Các biện pháp bảo đảm tiềnvay bằng tài sản nói trên là những quy định cho phép các chủ thể áp dụng biện phápbảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, đồng thời xác định được
Trang 1VIÖN KHOA HäC X· HéI VIÖT NAM
HäC VIÖN KHOA HäC X· HéI
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 9
1.1 Một số khái niệm liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 9
1.1.1 Khái niệm về Giao dịch bảo đảm 9
1.1.2 Khái niệm về bảo đảm tiền vay 10
1.1.3 Khái niệm về tài sản bảo đảm 13
1.1.4 Các hình thức bảo đảm tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 18
1.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại 20
1.3 Các căn cứ pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại 22
1.4 Các trường hợp xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của các NHTM 23
1.5 Nguyên tắc xử lý TSBĐ 25
1.6 Các phương thức xử lý TSBĐ 26
1.7 Hậu quả pháp lý của xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của các NHTM 28
1.8 Mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật chuyên ngành về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các NHTM 30
Trang 3Chương 2 XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 34 2.1 Tổng quan tình hình hoạt động tín dụng tại Vietinbank 34 2.2 Thực tiễn các quy định của pháp luật về xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của NHTM 36 2.3 Những quy định nội bộ của Vietinbank đối với hoạt động xử lý Tài sản bảo đảm 41 2.4 Tình hình xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay tại Vietinbank 46 2.5 Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý TSBĐ tại Vietinbank 49
2.5.1 Những bất cập của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành liênquan đến việc xử lý TSBĐ 492.5.2 Những bất cập trong quá trình xử lý TSBĐ từ phía các cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền 592.5.3 Những vướng mắc trong khâu xử lý TSBĐ 602.5.4 Những khó khăn, vướng mắc phát sinh từ chính tài sản đảm bảo 61
Chương 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY TỪ THỰC TIỄN TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM 66 3.1 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống văn bản QPPL trong việc xử lý TSBĐ 66 3.2 Kiến nghị về việc hoàn công tác xử lý TSBĐ tại VietinBank 71
3.2.1 Hoàn thiện các quy định nội bộ của VietinBank trong quá trình xử lýTSBĐ 713.2.2 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác tín dụng và xử lý TSBĐ 72
Trang 4KẾT LUẬN 76 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BĐTV Bảo đảm tiền vay
DNNN Doanh nghiệp nhà nước
SXKD Sản xuất kinh doanh
Vietinbank Ngân hàng TMCP Công thương Việt
Nam
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng 3 năm (2010, 2011, 2012) 35
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu dư nợ năm 2012 theo kỳ hạn 35
Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế 35
Biểu đồ 2.4: Tổng dư nợ phân theo cho vay có bảo đảm bằng tài sản 47
Biểu đồ 2.5: Phân loại hình thức bảo đảm 48
Biểu đồ 2.6: Danh mục tài sản bảo đảm tiền vay 48
Biểu đồ 2.7: Phân loại tài sản bảo đảm 48
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Là một trong những ngân hàng lớn mạnh hàng đầu trong hệ thống các Ngânhàng thương mại tại Việt Nam, VietinBank không những mang trọng trách thúc đẩynền kinh tế, mà còn đóng vai trò định hướng phát triển cho các NHTM khác Tỷ lệ
nợ xấu, nợ quá hạn của VietinBank trong các năm gần đây có xu hướng giảm rõ rệtnhờ vào những tiến bộ vượt bậc trong hoạt động cấp tín dụng nói chung và hoạtđộng xử lý TSBĐ nói riêng, tuy nhiên không vì thế mà VietinBank không phải đốimặt với những khó khăn, bất cập trong quá trình xử lý TSBĐ để thu hồi nợ
Pháp luật về bảo đảm tiền vay ở Việt Nam đang từng bước được cải thiệnđáng kể, sự ra đời của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịchbảo đảm, Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký giao dịch bảo đảm, Nghị định11/2012/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 163/2006/NĐ-CP
đã thay đổi cơ bản quá trình xử lý TSBĐ Trong đó việc Nhà nước ưu tiên tôn trọng
sự thỏa thuận của các chủ thể tham gia hợp đồng bảo đảm tiền vay đã tạo một môitrường mở cho việc xử lý TSBĐ tiền vay của các NHTM Tuy nhiên không thể phủnhận rằng ngoài những thay đổi mang tính tích cực, vẫn còn những hạn chế và khókhăn trong việc xử lý TSBĐ tại các TCTD
Việc đi sâu phân tích, tìm hiểu thực tiễn xử lý TSBĐ của VietinBank sẽ chochúng ta có thể đánh giá tổng quát và sâu sắc hơn mức độ áp dụng pháp luật tronghoạt động cấp tín dụng của NHTM, Chính vì vậy tôi đã quyết định chọn đề tài
“Pháp luật về xử lý TSBĐ tiền vay từ thực tiễn tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam”.
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn
Qua đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý TSBĐ tại Vietinbank, tác giảmong muốn luận văn sẽ làm rõ thực trạng pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tại cácNHTM theo các tiêu chí đánh giá chất lượng hệ thống pháp luật, cũng như nhữngthuận lợi, hạn chế cùng nguyên nhân của nó trong thực hiện pháp luật về xử lý TSBĐ
Trang 8tại các NHTM Từ đó, cung cấp những luận cứ khoa học và làm tài liệu tham khảotrong nghiên cứu để hoàn thiện pháp luật về xử lý TSBĐ tại Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Pháp luật có liên quanđến việc xử lý tài sản BĐTV trong hoạt động cho vay của NHTM, từ đó đưa ra cáckết luận, đánh giá mang tính khoa học về những khía cạnh pháp lý liên quan đếnchủ đề nghiên cứu của luận văn
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định bao gồm ba nội dung chính: (i)
Cơ sở lý luận của xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thươngmại; (ii) Xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại cổphần công thương Việt Nam (iii) Từ việc nghiên cứu hai nội dung này, luận văn cónhiệm vụ đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm tiềnvay từ thực tiễn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, phương pháp luận của luận văn là dựatrên chủ nghĩa duy vật biện chứng
Phương pháp nghiên cứu của luận văn: tổng hợp, so sánh, thống kê, khảo sátthực tiễn và làm rõ các phương pháp nghiên cứu đó được sử dụng để nghiên cứunhững vấn đề nào của luận văn và được sử dụng như thế nào trong việc giải quyếtcác vấn đề của luận văn
5 Ý nghĩa của đề tài
Luận văn bước đầu hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đếnvấn đề xử lý tài sản bảo đảm tiền vay nói chung, nghiên cứu các quy định nội bộ vàthực tiễn của việc xử lý tài sản bảo đảm tiền vay tại Vietinbank nói riêng
Kết quả nghiên cứu luận văn phần nào góp phần vào việc tăng cường nângcao chất lượng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay của cácngân hàng thương mại tại Việt Nam
Trang 9Kết quả nghiên cứu luận văn còn có thể làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy
về nâng cao chất lượng xử lý tài sản bảo đảm tiền vay trong hoạt động cho vay củacác ngân hàng thương mại tại Việt Nam
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Danh mục ký hiệu các chữ viết tắt, Kết luận, Danh mục tàiliệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vaycủa ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
Chương 2: Xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay tại Ngân hàngTMCP Công thương Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả xử lý tài sản bảo đảm tiềnvay từ thực tiễn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 10Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Một số khái niệm liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về Giao dịch bảo đảm
Giao dịch bảo đảm là khái niệm đã tồn tại từ rất sớm trong pháp luật của hầuhết các nước trên thế giới và được coi là một phần không thể thiếu của các Bộ luậtDân sự Đăng ký GDBĐ là một trong những cách thức để bảo vệ quyền, lợi hợppháp của bên nhận bảo đảm tại Việt Nam Pháp luật về GDBĐ thừa nhận GDBĐđược đăng ký mang ý nghĩa công bố quyền lợi của bên nhận bảo đảm với người thứ
ba và tất cả những ai xác lập giao dịch liên quan đến TSBĐ đều buộc phải biết về sựhiện hữu của các quyền liên quan đến TSBĐ đã được đăng ký Khoản 1 Điều 323
Bộ luật Dân sự 2005, đã khái niệm “GDBĐ” như sau: “GDBĐ là giao dịch dân sự
do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 318 của Bộ luật này”
Điều 323, Điều 325 Bộ luật Dân sự 2005 quy định các GDBĐ được đăng kýtheo quy định của pháp luật về đăng ký GDBĐ, và xác định thứ tự ưu tiên thanhtoán khi xử lý TSBĐ theo thứ tự đăng ký GDBĐ Theo đó, GDBĐ vừa mang nhữngđặc điểm chung của một giao dịch dân sự vừa mang đặc điểm của riêng mình.GDBĐ với tư cách là một giao dịch dân sự, phải hướng đến mục đích vì lợi ích hợppháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó, đồng thời thoả mãnnhững điều kiện cơ bản để bảo đảm hiệu lực pháp lý của chính mình
Nếu trước đây, Nghị định số 178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 chỉ quy định
về BĐTV trong việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của các TCTD đối vớikhách hàng theo quy định của Luật Các TCTD, thì Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
Trang 11đã quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự về việc xác lập, thựchiện GDBĐ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và xử lý TSBĐ Đồng thời, thay
vì chỉ có biện pháp cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay, bảo lãnhbằng tài sản của bên thứ ba và bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay như quyđịnh của Nghị định 178/1999/NĐ-CP thì các biện pháp bảo đảm được quy địnhtrong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã được nâng lên ngang bằng với các biệnpháp bảo đảm được quy định trong Bộ luật Dân sự, bao gồm: cầm cố, thế chấp, đặtcọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh và tín chấp Bởi vậy nếu so sánh với quy định củaNghị định số 178/1999/NĐ-CP thì phạm vi điều chỉnh và các biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự được quy định trong Nghị định số 163/2006/NĐ-CP làrộng và khái quát hơn Việc Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định bổ sung 3 biệnpháp bảo đảm: đặt cọc, ký cược, ký quỹ không chỉ làm phong phú và đa dạng cácbiện pháp BĐTV mà còn tạo cơ sở pháp lý cho các TCTD, khách hàng vay có nhiều
sự lựa chọn hơn trong quá trình áp dụng những quy định liên quan của pháp luật đểthực hiện biện pháp BĐTV Tùy từng trường hợp cụ thể mà TCTD và khách hàng
có thể thỏa thuận áp dụng một hoặc đồng thời một số biện pháp bảo đảm nêu trêncho phù hợp Vì vậy, các TCTD có nhiều cơ hội hơn để cho vay có bảo đảm bằngtài sản và khách hàng cũng thuận lợi hơn trong quá trình vay vốn của các NHTMtrên cơ sở có bảo đảm bằng tài sản
Với các phân tích ở trên, GDBĐ là sự thỏa thuận giữa Bên bảo đảm và Bên nhậnbảo đảm, theo đó Bên bảo đảm cam kết dùng tài sản của mình để bảo đảm thực hiệnnghĩa vụ tài sản của chính mình hoặc của Bên thứ ba đối với Bên nhận bảo đảm
1.1.2 Khái niệm về bảo đảm tiền vay
Bảo đảm tiền vay hay còn gọi là bảo đảm tín dụng theo ngôn ngữ khoa học tại
“Từ điển thuật ngữ - tài chính tín dụng” của Viện khoa học Tài chính được giải thích
như sau: “bảo đảm tín dụng là cơ sở mà dựa vào đó người cho vay có thể thu hồi số
tiền đã cho vay, trong trường hợp người cho vay không có khả năng trả nợ Đó có thể là vật tư, tài sản mà số tiền vay đầu tư vào, hoặc tài sản mà người vay tiền thế chấp, hoặc cầm cố hoặc bảo lãnh tín dung hay uy tín của người vay” [26, tr163].
Trang 12Pháp luật của các quốc gia trên thế giới không có sự phân biệt giữa các biệnpháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Dân sự với các biện pháp bảo đảm thực hiện hợpđồng tín dụng, vì vậy việc tìm hiểu khái niệm bảo đảm tiền vay cần được thực hiệntrên cơ sở khái niệm bảo đảm nghĩa vụ Dân sự Điều 819 Bộ luật Dân sự Liên bang
Nga 1995 quy định “các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự” là những
quy định của pháp luật đặt ra và cho pháp các chủ thể áp dụng, để bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo đảm thực hiện, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của các Bên trong các biện pháp bảo đảm đó” Như vậy, theo định nghĩa trên đây thì bảo
đảm tiền vay là biện pháp được pháp luật quy định để các bên có quyền và nghĩa vụ
áp dụng nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay
Theo giáo trình Luật Dân sự của trường đại học Luật Hà Nội, bảo đảm nghĩa
vụ dân sự trong đó có bảo đảm tiền vay được phân chia theo hai phương diện:khách quan và chủ quan Về khách quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sựquy dịnh của pháp luật cho pháp các chủ thể trong giao dịch dân sự đặt ra các biệnpháp để bảo đảm cho nghĩa vụ chính được thực hiện, đồng thời xác định bảo đảmquyền và nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó Về chủ quan, bảo đảm thựchiện nghĩa vụ dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên đặt ra các biện pháp tác độngmang tính chất dự phòng để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngănngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thưc hiện hoặc thực hiệnkhông đúng nghĩa vụ gây ra [19, tr.298-299] Định nghĩa bảo đảm thực hiện nghĩa
vụ theo cách tiếp cận của Bộ luật Dân sự Liên bang Nga 1995 là cách tiếp cận theophương diện khách quan, trong khi đó định nghĩa bảo đảm tiền vay trong Thuật ngữ
từ điển Tài chính – tín dụng của Viện khoa học Tài chính như đã nêu ở trên là địnhnghĩa theo phương diện chủ quan Định nghĩa theo phương diện chủ quan có ưuđiểm hơn là đã chỉ ra được tính chất, nội dung và mục đích của các biện pháp bảođảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và bảo đảm tiền vay nói riêng
Theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 178/1999/NĐ-CP quy định: “bảo
đảm tiền vay là việc tổ chứng tín dụng áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa rủi ro, tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi được các khoản nợ đã cho khách
Trang 13hàng vay”, cũng theo Nghị định 178/1999/NĐ-CP Bảo đảm tiền vay được thực
hiện dưới hai hình thức:
Thứ nhất, Bảo đảm tiền vay trong trường hợp cho vay không có bảo đảm
cơ sở tín nhiệm trong quan hệ tín dụng đối với khách hàng
Ngân hàng được cho vay không có bảo đảm theo chỉ định của Chính phủ.Ngân hàng cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay có bảo lãnh bằng tín chấp của
Thứ hai, Bảo đảm tiền vay bằng tài sản: Đối với vấn đề BĐTV bằng tài sản,
theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 178/1999/NĐ-CP, khi vay vốn tại Ngân hàng, kháchhàng có thể dùng TSBĐ cho khoản vay của mình theo các phương thức:
- Cầm cố, thế chấp bằng tài sản của khách hàng vay
- Bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ ba
- Bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay
Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản chính là các biện pháp cầm cố,thế chấp tài sản của khách hàng vay hoặc của bên thứ ba có tài sản bảo đảm, bảolãnh của bên thứ ba, theo đó bên bảo đảm dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của
Trang 14mình để đảm bảo cho nghĩa vụ được xác lập thực hiện Các biện pháp bảo đảm tiềnvay bằng tài sản nói trên là những quy định cho phép các chủ thể áp dụng biện phápbảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của khách hàng, đồng thời xác định đượcquyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện biện pháp bảo đảm đó.
Việc đảm bảo tiền vay bằng tài sản không chỉ mang lại cho NHTM sự đảmbảo rằng NHTM không bị mất hoàn toàn khoản vay trong trường hợp khách hàngkhông trả được nợ, mà còn cho NHTM đặc quyền được ưu tiên thanh toán khingười có vật đảm bảo thực hiện thanh lý tài sản đó Nếu giá trị vật bảo đảm vượtquá giá trị khoản vay, sau khi thanh lý khoản chênh lệch sẽ được trả lại cho ngườivay sau khi khoản vay được thanh toán đầy đủ cả nợ gốc và lãi phát sinh tại NHTM.Trong trường hợp đã xử lý vật bảo đảm tuy nhiên không đủ trả nợ, Ngân hàng cóthể được quyền xử lý các tài sản khác để thu hồi nợ vay nếu khách hàng vay đồng ýgiao tài sản khác để bù trừ vào nghĩa vụ trả nợ hoặc theo sự phán quyết của toà án.Như vậy, bảo đảm tiền vay là một hình thức của GDBĐ, theo đó bên cầm cố,thế chấp, bảo lãnh cam kết với TCTD về việc dùng tài sản hoặc uy tín của tổ chức
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ và lãi suất Về bản chất pháp lý, bảo đảm tiềnvay là giao dịch dân sự theo đó xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong việcbản đảm khả năng thu hồi nợ cho bên cho vay bằng các biện pháp bảo đảm theo quyđịnh của Pháp luật
1.1.3 Khái niệm về tài sản bảo đảm
Là một khái niệm gắn được đưa ra ở tất cả các hệ thống pháp luật khác nhautrên thế giới, tùy thuộc vào quan niệm của pháp luật mỗi quốc gia về tài sản mà từ
đó khái niệm “tài sản bảo đảm” được hình thành Theo quan niệm của một số quốcgia trên thế giới, như tại Bộ luật Dân sự Pháp và Bộ luật Dân sự Ba Lan phạm viTSBĐ được quy định tương đối rộng, theo đó TSBĐ chủ yếu được chia thành độngsản và bất động sản, tuỳ theo tính chất của tài sản mà áp dụng theo quy định phápluật khác nhau đối với việc thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản đó Tại Việt Nam, Bôluật dân sự 2005 đưa ra khái niệm “vật bảo đảm”, theo đó vật bảo đảm thực hiện
Trang 15nghĩa vụ dân sự phải thuộc quyền sở hữu của người bảo đảm và được phép giaodịch Cụ thể hoá quy định này, Khoản 7 điều 3 và khoản 1 điều 4 Nghị định số163/2006/NĐ-CP đã đưa ra khái niệm khá trọn vẹn về TSBĐ:
“Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm”;
“Tài sản bảo đảm do các bên thoả thuận và thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba mà người này cam kết dùng tài sản đó để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ đối với bên có quyền Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai và được phép giao dịch”.
Việc quy định TSBĐ phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm là một điềukiện cơ bản để xác lập GDBĐ Tuy nhiên vô hình chung nó đã thu hẹp phạm vi tàisản có thể đem bảo đảm như tài sản hình thành trong tương lai, hoa lợi thu được từcây trồng, hoặc các khoản có thể thu khác… bởi lẽ, tại thời điểm GDBĐ được xáclập, những tài sản này chưa hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của Bên bảo đảm Mặc
dù vậy, việc quy định bắt buộc TSBĐ phải thuộc sở hữu của Bên bảo đảm đã hạnchế phần lớn rủi ro cho Bên nhận bảo đảm khi thực hiện các quyền lợi của mìnhtrên chính tài sản đó Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã có quyđịnh mở theo đó cho phép các bên được thỏa thuận việc bảo đảm bằng tài sản hìnhthành trong tương lai, thêm vào đó, Điều 2 Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổikhoản 1 và khoản 2 Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã quy định mở như
sau: “1 Tài sản bảo đảm là tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai
mà pháp luật không cấm giao dịch.2 Tài sản hình thành trong tương lai gồm:a) Tài sản được hình thành từ vốn vay; b) Tài sản đang trong giai đoạn hình thành hoặc đang được tạo lập hợp pháp tại thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm; c) Tài sản đã hình thành và thuộc đối tượng phải đăng ký quyền sở hữu, nhưng sau thời điểm giao kết giao dịch bảo đảm thì tài sản đó mới được đăng ký theo quy định của pháp luật Tài sản hình thành trong tương lai không bao gồm quyền sử dụng đất.”
So với Nghị định 178/1999/NĐ-CP, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP không
Trang 16quy định việc mua bảo hiểm đối với TSBĐ và tài sản không có tranh chấp là điềukiện bắt buộc của TSBĐ Trên thực tế, hai điều kiện này rất khó áp dụng vì không
có văn bản nào hướng dẫn cụ thể về trình tự, thủ tục xác nhận tài sản không có tranhchấp cũng như điều kiện bảo hiểm đối với tài sản Các quy định này phân tán, riêng
lẻ trong các văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau, nên các TCTD và kháchhàng rất khó xác định điều kiện của TSBĐ
Hiện nay, các TCTD không còn phải mất thời gian đi tìm hiểu thực trạng tàisản có tranh chấp hay không và tra cứu văn bản pháp luật về điều kiện bảo hiểm đốivới TSBĐ Tuy nhiên, trong những trường hợp cụ thể, các bên vẫn có thể thỏathuận áp dụng một hoặc cả hai điều kiện trên trong GDBĐ, miễn sao điều kiện đó
có tính khả thi, thực hiện được trên thực tế và bảo đảm an toàn vốn vay cho TCTD,đồng thời không làm ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của khách hàng
Dựa vào đặc điểm của TSBĐ ta có thể phân loại TSBĐ như sau:
Thứ nhất, Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai: Tài sản hiện
có là tài sản BĐTV đang thuộc sở hữu của Bên bảo đảm tại thời điểm xác lậpGDBĐ Tài sản hình thành trong tương lai là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảmsau thời điểm phát sinh nghĩa vụ được bảo đảm hoặc sau thời điểm GDBĐ đượcgiao kết Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm cả tài sản đã được hình thànhtại thời điểm giao kết GDBĐ, nhưng sau thời điểm giao kết GDBĐ mới thuộc sởhữu của bên bảo đảm Loại tài sản hình thành trong tương lai có đặc điểm:
(i) Thuộc sở hữu của bên bảo đảm sau thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặcGDBĐ được giao kết;
(ii) Phải có tài liệu, giấy tờ chứng minh nó sẽ thuộc quyền sở hữu của Bên bảođảm trong tương lai (giấy phép xây dựng, hợp đồng mua bán );
(iii) Chỉ có thể là đối tượng của quan hệ thế chấp
Thứ hai, Tài sản hữu hình và tài sản vô hình: Tài sản hữu hình là tài sản hiện
hữu, có thể là vật, động sản, hàng hoá… Tài sản vô hình là những tài sản phi vậtchất của bên bảo đảm, có thể là quyền sở hữu công nghiệp, quyền tác giả, quyền sử
Trang 17dụng đất, hoặc các quyền tài sản khác
Trong hoạt động cho vay của các TCTD, thế chấp bất động sản là biện phápbảo đảm chủ yếu và có giá trị thực tiễn cao nhất Theo quy định tại Điều 110 vàĐiều 113 Luật Đất đai 2003, tổ chức kinh tế được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sửdụng đất tại TCTD để vay vốn; hộ gia đình và cá nhân được thế chấp, bảo lãnh bằngquyền sử dụng đất tại TCTD, tổ chức kinh tế hoặc cá nhân chỉ “để vay vốn sản xuất,kinh doanh”; Điều 111 Luật đất đai cũng cho phép thế chấp, bảo lãnh bằng tài sảnthuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê “tại các TCTD được phép hoạt động tạiViệt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh”
Mọi loại tài sản đều có thể trở thành tài sản bảo đảm khi thoả mãn các điềukiện nêu tại Điều 4 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP Cụ thể là:
Thứ nhất, tài sản phải thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm
Việc xem xét quyền sở hữu tài sản có thể dựa trên các bằng chứng chứng minhquyền sở hữu tài sản bao gồm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu (đối với tài sản bắtbuộc phải đăng ký quyền sở hữu): bất động sản; tàu bay, tàu, phương tiện giaothông cơ giới Các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu (đối với trường hợp khôngphải đăng ký quyền sở hữu): tài liệu giao dịch, hoá đơn hoặc sự chiếm hữu thực tếđối với tài sản đó Một người không thể có quyền đối với những tài sản nằm ngoàiphạm vi tài sản mà người đó sở hữu Do đó, người bảo đảm chỉ có thể sử dụngnhững tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của mình hoặc những tài sản trong tương lai sẽthuộc sở hữu hợp pháp để bảo đảm cho nghĩa vụ của mình
Bên cạnh đó, cũng có một số trường hợp đặc biệt liên quan đến điều kiện bảođảm bằng tài sản trong giao dịch bảo đảm, đó là:
(i) Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đã nhận được quyết định mở thủ tụcphá sản mà không được sự đồng ý bằng văn bản của thẩm phán thụ lý cho phép cầm
cố, thế chấp (Điều 31 Luật phá sản 2004);
(ii) Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, chỉ được phép dùng
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nếu được sự chấp thuận của cả vợ và chồng hoặc
Trang 18phân chia để trở thành tài sản riêng (Luật hôn nhân gia đình)
Ngoài ra, một số tài sản không thuộc quyền sở hữu của bên bảo đảm nhưngvẫn có thể được coi là tài sản bảo đảm như:
(i)Tài sản thuộc sở hữu Nhà nước nhưng được giao cho doanh nghiệp nhànước trực tiếp quản lý, sử dụng;
(ii) Tài sản của người được giám hộ, khi đó người giám hộ có thể dùng tài sảncủa người được giám hộ để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ Việc này phải được ngườigiám sát giám hộ đồng ý và phải vì lợi ích của người được giám hộ
Một số loại tài sản bảo đảm dưới đây mặc dù thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sửdụng hợp pháp của chủ tài sản nhưng không được đem bảo đảm nghĩa vụ tài sản như:(i) Quyền sử dụng đất thuê trả tiền hàng năm;
(ii) Nhà ở, công trình xây dựng trên đất được xây dựng trên đất thuê đã hếtthời hạn thuê đất mà không được gia hạn thuê tiếp hoặc không được chuyển sanghình thức giao đất để sử dụng ổn định lâu dài;
(iii) Tài sản đã có quyết định kê biên để đảm bảo thi hành án;
(iv) Di sản thờ cúng;
(v) Quyền đòi nợ, quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng mà trong giao dịch phátsinh quyền quy định rõ không được sử dụng để bảo đảm thực hiện cho nghĩa vụ khác; (vi) Cổ phần ưu đãi biểu quyết, nếu chuyển thành cổ phần phổ thông vì hếtthời hạn 3 năm hoặc được chuyển đổi theo quyết định của đại hội đồng cổ đông thìđược phép chuyển nhượng và được phép cầm cố
Ngoài ra, cũng có những tài sản tuy không thuộc quyền sở hữu nhưng nếu đãnhận bảo đảm thì bên nhận bảo đảm vẫn được phép bảo vệ: Máy móc, thiết bị hoặcđộng sản khác không phải đăng ký quyền sở hữu mua trả chậm, trả dần, thuê có thờihạn từ 1 năm trở lên của doanh nghiệp, cá nhân có ĐKKD mà hợp đồng trả chậm,trả dần, thuê tài sản không đăng ký hoặc đăng ký sau 15 ngày kể từ ngày ký hợpđồng và đăng ký sau giao dịch bảo đảm
Thứ hai, Tài sản bảo đảm phải là tài sản được phép giao dịch.
Xuất phát từ bản chất của các giao dịch dân sự không được trái với đạo đức xã
Trang 19hội, trái với điều cấm của pháp luật, một tài sản bảo đảm không thể là tài sản bị cấmgiao dịch bao gồm:
(i) Tài sản bị cấm giao dịch do đặc điểm của loại tài sản đó (ví dụ hàng hoá bịcấm lưu thông);
(ii) Tài sản bị cấm giao dịch do tình trạng pháp lý của tài sản đó tại thời điểm xáclập giao dịch bảo đảm (ví dụ quyền sử dụng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sửdụng hoặc chưa có các giấy tờ để đủ điều kiện chuyển nhượng…) và các tài sản bị hạnchế giao dịch, lưu thông Tài sản bị hạn chế giao dịch, lưu thông thì vẫn được coi là tàisản được phép giao dịch, nhưng khi xử lý tài sản đó phải tuân thủ các điều kiện
Tóm lại, Tài sản bảo đảm là tài sản mà bên bảo đảm dùng để bảo đảm thựchiện nghĩa vụ dân sự đối với bên nhận bảo đảm, theo đó pháp luật quy định tài sảnbảo đảm bao gồm tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai, tài sản hữuhình, tài sản vô hình, Tài sản bảo đảm phải là tài sản thuộc sở hữu của bên bảo đảm
và phải được phép giao dịch
1.1.4 Các hình thức bảo đảm tài sản trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Với bản chất là một tổ chức kinh tế đặc thù có chức năng kinh doanh tiền tệ,NHTM thực hiện hoạt động kinh doanh của mình thông qua các quan hệ tín dụng,
từ các quan hệ này mối quan hệ giữa ngân hàng với các tổ chức, cá nhân được thiếtlập và phát triển, gắn NHTM gần với các hoạt động SXKD trong xã hội Nếu không
có những thiết chế cơ bản để bảo đảm các khoản tiền vay và cho vay hiệu quả,NHTM sẽ tự đặt mình trước những rủi ro khó lường đối với một loại hàng hóa đặcbiệt vốn dĩ đã chứa đựng rất nhiều rủi ro Những thiết chế cơ bản về các biện phápbảo đảm trong Bộ luật Dân sự 2005 sẽ được ngân hàng lựa chọn, tuy nhiên trong sốbảy biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản, thế chấptài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh, tín chấp thì các biện pháp cầm cố, thếchấp và bảo lãnh được các NHTM ưu tiên sử dụng nhiều hơn cả Sở dĩ các biệnpháp cầm cố, thế chấp và bảo lãnh được các NHTM ưu tiên sử dụng nhiều hơn các
Trang 20biện pháp còn lại bởi lẽ các biện pháp bảo đảm cầm cố, thế chấp và bảo lãnh cóchung đặc điểm là sử dụng tài sản cụ thể của chính khách hàng vay, của bên cầmcố/thế chấp hoặc bên bảo lãnh để đảm bảo thi hành nghĩa vụ trả nợ, khi khách hàngvay vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì tài sản bảo đảm cho khoản vay sẽ được xử lý để thuhồi nợ cho NHTM Như vậy, khi xảy ra rủi ro tín dụng liên quan đến các khoản vay,thì phương thức xử lý tài sản của 03 biện pháp nêu trên đem lại được hiệu quả caohơn so với 04 biện pháp bảo đảm còn lại
Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ về bảođảm tiền tiền vay của các TCTD cũng đã tập trung hướng dẫn cụ thể về các biệnpháp bảo đảm cầm cố, thế chấp và bảo lãnh để các NHTM có thể dễ dàng áp dụngvào thực tế
Cầm cố tài sản:
Điều 326 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Cầm cố tài sản là việc một bên (gọi là
bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng Việc cầm cố tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”.
Tài sản cầm cố có thể bao gồm: đồng Việt Nam đồng, ngoại tệ, số dư trên tàikhoản tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu, thương phiếu, kỳ phiếu, Sổ tiết kiệm, chứng chỉtiền gửi và các giấy tờ khác có giá trị như tiền; Máy móc, thiết bị, phương tiện vậntải, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, kim khí quý, đá quý và các vật có giá khác (làtài sản không phải là bất động sản); tài sản hình thành trong tương lai… Trường hợptài sản cầm cố được bảo hiểm thì khoản bảo hiểm cũng phải thuộc tài sản cầm cố
Thế chấp tài sản
Điều 342 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Thế chấp tài sản là việc một bên (gọi là
bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đối với bên kia (gọi là bên nhận thế chấp) và không chuyển giao tài sản đó cho bên nhận thế chấp Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính Trong trường hợp pháp luật có quy
Trang 21định thì văn bản thay thế phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký”.
Trong trường hợp thế chấp toàn bộ bất động sản, động sản có vật phụ thì vậtphụ của bất động sản, động sản đó cũng thuộc tài sản thế chấp Tài sản thế chấp cóthể bao gồm: tài sản là bất động sản; tài sản là động sản; tài sản là hoa lợi, lợi tức;tài sản hình thành trong tương lai
Bảo đảm bằng tài sản bảo lãnh:
Điều 361 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Bảo lãnh là việc người thứ ba (gọi
là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn
mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình” Việc bảo lãnh
phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợpđồng chính Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải đượccông chứng, chứng thực
1.2 Khái niệm và bản chất pháp lý của xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại
Nợ quá xấu, nợ quá hạn luôn tồn tại trong hoạt động kinh doanh của cácNHTM, mặc dù các NHTM đã nỗ lực nhằm giảm thiểu tình trạng này nhưng trênthực tế vẫn phải thường xuyên đối mặt với thực trạng là một khối lượng lớn nguồnvốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong TSBĐ Vì vậy, việc xử lý TSBĐ
có ý nghĩa rất quan trọng đối với cả ngân hàng và cả khách hàng sử dụng vốn vay
“Xử lý tài sản bảo đảm” nói chung có thể hiểu là việc các bên có liên quan
đến GDBĐ tiến hành các hoạt động mà pháp luật cho phép nhằm thanh toán, bù trừ các nghĩa vụ tài sản của bên có nghĩa vụ cho bên nhận bảo đảm.
Xét từ khía cạnh luật học, “xử lý TSBĐ” có thể xem là một chế định pháp luậttrong đó bao gồm các QPPL quy định về nguyên tắc; phương thức; điều kiện; quytrình, thủ tục xử lý các TSBĐ nhằm mục tiêu thu hồi nợ cho bên bảo đảm, đồng thời
Trang 22bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
Xử lý TSBĐ là một trong các biện pháp thu hồi nợ của NHTM, xử lý TSBĐ làmột quy trình đặc biệt ở chỗ quy trình này được áp dụng thông qua việc ngân hàngbán/chuyển nhượng TSBĐ cho người thứ ba (bằng hình thức mua bán thông thườnghoặc thông qua đấu giá tài sản) để thu hồi, xử lý nợ vay khi khách hàng không thựchiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay
Đây là một quá trình phức tạp với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau,bao gồm: ngân hàng, khách hàng, các bên có liên quan và kể cả các cơ quan nhànước có thẩm quyền, trong đó chủ thể đóng vai trò trọng tâm chính là ngân hàng –với tư cách là chủ nợ có bảo đảm Mục đích của việc xử lý TSBĐ là nhằm mục đíchthu hồi vốn, bảo vệ lợi ích cho ngân hàng trên cơ sở tôn trọng quyền sở hữu của chủtài sản Nguyên nhân của vấn đề này chủ yếu là do hoạt động cho vay của NHTMthường có độ rủi ro cao và có ảnh hướng lớn đến nền kinh tế nên pháp luật phải đặt
ra những quy định chặt chẽ về nguyên tắc, quy trình xử lý TSBĐ, thông qua đónhằm bảo đảm quyền lợi chính đáng của ngân hàng (bên nhận bảo đảm) và quyền
sở hữu của chủ tài sản (bên bảo đảm)
Xử lý TSBĐ không đơn thuần chỉ là biện pháp để thu hồi nợ vay cho ngânhàng, mà còn giúp cho ngân hàng giảm được chi phí do việc phải bảo quản, bảodưỡng các TSBĐ trong khi các tài sản này đã ngừng hoạt động để đưa vào diện xử lýthu hồi nợ Đối với những NHTM có khối lượng TSBĐ phải đưa vào diện xử lý thuhồi nợ lớn do có nhiều khách hàng không trả được nợ, việc bán các tài sản TSBĐ trên
sẽ giúp cho ngân hàng thu hồi được nợ và tránh rơi vào tình trạng rủi ro phá sản dokhông có khả năng thanh toán các khoản tiền gửi của khách hàng khi đến hạn Xử lýTSBĐ là một biện pháp nhằm đẩy mạnh quá trình lành mạnh hoá hoạt động tài chínhcủa các ngân hàng Đối với khách hàng, tâm lý khách hàng vay vốn đều muốn kinhdoanh có hiệu quả, thu được lợi nhuận và không ai muốn bị rủi ro dẫn đến phải bánTSBĐ để trả nợ, tuy nhiên điều này vẫn thường xuyên xảy ra Chính vì vậy, các ngânhàng buộc phải xử lý TSBĐ của khách hàng để thu hồi nợ cho mình Việc xử lýTSBĐ nếu được thực hiện tốt sẽ giúp cho các khách hàng hoàn thành được nghĩa vụ
Trang 23trả nợ, hoặc nếu chưa trả đủ thì cũng giúp khách hàng giảm bớt được nợ đối với ngânhàng, quan trọng hơn là giúp khách hàng tránh phải ra hầu toà hoặc hơn nữa là bịcưỡng chế Thi hành án do không trả được nợ cho ngân hàng.
1.3 Các căn cứ pháp lý để xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại
Các TSBĐ khác nhau có cách thức xử lý không giống nhau, những các phântích dưới đây sẽ cho thấy rõ các căn cứ pháp lý để xử lý TSBĐ trong hoạt động chovay của NHTM Trên lý thuyết, việc xử lý TSBĐ phải dựa trên hai căn cứ pháp lý,bao gồm:
Thứ nhất, các Bên thỏa thuận về biện pháp xử lý TSBĐ được quy định trong
hợp đồng bảo đảm
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã thể hiện tinh thần tôn trọng sự thỏa thuậncủa các chủ thể trong GDBĐ cao hơn so với Nghị định 178/1999/NĐ-CP, bởi lẽtheo nghị định này các bên tham gia GDBĐ có quyền tự do thỏa thuận về biện pháp
xử lý TSBĐ và pháp luật đó tôn trọng, bảo hộ sự thỏa thuận đó Việc các bên thamgia GDBĐ thể hiện sự đồng thuận trong việc lựa chọn cách thức xử lý TSBĐ có thểxem là trạng thái lý tưởng trong việc xử lý TSBĐ, bởi lẽ khi đó việc xử lý TSBĐ sẽ
dễ dàng và thuận lợi hơn mà không gặp phải những trở ngại do các bên không thốngnhất với nhau được về cách thức và kết quả xử lý TSBĐ
Theo Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, các phương thức xử lý tài sản
bảo đảm theo thoả thuận bao gồm: “Bán tài sản bảo đảm; Bên nhận bảo đảm nhận
chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm; Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ; Phương thức khác do các bên thoả thuận”.
Hoạt động xử lý TSBĐ trên thực tế khó có thể đạt tới sự thỏa thuận giữa cácbên vì những lợi ích mà các Bên hướng tới thường là đối lập nhau Tuy vậy, khôngthể phủ nhận hiệu quả của hình thức này do sự rút ngắn quy trình, thời gian xử lýTSBĐ, việc tránh phải xử lý TSBĐ qua các cơ quan tài phán có thể dẫn tới kết quả là
Trang 24không làm ảnh hưởng đến uy tín, thời gian, tiền bạc của các bên trong giao dịch này.
Thứ hai, các quy định của pháp luật về GDBĐ và xử lý TSBĐ trong hoạt động
cho vay của NHTM
Mục đích chủ yếu của xử lý TSBĐ nhằm đảm bảo cho NHTM thu hồi vốn chovay để tiếp tục hoạt động kinh doanh của mình, từ đó tạo điều kiện cho NHTMtránh khỏi những rủi ro thiệt hại do làm ngưng trệ quá trình kinh doanh, tiếp tụcthực hiện vai trò và chức năng của mình trong nền kinh tế Mặc dù việc xử lý TSBĐkhông phải là một giải pháp tối ưu nhưng nó đáp ứng được yêu cầu cấp bách là thuhồi được nợ cho ngân hàng và đảm bảo an toàn về quyền lợi cho người gửi tiền tạingân hàng
Hiện nay, căn cứ pháp lý để xử lý TSBĐ không chỉ bao gồm các quy địnhđược thể hiện trong Bộ luật Dân sự 2005, Nghị định số 163/2006/NĐ-CP, Nghịđịnh 11/2012/NĐ-CP, Luật các TCTD 2010… mà việc xử lý TSBĐ còn được điềuchỉnh bởi các văn bản pháp luật chuyên ngành có liên quan đến chính TSBĐ như:Luật đất đai, Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp…
1.4 Các trường hợp xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của các NHTM
Các NHTM được phép xử lý tài sản trong các trường hợp cụ thể như sau :
Thứ nhất, đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã được
ký kết giữa khách hàng và NHCTM mà bên được bảo đảm không thực hiện nghĩa vụtrả nợ hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với bên nhận bảo đảm
Thứ hai, bên được bảo đảm vi phạm hợp đồng tín dụng và bị NHTM yêu cầu
thu hồi vốn trước hạn song bên được bảo đảm không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợvay trước hạn thì sẽ bị xử lý TSBĐ để thu hồi nợ Trong bất kỳ hợp đồng tín dụng vàhợp đồng bảo đảm nào cũng quy định rất cụ thể về nghĩa vụ của các bên khi tham giagiao kết và thực hiện hợp đồng, đồng thời đều quy định trong trường hợp bên vay(bên được bảo đảm) hoặc bên bảo đảm vi phạm quy định của Hợp đồng tín dụng,Hợp đồng bảo đảm thì ngân hàng có quyền yêu cầu thu hồi nợ trước hạn Điển hình
là trong trường hợp: nghĩa vụ của bên vay (bên được bảo đảm) là phải sử dụng vốn
Trang 25vay đúng mục đích tuy nhiên họ sử dụng vốn vay vào mục đích khác thì ngân hàng sẽphải tiến hành thu hồi nợ trước hạn, trong trường hợp bên bảo đảm không thực hiệnnghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng có quyền xử lý TSBĐ để thu hồi nợ.
Thứ ba, pháp luật quy định TSBĐ phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ khác khi đã đến hạn Một tài sản có thể cùng một lúc bảo đảm cho nhiềukhoản nợ vay nhưng giá trị của TSBĐ phải lớn hơn giá trị của tổng giá trị của cáckhoản vay, khi một trong số những khoản vay có cùng một TSBĐ đến hạn mà bênbảo đảm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ tiến hànhbán TSBĐ để thu hồi nợ
Thứ tư, khách hàng vay là doanh nghiệp bị toà án tuyên bố bị phá sản, bị giải
thể theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, dù tại thời điểm đó nghĩa
vụ trả nợ chưa đến hạn nhưng cũng được coi là đến hạn, ngân hàng có quyền yêu cầuthu hồi nợ vay trước thời hạn Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ thìngân hàng sẽ buộc phải tiến hành xử lý TSBĐ để đảm bảo thu hồi nợ vay
Ngoài ra những trường hợp trên đây, các trường hợp xử lý TSBĐ khác do cácbên thoả thuận hoặc pháp luật quy định Đối với trường hợp doanh nghiệp hợpnhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá; TSBĐ cho các khoản nợ của doanh nghiệptrước khi hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá… được tiếp tục dùng làmTSBĐ cho các khoản nợ đó của các doanh nghiệp mới sau khi doanh nghiệp cũ hợpnhất, sáp nhập, chuyển đổi, cổ phần hoá Nếu nhận thấy doanh nghiệp mới sau khichuyển đổi có khả năng không thực hiện biện pháp này, thì ngân hàng có quyền xử
lý TSBĐ để thu hồi nợ trước khi thực hiện nghĩa vụ chia, tách, hợp nhất, sáp nhập,chuyển đổi, cổ phần hoá của doanh nghiệp đó
Tuy nhiên trên thực tế, không phải lúc nào khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ làngân hàng đều tiến hành xử lý tài sản mà ngân hàng vẫn tiếp tục xem xét khả năng trả
nợ của khách hàng và xem xét gia hạn nợ nếu nhận thấy khách hàng vẫn có khả năngthanh toán, thậm chí ngân hàng có thể cấp tín dụng bổ sung cho khách hàng để tiếp tụcduy trì sản xuất nếu khách hàng chứng minh được dự án đang thực hiện còn tính khảthi và nguyên nhân là do khách hàng thiếu vốn để thưc hiện sản xuất, kinh doanh Mụctiêu của ngân hàng không phải là bắt nợ, xử lý TSBĐ của khách hàng mà luôn tại điều
Trang 26kiện tối đa giúp khách hàng có thể trả được nợ cho ngân hàng.
Khi ngân hàng buộc phải xử lý TSBĐ để thu hồi nợ, thời điểm để xử lý TSBĐ
là sau một khoảng thời gian kể từ khi khách hàng đến hạn trả nợ tuy nhiên TSBĐchưa được các bên xử lý theo thoả thuận NHTM có quyền quyết định thời điểm xử
lý TSBĐ kể từ ngày đăng ký thông báo yêu cầu xử lý TSBĐ tại cơ quan đăng kýGDBĐ hoặc tính từ ngày ngân hàng gửi thông báo về việc xử lý TSBĐ (trường hợpGDBĐ không phải đăng ký) Điều 16 Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi khoản 1
Điều 61 Nghị định 163/2006/NĐ-CP có quy như sau: “Trước khi xử lý tài sản bảo
đảm, người xử lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý tài sản bảo đảm cho các bên cùng nhận bảo đảm khác theo địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp hoặc đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm”
1.5 Nguyên tắc xử lý TSBĐ
Xử lý TSBĐ là một biện pháp thu hồi nợ cho ngân hàng, được thanh toán trựctiếp từ số tiền thu được khi xử lý tài sản, việc xử lý tài sản về nguyên tắc trước tiênđược thực hiện theo thoả thuận của các bên Có thể là thoả thuận tại thời điểm xáclập GDBĐ hoặc các bên có thể thoả thuận tại bất kỳ thời điểm nào khác trong quátrình thực hiện GDBĐ, xử lý TSBĐ Trong trường hợp các bên không có thoả thuậnthì việc xử lý TSBĐ được thực hiện theo quy định của pháp luật
Điều 58 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP và Điều 15 Nghị định 11/2012/NĐ-CPsửa đổi khoản 4 và bổ sung khoản 6 Điều 58 163/2006/NĐ-CP quy định cụ thể vềnguyên tắc xử lý TSBĐ như sau:
Thứ nhất, trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện một nghĩa
vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận của các bên; nếu không
có thoả thuận thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật;
Thứ hai, trong trường hợp tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa
vụ thì việc xử lý tài sản đó được thực hiện theo thoả thuận giữa bên bảo đảm vớicác bên cùng nhận bảo đảm; nếu không có thoả thuận hoặc không thoả thuận được
Trang 27thì tài sản được bán đấu giá theo quy định của pháp luật;
Thứ ba, việc xử lý TSBĐ phải được thực hiện một cách khách quan, công
khai, minh bạch, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia GDBĐ,
cá nhân, tổ chức có liên quan và phù hợp với các quy định tại Nghị định này;
Thứ tư, Người xử lý tài sản bảo đảm (sau đây gọi chung là người xử lý tài sản)
là bên nhận bảo đảm hoặc người được bên nhận bảo đảm ủy quyền, trừ trường hợpcác bên tham gia giao dịch bảo đảm có thỏa thuận khác Người xử lý tài sản căn cứnội dung đã được thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm để tiến hành xử lý tài sản bảođảm mà không cần phải có văn bản ủy quyền xử lý tài sản của bên bảo đảm.”
Thứ năm, việc xử lý TSBĐ để thu hồi nợ không phải là hoạt động kinh doanh
tài sản của bên nhận bảo đảm Do đó, hoạt động này không phải chịu thuế theo quyđịnh của pháp luật thuế
Thứ sáu, trong trường hợp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, nhà ở thì tổ
chức, cá nhân mua tài sản bảo đảm hoặc nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế choviệc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm phải thuộc đối tượng được cấp Giấy chứngnhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trườnghợp tổ chức, cá nhân không thuộc đối tượng được cấp Giấy chứng nhận quyền sửdụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì chỉ được hưởnggiá trị quyền sử dụng đất, giá trị nhà ở.”
1.6 Các phương thức xử lý TSBĐ
Phương thức xử lý TSBĐ là cách thức, biện pháp xử lý TSBĐ do các chủ thể
có thẩm quyền tiến hành nhằm thanh toán nợ cho ngân hàng, về nguyên tắc TSBĐđược xử lý theo phương thức đã thoả thuận của các bên trong hợp đồng bảo đảmhoặc hợp đồng tín dụng Trong trường hợp các Bên không xử lý được TSBĐ theophương thức đã thoả thuận thì ngân hàng có quyền chủ động lựa chọn một sốphương thức để xử lý TSBĐ quy định tại Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP.Các phương thức này bao gồm:
Thứ nhất, Phương thức bán tài sản bản đảm: Ngân hàng hoặc bên bảo đảm
Trang 28hoặc các Bên phối hợp để bán tài sản trực tiếp cho người mua hoặc uỷ quyền chobên thứ ba bán tài sản cho người mua Hợp đồng bán tài sản được thành lập văn bảngiữa bên bán TSBĐ và bên mua TSBĐ Trong trường hợp các bên thỏa thuận thựchiện phương thức bán TSBĐ thì bên được bán tài sản có thể là khách hàng vay hoặcngân hàng, hoặc hai bên phối hợp cùng bán, hoặc có thể uỷ quyền cho bên thứ bathực hiện việc bán tài sản Bên được bán tài sản có thể trực tiếp bán cho người mua,
uỷ quyền cho trung tâm bán đấu giá tài sản hoặc doanh nghiệp bán đấu giá tài sảnthực hiện việc bán TSBĐ
Thứ hai, Phương thức nhận chính TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa
vụ được bảo đảm: Ngân hàng trực tiếp nhận TSBĐ, lấy giá TSBĐ được định giá khi
xử lý làm cơ sở để thanh toán nợ gốc, lãi vay, lãi quá hạn của bên bảo đảm sau khitrừ đi các chi phí khác và được tiếp nhận tài sản đó theo các quy định của pháp luật.Các ngân hàng và bên bảo đảm lập biên bản nhận TSBĐ để thay thế cho việc thựchiện nghĩa vụ được bảo đảm Biên bản ghi rõ việc bàn giao, tiếp nhận, định giá xử
lý TSBĐ và thanh toán nợ từ việc xử lý TSBĐ
Sau khi nhận TSBĐ để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm,ngân hàng được làm thủ tục nhận chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng TSBĐhoặc được bán, chuyển nhượng TSBĐ cho bên mua, bên nhận chuyển nhượng tàisản theo quy định của pháp luật Sau khi TSBĐ đã được xử lý để thu hồi nợ, ngânhàng hoặc bên bảo đảm tiến hành xoá đăng ký GDBĐ theo quy định của pháp luật
về đăng ký giao dich bảo đảm
Thứ ba, Bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ
ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ
Thứ tư, Phương thức nhận các khoản tiền, tài sản mà bên thứ ba phải trả hoặc
phải giao cho bên bảo đảm: Ngân hàng trực tiếp nhận khoản tiền hoặc tài sản màbên thứ ba phải trả hoặc phải giao cho bên bảo đảm theo các thủ tục và quy định củapháp luật
Khi khách hàng vay không trả được nợ hoặc bên thứ ba bảo lãnh bằng tài sảnkhông thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, ngân hàng có quyền chuyển giao quyền thu hồi
Trang 29lại hoặc uỷ quyền cho bên thứ ba xử lý TSBĐ Bên thứ ba là tổ chức có tư cáchpháp nhân và được thực hiện quyền thu hồi nợ hoặc xử lý TSBĐ theo quy định củapháp luật Các ngân hàng hoặc bên bảo đảm phải thông báo cho bên thứ ba biết việcngân hàng được nhận các khoản tiền, tài sản nêu trên đồng thời yêu cầu bên thứ bagiao các khoản tiền, tài sản đó cho các ngân hàng Việc giao các khoản tiền, tài sảncho ngân hang phải thực hiện theo đúng thời hạn, địa điểm được ấn định trongthông báo xử lý TSBĐ.
Trong trường hợp được ngân hàng chuyển giao quyền thu hồi nợ, bên thứ ba
có quyền thực hiện các biện pháp để thu hồi nợ hoặc xử lý TSBĐ như ngân hàng.Trường hợp được ngân hàng uỷ quyền xử lý tài sản, thì bên thứ ba được xử lýTSBĐ trong phạm vi được uỷ quyền
Các ngân hàng sẽ lập biên bản nhận các khoản tiền, tài sản giữa ngân hàng,bên bảo đảm và bên thứ ba Biên bản nhận các khoản tiền, tài sản phải ghi rõ việcbàn giao, tiếp nhận các khoản tiền, tài sản, việc định giá tài sản và thanh toán nợ từviệc xử lý tài sản Trong trường hợp bên thứ ba không giao các khoản tiền, tài sảnnói trên theo yêu cầu của ngân hàng thì ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà
nước có thẩm quyền áp dụng thủ tục buộc bên thứ ba phải giao tài sản hoặc khởi
kiện ra toà án
Trong các phương thức nêu trên, bán tài sản được coi là phương thức phổbiến nhất tuy nhiên nó không là tối ưu trong mọi trường hợp, pháp luật đã quy địnhnhiều phương thức xử lý TSBĐ khác nhau nhằm mở ra nhiều cách để ngân hàng cóthể tiến hành xử lý TSBĐ thuận lợi hơn NHTM trong từng trường hợp có thể chủđộng và linh hoạt lựa chọn một trong số các phương thức xử lý TSBĐ tốt nhất nhằmthu hồi nợ hiệu quả nhất
1.7 Hậu quả pháp lý của xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của các NHTM
Trên thực tế, việc xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của các NHTM lànhằm mục đích hạn chế những rủi ro về an toàn vốn cho các ngân hàng khi thựchiện nghiệp vụ cho vay Vì vậy hậu qủa pháp lý của xử lý TSBĐ trong hoạt động
Trang 30cho vay của các NHTM là việc tài sản được dùng để bảo đảm của bên có nghĩa vụbảo đảm sẽ được xử lý để thu hồi nợ vay Theo đó, các NHTM sẽ thu hồi được cáckhoản nợ quá hạn của khách hàng vay qua việc xử lý các TSBĐ Sau khi TSBĐđược xử lý bên có nghĩa vụ bảo đảm sẽ không còn là chủ sở hữu của TSBĐ đồngthời sẽ không còn nghĩa vụ đối với khoản vay tại NHTM theo cam kết tại các Hợpđồng bảo đảm tiền vay Bên có nghĩa vụ bảo đảm không còn quyền sở hữu và bất
cứ quyền và nghĩa vụ gì đối với TSBĐ đã từng thuộc quyền sở hữu của mình Hiệnnay việc xử lý TSBĐ đang là một hoạt động vô cùng khó khăn của các NHTM dobên có TSBĐ không chịu hợp tác khi các NHTM yêu cầu bên bảo đảm thực hiệnviệc xử lý TSBĐ
Việc xử lý TSBĐ trong hoạt động của các NHTM hàng liên quan chặt chẽđến đến quan hệ giữa bên cho vay và bên vay Quan hệ giữa ngân hàng và bên vaychấm dứt khi tất các bên đã thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng, hoặckhi ngân hàng đã thực hiện xong việc xử lý TSBĐ để thu hồi toàn bộ số nợ vay Tạithời điểm cho vay, hợp đồng tín dụng được coi là Hợp đồng chính, hợp đồng bảođảm tiền vay được coi là hợp đồng phụ, hợp đồng phụ này được thiết lập nên để bảođảm cho việc thực hiện hợp đồng chính của các bên Trong trường hợp bên vaykhông thực hiện được nghĩa vụ trả nợ hoặc vi phạm các cam kết tại Hợp đồng tíndụng dẫn đến việc ngân hàng phải thực hiện xử lý TSBĐ thì việc xử lý TSBĐ đểđảm bảo thu hồi đủ nợ vay cho ngân hàng sẽ dẫn đến việc chấm dứt cả hợp đồng tíndụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay
Trong trường hợp TSBĐ đã được xử lý tuy nhiên không đủ để thu hồi nợ vaycho ngân hàng hoặc bên vay bị phá sản, giải thể thì không làm chấm dửt hợp đồngtín dụng đã ký giữa Ngân hàng và khách hàng vay Hợp đồng tín dụng chỉ chấm dứtkhi khách hàng đã hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay đối với ngân hàng
Đi sâu hơn tìm hiểu về việc xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp doanhnghiệp bị phá sản Thông thường văn QPPL được áp dụng sẽ là các quy định về xử
lý TSBĐ hoặc luật phá, trong trường hợp có sự xung đột giữa hai văn bản này thìpháp luật về phá sản sẽ được ưu tiên áp dụng Trong trường hợp doanh nghiệp bị
Trang 31phá sản đã cầm cố, thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì TSBĐđược tách riêng để ưu tiên thanh toán cho bên nhận bảo đảm Nếu giá trị tài sản thếchấp, cầm cố không đủ thanh toán thì số nợ vay còn lại sẽ được thanh toán trongquá trình thanh lý các tài sản khác của doanh nghiệp, hợp tác xã Nếu giá trị của tàisản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ vay thì phần chênh lệch được nhập vào giátrị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã Nguyên tắc nêu trên chỉ áp dụng đốivới các giao dịch cầm cố, thế chấp được xác lập trước khi toà án thụ lý đơn yêu cầu
mở thủ tục phá sản
Trên thực tế NHTM có quyền được chủ động yêu cầu người có nghĩa vụ phảithực hiện việc xử lý TSBĐ, nhưng quyền chủ động đó lại rơi vào thế bị động khipháp luật quy định việc xử lý TSBĐ trong mọi trường hợp phải được các bên thỏathuận Việc xử lý TSBĐ phụ thuộc vào sự hợp tác hay không hợp tác của người cóTSBĐ, vì vậy chủ thể có quyền trong việc xử lý TSBĐ theo hợp đồng bảo đảm tiềnvay hoàn toàn có thể đứng trước nguy cơ không được bảo đảm về quyền xử lýTSBĐ, và bản thân chủ thể có nghĩa vụ sẽ khó tạo đủ lòng tin để duy trì và thiết lậpmột giao dịch tín dụng mới tại NHTM
1.8 Mối quan hệ giữa Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật chuyên ngành
về xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của các NHTM
Trước tình trạng khách hàng vay vi phạm hợp đồng tín dụng ngày càngnghiêm trọng và có tính phổ biến, việc bảo đảm quyền của NHTM thông qua việc
xử lý TSBĐ ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết Dựa trên nền những quyđịnh tại Bộ luật Dân sự năm 1995 và tiếp theo đó là Bộ luật Dân sự 2005, các biệnpháp BĐTV, cách thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay được quy định chi tiết hơntrong các văn bản QPPL của ngành ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng của việc
xử lý TSBĐ của các NHTM
Sau Bộ luật Dân sự 1995, việc ban hành các nghị định về các biện pháp bảođảm thực hiện hợp đồng tín dụng tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện hơn, hàng loạtvăn bản pháp luật điều chỉnh vấn đề này đã ra đời như: Quyết định số 23/QĐ-
Trang 32NHNN ngày 21/12/1995, Nghị định số 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 củaChính phủ hướng dẫn thực hiện Bộ luật Dân sự năm 1995, Nghị định số178/1999/NĐ-CP ngày 29/12/1999 hướng dẫn thực hiện Luật các TCTD năm1997… Các văn bản nêu trên đã đề cập đến những dấu hiệu đặc trưng của các biệnpháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ và chủ thể áp dụng các biện pháp đó cũng nhưcác biện pháp cầm cố, thế chấp, bảo lãnh đảm bảo nghĩa vụ cho hợp đồng tín dụng Trong quá trình thực hiện, các văn bản này đã bộc lộ không ít tồn tại khôngnhỏ như: Các hạn chế đối với TCTD khi nhận TSBĐ là bất động sản, tài sản hìnhthành trong tương lai; quyền tự do thỏa thuận của các bên trong giao dịch chưa thực
sự được tôn trọng; thứ tự ưu tiên thanh toán chưa được rõ ràng… Để khắc phụcphần nào những tồn tại và nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về xử lý tài sản BĐTV,
Bộ luật dân sự 2005 và sau đó là một loạt các văn bản QPPL như: Nghị định số163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm, Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng kýGDBĐ, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP đã được ban hành Các văn bản QPPL này đãkhắc phục tình trạng cùng tồn tại nhiều văn bản khác nhau hướng dẫn về xử lý tàisản BĐTV, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc tra cứu, đối chiếu trong quá trình
áp dụng pháp luật của các chủ thể tham gia giao dịch
Như vậy, Bộ luật Dân sự được coi là văn bản QPPL nguồn, từ đó ra đời cácvăn bản QPPL chuyên ngành hướng dẫn về việc xử lý TSBĐ Từ sự ra đời của Bộluật Dân sự 2005 và là các văn bản QPPL về xử lý TSBĐ, việc xử lý tài sản bảođảm tiền vay tại các NHTM đã có chuyển biến theo hướng tích cực, phù hợp vớitình hình thực tiễn các quan hệ dân sự, kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở ViệtNam và phù hợp với tính đặc thù trong hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng
Trang 33Kết luận chương 1
Xử lý tài sản bảo đảm trong hoạt động cho vay của NHTM là việc các bên cóliên quan đến GDBĐ tiến hành các hoạt động mà pháp luật cho phép nhằm thanhtoán, bù trừ các nghĩa vụ tài sản của bên có nghĩa vụ cho các NHTM Do hoạt độngcho vay của NHTM thường có độ rủi ro cao và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế vìvậy các văn bản QPPL phải quy định chặt chẽ về nguyên tắc, phương thức, điềukiện, quy trình, thủ tục xử lý các TSBĐ nhằm mục tiêu vừa đảm bảo thu hồi nợ choNHTM (bên nhận bảo đảm) vừa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tàisản (bên bảo đảm)
Bản chất của xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của các NHTM là mộttrong các biện pháp nhằm thu hồi nợ của NHTM Đây là một quá trình phức tạp với
sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm ngân hàng, khách hàng, các bên
có liên quan và kể cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong đó, chủ thể đóngvai trò trọng tâm chính là NHTM – với tư cách là chủ nợ có bảo đảm Mục đích củaviệc xử lý TSBĐ là thu hồi vốn, bảo vệ lợi ích cho ngân hàng trên cơ sở tôn trọngquyền sở hữu của chủ tài sản
Kinh tế càng phát triển, dư nợ cho vay của NHTM tăng cao, các loại hình chovay cũng trở nên đa dạng, đây là lúc hoạt động tín dụng của các NHTM đứng trướcrất nhiều rủi ro Để đồng thời đạt được mục đích phát triển thị trường khách hàngđồng thời đảm bảo an toàn đối với các khoản vay, thì việc áp dụng các biện phápBĐTV, vận dụng đúng đắn việc xử lý TSBĐ được xem là công cụ thu hồi nợ hiệuquả và an toàn đối với các NHTM Dưới góc độ kinh tế, xã hội và pháp luật thì chovay có bảo đảm bằng tài sản không chỉ tạo ra sự an toàn cho hệ thống tín dụng màcho cả nền kinh tế quốc dân, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống tín dụng được vậnhành ổn định, ngoài ra còn góp phần đáp ứng nhu cầu vốn và tác động tốt đến cáchoạt động phát triển kinh tế xã hội
Trên thực tế người có quyền được chủ động trong việc xử lý TSBĐ có quyềnyêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên do quyền đó lại rơivào thế bị động khi phải phụ thuộc vào ý chí và hành vi của người có nghĩa vụ Chủ
Trang 34thể có quyền hoàn toàn có thể đứng trước nguy cơ mất quyền xử lý TSBĐ, đồngthời chủ thể có nghĩa vụ sẽ khó tạo đủ lòng tin để thiết lập một giao dịch tín dụngmới tại chính NHTM đó Nhằm khắc phục tình trạng này, pháp luật đã đưa ra một
số biện pháp bảo đảm để các chủ thể lựa chọn áp dụng khi tham gia những giaodịch cụ thể Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm là cần thiết để bảo vệ quyền lợicủa các bên Biện pháp bảo đảm là một loại chế tài, bởi vì bản thân các biện phápbảo đảm đã mang đầy đủ tính chất của một chế tài pháp lý Với những nỗ lực nhấtđịnh, trong thời gian qua, pháp luật Việt Nam về các biện pháp bảo đảm được từngbước xây dựng và hoàn thiện
Việc xử lý TSBĐ tại các ngân hàng theo đó đã trở thành một trong các kênhchính để thu hồi vốn vay Tuy nhiên, đây là một quy trình phức tạp được thực hiệnbởi nhiều chủ thể có lợi ích không đồng nhất Vì vậy, việc pháp luật hiện hành tôntrọng, đề cao sự thoả thuận giữa các Bên đã phần nào làm chậm, làm khó cho quátrình xử lý TSBĐ tại các NHTM
Trang 35Chương 2
XỬ LÝ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG TMCP CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
2.1 Tổng quan tình hình hoạt động tín dụng tại Vietinbank
Được thành lập từ năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,Vietinbank là một NHTM lớn giữ vai trò quan trọng, trụ cột của ngành ngân hàng với
hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc (khoảng hơn 150 Chi nhánh và trên 1000phòng giao dịch/Quỹ tiết kiệm) Qua quá trình hoạt động và phát triển, Vietinbankđang ngày càng trở nên lớn mạnh và được mệnh danh là Tập đoàn tài chính ngânhàng hàng đầu của Việt Nam và có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân
Là một ngân hàng giữ vai trò chủ chốt trong hệ thống các TCTD tại Việt Nam,Vietinbank không ngừng mở rộng hoạt động với hiệu quả ngày càng cao Bên cạnhcác hoạt động nghiệp vụ như huy động vốn, thanh toán quốc tế, dịch vụ kinh doanhtiền tệ, tư vấn đầu tư thì cho vay được xác định là một nghiệp vụ tín dụng luôn đượcquan tâm hàng đầu Trong điều kiện nền kinh tế nước ta hiện nay tín dụng ngânhàng có vai trò quan trọngtrong việc đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trìnhSXKD, đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế Việc phân phối các nguồn lựctài chính thông qua kênh tín dụng ngân hàng đã góp phần điều hoà vốn trong toàn
bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục
Trang 36Biểu đồ 2.1 : Tốc độ tăng trưởng tín dụng 3 năm (2010, 2011, 2012)
Trong nền kinh tế sản xuất hàng hoá đa dang và phong phú như hiện nay, tíndụng ngân hàng là một trong những kênh dẫn vốn hiệu quả nhằm tạo lập nguồn vốnlưu động và vốn cố định của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh củadoanh nghiệp, vai trò này thể hiện rõ nét trong hoạt động cho vay của VietinBank
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu dư nợ năm 2012 theo kỳ hạn
Lượng vốn tín dụng của VietinBank trong các năm qua luôn đóng vai tròquan trọng trong việc hỗ trợ sự phát triển của các ngành kinh tế, góp phần định hình
cơ cấu phát triển của nhiều vùng địa bàn trên cả nước, cho đến nay VietinBank làngân hàng tài trợ vốn hàng đầu cho các ngành kinh tế chủ chốt như: Dầu khí, Điệnlực, Bưu chính, Viễn thông, Công nghiệp Thép, Xăng dầu, Xi măng, Hóa chất, Dệtmay Tiêu biểu là một số dự án: Dự án đường dây 500kV Pleiku - Mỹ Phước - CầuBông, Dự án xây dựng nhà máy Xi măng Công Thanh, Cảng biển Cái Mép, Nhàmáy lọc dầu Dung Quất…
Biểu đồ 2.3 : Cơ cấu dư nợ theo ngành kinh tế
Đặc trưng cơ bản của nguồn vốn tín dụng của Vietinbank là sự vận động trên
cơ sở hoàn trả vốn và có lợi tức bởi vậy mà hoạt động của tín dụng đã kích thíchviệc sử dụng vốn có hiệu quả của các doanh nghiệp Bằng cách tác động như vậyđòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn tín dụng phải luôn lưu ý đến việc nângcao hiệu quả sử dụng vốn vay, giảm chi phí sản xuất, tăng vòng quay của vốn, tạođiều kiện nâng cao doanh lợi của doanh nghiệp
Trang 37Hoạt động tín dụng của Vietinbank được phát triển cân đối hợp lý giữa mụctiêu tăng trưởng và quản lý rủi ro trên cơ sở thực hiện định hướng chỉ đạo đúng đắncủa HĐQT Vietinbank Cơ cấu danh mục đầu tư được duy trì hài hòa, ưu tiên vàocác ngành kinh tế trọng điểm có nhiều tiềm năng phát triển đồng thời tuân thủ cácchính sách phát triển kinh tế của nhà nước.
Vietinbank luôn ưu tiên cơ cấu dư nợ trong việc đầu tư vào các ngành kinh tếthen chốt, mang tính ổn định cao như: công nghiệp chế biến và thương nghiệpchiếm tỷ lệ lần lượt là 26% và 21%, theo sau đó là các ngành xây dựng, sản xuất vàdịch vụ… Chính sách tín dụng của Vietinbank luôn hạn chế tối đa việc cho vay cácngành mang nặng tính đầu cơ, tiềm ẩn rủi ro cao như kinh doanh bất động sản vàchứng khoán trong đó việc cơ cấu khách hàng được phân bổ đa dạng, rộng khắptheo các thành phần kinh tế, đảm bảo phát triển mang tính ổn định cao choVietinbank
Theo Báo cáo thường niên của Vietinbank được công bố rộng rãi, đến hếtngày 31/12/2012, tổng dư nợ cho vay đạt 333.356 tỷ đồng, tăng 39.422 tỷ đồng sovới thời điểm 31/12/2011 Chất lượng tín dụng của VietinBank được nâng cao rõrệt Tỷ lệ nợ nhóm 2 đến cuối năm 2009 là 0,42 %, nợ xấu ở mức 1,46% thuộcnhóm NHTM có tỉ lệ nợ xấu thấp trong hệ thống NHTM
2.2 Thực tiễn các quy định của pháp luật về xử lý TSBĐ trong hoạt động cho vay của NHTM
Xử lý TSBĐ là một quá trình phức tạp và đan xen nhiều lợi ích khác nhau,trong đó quan trọng nhất vẫn là lợi ích của bên nhận bảo đảm và lợi ích của bên bảođảm, bởi vậy việc thiết kế các quy định của pháp luật về xử lý TSBĐ phải đặc biệtchú ý đến yêu cầu đảm bảo hai nhóm lợi ích này Các phân tích dưới đây về quyền
xử lý TSBĐ, thủ tục xử lý đối với từng loại TSBĐ sẽ cho thấy rõ hơn sự hợp lý vàtính khả thi của các quy định này
Quyền xử lý TSBĐ
Quyền xử lý TSBĐ là khả năng của bên nhận bảo đảm trong việc xử lý TSBĐ
Trang 38để thu hồi nợ, quyền xử lý TSBĐ được thiết lập trên TSBĐ kể từ khi hợp đồng bảođảm phát sinh hiệu lực và có giá trị ràng buộc đối với cả hai bên (bên bảo đảm vàbên nhận bảo đảm) Tuy nhiên, bên nhận bảo đảm chỉ có thể thực hiện quyền nàytrên thực tế khi phát sinh các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc theo thoảthuận Theo quy định của pháp luật nếu các bên không có thoả thuận hoặc khôngthoả thuận khác thì quyền xử lý tài sản có hiệu lực trên thực tế tại thời điểm phátsinh các căn cứ sau đây:
Thứ nhất, đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Thứ hai, bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn
do vi phạm nghĩa vụ theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật
Thứ ba, Pháp luật quy định TSBĐ phải được xử lý để bên bảo đảm thực hiện
Thứ nhất, xử lý tài sản trong trường hợp không có thoả thuận về phương thức
xử lý
Điều 65 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định trong trường hợp không có
Trang 39thoả thuận về phương thức xử lý TSBĐ thì TSBĐ được bán đấu giá theo quy địnhcủa pháp luật Riêng đối với TSBĐ có thể xác định được giá cụ thể, rõ ràng trên thịtrường thì người xử lý tài sản được bán theo giá thị trường mà không phải qua thủtục bán đấu giá, đồng thời phải thông báo cho bên bảo đảm và các bên cùng nhậnbảo đảm khác (nếu có).
Đối với TSBĐ là quyền đòi nợ: yêu cầu người thứ ba là người có nghĩa vụ trả nợchuyển giao các khoản tiền hoặc tài sản khác cho mình hoặc cho người được uỷ quyền.Đối với TSBĐ là trái phiếu, cổ phiếu, hối phiếu, giấy tờ có giá khác và thẻ tiếtkiệm: được xử lý theo quy định của pháp luật về trái phiếu, giấy tờ có giá khác vàthẻ tiết kiệm
Đối với tài sản cầm cố là vận đơn: Bên nhận cầm cố vận đơn có quyền xuấttrình vận đơn theo thủ tục được pháp luật quy định để thực hiện quyền chiếm hữuđối với hàng hoá ghi trên vận đơn đó Việc xử ký hàng hoá ghi trên vận đơn đượcthực hiện như đối với các động sản khác
Đối với TSBĐ là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất trong trường hợpkhông có thoả thuận về phương thức xử lý thì các tài sản này được bán đấu giá.Trong trường hợp chỉ thế chấp tài sản gắn liền với đất mà không thế chấpquyền sử dụng đất thì khi xử lý tài sản gắn liền với đất, người mua, người nhậnchính tài sản gắn liền với đất đó được tiếp tục sử dụng đất Quyền và nghĩa vụ củabên thế chấp trong hợp đồng về quyền sử dụng đất giữa bên thế chấp và người sửdụng đất được chuyển giao cho người mua, người nhận chính tài sản gắn liền vớiđất, trừ trường hợp có thoả thuận khác
Thứ hai, xử lý TSBĐ trong trường hợp bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 324 Bộ luật Dân sự 2005: “Một tài sản có thể
bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu có giá trị tại thời điểm xác lập GDBĐ lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác pháp luật có quy định khác” Trong trường hợp một TSBĐ thực hiện
nhiều nghĩa vụ và đều thực hiện đăng ký GDBĐ theo khoản 1 Điều 6 Nghị định số
Trang 40163/2006/NĐ-CP về GDBĐ thì thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ được
pháp luật quy định như sau: “Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ được xác
định theo quy định tại Điều 325 Bộ luật Dân sự 2005” và “Trong trường hợp GDBĐ được đăng ký thì việc xác định thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ được xác định theo thứ tự đăng ký” theo quy định tại khoản 1 Điều 325 Bộ luật Dân
sự 2005 Ngoài ra, Điều 6 Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng ký GDBĐ cũng quy
định: “việc đăng ký GDBĐ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký theo quy định tại
Điều 7 của Nghị định này đến thời điểm xóa đăng ký theo đơn của người yêu cầu xóa đăng ký” và Khoản 1 Điều 11 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP quy định:
“GDBĐ có giá trị pháp lý đối với người thứ ba kể từ thời điểm đăng ký Thời điểm đăng ký được xác định theo quy định của pháp luật về đăng ký GDBĐ”.
Thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý TSBĐ được xác định theo thứ tự đăng kýGDBĐ: GDBĐ đăng ký trước được ưu tiên trước GDBĐ đăng ký sau, GDBĐ đãđăng ký được ưu tiên trước GDBĐ chưa đăng ký Đối với các GDBĐ chưa đăng kýthì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thời điểm xác lập giao dịch, cácGDBĐ có cùng thời điểm xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán thì có cùng thứ tự.Trong trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý TSBĐ không đủ để thanh toán chocác bên nhận bảo đảm có cùng thứ tự ưu tiên thanh toán thì số tiền đó được thanhtoán cho các bên theo tỷ lệ tương ứng với giá trị nghĩa vụ được bảo đảm
Bên xử lý TSBĐ phải thông báo cho các Bên cùng nhận TSBĐ khác về việc
xử lý tài sản theo quy định tại Điều 16 Nghị định 11/2012/NĐ-CP sửa đổi khoản 1
Điều 61 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP như sau: “trước khi xử lý tài sản bảo đảm,
người xử lý tài sản phải thông báo bằng văn bản về việc xử lý tài sản bảo đảm cho các bên cùng nhận bảo đảm khác theo địa chỉ được bên bảo đảm cung cấp hoặc đăng ký văn bản thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm”, sau đó tiến hành xử lý TSBĐ và thanh toán
tiền thu được từ việc cử lý TSBĐ theo thứ tự ưu tiên thanh toán theo Điều 60 Nghịđịnh số 163/2006/NĐ-CP
Bên xử lý TSBĐ có thể lựa chọn thông báo bằng văn bản trực tiếp cho các Bên