QUY TRÌNH ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM...20 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN B
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu, kết quảnêu trên trong luận văn là trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vịthực tập
Sinh viên thực hiện:
Vũ Thị Thúy
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC……….……ii
DANH MỤC VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU……… ……….… vi
LỜI MỞ ĐẦU………… 1
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÒI NGƯỜI BA TRONG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN……… 4
1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 4
1.1.1 Các loại rủi ro 4
1.1.2 Tổn thất 5
1.1.3 Điều kiện bảo hiểm 6
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 6
1.2.1 Trên thế giới 6
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.3 SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 9
1.3.1 Một số khái niệm cơ bản 9
1.3.2 Sự cần thiết của đòi người thứ ba trong BHHH XNK 11
1.3.3 Vai trò của đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển……… ……….……12
1.4 XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 13
Trang 31.4.1 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường 13
1.4.2 Căn cứ đòi người thứ ba 15
1.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN 18
1.5.1 Bắt nóng 19
1.5.2 Bắt nguội 19
1.6 QUY TRÌNH ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM 20
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN 21
2.1 VÀI NÉT VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN 21
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 21
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty 23
2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh trong những năm gần đây 25
2.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PTI ……… 27
2.2.1 Thuận lợi 27
2.2.2 Khó khăn 28
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PTI 30
2.3.1 Các hình thức đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển tại PTI 30
2.3.2 Quy trình đòi người thứ ba trong bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển tại PTI 35
Trang 42.3.3 Thực trạng công tác đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển
bằng đường biển tại PTI……… …42
2.3.4 Đánh giá công tác đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển tại PTI……… ……… 48
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN……… …… 52
3.1 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỤC TIÊU CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN TRONG NĂM 2013 52
3.2 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PTI 53
3.2.1 Bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ nhân viên thu đòi 53
3.2.2 Mở rộng mối quan hệ 54
3.2.3 Xây dựng một môi trường thương lượng thoải mái từ đó rút ngắn thời gian đòi người thứ ba 55
3.2.4 Nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ thủ tục khiếu nại 55
3.3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ……… ……… 58
3.3.1 Đối với Nhà nước 58
3.3.2 Đối với Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam 62
KẾT LUẬN 64
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC……….…66
Trang 5DANH MỤC VIẾT TẮT
DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểmKDBH : Kinh doanh bảo hiểmHĐKD : Hoạt động kinh doanhPTI : Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện
TMQT : Thương mại quốc tế
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
_
Bảng 2.1: Vốn góp của các cổ đông vào PTI 22
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của PTI………24Bảng 2.2: Doanh thu bảo hiểm gốc PTI từ năm 2008 – 2012 25Bảng 2.3: Doanh thu bảo hiểm gốc theo từng nghiệp vụ từ năm 2008 – 2012 25Bảng 2.4: Doanh thu bảo hiểm nhận tái qua các năm từ năm 2008 – 2012 26Bảng 2.5: Kết quả “bắt nóng” và “bắt nguội” của công tác đòi người thứ batrong BHHH XNKvận chuyển bằng đường biển tại PTI……… 34
Sơ đồ 2.2: Quá trình đòi người thứ ba 37 Bảng 2.6: Tình hình giải quyết khiếu nại đòi bồi thường trong BHHH XNK vậnchuyển bằng đường biển tại PTI từ năm 2009 – 2012……….42Bảng 2.7: Tình hình đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằngđường biển tại PTI từ năm 2009 – 2012 45 Bảng 2.8: Tổng quan giữa đòi người thứ ba và các khoản giảm trừ chi phíHĐKD bảo hiểm gốc trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển tại PTI.46Bảng 2.9: Tỷ lệ bồi thường trước và sau khi đòi người thứ ba trong BHHH XNKvận chuyển bằng đường biển tại PTI từ năm 2009-2012 ……….47
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường thế giới ngày nay mở rộng không ngừng, sự phân công laođộng và sự hợp tác quốc tế ngày càng phát triển Do đó yếu tố ngoại thương trởthành một đòi hỏi khách quan, một yếu tố không thể thiếu được của quá trình táisản xuất ở tất cả các nước Chính vì vậy mà hoạt động TMQT nói chung và bảohiểm hàng hải nói riêng chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên bên cạnh ưu điểm là khổi lượng vận chuyển lớn, giá cước thấp,vận chuyển hàng hải luôn phải đối phó với những rủi ro tự nhiên gắn liền vớitính chất sóng gió của biển cả Những rủi ro đó có thể dẫn đến những tổn thất rấtlớn do có sự tích tụ cao khối lượng hàng hóa vận chuyển trên cùng một con tàu
Xuất phát từ vấn đề đó, bảo hiểm hàng hải đã ra đời đầu tiên, đánh dấu sự
ra đời của bảo hiểm thương mại trên thế giới, nhằm đảm bảo các rủi ro cho hànghóa vận chuyển, cho tàu biển và cho trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển Đếnnay, giá trị giao dịch của các loại hình bảo hiểm hàng hải luôn chiếm tỷ trọng lớntrong doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ của nhiều quốc gia trên thế giới Tuynhiên đây là nghiệp vụ bảo hiểm rất khó và chịu nhiều tổn thất, rủi ro nếu xảy rathì thiệt hại là rất lớn Khi có tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm sẽ làm phátsinh trách nhiệm của các bên, trong trường hợp người thứ ba có lỗi, gây thiệt hạicho người được bảo hiểm, DNBH được vận dụng nguyên tắc thế quyền để đòingười thứ ba sau khi đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm Thực tếtrong những năm gần đây, ngành công nghiệp tàu thuỷ và hàng hải Việt Nam cónhững buớc phát triển vượt bậc kéo theo đó là một thị trường bảo hiểm hàng hảiphát triển mạnh mẽ, trong khi công tác đòi người thứ ba của nghiệp vụ bảo hiểm
Trang 8này còn gặp nhiều khó khăn và những kết quả thu được vẫn chưa thực sự đápứng được những yêu cầu của thị trường bảo hiểm.
Nhận thức được vấn đề đó, sau một thời gian thực tập tại PTI em đã chọn
đề tài: "Hoàn thiện công tác đòi người thứ ba trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện” làm luận văn tốt nghiệp.
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện công tác đòingười thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty
Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện từ năm 2009- 2012
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp giới thiệu và phân tích thực trạng công tác đòi ngườithứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển của Tổng Công ty Cổphần Bảo hiểm Bưu điện nhằm chỉ ra những thuận lợi cũng như những hạn chế,khó khăn mà Tổng Công ty đang gặp phải trong công tác đòi người thứ ba Trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác đòi người thứ batrong BHHH XNK
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn tốt nghiệp được nghiên cứu dựa trên phương pháp duy vật biệnchứng, duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá đối tượng, kết hợp phân tích lý luận
và phân tích thực tiễn Ngoài ra, luận văn tốt nghiệp còn sử dụng các phươngpháp khác như: phương pháp thống kê, so sánh, phân tích để đánh giá đối tượngnghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn tốt nghiệp
Trang 9Ngoài các phần Danh mục bảng biểu, Danh sách viết tắt, Mục lục, Lời mởđầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn tốt nghiệp được kết cấugồm 3 phần như sau:
Chương 1: Những lý luận về đòi người thứ ba trong bảo hiểm hàng hóa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
Chương 2: Thực trạng công tác đòi người thứ ba trong bảo hiểm hàng hóa
xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty Cổ phần Bảohiểm Bưu điện
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác đòi người thứ ba trong bảo hiểm
hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại Tổng Công ty Cổ phầnBảo hiểm Bưu điện
Qua đây, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS., TS Hoàng Mạnh Cừ,phó Khoa Ngân Hàng - Bảo Hiểm, giảng viên bộ môn bảo hiểm, Trường HọcViện Tài Chính, cùng Ban lãnh đạo và các anh chị trong Ban Bảo hiểm Hàng hảicủa Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện đã giúp đỡ tận tình và tạo điềukiện cho em hoàn thành luận văn này
Là một sinh viên năm cuối, mặc dù được trang bị những kiến thức cơ bảnsong do trình độ nhận thức cũng như kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nênluận văn không tránh khỏi được những thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiếnđóng góp chân thành của các thầy cô cùng toàn thể các bạn để luận văn này đượchoàn thiện hơn
Trang 10CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÒI NGƯỜI BA TRONG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.1 NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BHHH XNK VẬN CHUYỂNBẰNG ĐƯỜNG BIỂN
BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển là một trong những nghiệp vụbảo hiểm ra đời sớm nhất trên thế giới Vì vậy, nội dung của nghiệp vụ này đãtương đối thống nhất cả về đối tượng, phạm vi, điều kiện bảo hiểm cũng như xácđịnh trách nhiệm của các bên liên quan khi xảy ta rủi ro, tổn thất
1.1.1 Các loại rủi ro
Trong quá trình vận chuyển bằng đường biển, hàng hóa có thể chịu tácđộng bởi nhiều rủi ro Rủi ro hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờtrên biển gây ra, làm tổn thất hàng hóa và phương tiện chuyên chở Tùy theo cáctiêu chuẩn phân loại khác nhau mà rủi ro hàng hải bao gồm nhiều loại và đãđược ngành bảo hiểm quốc tế, đặc biệt là thị trường bảo hiểm Anh phân tích rất
kỹ từ hàng trăm năm nay
Theo nguyên nhân xảy ra rủi ro thì rủi ro hàng hải bao gồm: rủi ro thiên tai(bão, lốc, sét ) mà con người không chống lại được; rủi ro do tai nạn bất ngờtrên biển (chìm đắm, mắc cạn, đâm va, cháy nổ); rủi ro do hành động của conngười (trộm cắp, chiến tranh, đình công, bắt giữ, tịch thu ); một số rủi ro khác(rủi ro lúc xếp, dỡ hàng, hàng bị nhiễm mùi, lây bẩn )
Theo nghiệp vụ bảo hiểm thì rủi ro hàng hải lại bao gồm: rủi ro thôngthường được bảo hiểm (đâm va, mắc cạnh, chìm đắm, bão, sóng thần, lốc ); rủi
ro không được bảo hiểm (các loại rủi ro bị loại trừ vĩnh viễn trong tất cả cáctrường hợp: sai sót của bản thân người được bảo hiểm, bao bì không đúng quy
Trang 11cách, hoạt động XNK không hợp pháp ); rủi ro có thể được bảo hiểm (chiếntranh, đình công, bạo loạn ).
1.1.2 Tổn thất
Tổn thất trong nghiệp vụ BHHH XNK là những hư hỏng (damage), mấtmát (loss) của hàng hóa được bảo hiểm do rủi ro gây ra Nhà bảo hiểm chỉ bồithường những tổn thất mà nguyên nhân trực tiếp gây ra là do các rủi ro được bảohiểm Vì vậy, việc xác định nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp gây nên tổn thất
là rất quan trọng với cả người tham gia bảo hiểm và nhà bảo hiểm
Căn cứ theo mức độ tổn thất, tổn thất được phân làm 2 loại:
- Tổn thất toàn bộ (Total Loss) là toàn bộ đối tượng được bảo hiểm theomột hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát Tổn thất toàn bộ bao gồm 2 loại:tổn thất toàn bộ thực tế và tổn thất toàn bộ ước tính
- Tổn thất bộ phận (Partial Loss): là một phần đối tượng được bảo hiểmtheo một hợp đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát
Căn cứ theo trách nhiệm bảo hiểm, tổn thất được chia làm 2 loại:
- Tổn thất chung (general average): là tổn thất xảy ra xuất phát từ một
hành động tự nguyện, có chủ ý được căn nhắc cẩn thận từ trước gọi là hành độngtổn thất chung nhằm mục đích hạn chế tổn thất lớn hơn sẽ xảy ra ảnh hưởng đếntất cả các quyền lợi có mặt trên chuyến hành trình Tổn thất này có thể là tổn thấttoàn bộ hoặc tổn thất bộ phận Tổn thất chung bao gồm 2 bộ phận chủ yếu là hysinh tổn thất chung và chi phí tổn thất chung
- Tổn thất riêng (particular average): là tổn thất xẩy ra chỉ liên quan đến
từng quyền lợi và do rủi ro bất ngờ ngây nên Loại tổn thất này xảy ra với chủhàng nào thì chủ hàng đó phải tự gánh chịu Tổn thất riêng có thể là tổn thất toàn
bộ hoặc bộ phận
Trang 121.1.3 Điều kiện bảo hiểm
Điều kiện bảo hiểm là những điều quy định về phạm vi trách nhiệm củanhà bảo hiểm đối với những tổn thất xảy ra với hàng hóa được bảo hiểm Theo
đó, chỉ những rủi ro, tổn thất xảy ra như đã quy định trong điều kiện bảo hiểmtương ứng đã tham gia thì mới được bồi thường
Nội dung các điều kiện bảo hiểm trong nghiệp vụ BHHH XNK vậnchuyển bằng đường biển được quy định trong các điều khoản của Học việnLuân-đôn (Institute of London Underwrites – ILU) Thực tế, ILU đã xuất bản bộđiều kiện BHHH năm 1963 (ICC 1963) Sau đó, cùng với sự phát triển củanghiệp vụ này, ILU đã cho ra đời bộ điệu kiện bảo hiểm mới vào ngày01/01/1982 (ICC 1982) Qua thực tế áp dụng, người ta thấy rằng nội dung củacác điểu khản ICC 1982 còn nhiểu tồn tại đòi hỏi phải có sự đổi mới Do vậy,
Ủy ban kĩ thuật và điều khoản thuộc Hiệp hội bảo hiểm London đã soạn thảocác điều khoản mới ICC 2009 trên tinh thần có kế thừa và cố gắng khắc phụcnhững điểm yếu của ICC 1982 (Institute Cargo Clauses 2009), ban hành01/01/2009
ICC năm 2009 bao gồm 2 loại điều kiện bảo hiểm: các điều kiện bảo hiểmthông thường: A,B,C; các điều kiện bảo hiểm đặc biệt: điều kiện bảo hiểm chiến
tranh, điều kiện bảo hiểm đình công.(chi tiết được đính kèm ở phụ lục 01)
1.2 LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜITHỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.2.1 Trên thế giới
Bảo hiểm hàng hải là hình thức bảo hiểm đầu tiên, có thể nói cho vay mạohiểm là hình thức ban đầu của bảo hiểm hàng hải, trong đó người cho vay cungcấp tài chính cho một chuyến đi biển, dựa trên sự an toàn của con tàu đó Điềunày có thể thấy ở thời xưa những con người Babilon, người Phonixi và người
Trang 13Hindu cổ đại đã thực hiện hình thức cung cấp tài chính này Ngày nay, cho vaymạo hiểm chỉ được sử dụng như một biện pháp khẩn cấp nhằm hoàn thành mộtchuyến đi vận chuyển bằng đường biển.
Lịch sử đã cho thấy người La Mã là những người đầu tiên sử dụng bảohiểm hàng hải để tránh các tổn thất do hiểm họa của hàng hải ngây ra Cách thựcbảo hiểm này còn được phát triển trong lĩnh vực quân sự, khi những người cungứng hậu cần yêu cầu nhà cầm quyền La Mã chấp nhận bồi thường tổn thất gây ra
do chiến trận hoặc điều kiện thời tiết bất lợi Hình thức bảo hiểm hiện đại đượcphát triển từ thế kỉ 13 ở Italia Bản hợp đồng bảo hiểm hàng hải cổ nhất được kívào ngày 23/10/1347 bảo hiểm cho tàu buôn Santa Clara trong hành trình từGenoa đến Majoca Đến thế kỉ thứ 17, hình thức bảo hiểm của tư nhân đã đượcphát triển ở Anh và trong những thập kỉ tiếp theo các công ty bảo hiểm đã pháttriển mạnh Tuy nhiên những công ty bảo hiểm hàng hải cá nhân thường không
có khả năng đảm bảo toàn bộ giá trị của chuyến đi Do các nhà buôn tự cảm thấykhông an toàn và để đáp ứng nhu cầu này của các chủ tàu, việc thành lập câu lạc
bộ là tập hợp nhiều nhóm chủ tàu và đã thực hiện bảo hiểm có hiệu quả các tàubiển với nhau Ngày nay các công ty bảo hiểm vẫn còn áp dụng dịch vụ củamình dựa trên nguyên tắc cộng đồng các thành viên để bảo hiểm cho nhau
Tuy nhiên, những tổn thất xảy ra với hàng hóa còn có yếu tố chủ quan làcon người Trong quá trình vận chuyển khi tàu vào cảng đến trong hợp đồng, chủtàu vì nhiều lý do khác nhau có thể giao thiếu hàng hoặc hàng hóa trên tàu bị hưhỏng, mất mát Khi đã xác định được trách nhiệm thuộc về chủ tàu thì chủ tàuhay người vận chuyển phải có trách nhiệm đối với những tổn thất đó BHHH khimới ra đời chỉ đơn thuần là việc trả tiền bồi thường cho tổn thất của người đượcbảo hiểm Nhưng khi những tổn thất này xảy ra ngày càng nhiều, số tiền bồithường trong nhiều vụ lại rất lớn, DNBH để giảm bớt gánh nặng khi bồi thường
Trang 14đã biết cách đi thương lượng, đòi phần trách nhiệm của người gây ra tổn thất.Trong KDBH, việc làm đó được gọi “ đòi người thứ ba” Không ai có câu trả lờichính xác “ đòi người thứ ba” có từ bao giờ, chỉ biết rằng sự ra đời và phát triểncủa đòi người thứ ba gắn liền với sự phát triển của BHHH Thời gian đầu, việcđòi người thứ ba còn gặp nhiều khó khăn bởi đã ảnh hưởng tới quyền lợi cho mỗibên, trong quá trình thương lượng họ luôn muốn trách nhiệm của mình là nhỏnhất, chính vì vậy mà kết quả đòi không như ý muốn, dần dần khi vấn đề thươnglượng là không thể, các DNBH để bảo đảm quyền lợi của mình đã biết cáchkhiếu nại, khởi kiện bên thứ ba Hàng hóa XNK thường được tham gia bảo hiểmvới số tiền lớn, do đó khi có tổn thất xảy ra trong nhiều trường hợp DNBH sẽphải bồi thường với số tiền không nhỏ Vì vậy, công tác đòi người thứ ba có vaitrò rất quan trọng trong nghiệp vụ BHHH XNK cũng như kết quả kinh doanh củatoàn doanh nghiệp Hiện nay trên thế giới đã có nhiều tổ chức chuyên tiến hànhđòi hộ, việc đòi người thứ ba trong bảo hiểm nói chung và trong BHHH nóiriêng đã phát triển nhanh chóng.
Nam-Năm 1965, khi Bảo hiểm Việt Nam đi vào hoạt động, Bộ Tài Chính đãban hành quy tắc chung (QTC-1965) về BHHH vận chuyển bằng đường biển.Trong giai đoạn đầu khi BHHH chưa phát triển, đội tàu thủy Viêt Nam chưađược chú trọng thì việc đòi người thứ ba trong BHHH chưa được đề cập đến
Trang 15Trong những năm về sau khi BHHH phát triển thì công tác đòi người thứ ba đãhình thành trong các doanh nghiệp, việc đòi còn nhỏ lẻ, chưa chuyên nghiệp,không có tổ chức nào tiến hành đòi hộ nhưng những kết quả đạt được đã khẳngđịnh bảo hiểm Việt Nam đã và đang xây dựng một thị trường bảo hiểm theo xuhướng phát triển của thế giới Đến năm 1990, để phù hợp với sự phát triển củahàng hải và thương mại, Bộ Tài Chính lại ban hành quy tắc chung mới về BHHHvận chuyển bằng đường biển (QTC-1990) Sau đó, Tổng Công ty Bảo hiểm ViệtNam đã ban hành quy tắc chung về BHHH vận chuyển bằng đường biển QTC-
Bộ Luật hàng hải Việt Nam năm 2005 là một văn bản pháp lý quan trọng
để điều chỉnh hoạt động BHHH vận chuyển nói chung và bảo hiểm hàng hải nóiriêng Nội dung về BHHH chuyển bằng đường biển được quy định cụ thể trongchương XVI về Hợp đồng bảo hiểm hàng hải (từ điều 224 đến điều 257)
Luật KDBH năm 2005 cùng với Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005 là cơ sởpháp lý chủ yếu để điều chỉnh các vấn đề BHHH vận chuyển bằng đường biểncũng như công tác đòi người thứ ba
1.3 SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONGBHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.3.1 Một số khái niệm cơ bản
Thế quyền
Một điều rất hợp lý là: sau khi công ty bảo hiểm đã thanh toán bồi thườngcho người được bảo hiêm, và một bên khác phải chịu trách nhiệm đối với các chi
Trang 16phí tổn thất, thì bên thứ ba này chắc chắn sẽ không tránh được trách nhiệm tàichính của mình Vì vậy, sau khi thanh toán bồi thường khiếu nại, công ty bảohiểm sẽ được thanh toán mọi quyền lợi hợp pháp của người được bảo hiểm choviệc sửa chữa tổn thất.
Thế quyền là quyền của một người, sau khi đã bồi thường cho một người khác theo bổn phận pháp lý, có thể thay thế vị trí của người đó, cũng như được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp của người đó, bất chấp đã có hiệu lực hay chưa.
Thế quyền (Subrogation): trong mọi trường hợp người thứ ba có lỗi gây
thiệt hại cho bên được bảo hiểm và bên bảo hiểm đã trả tiền bảo hiểm cho bênđược bảo hiểm, thì bên bảo hiểm có quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoảntiền mà mình đã trả Bên được bảo hiểm có nghĩa vụ phải cung cấp cho bên bảohiểm mọi tin tức, tài liệu, bằng chứng cần thiết mà mình biết để bên bảo hiểmthực hiện quyền yêu cầu đối với người thứ ba
Về nguyên tắc, DNBH chỉ được phép vận dụng thế quyền sau khi đã giảiquyết bồi thường cho người được bảo hiểm Tuy nhiên vẫn có thể có trường hợpDNBH thực hiện đòi người thứ ba trước khi bồi thường cho người được bảohiểm Điều này xuất phát từ một thực tế là vẫn phát sinh những tình huống phảitrì hoãn việc thanh toán bồi thường vì những lý do chính đáng và việc chậm trễtrong thực hiện quyền đòi người thứ ba sẽ có hại cho lợi ích của DNBH
Người thứ ba
Người thứ ba là người kế tục về quyền và nghĩa vụ của chủ thể trước Họ
sẽ là người thế quyền nếu thay thế người có quyền, là người thế nghĩa vụ nếuthay thế người có nghĩa vụ
Trong bảo hiểm tài sản, người thứ ba là người có lỗi làm cho tài sản đượcbảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, hoặc làm phát sinh chi phí cho người được bảohiểm Cụ thể trong BHHH XNK vận chuyển băng đường biển người thứ ba bao
Trang 17gồm các đối tượng sau: Người vận chuyển, người bốc xếp, dỡ hàng, chủ tàu,người nhận ủy thác hàng hóa, các cảng cho thuê kho
Công tác đòi người thứ ba ở mỗi DNBH là khác nhau và thường rất khókhăn, phức tạp, nhiều đơn vị vì đặc điểm kinh doanh của mình mà không trựctiếp tiến hành công tác đòi người thứ ba, thay vào đó họ có thể thuê các tổ chứcchuyên về nghiệp vụ này, hoặc những vụ nào khả năng thành công thấp, cũngnhư chi phi thuê quá tốn kém các doanh nghiệp phải tiến hành đóng hồ sơ
1.3.2. Sự cần thiết của đòi người thứ ba trong BHHH XNK
Trong HĐKD, công tác đòi người thứ ba trong BHHH XNK lại càng cấpthiết hơn, cụ thể là:
- Kinh tế xã hội phát triển, nhu cầu giao lưu kinh tế - chính trị - văn hóa - xãhội tăng nhanh Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, lượng hàngxuất khẩu nhập khẩu càng ngày càng nhiều về số lượng, phong phú về chủng loại
và có giá trị ngày càng lớn Chính vì vậy mà những tổn thất xảy ra trong BHHHXNK có giá trị rất lớn, vì vậy mà các DNBH phải tìm cách giảm số tiền bồithường, để làm tăng kết quả kinh doanh của doanh nghiệp mình Để giảm số tiềnbồi thường thuộc về trách nhiệm của doanh nghiệp mình, DNBH có thể tham giahoạt động nhượng tái bảo hiểm Ngoài ra DNBH sau khi bồi thường, được thếquyền người được bảo hiểm để tiến hành đòi người thứ ba Việc đòi người thứ bađạt kết quả cao góp phần làm giảm số tiền bồi thường cho nghiệp vụ đó, từ đólàm cho tỷ lệ bồi thường giảm xuống Tỷ lệ bồi thường giảm giúp cho việc đánhgiá hiệu quả kinh doanh của nghiêp vụ là tốt Vì vậy, mỗi DNBH phải đẩy mạnhcông tác đòi người thứ ba
- Vận chuyển bằng đường biển gặp rất nhiều rủi ro Các rủi ro nàu có thể docác yếu tố tự nhiên, yếu tố kĩ thuật hoặc yếu tố xã hội con người Những rủi ro
do con người gây ra sẽ phát sinh trách nhiệm đối với tổn thất hàng hóa Sở dĩ,
Trang 18trong BHHH người ta phải lưu ý đến yếu tố này vì không thể một người thựchiện hành vi trái pháp luật gây ra tổn thất cho người khác rồi tổn thất nàyDNBH gánh chịu thay Trong BHHH, việc gánh chịu tổn thất của DNBH là sựgánh chịu cho người mua bảo hiểm chứ không phải cho người gây ra tổn thất.Như vậy, có thể hiểu, khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại đối với ngườikhác họ sẽ phải có trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do mình gây ra Vìthế, trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển, khi phát sinh trách nhiệmcủa bên thứ ba đối với hàng hóa bị tổn thất, DNBH phải tiến hành đòi phầntrách nhiệm của người thứ ba.
- BHHH XNK đã có lịch sử rất lâu đời nên việc đòi người thứ ba trongBHHH XNK vận chuyển bằng đường biển không chỉ là nhu cầu cần thiết mà đãtrở thành một nguyên tắc, một công đoạn trong BHHH
1.3.3 Vai trò của đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển
Hàng hóa XNK vận chuyển bằng đường biển phải thông qua người vậnchuyển, tức là cả người mua và người bán đều không trực tiếp kiểm soát đượcnhững tổn thất có thể gây ra cho hàng hóa của mình Và theo hợp đồng vậnchuyển thì người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm về tổn thất hàng hóa trongmột phạm vi, giới hạn nhất định vì vậy để giảm rủi ro trong kinh doanh họthường phải mua bảo hiểm cho hàng hóa Để đáp ứng nhu cầu thị trường bảohiểm, hiện nay các doanh nghiệp không ngừng bổ sung các sản phẩm dịch vụbảo hiểm khác nhau Mỗi loại hình bảo hiểm khi ra đời đều có những vai trò nhấtđịnh đối với quốc gia, với DNBH và với người mua bảo hiểm Trong mỗi loạisản phẩm lại áp dụng các nguyên tắc khác nhau, công tác đòi người thứ ba trongBHHH XNK vận chuyển bằng đường biển hay là việc áp dụng nguyên tắc thếquyền
Trang 19Thế quyền được áp dụng trong trường hợp có một bên thứ ba liên quanđến tổn thất Lúc này, để tránh tình trạng người được bảo hiểm có thể trục lợibằng cách đòi tiền từ nhà bảo hiểm lẫn người gây ra tai nạn, nguyên tắc này sẽ
áp dụng để cho phép DNBH thay mặt người được bảo hiểm đòi quyền lợi từ bênthứ ba Ngoài ra, nguyên tắc này cũng giúp DNBH thu hồi lại một chút vốn liếngsau tổn thất, làm giảm số tiền bồi thường thực tế, nâng cao kết quả kinh doanh.Trong trường hợp tổn thất xảy ra, nếu người được bảo hiểm đã nhận tiền bảohiểm nhưng ít hơn so với thiệt hại do bên thứ ba gây ra thì bên được bảo hiểm cóquyền yêu cầu người thứ ba bồi thường phần chênh lệch giữa số tiền bảo hiểm vàtiền bồi thường thiệt hại Việc thu đòi người thứ ba giúp cho người được bảohiểm giảm bớt gánh nặng về mặt tài chính khi xảy ra tổn thất
Thế quyền là biện pháp mà luật pháp cho phép áp dụng nhằm tránh việckiếm lời không hợp lý từ việc tham gia bảo hiểm của người được bảo hiểm cũngnhư DNBH và tăng thu ngoại tệ cho nhà nước trong trường hợp chủ tàu là ngườinước ngoài
1.4 XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNKVẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
1.4.1 Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường
Trong bảo hiểm tài sản, muốn áp dụng nguyên tắc thế quyền hay còn cóthể gọi là chuyển giao quyền đòi bồi thường thì người được bảo hiểm phải chứngminh được tổn thất của người được bảo hiểm là do lỗi cuả bên thứ ba Trong BộLuật Dân Sự, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tạiKhoản 1, Điều 604 Bộ Luật Dân Sự quy định:
“Người nào do lỗi cố ý hoặc vô ý xâm pham đến tính mạng sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân; xâm
Trang 20phạm danh dự nhân phẩm, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”.
Theo quy định này, thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh khi có
đủ 4 yếu tố sau:
1 Phải có thiệt hại xảy ra
Thiệt hại bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất về tinh thần.a) Thiệt hại về vật chất bao gồm: thiệt hại do tài sản bị xâm phạm quyđịnh tại Điều 608 Bộ Luật Dân sự; thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy địnhtại khoản 1 Điều 609 Bộ Luật Dân sự; thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm quyđịnh tại khoản 1 Điều 610 Bộ Luật Dân sự; thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uytín bị xâm phạm quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ Luật Dân sự
b) Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khỏe,danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tínhmạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đauthương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè
xa lánh do bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắptổn thất mà họ phải chịu Thiệt hại do tổn thất về tinh thần của pháp nhân và cácchủ thể khác không phải là pháp nhân (gọi chung là tổ chức) được hiểu là dodanh dự, uy tín bị xâm phạm, tổ chức đó bị giảm sút hoặc mất đi sự tín nhiệm,lòng tin vì bị hiểu nhầm và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắptổn thất mà tổ chức phải chịu
2 Phải có hành vi trái pháp luật
Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ thể của con người được thể hiệnthông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật
Trang 213 Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái phápluật Thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngượclại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại.
4 Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại
a) Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi củamình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặckhông mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra
b) Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vicủa mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệthại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưngcho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
Cần chú ý là đối với trường hợp pháp luật có quy định việc bồi thường thiệthại cả khi không có lỗi, thì trách nhiệm bồi thường của người gây thiệt hại trongtrường hợp này được thực hiện theo quy định của văn bản quy phạm pháp luậtđó
1.4.2 Căn cứ đòi người thứ ba
án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại,…
+ Điểm e, khoản 1, Điều 17; Điều 49 Luật KDBH năm 2005
+ Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển ngày 27 tháng 8 năm 2008 quy định
về phạm vi, đối tượng, thẩm quyền, trình tự thủ tục bắt giữ tàu biển để đảm bảo
giải quyết khiếu nại khi có xẩy ra tranh chấp (xem chi tiết ở phụ luc 02)
Trang 22Căn cứ đòi người thứ ba không chỉ chịu sự điều chỉnh của luật pháp ViệtNam mà nó chịu sự điều chỉnh rất lớn của các tập quán và thông lệ quốc tế Tậpquán là những thói quen, phong tục được áp dụng một cách thường xuyên vớinội dung rõ ràng để dựa vào đó các bên xác định hành vi tương xứng, có thểthành văn hoặc bất thành văn Có rất nhiều quy tắc, thông lệ quốc tế chi phốiquan hệ TMQT như: UCP điều chỉnh các quan hệ trong giao dịch sử dụngphương thức tín dụng chứng từ, URR điều chỉnh các quan hệ trong giao dịch sửdụng phương thức thanh toán nhờ thu, Incoterms (International CommerceTerms – các điều kiện TMQT) cũng là một trong những quy tắc như vậy Đây làquy tắc chính thức của Phòng thương mại quốc tế (ICC) nhằm giải thích thốngnhất các điều kiện thương mại, thông qua đó tạo điều kiện cho các giao dịchTMQT diễn ra thuận lợi, trôi chảy Người làm công tác BHHH cần thiết phảinắm được những quy định này để biết đạo lý của việc nhận bảo hiểm cho nhữngrủi ro nào, không nhận bảo hiểm cho những rủi ro nào và trường hợp nào thì cóthể vận dụng nguyên tắc thế quyền để đòi người thứ ba.
- Căn cứ đòi đòi người thứ ba
+ Người thứ ba là người có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc làngười có hành vi trái pháp luật và gây ra thiệt hại cho người được bảo hiểm
+ Công ty bảo hiểm đã bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm.+ Người được bảo hiểm đã có văn bản thế quyền, chuyển quyền yêu cầubồi hoàn cho công ty bảo hiểm
+ Người được bảo hiểm đã thông báo cho người thứ ba biết về việc đã thếquyền cho công ty bảo hiểm truy đòi khoản tiền bồi thường thiệt hại
- Văn bản thế quyền
+ Hình thức: Bằng văn bản
Điều 301 Bộ luật Dân sự quy định:
Trang 231 Việc chuyển giao quyền yêu cầu được thể hiện bằng văn bản hoặc lời nói.
2 Trong trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao quyền yêu cầu
phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo quy định đó.
- Nội dung: Văn bản thế quyền phải thể hiện được các nội dung chủ yếu sau:+ Tên, địa chỉ của người có quyền
+ Tên, địa chỉ của bên nhận thế quyền
+ Đồng ý chấp thuận số tiền bên nhận thế quyền đã trả và không khiếunại gì về vụ tổn thất nữa
+ Cam đoan của bên thế quyền: Chuyển hoàn toàn quyền khiếu nại bênthứ ba cho bên nhận thế quyền, hỗ trợ bên nhận thế quyền trong quá trình đòingười thứ ba Tài sản đã được bồi thường không được bảo hiểm theo bất kỳ đơnbảo hiểm nào khác ngoài đơn bảo hiểm tại bên nhận thế quyền; chưa nhận tiềncủa bên thứ ba và không đòi tiền của bên thứ ba sau khi đã thế quyền cho bênnhận thế quyền
+ Người được bảo hiểm đã thông báo cho người thứ ba biết về việc đãthế quyền cho công ty bảo hiểm truy đòi khoản tiền bồi thường thiệt hại (Khoản
2, Điều 309 Bộ Luật Dân sự năm 2005)
Tuy nhiên trong trường hợp hàng hóa bị mất mát hư hỏng trong tìnhhuống “bất khả kháng” hoặc do những nguyên nhân ngoài tầm kiểm soát của chủtàu hay người thuê tàu (gọi chung là người vận chuyển), họ sẽ được hưởngquyền miễn trách về những thiệt hại đó, khi đó DNBH sẽ không đòi người thứ bađược nữa, dù đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm
Chủ tàu được hưởng 17 miễn trách theo công ước Brussels 1924 hay
Khoản 2, Điều 78 Bộ Luật Hàng hải Việt Nam.(xem chi tiết ở phụ lục số 3)
Trang 24Trường hợp hàng hóa bị hư hỏng, mất mát do lỗi của người vận chuyển,chủ hàng được quyền khiều nại đòi bồi thường người vận chuyển Nếu DNBHnhận bồi thường cho chủ hàng những thiệt hạ đó thì DNBH được thế quyền chủhàng đòi người vận chuyển Tuy nhiên theo một số công ước quốc tế, người vậnchuyển được quyền áp dụng “giới hạn trách nhiệm” khi bồi thường những thiệthại về hàng hóa Giới hạn trách nhiệm của người chuyên chở là số tiền lớn nhất
mà người chuyên chở phải bồi thường cho một kiện hàng hay một đơn vị hànghóa nếu tính chất và giá trị của hàng hóa không được kê khai và ghi trên vận đơntrước khi xếp hàng xuống tàu Giới hạn trách nhiệm này quy định tại công ướcBruseles 1924 là 100 bảng Anh/1 kiện hàng, Quy tắc Hague Visby 1968 là10.000 Frăng vàng/1 kiện hoặc 30 Frăng/1kg hàng hóa, Công ước Hamburg
1987 là 835 SDR/1 kiện hoặc 2,5 SDR/1kg hàng hóa
1.5 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNKVẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
Trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển, thông thường chủ tàu làngười trực tiếp tham gia vận chuyển lô hàng và chịu trách nhiệm về những tổnthất hàng hóa do tàu gây ra trong quá trình vận chuyển Vì vậy, đòi người thứ batrong BHHH chủ yếu là đòi các chủ tàu, tiến hành việc bắt giữ tàu Bắt giữ tàubiển là việc không cho phép tàu biển di chuyển hoặc hạn chế di chuyển tàu biểnbằng quyết định của Tòa án có thẩm quyền để bảo đảm giải quyết khiếu nại hànghải, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, theo yêu cầu của cơ quan thi hành ándân sự hoặc theo ủy thác tư pháp của Tòa án nước ngoài Nếu chủ tàu chứngminh được tổn thất về hàng hóa nói trên là do những nguyên nhân khách quannhư thời tiết, hàng hóa trong quá trình xếp lên tàu không đảm bảo chất lượng ,trong nhiều trường hợp sẽ được giảm hoặc miễn trách nhiệm đối với những tổn
Trang 25thất xảy ra Trong quá trình đòi người thứ ba, hai phương phương pháp được ápdụng chủ yếu đó là ‘bắt nóng” và bắt nguội”.
1.5.1 Bắt nóng
Bắt nóng được áp dụng khi phát hiện tổn thất hoặc hư hỏng hàng hóa lớnngay tại cảng dỡ Sau khi giám định viên xác định được mức độ và nguyên nhântổn thất, DNBH được sự ủy quyền của chủ hàng làm thư khiếu nại chủ tàu vàyêu cầu chủ tàu cấp bảo lãnh, nếu chủ tàu không đáp ứng các yêu cầu thì tiến
hành bắt giữ tàu tạm thời theo quy định của Chương III về “thủ tục áp dụng, hủy
bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời bắt giữ tàu biển”- Pháp lệnh thủ tục bắt giữ tàu biển, không cho tàu rời khỏi khu vực quốc gia, chỉ được lưu hành trong phạm vi
cho phép để tiến hành giải quyết các tranh chấp Dạng khiếu nại này đạt hiệu quảcao và dễ thực hiện hơn vì chủ hàng và người bảo hiểm xác định mức độ vànguyên nhân tổn thất ngay trong quá trình dỡ hàng tại cảng để có cơ sở bắt tàu
và yêu cầu chủ tàu bồi thường
1.5.2 Bắt nguội
Sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, DNBH nhận thế quyền vàtiến hành đòi người thứ ba Việc đòi do doanh nghiệp trực tiếp làm hoặc có thểthuê các tổ chức pháp luật đòi hộ Khi đã có các thủ tục thế quyền cần thiết,DNBH gửi thư khiếu nại cho chủ tàu, đề nghị chủ tàu trả khoản tiền thuộc tráchnhiệm của họ Việc thương lượng thường mất nhiều thời gian và kết quả khôngcao, trong quá trình thương lượng khi thấy chủ tàu nhiều lần cố tình kéo dài thờigian, không có thiện ý trả, doanh nghiệp sẽ làm đơn khởi kiện gửi tóa án kèm
theo các giấy tờ cần thiết do tòa yêu cầu theo quy định của Chương IV về “ thủ
tục bắt giữ tàu biển,thả tàu biển đang bị bắt giữ để thi hành án” - Pháp lệnh thủ
tục bắt giữ tàu biển Khi gửi đơn khởi kiện lên tòa án, tòa án sẽ xem xét có thuộc
thẩm quyền của mình không, khi thuộc thẩm quyền của mình tòa sẽ thông báo
Trang 26tạm ứng án phí sơ thẩm DNBH sau khi nộp án phí sơ thẩm sẽ tham dự các phiêntòa hòa giải theo triệu tập của tòa án Quá trình thương lượng nếu thành công tạiphiên hòa giải thì tòa án sẽ ra quyết định hòa giải thành công Khi đó án phí màDNBH nộp sẽ được xung vào quỹ nhà nước Nếu quá trình hòa giải không đạtđược kết quả, tòa án sẽ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm và kết quả của phiên sơthẩm sẽ được tòa án thông báo.
Nếu bên thuê kiện không đồng ý kết quả sơ thẩm có quyền tiếp tục khiếunại tới tòa phúc thẩm để đạt được kết quả Quá trình khởi kiện tại tòa án thườngkéo dài và tốn kém nhiều chi phí phát sinh nên không hiệu quả bằng bắt giữ tàukhẩn cấp, việc bắt giữ tàu không tiến hành được do chủ tàu có trụ sở tại ViệtNam
1.6 QUY TRÌNH ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM
Quy trình đòi người thứ ba của một nghiệp vụ bảo hiểm trải qua nhiềukhâu, mỗi khâu đều có những quy trình thực hiện nhất định Một quy trình cụthể, chặt chẽ sẽ giúp cho quá trình đòi người thứ ba được tiến hành một cáchhiệu quả nhất Nhận thức được điều đó, các DNBH không ngừng nghiên cứu, bổsung sửa đổi để đưa ra một quy trình và chiến lược hiệu quả nhất Tuy nhiên, về
cơ bản, quy trình đòi người thứ ba trong nghiệp vụ BHHH XNK vận chuyểnbằng đường biển cũng giống như quy trình đòi người thứ ba các loại bảo hiểmkhác, bao gồm trình tự các bước sau:
1) Thu thập, kiểm tra và bổ sung hồ sơ2) Xem xét và phân cấp
3) Lập phương án4) Theo dõi và thương lượng5) Báo cáo kết quả
6) Thống kê, báo cáo và lưu giữ hồ sơ
Trang 27CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
TẠI TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
2.1 VÀI NÉT VỀ TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN 2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (tên tiếng Anh : Post andTelecommunication Joint Stock Insurance Corporation), tiền thân là Công ty Cổphần Bảo hiểm Bưu điện được được Bộ Tài chính cấp Giấy chứng nhận đủ tiêuchuẩn và điều kiện hoạt động KDBH số 10/TC/GCN ngày 18/06/1998, được Uỷban Nhân dân thành phố Hà Nội thành lập theo Giấy phép số 3633/GP-UB ngày01/8/1998 và Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp Giấy chứng nhậnđăng ký kinh doanh số 055051 ngày 12/8/1998 Kể từ khi đi vào hoạt động , PTI
đã đem đến cho khách hàng những sản phẩm dịch vụ thiết thực, có uy tín trên thịtrường Hiện nay, PTI đang thực hiện cung cấp cho khách hàng bao gồm cảkhách hàng cá nhân và khách hàng doanh nghiệp hơn 100 sản phẩm bảo hiểmthuộc 4 nhóm sản phẩm chính: Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm con người, Bảohiểm tài sản kỹ thuật và Bảo hiểm hàng hải
Sau gần 15 năm hoạt động, PTI đã từng bước khẳng định được vị thế củamình trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ PTI là một trong năm DNBH phinhân thọ hàng đầu tại Việt Nam, là công ty có tốc độ tăng trưởng bình quân ổnđịnh trong nhiều năm với lợi thế mạng lưới bán hàng và chăm sóc khách hànglớn nhất cả nước bao gồm 23 chi nhánh, gần 50 phòng ban giao dịch và 18,000điểm bán hàng tại các bưu điện, bưu cục trên toàn quốc Hàng năm, tổng doanhthu tăng trưởng từ 25-30% Năm 2011, PTI chính thức tham gia và ngôi nhà củanhững “đại gia” bảo hiểm với tổng doanh thu trên 1000 tỷ đồng, tăng 46% so với
Trang 28năm 2010 Dự kiên đến năm 2015, PTI có tổng doanh thu đạt tối thiểu 3.000 tỷđồng.
Từ ngày 30/6/2010, được sự chấp thuận của Bộ Tài chính, PTI chính thứcchuyển đổi sang mô hình Tổng công ty 25 Chi nhánh được chuyển đổi thành cácCông ty thành viên trực thuộc Đồng thời, Tổng công ty cũng đã hoàn thành quátrình tăng vốn điều lệ từ 300 tỷ lên hơn 500 tỷ đồng với sự tham gia của các cổđông:
Bảng 2.1: Vốn góp của các cổ đông vào PTI
3 Tổng Công ty Cổ phần Tái bảo hiểm
Quốc gia Việt Nam ( VINARE)
35.562.240.000 7,06
4 Tổng Công ty Xây dựng Hà Nôi
( HANCORD)
8.382.740.000 1,66
5 Công ty Cổ phần Thương mại Bưu
chính Viễn Thông ( COKYVINA)
10.469.300.000 2,08
PTI có khoảng 650 cán bộ nhân viên làm việc tại trụ sở chính và các công
ty thành viên, cùng mạng lưới gần 13000 đại lý viên Có được mạng lưới phânphối rộng lớn là do PTI đã triển khai bán lẻ các sản phẩm bảo hiểm thông qua hệthống bưu cục của Tổng Công ty Bưu chính (VNPost) trên toàn quốc
Trang 29PTI xác định không thỏa mãn với những kết quả đạt được trong hiện tại mà
sẽ tiếp tục hoàn thiện mình và nỗ lực không ngừng để vươn lên những tầm caomới Tổng Công ty đặt mục tiêu phấn đấu đạt vị trí TOP 3 các DNBH phi nhânthọ Việt Nam, liên tục đổi mới để có thể cạnh tranh nhằm củng cố vị trí số 1 vềbán lẻ Đồng thời, thông qua các HĐKD và xã hội, PTI mong muốn trở thànhmột doanh nghiệp có trách nhiệm với xã hội, đóng góp thiết thực vào nhữngchương trình phát triển cộng đồng
Các HĐKD của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện như:
a KDBH gốc: Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người; Bảo hiểm tàisản kỹ thuật; BHHH vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt
e Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Tổng công ty
Hiện nay, Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện đã thành lập cácphòng ban trực thuộc tại các tỉnh, thành thuộc phạm vi lãnh thổ Việt Nam nhằmphục vụ cho công tác kinh doanh khai thác các sản phẩm bảo hiểm PTI đangđược tổ chức và sắp xếp theo mô hình tổng công ty với các phòng, ban chứcnăng và các công ty thành viên
Đứng đầu PTI là Đại hội đồng cổ đông với sự tham gia gồm các lãnh đạocủa các cổ đông lớn trong Tổng công ty
Trang 30Từ Đại hội đồng cổ đông bầu cử ra Hội đồng quản trị trực tiếp quản lý vàđiều hành công ty Đứng đầu Hội đồng quản trị là Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị bầu ra Ban Giám đốc, đứng đầu là Tổng Giám đốc thaymặt Hội đồng quản trị tổ chức bộ máy nhân sự, các HĐKD của Tổng công ty; vàban kiểm soát, đứng đầu là Trưởng ban kiểm soát có nhiệm vụ thanh tra kiểmsoát, đảm bảo mọi hoạt động của các phòng, ban chức năng nghiệp vụ và cáccông ty thành viên đi đúng mục tiêu, định hướng mà Hội đồng quản trị đã đề ra
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy của PTI
Trang 312.1.3 Kết quả HĐKD trong những năm gần đây
(Nguồn: Tổng Công ty Cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện)
Nhìn vào bảng có thấy, doanh thu phí bảo hiểm gốc của Tổng Công tynăm sau đều tăng hơn năm trước, đặc biệt là năm 2008 với mức tăng trưởngnhảy vọt là 51,79% so với năm 2007, tuy nhiên do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính thế giới năm 2008, nên năm 2009 tốc độ tăng trưởng doanh thubảo hiểm gốc sụt giảm nghiêm trọng, chỉ đạt 0,31% so với năm 2008 Đến năm
2010, Doanh thu phí bảo hiểm gốc đã có bước tăng trưởng ngoạn mục với mứctăng lên tới mức 244,443 tỷ đồng so với năm 2009 Năm 2011, tiếp tục duy trì đàtăng trưởng này, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 55.16% so năm 2010, đạt1,069.81 tỉ đồng, hoàn thành 107% so với kế hoạch đặt ra đầu năm 2011 là 1,000
tỉ đồng Bước sang năm 2012, PTI đã đạt mục tiêu doanh thu trên 1500 tỷ đồng,
cụ thể là 1.663,194 tỷ, tăng trưởng 55,47% so với năm 2011
Bảng 2.3: Doanh thu bảo hiểm gốc theo từng nghiệp vụ từ năm 2008 – 2012
Trang 32Doanh thu phí bảo hiểm của từng nghiệp vụ bảo hiểm tăng nhưng khôngđều nhau Doanh thu phí bảo hiểm của sản phẩm thế mạnh là nhóm Tài sản - Kỹthuật tuy chiếm tỷ trong lớn nhưng lượng tăng lại không đáng kể Nhưng độtbiến năm 2012 thì trong bảo hiểm tài sản kĩ thuật, doanh thu phí tăng mạnh dothu được phí bảo hiểm cho Vinasat 2 Trong vài năm gần đây, doanh thu phí bảohiểm của nhiệp vụ bảo hiểm phi hảng hải tăng mạnh và vượt qua cả doanh thusản phẩm thế mạnh của doanh nghiệp.
2.1.3.2.Kết quả hoạt động nhận tái bảo hiểm
Bảng 2.4: Doanh thu bảo hiểm nhận tái qua các năm từ năm 2008 – 2012
(Đ vị: tỉ đồng )
1.Doanh thu phí nhận tái BH 36,904 38,049 49,000 62,000 89,583
2 Lượng tăng liên hoàn 9,675 1,145 10,951 13,000 27,583
(Nguồn: Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện)
Nhìn vào bảng trên cho thấy rằng, doanh thu tái bảo hiểm tăng lên từ năm
2008 đến năm 2012, tuy nhiên từ năm 2008 đến năm 2009 doanh thu tái bảohiểm có tốc độ tăng giá thấp (3%) nguyên nhân do cuộc khủng hoảng tài chínhthế giới năm 2008 Trong các sản phẩm mà PTI nhận tái, sản phẩm chủ yếu làbảo hiểm con người và bảo hiểm cháy, trong đó doanh thu tái bảo hiểm từ sảnphẩm bảo hiểm cháy luôn chiếm khoảng 50% tổng doanh thu nhận tái
2.1.3.3.Thị phần của PTI qua các năm
Giai đoạn năm 2008 – 2012 thị phần của PTI có tăng nhưng không đáng
kể Đến năm 2012, PTI đat mức thị phần đạt khoảng 8 % Dẫn đầu về thị phầnvẫn là các DNBH Bảo Việt, PVI, Bảo Minh, PJICO PTI hiện đang đứng thứnăm về thị phần bảo hiểm Phi nhân thọ Việt Nam Đây là một vị trí rất nổi bậtđối với một doanh nghiệp mới thành lập được hơn 10 năm Tuy nhiên, khoảng
Trang 33cách về quy mô doanh nghiệp và thị phần giữa PTI và 4 doanh nghiệp đứng đầungành là Bảo Việt, Bảo Minh, PVI và PJICO còn khá xa Nhìn chung, trongnhững năm qua, DNBH phi nhân thọ PTI luôn có tỷ trong doanh thu trên thịtrường là khá nhỏ bé, khoảng 4%.
Sở dĩ như vậy là do trong những năm qua PTI đã quá tập trung vào việccung cấp các dịch vụ bảo hiểm trong ngành Bưu Chính Viễn thông và một số cổđông khác, khai thác ngoài ngành còn rất khiêm tốn Do đó sau gần 15 năm hoạtđộng thị phần của PTI cũng không thay đổi nhiều và chưa thực sự tạo được uytín trên thị trường
2.2 NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG QUÁ TRÌNH ĐÒINGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNK VẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNGBIỂN TẠI PTI
2.2.1 Thuận lợi
- Luật KDBH năm 2005 cùng với Bộ Luật hàng hải Việt Nam 2005 đã tạo
ra một hành lang pháp lý rõ ràng cho các DNBH hoạt động, đây là sự hoàn thiệnhơn rất nhiều đối với một thị trường bảo hiểm còn non trẻ như Việt Nam Việcđòi người thứ ba trong bảo hiểm thường khó nên hay xảy ra việc tranh chấp,khiếu nại giữa các bên Để tạo điều kiện cho các DNBH, hiện nay các cấp lãnhđạo cũng như Hiệp hội bảo hiểm đã và đang hoàn thiện hành lang pháp lý, trong
đó đã có những quy định, điều khoản cũng như các quy tắc về việc xử lý khiếunại, tranh chấp trong công tác đòi người thứ ba
- Công tác đòi người thứ ba trong nghiệp vụ BHHH XNK vận chuyển bằngđường biển biển diễn ra khá phức tạp và liên quan đến nhiều đối tượng Trongnhững trường hợp đặc biệt, DNBH xem xét thuê công ty thu đòi độc lập, việctiến hành thuê các tổ chức này giúp cho Tổng Công ty có cơ hội học hỏi thêmnhững kiến thức, những kinh nghiệm; từ đó có thể hoàn thiện hơn công tác đòi
Trang 34người thứ ba Đây là thuận lợi có ý nghĩa chiến lược, bởi so với các nước trên thếgiới chúng ta còn nhiều hạn chế về chuyên môn nghiệp vụ, trình tự thủ tục và độingũ thu đòi viên chuyên nghiệp.
- Hiện nay, PTI là DNBH có đội ngũ cán bộ nhân viên, cũng như cán bộ đòingười thứ ba đồng đều về chuyên môn nghiệp vụ và được đánh giá là khá tốt.Đội ngũ lãnh đạo công ty và các phòng ban có thâm niên công tác lâu năm trongngành bảo hiểm, có kinh nghiệm quản lý và kinh doanh Các nhân viên ở tất cảcác phòng ban đều được đào tạo căn bản, có khả năng thích ứng với công việc vàđáp ứng yêu cầu được giao Đây có thể nói là những thuận lợi của PTI về mặtnhân sự, có ảnh hưởng tới sự tăng trưởng của doanh nghiệp trong thời gian qua
- Các cán bộ nhân viên đòi người thứ ba có mối quan hệ thân thiết đối vớicác cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính, công ty thu đòi thuê tạo thuận lợicho công tác đòi người thứ ba được diễn ra nhanh chóng, đem lại kết quả cao
- Ban lãnh đạo tổng công ty luôn tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộnhân viên cũng như cán bộ trong công tác đòi người thứ ba, hoàn tất thủ tục hồ
sơ khiếu nại, khởi kiện trong thời gian nhanh nhất Khen thưởng kịp thời thỏađáng cho những cán bộ công nhân viêc có thành tích tốt, hoàn thiện nhiệm vụđược giao, có nhiều sự đóng góp cho sự phát triển của PTI nói chung cũng nhưBan Bảo hiểm Hàng hải nói riêng
2.2.2 Khó khăn
Đòi người thứ ba là công việc rất phức tạp, đòi hỏi phải có kinh nghiệm
và sự hiểu biết sâu sắc về vấn đề này Là một DNBH mới ra đời, còn rất non trẻtrên thị trường, ngay khi đi vào HĐKD tiếp cận trực tiếp với thực tế PTI đã gặprất nhiều khó khăn và vướng mắc trong công tác đòi người thứ ba
Trang 35- Ít có ngành nghề kinh doanh nào mà quan hệ pháp luật lại phức tạp, chịu
sự điều chỉnh của nhiều văn bản quy phạm pháp luật cũng như các công ướcquốc tế như bảo hiểm
Trong hệ thống pháp luật, không chỉ có luật chuyên ngành là Luật KDBH
mà Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hàng hải, Luật Hàng không, Luật Dầu khí, LuậtPhòng cháy chữa cháy… cũng đều có quy định về bảo hiểm Luật Thương mại
có hẳn một chương về giám định và tổ chức giám định, được hiểu ngay rằng cácquy định này điều chỉnh cả các hoạt động giám định tổn thất, thiệt hại của cácđối tượng được bảo hiểm Ngoài ra, còn vài chục công ước quốc tế về hàng hảicũng được vận dụng, dẫn chiếu khi giải quyết các vấn đề liên quan đến bảo hiểmtàu biển và hàng hóa XNK Chính vì vậy, việc “ông nói gà, bà nói vịt”, mỗi bêndẫn ra một căn cứ pháp luật khác nhau khá phổ biến trong các vụ tranh chấp liênquan đến hợp đồng bảo hiểm, cũng như các vụ liên quan đến việc đòi người thứ
ba trong BHHH XNK
- BHHH XNK vận chuyển bằng đường biển gắn liền với yếu tố ngoại
thương, chính vì vậy khi xảy ra sự kiện bảo hiểm có liên quan đến trách nhiệmcủa người nước ngoài thì sẽ rất khó khăn trong công tác đòi người thứ ba vượtqua ngoài lãnh thổ quốc gia Do gặp khó khăn về khoảng cách địa lý cũng nhưcác mâu thuẫn trong luật pháp của quốc gia với luật pháp của nước ngoài nên khigiải quyết tranh chấp giữa các quốc gia khác nhau thường gặp nhiều khó khăn.Chính vì vậy khi giải quyết các vụ đòi người thứ ba thường ít thành công và gâynhiều tranh cãi
- Để muốn công tác đòi người thứ ba được thuận lợi thì việc bắt giữ tàu
phải diễn ra nhanh chóng Để đạt hiệu quả cao và dễ thực hiện thì chủ hàng vàngười bảo hiểm xác định mức độ và nguyên nhân tổn thất ngay trong quá trình
dỡ hàng tại cảng để có cơ sở bắt tàu và yêu cầu chủ tàu bồi thường Hơn nữa việc
Trang 36bắt giữ tàu còn không ấn định về thời gian, nên khó tránh khỏi những ngày lễ tết,dẫn đến chậm chạp trong công tác bắt giữ tàu.
- Nghiệp vụ đòi người thứ ba trong BHHH XNK là một nghiệp vụ khó, hơn
nữa còn thuộc nhiều vào trình độ của đội ngũ nhân viên Khi các nhân viên cótrình độ khá, có bề dày kinh nghiệm và nhân cách tốt thì sẽ giúp cho quá trìnhđòi người thứ ba được diễn ra thuận lợi và không làm tổn hại đến uy tín cũngnhư kết quả kinh doanh của Tổng công ty
- Công tác đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng đường biểnthường tốn rất nhiều chi phí Khi muốn bắt giữ tàu DNBH phải có khoản tiềnbảo lãnh, được coi như là phí bắt tàu, nếu việc bắt giữ tàu không thành côngDNBH sẽ phải chịu khoản phí này, gây tốn kém chi phí Điều 43 Bộ luật Hàng
hải Việt Nam về Bảo đảm tài chính cho yêu cầu bắt giữ tàu biển quy định: “Để thực hiện việc bắt giữ tàu biển, người yêu cầu bắt giữ phải bảo đảm tài chính theo hình thức và giá trị do tòa án quy định, tương đương với thiệt hại có thể phát sinh do việc yêu cầu bắt giữ tàu biển”
2.3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÒI NGƯỜI THỨ BA TRONG BHHH XNKVẬN CHUYỂN BẰNG ĐƯỜNG BIỂN TẠI PTI
2.3.1 Các hình thức đòi người thứ ba trong BHHH XNK vận chuyển bằng
đường biển tại PTI
Tại PTI, khi tiến hành thu đòi người thứ ba, tùy từng trường hợp cán bộ Banbảo hiểm hàng hải có thể tiến hành bắt nóng hoặc bắt nguội
2.3.1.1 Bắt nóng
Bắt nóng chính là thực hiện thủ tục yêu cầu bắt giữ ngay chính con tàu chởhàng khi phát hiện tổn thất lớn với hàng hóa Một số thủ tục cần thiết để thựchiện công tác này: