững quyết định Thông tin càng chính xác, càng đầy đủ thì khả năng phòngngừa rủi ro trong hoạt động cho vay càng cao

Tuy nhiên, hiện tại hệ thống thông tin tín dụng chưa đáp ứng được nhu cầu, sốlượng và chất lượng chưa được đảm bảo, thiếu tính cập nhật

Thứ sáu, công tác kiểm tra, kiểm soát cho vay:

Công tác kiểm tra kiểm soát nội bộ là một khâu, một chức năng quan trọng củangân hàng, là biện pháp giúp ban lãnh đạo ngân hàng có được các thông tin vềtình hình kinh doanh và quá trình tác nghiệp của các bộ phận nghiệp vụ Công táckiểm tra kiểm soát nội bộ tốt sẽ đánh giá được thực trạng chất lượng, hiệu quảhoạt động cho vay từ đó đưa ra những biện pháp nâng cao hiệu quả, chất lượnghoạt động cho vay

Bên cạnh đó, một nhiệm vụ không thể bỏ qua sau khi cho vay là công tác kiểmtra, giám sát tình hình sử dụng vốn và tiến độ thực hiện công trình của Nhàthầu/khách hàng vay vốn Đối với hoạt động cho vay xây lắp, việc khách hàngvay vốn sử dụng vốn vay đúng mục đích hay không sẽ được thể hiện rõ nhất ởchính tiến độ thực hiện các công trình Do vậy, việc kiểm tra mục đích sử dụngvốn vay và kiểm tra tình hình thực hiện công trình thường xuyên có thể phát hiện

Trang 37

được những dấu hiệu cho thấy khả năng trả nợ của khách hàng, từ đó có ứng xửtín dụng phù hợp, nâng cao hiệu quả, chất lượng cho vay xây lắp.

Thứ bảy, công tác huy động vốn đầu vào của ngân hàng:

Huy động vốn không chỉ là điều kiện để mở rộng hoạt động cho vay, mà nó còn

là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay đồng thời tăng tính

an toàn cho tất cả hoạt động của mỗi ngân hàng

Nếu một ngân hàng có khả năng huy động một lượng vốn lớn với chi phí thấp thìtính an toàn trong hoạt động của ngân hàng đó sẽ được đảm bảo, đồng thời chênhlệch giữa chi phí huy động vốn và cho vay lớn sẽ nâng cao hiệu quả hoạt độngcho vay nói chung cũng như hiệu quả hoạt động cho vay xây lắp nói riêng

Thứ tám, trang thiết bị công nghệ ngân hàng:

Công nghệ thông tin, trang thiết bị kỹ thuật cũng là một yếu tố tác động tới hiệuquả cho vay ngân hàng Một ngân hàng với các phương tiện kỹ thuật hiện đại sẽtạo điều kiện trong việc đơn giản hoá thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, giúpcán bộ thực hiện các nghiệp vụ một cách nhanh nhất và chính xác nhất, đem lại sựthuận tiện cho khách hàng Đây là một yếu tố rất thuận lợi để ngân hàng nâng caochất lượng tín dụng từ đó nâng cao hiệu quả cho vay

1.2.3.2 Từ phía các doanh nghiệp thi công xây lắp:

Quan hệ cho vay là quan hệ giữa Ngân hàng và các DNTCXL Do vậy, hiệuquả hoạt động cho vay xây lắp phụ thuộc một phần vào chính các DNTCXL – đốitác của ngân hàng

Thứ nhất, năng lực tài chính của các DNTCXL:

Như đã phân tích, các DNTCXL nhìn chung có năng lực tài chính không cao, tỷ

lệ vốn chủ sở hữu/tổng nguồn vốn thấp, tốc độ luân chuyển vốn chậm, tình trạng

bị chiếm dụng vốn phổ biến Khi năng lực tài chính của DNTCXL thấp, việcchống đỡ đối với các khó khăn phát sinh thấp, làm ảnh hưởng đến hoạt động sảnxuất kinh doanh và khả năng trả nợ ngân hàng Do vậy, hiệu quả hoạt động cho

Trang 38

vay của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.

Thứ hai, cơ chế và trình độ quản lý của các DNTCXL:

Đây là nhân tố ảnh hưởng quan trọng và quyết định đến chất lượng thi công côngtrình Việc quản lý tốt sẽ giúp cho công trình hoạt động có hiệu quả, tránh đượcthất thoát, lãng phí xảy ra Ngược lại, nếu quy chế quản lý lỏng lẻo sẽ tạo ra khe

hở để các đối tượng xấu lợi dụng, do đó mà chất lượng công trình giảm, hoànthành không đúng tiến độ đặt ra Từ đó ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng thựchiện công trình đúng tiến độ, tình hình nghiệm thu, thanh quyết toán công trình,ảnh hưởng tới nguồn thu nợ của ngân hàng Ngoài ra, một DNTCXL có trình độquản lý cao, ban lãnh đạo giàu kinh nghiệm, uy tín sẽ có khả năng chọn lựa cáccông trình tốt, có hiệu quả để thi công,đảm bảo chất lượng và tiến độ cũng nhưkhả năng trả nợ ngân hàng Do đó, hiệu quả cho vay của ngân hàng cũng nhờ thếđược cải thiện

Thứ ba, văn hoá kinh doanh của các DNTCXL:

Một DNTCXL có văn hoá kinh doanh tốt là đơn vị sẵn sàng và trung thực trongviệc cung cấp thông tin cho ngân hàng, sử dụng vốn vay đúng mục đích và cóthiện chí trả nợ ngân hàng Nhờ đó, ngân hàng có đầy đủ thông tin để quyết địnhcấp tín dụng, đồng thời có thể cải thiện chất lượng cho vay, tăng tốc độ lưuchuyển vốn, tăng hiệu quả của ngân hàng

1.2.3.3 Các nhân tố khác:

Ngoài các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cho vay xây lắp là bản thânNgân hàng và các DNTCXL, còn có các yếu tố khác cũng tác động đến hiệu quảhoạt động cho vay xây lắp như :

Thứ nhất là môi trường kinh tế.

Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định thì hoạt động cho vay nói chung và hoạtđộng cho vay các DNTCXL sẽ tăng trưởng và ngược lại Trong giai đoạn nềnkinh tế suy thoái, sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp bị thu hẹp do đó hiệuquả hoạt động cho vay xây lắp của ngân hàng cũng sẽ giảm sút Bên cạnh đó, các

Trang 39

chính sách kinh tế của Chính phủ về ưu đãi hay hạn chế sự phát triển của lĩnh vựcbất động sản, xây dựng cơ bản… và các ngành có liên quan cũng ảnh hưởngkhông nhỏ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNTCXL từ đó ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động cho vay xây lắp của ngân hàng.

Thứ hai là môi trường pháp lý.

Hành lang pháp lý là một trong những yếu tố quan trọng để doanh nghiệp hoạtđộng theo khuôn khổ nhất định Môi trường pháp lý của các NHTM chủ yếu làcác quy định của NHNN giúp cho hoạt động của hệ thống ngân hàng trở lên antoàn hơn

Về phía các DNTCXL, môi trường pháp lý ở đây chủ yếu là các quy định củapháp luật, các quy định của Bộ xây dựng… liên quan đến hoạt động thi công xâylắp, đầu tư xây dựng cơ bản Nếu những quy định này chặt chẽ, đầy đủ thì hoạtđộng kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ lành mạnh hơn, hiệu quả hơn và nhờ đóhiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng cũng được đảm bảo

Ngoài ra, môi trường pháp lý tốt sẽ tạo điều kiện cho việc rút ngắn thời gian thựchiện các thủ tục liên quan đến việc vay vốn Nhờ đó doanh nghiệp có thể tiếp cậnvốn vay dễ dàng và nhanh chóng hơn, còn ngân hàng có thể tăng hiệu quả nhờđẩy nhanh tốc độ lưu chuyển vốn

Thứ ba là môi trường chính trị - xã hội.

Chính trị xã hội ổn định tạo ra sự tin tưởng cho các nhà đầu tư, thu hút đượcnhiều nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào trong nước Đầu tư phát triển tạo điềukiện phát triển các dịch vụ như: cho vay, thanh toán… đặc biệt hoạt động cho vaysẽ được đẩy mạnh cả về số lượng món vay và chất lượng của từng món

Ngoài ra, còn có các nhân tố bất khả kháng như thiên tai, hoả hoạn bất ngờ.

Các công trình xây dựng chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu,địa chất, thủy văn Những rủi ro bất khả kháng xảy ra đối với các DNTCXL sẽlàm ảnh hưởng đến chất lượng công trình, đồng thời phát sinh cho đơn vị nhiềuchi phí để khắc phục Ngoài ra nó cũng ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành công

Trang 40

trình, tiến độ nghiệm thu thanh toán và trả nợ ngân hàng Do đó cũng ảnh hưởngđến hiệu quả hoạt động cho vay của ngân hàng.

Ngày đăng: 01/11/2014, 03:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. PGS.TS Phan Thị Thu Hà (Chủ biên) (2007), Ngân hàng thương mại, NXB Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngân hàng thương mại
Tác giả: PGS.TS Phan Thị Thu Hà (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học kinh tế quốc dân
Năm: 2007
2. Frederic S. Mishkin (2001), Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiền tệ, ngân hàng và thị trường tài chính
Tác giả: Frederic S. Mishkin
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2001
3. Peter S. Rose (2004), Quản trị ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Tác giả: Peter S. Rose
Nhà XB: NXB Tài chính
Năm: 2004
8. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (2007), 50 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 50 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Năm: 2007
9. Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP ĐT & PT Việt Nam (2011), 20 năm xây dựng và phát triển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 20 năm xây dựng và phát triển
Tác giả: Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP ĐT & PT Việt Nam
Năm: 2011
10. Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP ĐT & PT Việt Nam (2012), Báo cáo tổng kết năm 2008-2011, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2008-2011
Tác giả: Chi nhánh Sở giao dịch 1 - Ngân hàng TMCP ĐT & PT Việt Nam
Năm: 2012
4. Nghị định số 16/2005/NĐ-CP ngày 07/02/2005 về quản lý đầu tư xây dựng công trình Khác
5. Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Đấu thầu Khác
6. Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 về việc ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng Khác
7. Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 về việc ban hành quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòngđể xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng Khác
11. Tạp chí Ngân hàng, Thời báo kinh tế Việt nam và các tạp chí chuyên ngành khác 12. Website của Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam, NHĐT&PTVN, Bộ tài chính VN, vàcác website, báo mạng khác Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w