1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội

69 946 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 881 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB, “Tài chính vi mô làviệc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khoản tiết kiệm,thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Để hoàn thành mục tiêu thiên niên kỉ về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực

và thiếu đói, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam cùng với chủ trương pháttriển kinh tế - xã hội đã đặc biệt quan tâm vấn đề đảm bảo an sinh xã hội mà trong đó

có công cuộc xóa đói giảm nghèo ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa Việt Nam

đã đạt được những thành tựu ấn tượng về giảm nghèo và cải thiện chất lượng cuộcsống cho người dân thông qua việc thực hiện đồng loạt các chương trình trọng điểm,duy trì mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo như Chương trình phát triển kinh tế -

xã hội tại các xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giaiđoạn 2006 - 2010, Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh, bền vững đối với 62 huyệnnghèo… Với những nỗ lực và rất nhiều các chính sách hướng đến người dân như ansinh xã hội, đầu tư cho “tam nông”… của Đảng và Nhà nước, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm

từ 28.9% năm 2002 xuống còn 14% năm 2011, dự kiến năm 2012 sẽ giảm còn 12% vàsẵn sàng cho việc đạt được các mục tiêu thiên niên kỷ vào năm 2015

Đóng góp chung vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, trong những năm qua, lĩnhvực tài chính vi mô đã cung cấp các dịch vụ tài chính cho nhiều người nghèo Trong sốcác tổ chức cung cấp dịch vụ tài chính vi mô tại Việt Nam tiêu biểu có Hội liên hiệpphụ nữ Việt Nam (Hội) Hội là một tổ chức chính trị-xã hội đại diện cho phụ nữ trênkhắp các vùng, miền Việt Nam Hội luôn chú trọng công tác xóa đói, giảm nghèonhằm giúp phụ nữ cả nước xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, tiến bộ Hội liênhiệp phụ nữ Việt Nam đã lựa chọn tài chính vi mô như một công cụ chính, công cụhữu hiệu và luôn thể hiện vai trò tiên phong trong việc ứng dụng và đổi mới tài chính

vi mô tại Việt Nam Và thành công nhất của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong lĩnhvực tài chính vi mô đó là Hội đã trở thành đơn vị đầu tiên được nhận giấy phép thànhlập và hoạt động tổ chức tài chính quy mô nhỏ tại Việt Nam Tuy nhiên, trong quátrình triển khai các hoạt động tài chính vi mô, Hội cũng gặp phải những khó khănkhông nhỏ Vì vậy, việc phân tích thực trạng hoạt động tài chính vi mô của Hội và đề

ra các giải pháp sẽ không chỉ hữu ích cho việc đánh giá và định hướng hoạt động tàichính vi mô của Hội mà còn đem lại những bài học thiết thực cho các tổ chức tài chính

vi mô khác tại Việt Nam

Vì lý do trên, em đã chọn đề tài chuyên đề “Thực trạng triển khai tài chính vi

mô tại Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của Hội”.

Trang 2

1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

- Hệ thống hóa lý luận chung về tài chính vi mô

- Phân tích thực trạng hoạt động tài chính vi mô của Hội

- Đề xuất các giải pháp thúc đẩy hoạt động tài chính vi mô của Hội

- Chuyên đề tập trung vào các hoạt động tài chính vi mô của Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam, đặc biệt là một mô hình thành công nhất của Hội

- Đề xuất một số giải pháp thúc đẩy hoạt động tài chính vi mô của Hội

Để đạt mục đích nghiên cứu, chuyên đề sử dụng đồng bộ hệ thống phương phápnghiên cứu khoa học như phương pháp biện chứng và logic trong khái quát tổng quan

và luận giải vấn đề, sử dụng kết hợp hệ thống các phương pháp thống kê, so sánh,phân tích tổng hợp… để làm sáng tỏ thực tiễn Đồng thời sử dụng hệ thống bảng biểu,

sơ đồ minh họa để làm tăng tính trực quan và thuyết phục trong quá trình nghiên cứu

Chuyên đề gồm 3 chương sau:

Chương 1: Lý luận chung về tài chính vi mô

Chương 2: Thực trạng triển khai tài chính vi mô tại Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy tài chính vi mô tại Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

Em xin chân thành cám ơn ban lãnh đạo TYM cùng các anh chị cán bộ vănphòng TYM đã tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ em hoàn thành chương trình thực tập vàchuyên đề tốt nghiệp này

Trang 3

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÀI CHÍNH VI MÔ

1.1 KHÁI NIỆM VÀ NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ

1.1.1 KHÁI NIỆM TÀI CHÍNH VI MÔ

Tài chính vi mô thông thường được hiểu là việc cấp cho các hộ gia đình rấtnghèo các khoản vay rất nhỏ (gọi là tín dụng vi mô), nhằm mục đích giúp họ tham giavào các hoạt động sản xuất, hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ Tài chính vi

mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm, vìnhững người nghèo và rất nghèo có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính,nhưng không tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức. 

Theo quan điểm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), “Tài chính vi mô làviệc cung cấp một phạm vi rộng các dịch vụ như tiền gửi, các tài khoản tiết kiệm,thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhậpthấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ”

Theo Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu về Tín dụng vi mô tại Washington tháng 2năm 1997: “Tín dụng vi mô là việc cung cấp các khoản vay quy mô nhỏ đến đối tượngngười nghèo, với mục đích giúp những người thụ hưởng thực hiện các dự án sản xuấtkinh doanh để tạo lợi nhuận từ đó nâng cao chất lượng đời sống cho cả người vay vốn

và gia đình của họ”

Theo quan điểm của Nhóm tư vấn hỗ trợ những người nghèo nhất (CGAP):

"Tài chính vi mô là hoạt động cung cấp tín dụng, tiết kiệm, bảo hiểm vi mô, chuyểntiền và các dịch vụ phi tài chính khác cho nhóm người có thu nhập thấp bởi một cơ chếthích hợp, giúp họ có thể tiến hành sản xuất, phát triển nghề nghiệp tăng thêm thu nhậpcải thiện chất lượng cuộc sống"

Có thể hiểu dịch vụ tài chính bao gồm các hoạt động huy động tiền gửi, chovay, hoạt động thanh toán, chuyển tiền, bảo hiểm (nhân thọ và phi nhân thọ), cònnhững dịch vụ khác có thể bao gồm như đào tạo, chuyển giao kỹ thuật, hướng dẫnphương pháp sản xuất

Đối tượng có thu nhập thấp bao gồm không chỉ những người nghèo (nghèotương đối và tuyệt đối) mà còn các doanh nghiệp nhỏ, những cơ sở sản xuất thủ công,những hộ gia đình, Những đối tượng này có những nhu cầu rất khác nhau: nhữngngười nghèo có nhu cầu tiêu dùng hàng ngày cho cuộc sống như học hành, khám chữabệnh, phát triển sản xuất Trong khi đó, các đơn vị sản xuất có nhu cầu mua sắm thêmphương tiện sản xuất, mở rộng địa điểm kinh doanh, nguyên liệu,

Trang 4

1.1.2 CƠ SỞ KINH TẾ HỌC CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ

Người ta cho rằng giá trị hoàn trả biên của những khoản vay nhỏ có hình dạngđường cong hữu dụng biên Người nghèo có khả năng kinh doanh sinh lợi đạt được lợinhuận trên mỗi đơn vị vốn lớn hơn người khá giả và sẵn sàng trả lãi vay cao hơn chonhững khoản tín dụng từ ngân hàng

Khi được trợ giá về vốn, chi phí đầu vào giảm, giá rẻ hơn, người sản xuất sẽ mởrộng được quy mô Mô hình dưới đây minh họa phần lợi ích tài chính vi mô đóng gópcho an sinh xã hội thông qua việc cho người nghèo vay tín dụng mở rộng sản xuất.Thặng dư người sản xuất tăng (a+b) Chí phí trợ giá cho người sản xuất (b+c+d) Ansinh xã hội bằng -c Nguồn lực sử dụng thêm (b+c+d) Tiết kiệm ngoại tệ để nhậpkhẩu (b+d)

Hình 1: Đường giá trị hoàn trả biên

giữa người nghèo và người giàu hơn

Hình 2: Lợi ích của tài chính vi mô cho an sinh xã hội

(Nguồn: Milford Bateman (2010), Why doesn’t

Microfinance work?)

(Nguồn: Milford Bateman (2010), Why doesn’t Microfinance work?)

Tiếp theo đây là mô hình minh họa

tác động tích cực của tài chính vi mô vào

sản xuất tiêu dùng được hưởng tín dụng

ưu đãi nghĩa là người sản xuất đã được trợ

giá đầu vào Sản xuất tăng từ Q1 đến Q2

Thặng dư người sản xuất thay đổi từ (a+b)

sang (b+c+f+g) Nếu a>(c+f+g) thì người

sản xuất không được lợi và ngược lại

Thặng dư người tiêu dùng tăng thêm

(a+d+e)

Người ta ngày càng tin tưởng rằng

Hình 3: Lợi ích của tài chính vi mô cho sản xuất

(Nguồn: Milford Bateman (2010), Why doesn’t Mrofinance work?)

Trang 5

tài chính vi mô trên cơ sở lý thuyết kinh tế

đã và đang tạo động lực kích thích cho quá

trình tạo ra lợi nhuận trong nhân dân Cùng

với tiết kiệm, tài chính vi mô đã thúc đẩy

tăng trưởng sản xuất, khuyến khích tiêu

dùng và mở rộng tích lũy đầu tư

1.1.3 ĐẶC ĐIỂM CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ

a Khách hàng của tài chính vi mô là những người thu nhập thấp

Người nghèo, người thu nhập thấp được hiểu bao gồm những người nghèo tuyệtđối và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối là những người có mức thu nhập không đủ đểthoả mãn những nhu cầu cơ bản ở một mức độ tối thiểu, mức thu nhập đó hiện nayđược xác định là 1.25 USD/ngày (Ngân hàng Thế giới) cho mỗi người Nghèo đóitương đối là những người có điều kiện sống thấp hơn mức bĩnh quân chung của cộngđồng Nghèo đói tương đối là kết quả của tình trạng chênh lệch thu nhập và điều kiệnsống của dân cư trong các khu vực khác nhau, như nông thôn, thành thi hay giữa côngnghiệp và nông nghiệp Cùng với sự phát triển kinh tế, tình trạng đói nghèo tuyệt đối

sẽ ngày càng giảm nhưng nghèo đói tương đối sẽ còn tồn tại lâu dài

Khách hàng của tài chính vi mô là những người nghèo nên không thể vay vốn

từ các tổ chức tài chính trong khu vực chính thức Là các đơn vị, cơ sở kinh doanh nhỏ

lẻ dựa vào tiềm lực kinh tế gia đình là chủ yếu, họ tham gia vào những công việc dịch

vụ cho sản xuất nông nghiệp truyền thống hoặc ở thành thị họ là những người bánhàng trên hè phố, những thợ cắt tóc, đạp xích lô hay bán hoa quả dạo Tài sản củanhững khách hàng như vậy thường không đáng kể Do đó, họ không có khả năng thếchấp để vay vốn, nguồn thu nhập không ổn định và thấp càng làm cơ hội tiếp cận tàichính chính thức trở nên khó khăn Ngoài ra, cũng phải kể đến những sản phẩm, dịch

vụ được cung cấp với giá cả đắt đỏ và càng không phù hợp với những người nghèo

b Cơ chế cho vay: tín chấp, bảo lãnh nhóm

Để tài chính vi mô đến được với các đối tượng nghèo, một trong những mô hìnhphổ biến nhất hiện nay trên thế giới là cho vay theo nhóm và thay thế vật thế chấpbằng bảo lãnh nhóm Theo cách thức này, vốn từ các nhà cung cấp có thể được phân

bổ cho các nhóm khác hàng, rồi từ đó đến các thành viên; hoặc vốn có thể được cungcấp trực tiếp từ nhà cung cấp đến khách hàng, nhưng nhóm vẫn là một đơn vị thốngnhất, có người đại diện đứng ra bảo lãnh cho tất cả cá món vay cũng như thanh toáncác chi phí

Đối với khách hàng, việc tạo nhóm sẽ góp phần tiết kiệm chi phí cho mỗi thànhviên trong nhóm, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ, tăng khả năng quản lý vốn vay, sử

Trang 6

dụng hiệu quả và đúng cách các món vay đó để tăng thu nhập Đối với nhà cung cấp,

đó cũng là biện pháp để dễ dàng để thu thập hay truyền đạt thông tin, đồng thời giảmthiểu rủi ro khách hàng không hoàn trả vốn Từ những lợi ích đó, hình thức cho vaytheo nhóm vẫn được coi là hình thức cho vay phổ biến nhất củ tài chính vi mô

c Lãi suất hiệu dụng cho vay vi mô cao

Tài chính vi mô bao gồm nhiều sản phẩm, dịch vụ khác nhau như tín dụng,thanh toán, bảo hiểm…hướng đến đối tượng là người nghèo, những người có nhu cầusản xuất, kinh doanh có quy mô nhỏ Vì vậy, các khoản vay phù hợp với họ cũng cóquy mô nhỏ Tuy nhiên, chi phí cho các khoản vay này thường cao so với các khoảnvay lớn Hãy làm một phép so sánh giữa khoản vay 10000 USD và khoản vay 50-100USD Cả hai đều phải mất chi phí nhân công, thời gian, thủ tục, quy trình nhưng khoảnvay nhỏ phải chịu tỷ lệ chi phí lớn hơn Do vậy, lãi suất của các dịch vụ tài chính vi

mô thường lớn hơn lãi suất của các nhà cung cấp dịch vụ tài chính chính thức Đểgiảm bớt mức lãi suất mà khách hàng tài chính vi mô phải chi trả, các tổ chức cung cấpdịch vụ tài chính vi mô bán chính thức hay chính thức thường tìm kiếm các nguồn vốnbao cấp, tài trợ hay vốn giá rẻ, nhưng những nguồn này cũng chỉ có hạn và đến mộtthời điểm nhất định Vì thế, để hoạt động bền vững, các tổ chức cung ứng tài chính vi

mô một mặt giữ lãi suất cao, mặt khác cắt giảm tối đa các chi phí khác (thủ tục, thờigian, nhân sự, vận hành,…) và tiết giảm các chi phí thông qua các dịch vụ, sản phẩm

đa dạng

Câu hỏi đặt ra là tại sao với chi phí cao như vậy, tài chính vi mô vẫn tồn tại vàphát triển Thứ nhất, tài chính vi mô cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người nghèokhông đòi hỏi tài sản thế chấp Thứ hai, tài chính vi mô cung cấp những sản phẩm,dịch vụ phù hợp với quy mô nhu cầu của người nghèo, đảm bảo đủ dùng và đủ nănglực chi trả Thứ ba, tài chính vi mô thường đi kèm với thủ tục đơn giản và dịch vụthuận tiện Thay vì phải chuẩn bị những hồ sơ với nhiều giấy tờ, số liệu, khách hàngtài chính vi mô được hướng dẫn trực tiếp cách tiếp cận dịch vụ, được hỗ trợ làm thủtục và cấp miễn phí các loại hồ sơ, mẫu biểu cần thiết Thứ tư, tài chính vi mô thườnglồng ghép các chương trình xã hội, đem lại cơ hội học hỏi, kinh doanh cho ngườinghèo Từ những lý do đó, tài chính vi mô vẫn tồn tại và phát triển bất chấp chi phícao hơn thông thường

d Các khoản vốn vay thường quay vòng nhanh, mức tăng dần qua các đợt

Mục tiêu của tài chính vi mô là hỗ trợ người nghèo tự tạo việc làm tăng thunhập nên các khoản vốn thường được cung cấp để sử dụng vào mục đích kinh doanh,sản xuất Với các khoản vay nhỏ, quy mô kinh doanh sản xuất nhỏ, người nghèo

Trang 7

thường sử dụng vốn vào các dự án kinh doanh, sản xuất ngắn hạn, mang tính thời vụ từ

6 tháng đến 1-2 năm Chẳng hạn, người dân nông thôn vay vốn để trồng hoa màu, nuôi

bò, lợn, gà Trong khi đó, người dân thành thị có thể đầu tư vào các sạp hàng nhỏ haycác dịch vụ hàng ngày

Tuy các khoản vốn vay tài chính vi mô quay vòng nhanh, người dân nghèo, thunhập thấp lại được tiếp cận liên tục, đợt này qua đợt khác, năm nay qua năm khác.Mức vay của tài chính vi mô cũng được thiết kế tăng dần qua từng đợt, nhằm giúpngười nghèo trải nghiệm từ việc làm quen với việc sử dụng vốn vay nhỏ để tích luỹkinh nghiệm và sử dụng các khoản vay lớn hơn một cách hiệu quả Chính nhờ yếu tốnày, tài chính vi mô có khả năng giảm rủi ro trong quá trình hoàn trả

e Các khoản đóng góp (tiết kiệm, bảo hiểm) nhỏ, thực hiện định kỳ

Do đối tượng của tài chính vi mô là người nghèo nên việc sử dụng dịch vụ nhưtiết kiệm, bảo hiểm đã là một điều khó khăn Tuy nhiên, các sản phẩm này vẫn đượctriển khai xuất phát từ thực tế người nghèo cũng rất cần các dịch vụ này, thậm chí cầnhơn cả các đối tượng khác do họ không có nguồn tiền mặt sẵn có Vậy làm thế nào đểngười nghèo có thể sử dụng các dịch vụ này? Một khoản lớn đóng một lần sẽ là điềukhó khăn đối với họ Chính vì vậy, tài chính vi mô cho phép khách hàng gửi tiết kiệmhay trả phí bảo hiểm với các khoản tiền nhỏ đóng định kỳ theo tuần/tháng Chính cơchế linh hoạt này giúp người nghèo có khả năng tích cóp, tận dụng những khoản tiềnrất nhỏ trong cuộc sống hàng ngày để hưởng lợi từ những dịch vụ có lợi ích thiết thựcđối với gia đình họ

f Tài chính vi mô là hoạt động sinh lời

Tài chính vi mô có mục đích là phục vụ người nghèo, nhưng không mang tínhchất như trợ cấp xã hội Thực tế, người nghèo không thể thoát nghèo nhờ một, haikhoản vốn Họ nghèo do thiếu nguồn vốn, thiếu công cụ và kiến thức để thực hiện cáchoạt động tăng thu nhập Do đó, tài chính vi mô xuất hiện để cung cấp hỗ trợ từngbước và lâu dài, giúp người nghèo thoát nghèo bền vững Để làm được như vậy, nguồnvốn mà tổ chức tài chính vi mô phát ra cần được thu về đầy đủ gốc lãi Có như vậy,các tổ chức tài chính vi mô mới có nguồn và động lực để hoạt động lâu dài

1.1.4 NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ

Qua quá trình nghiên cứu tài chính vi mô trên thế giới, CGAP đã đúc kết một sốnguyên lý cơ bản về tài chính vi mô Những nguyên lý này đã được ghi nhận bởi 28thành viên của CGAP là các nhà tài trợ, và được ghi nhận trong hội nghị thượng đỉnhcác nhà lãnh đạo G8 ngày 10 tháng 6 năm 2004

a Người nghèo cần một dịch vụ tài chính đa dạng chứ không chỉ là vốn

Giống như những người khác, người nghèo cần một loạt các dịch vụ tài chính

Trang 8

thuận tiện, linh hoạt và có giá cả hợp lý Tùy thuộc vào hoàn cảnh từng gia đình, ngườinghèo không chỉ cần tín dụng mà còn cần dịch vụ tiết kiệm, chuyển tiền và bảo hiểm

b Tài chính vi mô là công cụ có tác động mạnh trong việc chống lại đói nghèo.

Việc tiếp cận được các dịch vụ tài chính bền vững cho phép người nghèo tăngthu nhập, tích lũy tài sản và giảm nguy cơ tổn thương trước những cú sốc từ bên ngoài.Tài chính vi mô cho phép các hộ gia đình nghèo chuyển từ tình trạng sống sót quangày sang khả năng lập kế hoạch cho tương lai, đầu tư vào dinh dưỡng, điều kiệnsống, và sức khỏe cũng như việc giáo dục của con cái

c Hoạt động tài chính vi mô có nghĩa là xây dựng một hệ thống tài chính phục vụ người nghèo.

Người nghèo chiếm phần lớn dân số ở  hầu hết các nước đang phát triển Vậy

mà, một số lượng lớn người nghèo tiếp tục thiếu tiếp cận đối với các dịch vụ tài chính

cơ bản Ở nhiều nước, tài chính vi mô tiếp tục bị coi là một ngành ngoài lề và cơ bảnchỉ là vấn đề mang tính "phát triển" của các nhà tài trợ, chính phủ và các nhà đầu tư cótrách nhiệm xã hội Để đạt được tiềm năng tối đa trong việc tiếp cận đông đảo ngườinghèo, tài chính vi mô nên trở thành một phần không thể thiếu trong ngành tài chính

d Bền vững tài chính là yếu tố cần thiết để tiếp cận với số đông người nghèo

Phần lớn người nghèo không có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính truyềnthống bởi vì thiếu các trung gian tài chính bán lẻ hoạt động lớn mạnh Xây dựng các tổchức bền vững về tài chính không phải là cái đích cuối cùng Đó là cách duy nhất đểđạt được một quy mô và tác động đáng kể, vượt xa những gì mà các đơn vị tài trợ cóthể cấp vốn Bền vững là khả năng trang trải mọi chi phí của một tổ chức tài chính vi

mô Nó cho phép tổ chức tài chính vi mô tiếp tục hoạt động và cung cấp các dịch vụ tàichính cho người nghèo Đạt được bền vững tài chính nghĩa là giảm được các chi phígiao dịch, cung ứng các sản phẩm và dịch vụ tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của khách hàng

và tìm được những hướng đi mới để tiếp cận những người nghèo, những người khôngthể sử dụng dịch vụ ngân hàng

e Tài chính vi mô là xây dựng các tổ chức tài chính hoạt động lâu dài tại địa phương

Xây dựng hệ thống tài chính cho ngươì nghèo có nghĩa là xây dựng các trunggian tài chính đủ mạnh để có thể cung cấp dịch vụ tài chính cho người nghèo trên cơ

sở lâu dài Những tổ chức này phải có khả năng huy động và quay vòng tiết kiệm nội

bộ, giải ngân tín dụng và cung ứng một loạt các dịch vụ Sự phụ thuộc vào nguồn tàitrợ từ các nhà tài trợ và chính phủ - bao gồm các ngân hàng phát triển do nhà nước cấp

Trang 9

vốn - sẽ dần dần giảm bớt khi các tổ chức tài chính địa phương và các thị trường vốn

tư nhân đến độ trưởng thành

f Tài chính vi mô không phải lúc nào cũng là câu trả lời.

Tín dụng vi mô không thích hợp với mọi người và mọi tình huống Nhữngngười túng thiếu và đói nghèo đến mức không có thu nhập hoặc phương tiện hoàn trảlại cần những hình thức hỗ trợ khác trước khi họ có thể sử dụng vốn vay. Trong nhiềutrường hợp, các khoản tài trợ nhỏ, những biện pháp cải thiện cơ sở hạ tầng, việc làm,các chương trình đào tạo và các dịch vụ phi tài chính khác có thể là công cụ thích hợphơn đối với mục tiêu giảm nghèo Ở bất cứ nơi nào có thể, dịch vụ phi tài chính nhưvậy nên đi liền với việc xây dựng quỹ tiết kiệm.       

g Trần lãi suất có thể hủy hoại cơ may tiếp cận dịch vụ tài chính của người nghèo.

Giải ngân các món vốn nhỏ sẽ mất nhiều chi phí hơn việc giải ngân vài khoảnvốn lớn Trừ khi các tổ chức cho vay vi mô có thể áp dụng các mức lãi suất trên mứclãi suất trung bình của ngân hàng, họ không thể trang trải các chi phí, và khả năng tăngtrưởng cũng như bền vững sẽ bị hạn chế do nguồn vốn trợ cấp khan hiếm và không ổnđịnh Khi chính phủ điều tiết lãi suất, họ thường ấn định mức lãi suất quá thấp, khiếncác tổ chức tín dụng vi mô khó có khả năng bền vững Đồng thời, các tổ chức cho vay

vi mô cũng không nên chuyển các chi phí phát sinh do hoạt động kém hiệu quả sangkhách hàng dưới hình thức giá thành dịch vụ (lãi suất và các loại phí khác), nhữngmức giá cao quá mức cần thiết        

h Vai trò của Chính phủ là hỗ trợ, không phải trực tiếp cung cấp các dịch vụ tài chính

Chính phủ quốc gia đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập một môi trườngchính sách mang tính hỗ trợ nhằm kích thích sự phát triển của các dịch vụ tài chính, đồngthời bảo vệ quỹ tiết kiệm của người nghèo Điều cốt yếu mà một chính phủ có thể làm chotài chính vi mô là giữ cho kinh tế vĩ mô ổn định, tránh trần lãi suất, và tránh bóp méo thịtrường bằng những chương trình phát vốn trợ cấp không ổn định và có tỷ lệ chậm trả cao.Chính phủ cũng có thể trợ giúp dịch vụ tài chính cho người nghèo bằng cách cải thiện môitrường kinh doanh cho các nhà doanh nghiệp, loại bỏ tham nhũng, cải thiện điều kiện tiếpcận với thị trường và cơ sở hạ tầng Trong tình huống đặc biệt, nguồn tài trợ của chính  phủ cho các tổ chức tài chính vi mô độc lập và lành mạnh có thể được đảm bảo khi ngànhtài chính vi mô đang thiếu các nguồn vốn khác.   

i Nguồn của các nhà tài trợ là để bổ sung, không phải để cạnh tranh với nguồn vốn của khu vực tư nhân

Trang 10

Các nhà tài trợ phải dùng các công cụ tài trợ, vốn và vốn cổ phần phù hợp trên

cơ sở tạm thời để xây dựng năng lực thể chế của các tổ chức cung cấp dịch vụ tàichính vi mô, để phát triển cơ sở hạ tầng thuận lợi (như các đơn vị đánh giá xếp hạng,các vụ tín dụng, năng lực kiểm toán, v.v) và hỗ trợ các dịch vụ và sản phẩm thí điểm.Trong một số trường hợp, các nguồn tài trợ lâu dài đòi hỏi phải tiếp cận bộ phận dân

cư sinh sống rải rác hoặc khó tiếp cận Để có hiệu quả, nguồn tài trợ phải lồng ghépdịch vụ tài chính cho người nghèo vào các thị trường tài chính địa phương, ứng dụngkiến thức chuyên môn để thiết kế và thực hiện dự án, đòi hỏi các tổ chức tài chính vàcác đối tác khác đáp ứng các tiêu chuẩn kết quả tối thiểu để được tiếp tục hỗ trợ và lập

kế hoạch từ đầu cho việc rút khỏi hoạt động của các thị trường này

Thiếu năng lực thể chế và con người với các mục tiêu xã hội, năng lực phảiđược xây dựng ở tất cả các cấp, từ tổ chức tài chính qua các cơ quan điều chỉnh, giámsát đến các thực thể phát triển của chính phủ và các đơn vị tài trợ Đa số các nhà đầu tưvào ngành này, gồm cả nhà đầu tư công và tư nhân, nên tập trung vào việc nâng caonăng lực

j Tầm quan trọng của sự minh bạch về tài chính và phạm vi tiếp cận

Thông tin chính xác, chuẩn hóa và có thể đem ra so sánh về kết quả hoạt độngtài chính và xã hội của các tổ chức tài chính cung ứng dịch vụ tài chính vi mô là vấn đềbắt buộc Các cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng, các nhà tài trợ, nhà đầu tư vàquan trọng hơn là các khách hàng tài chính vi mô cần thông tin này để đánh giá đầy đủ

về rủi ro và lợi nhuận

1.2 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ

1.2.1 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TRÊN THẾ GIỚI

Khái niệm tài chính vi mô đã xuất hiện từ đầu thế kỷ mười tám "Susus" tạiGhana, "chit funds" tại Ấn Độ, "tandas" tại Mê-hi-cô, "arisan" tại In-đô-nê-xia,

"cheetu" tại Sri Lanka, "tontines" tại Tây Phi và "pasanaku" tại Bo-li-via là một số ví

dụ của các nhóm tín dụng-tiết kiệm đã hoạt động hàng thế kỷ qua Khách hàng củanhững tổ chức này là những người thường thiếu sự quan tâm của các ngân hàng có quy

mô lớn hơn Và những tổ chức này đã xuất hiện để cho những người đó một cơ hộitiếp cận các dịch vụ tài chính để nâng cao điều kiện kinh tế cho gia đình họ

Một trong những tổ chức tín dụng vi mô lâu đời nhất cung ứng vốn nhỏ chongười nghèo khu vực nông thôn là hệ thống Quỹ Vốn vay I-ran Jonathan Swift, mộttác giả đồng thời là một người theo chủ nghĩa dân tộc, đã bắt đầu hoạt động tài chính

vi mô từ đầu những năm 1720 Ông sử dụng tiền từ nguồn quyên góp được và giúpngười I-ran tiếp cận các khoản vốn vay không lãi suất Tổ chức này đã chứng kiến sựtăng trưởng nhanh chóng nhờ một luật đặc biệt ra đời năm 1823, cho phép chuyển đổi

Trang 11

các quỹ từ thiện thành các trung gian tài chính, từ đó hình thành Ban Quỹ vốn năm

1836 Ban Quỹ vốn điều tiết và giám sát việc tiếp nhận các nguồn và vốn Vào thờiđiểm đỉnh cao, hàng năm hệ thống Quỹ vốn I-ran đã phát vốn cho 20% số hộ gia đìnhI-ran Đáng tiếc, các ngân hàng thương mại đã sử dụng quyền lực và tầm ảnh hưởngcủa họ để ngừng các khoản vốn thông qua việc yêu cầu chính phủ ấn định giới hạn lãisuất vào năm 1843 Cuối cùng, các quỹ đã không còn tồn tại từ năm 1950 Hamburg

đã thành lập một hệ thống tài chính tương tự do cộng đồng sở hữu vào năm 1778nhưng đáng tiếc hệ thống này cũng chấm dứt do những can thiệp từ bên ngoài

Giai đoạn 1880-1950, các tổ chức tài chính vi mô bắt đầu lan đến các vùng kháctrên thế giới như Mỹ La-tinh và In-đô-nê-xia (Các Ngân hàng Tín dụng Nhân dân In-đô-nê-xia) Các tổ chức mới đa số tập trung vào khu vực nông thôn Mục tiêu của việccan thiệp tài chính vào các khu vực nông thôn là hiện đại hoá ngành nông nghiệp, tăngthương mại hoá của các khu vực nông thôn cũng như xoá bỏ hệ thống phong kiến ápbức-một hệ thống đã làm tăng tình trạng nợ nần Một trong những khó khăn chính màcác tổ chức tài chính vi mô nông thôn mới phải đối mặt là thực tế rằng đa số nhữngngân hàng cho người nghèo không thuộc sở hữu của người nghèo như đã thấy vào thế

kỷ 18 và 19 tại châu Âu Các ngân hàng do các cơ quan chính phủ kiểm soát hoặc cácngân hàng ngoài quốc doanh không phải bao giờ cũng mang lại phúc lợi cho ngườidân Qua thời gian, các tổ chức này trở nên kém hiệu quả và có những lúc bị lạmdụng Các tổ chức này đánh mất sự tin tưởng của người dân và phải đóng cửa

Vào những năm 1970, các chương trình thực nghiệm tại Băng-la-đét, Bra-xin

và một vài quốc gia khác đã phát các món vốn nhỏ cho các nhóm phụ nữ nghèo để đầu

tư vào kinh doanh vi mô Loại hình tín dụng doanh nghiệp vi mô này được dựa trênphương pháp cho vay theo nhóm, nghĩa là mỗi thành viên trong nhóm bảo đảm việchoàn trả của mọi thành viên Những chương trình “cho vay doanh nghiệp vi mô” tậptrung vào tín dụng cho các hoạt động tăng thu nhập và hướng đến đối tựơng ngườinghèo vay vốn (thường là phụ nữ) Loại hình cho vay này đảm bảo trách nhiệm củangười vay Đó là yếu tố chính còn thiếu trong các doanh nghiệp tài chính vi mô khác.Bởi vì mỗi thành viên trong nhóm vay địa phương phải đảm bảo khả năng hoàn trả củatất cả những người khác tham gia vào món vốn, nếu một trong số những cá nhân nàykhông có khả năng hoàn trả vốn vay của mình, cả nhóm sẽ hõ trợ thành viên đó về cảtài chính và tình cảm, ttừ đó khuyến khích kết quả kinh doanh tốt hơn

Các tổ chức tín dụng và tiết kiệm chính thống cho người nghèo đã hoạt độngđược hàng thế kỷ Chúng cung ứng cho khách hàng là những người thường bị các ngânhàng thương mại bỏ qua, giúp họ tiếp cận các dịch vụ tài chính thông qua các hợp tác

Trang 12

xã và các tổ chức tài chính đổi mới

1.2.2 SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

Tài chính vi mô du nhập vào Việt Nam từ những năm 1980 theo nhiều conđường khác nhau, chủ yếu thông qua các dự án tiết kiệm-tín dụng hoặc hợp phần tíndụng trong các dự án phát triển tổng hợp của các tổ chức phi chính phủ quốc tế, các tổchức quốc tế (FAO, UNFPA, UNDP, WB, ADB, ) hoặc dự án song phương (BTC,SIDA Thụy Điển, ) nhằm vào nhóm đối tượng mục tiêu tại các vùng lựa chọn của họ.Đối tác của các dự án này thường là các đoàn thể chính trị xã hội, các hội nghề nghiệp, trong đó Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là đối tác lớn nhất với mạng lưới tới tận cơ

sở trong cả nước Cả bốn cấp của Hội Liên hiệp Phụ nữ (trung ương, tỉnh, huyện, xã)cùng tham gia làm đối tác của các chương trình khiến cho hoạt động tài chính vi môtrải rộng khắp các vùng, miền của Việt Nam, với các quy mô lớn nhỏ khác nhau, cấp

độ phát triển và quản lý khác nhau, làm tăng thêm tính đa dạng và phân tán của tàichính vi mô Việt Nam

Chịu ảnh hưởng sâu sắc của trào lưu chung về phát triển tài chính vi mô trên thếgiới, tài chính vi mô Việt Nam cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm, thậm chí cólúc bị lệch lạc bởi sự nhận biết là khác nhau Có thể chia tiến trình phát triển tài chính

vi mô ở Việt Nam theo ba giai đoạn như sau:

a Giai đoạn khởi đầu (trước những năm 1980):

Cũng giống như các nước trên thế giới, tài chính vi mô tại Việt Nam, với địnhnghĩa truyền thống, nó được hiểu là cho vay các món nhỏ, không hoặc có thể đòi hỏivật bảo đảm, không lãi hoặc lãi cao Với góc nhìn như vậy, có thể nói tài chính vi môxuất hiện và tồn tại ở Việt Nam đã từ lâu đời, gắn với nền kinh tế tiểu nông, kinh tế tựcung tự cấp và nếp sống làng xã thường ngày của người dân trên tất cả các vùng miền,đặc biệt là khu vực nông thôn Nó ít ý nghĩa trong phát triển kinh tế nhưng lại có ýnghĩa to lớn trong việc cứu giúp những người, những hộ gia đình gặp rủi ro bất ngờ, đedoạ cuộc sống và có thể đẩy họ rơi vào thảm cảnh

b Giai đoạn mở rộng nhanh (1990-2000):

Vào cuối những năm 1980, sau 30 năm trải nghiệm tại Băng-la-đét và Bra-xincũng như một số nước khác, người ta phát hiện và khẳng định rằng người nghèo hoàntoàn có năng lực ngân hàng Cũng giống như mọi người khác, người nghèo cần rấtnhiều loại công cụ tài chính khác nhau để tạo dựng tài sản, để đảm bảo các chi dùnghàng ngày và tự bảo vệ mình trước các rủi ro bất kỳ lúc nào cũng có thể ập đến Vàonhững năm này, cùng với trào lưu chung của thế giới, tài chính vi mô bắt đầu du nhậpvào Việt Nam Hội nghị Quốc tế khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về "việc làm vàtăng thu nhập cho phụ nữ" do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đăng cai tổ chức tại Hà

Trang 13

Nội vào tháng 10 năm 1987 được coi là điểm xuất phát cho cá dự án tín dụng - tiếtkiệm dành cho phụ nữ Cơ quan phát triển Quốc tế của Thụy Điển (SIDA) ở Việt Nam

là tổ chức đầu tiên tài trợ một dự án tín dụng cho phụ nữ 7 tỉnh biên giới phía Bắc ViệtNam thông qua đối tác là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Quỹ Dân số của Liên hợpquốc (UNFPA) kết hợp với sự trợ giúp kỹ thuật của Tổ chức Nông lương Thế giới(FAO) đã cùng với Hội Liên hiệp Phụnữ Việt Nam và Ngân hàng Nông nghiệp ViệtNam (1990 - 1993) tiến hành thử nghiệm dự án VIE/91/P01, với việc ngân hàng cấpvốn (tín dụng) không đòi hỏi thế chấp mà thông qua các nhóm phụ nữ tiết kiệm do Hộiphụ nữ thành lập ở hai tỉnh là Hậu Giang (nay là Cần Thơ) và Hà Sơn Bình (nay sápnhập vào Hà Nội) Sau ba năm thử nghiệm thành công, Ngân hàng Nông nghiệp ViệtNam đã đề xuất cụm từ "Nhóm phụ nữ tiết kiệm" vào Nghị định 14 của Chính phủ vềviệc cho hộ nông dân vay mà không cần thế chấp UNFPA cũng tiếp tục giai đoạn 2của Dự án mở rộng ra 18 tỉnh trong cả nước

Vào những năm 1990, cơ quan phát triển quốc tế của một số nước như SIDA(Thụy Điển), DFID (Vương quốc Anh), BTC (Bỉ) và các tổ chức phát triển quốc tếnhư UNDP, UNFPA, UNICEF và các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng tiến hànhcác dự án tín dụng, tiết kiệm Các tổ chức phi chính phủ quốc tế có dự án quy mô từ

10000 thành viên trở lên phải kể đến như Quỹ Nhi đồng Anh (SCUK), tổ chức Hànhđộng Viện trợ Anh (Action Aid International in Vietnam) Các mô hình thực hiện tàichính vi mô của các tổ chức này cũng rất đa dạng bởi mục đích và phương pháp tiếpcận của mỗi tổ chức là khác nhau Dự án lớn từ các tổ chức quốc tế và dự án songphương thường chỉ coi tín dụng nhỏ la yếu tố lồng ghép để thúc đẩy một số chươngtrình xã hội như kế hoạch hóa gia đình, giáo dục kiến thức cuộc sống, vệ sinh môitrường, Các dự án thuộc các tổ chức phi chính phủ quốc tế thường mang nhiều yếu

tố kỹ thuật hơn Các tổ chức này sử dụng một trong hai phương pháp tiếp cận: a) ứngdụng một phần phương pháp của Ngân hàng Grameen hoặc b) ứng dụng phương phápngân hàng làng xã cải tiến Trong vô vàn các kiểu loại khác nhau, mô hình tài chính vi

mô hai cấp được coi là hợp lý và có cơ sở để quản lý tốt Theo kiểu này có các dự áncủa AAV, CIDSE, SCUS, CRS, OXFAM Anh, OXFAM Bỉ, GRET, đặc biệt là môhình hai cấp hạch toán độc lập của ActionAid được coi là theo hướng thể chế, có khảnăng tiếp cận thị trường, phát triển nhanh và chi phí thấp ActionAid theo đuổi phươngpháp tiếp cận bảo đảm quyền cơ bản của người nghèo mà trong đó tiếp cận tín dụngđược coi là một quyền quan trọng sau 10 năm hoạt động (1993 - 2003), ActionAid đãxây dựng được 7 hệ thống dịch vụ 2 cấp ở 7 huyện trên 5 tinh từ miền núi Sơn La, tớiduyên hải Ninh Thuận Hệ thống này đã bao phủ 55 xã, phường và 7 huyện, thị đã

Trang 14

cung cấp dịch vụ tiết kiệm và tín dụng cho trên 27000 thành viên Cơ ngơi này là niềm

tự hào không phải chỉ của chị em các dân tộc mà còn của các cộng đồng và được chínhquyền các nơi đánh giá cao và ghi nhận vai trò tích cực của nó trong việc xóa đói giảmnghèo và bình đẳng dân tộc

Quỹ Nhi đồng Anh áp dụng mô hình cấp xã trực tiếp quản lý Trong 10 năm, họ

đã thiết lập được chương trình tại 16 xã của huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa và

22 xã thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh với nguồn vốn tài trợ lên đến hàng chục

tỉ đồng Phương pháp tiếp cận chủ yếu là cung cấp tín dụng nhỏ không thế chấp có gắnkết với tiết kiệm

Nhìn chung, các tổ chức quốc tế hoạt động tại Việt Nam đã đóng vai trò to lớntrong việc đặt nền móng cho sự phát triển tài chính vi mô tại Việt Nam Họ đã cungcấp một nguồn lực đáng kể và tạo đà cho các tổ chức đại ương tiếp tục phát triển vàtrưởng thành Các nhà tài trợ và các tổ chức tài chính vi mô bên ngoài cũng có nhiềuđóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ tài chính, hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo, nâng caonăng lực cho đội ngũ cán bộ Việt Nam trong lĩnh vực tài chính vi mô Ngay từ nhữngnăm 1995, Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đã gia nhập mạng lướitín dụng, tiết kiệm cho người nghèo thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và sau

đó là Quỹ CEP (Liên đoàn Lao động Thành phố Hồ Chí Minh) Cả hai quỹ đã gia nhậpmạng lưới Grameen toàn cầu và đã được đào tạo khá bài bản về công nghệ và quản lý

tổ chức tài chính vi mô Một số tổ chức hoạt động tài chính vi mô khác của Việt Namnhư các chương trình của ActionAid cũng được công nhận là thành viên của phongtrào tín dụng thượng đỉnh toàn cầu từ những năm 1997 tới nay Vào thời điểm này, cácnhà hoạt động tài chính vi mô có ảnh hưởng lớn mà đứng đầu là Giáo sư, tiến sĩMuhammad Yunus đã phối hợp, thúc đẩy và tổ chức thành công "hội nghị thượng đỉnh

vì tín dụng toàn cầu", lần đầu tiên họp tại Washington Có tới 2900 đại biểu từ 300quốc gia, các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ, các tổ chức phi chính phủ quốc tế và cácnhà thực hành tài chính vi mô đã đến đây " để nói những gì mà từ trước tới giờ chưabao giờ nói, để lập nên những kế hoạch mà từ trước tới giờ chưa bao giờ lập và để làmnhững gì mà từ trước tới giờ chưa bao giờ làm, để mang đói nghèo ra khỏi hành tinhnày" Hội nghị đã phát động phong trào tín dụng nhỏ với mục tiêu "tới năm 2005 sẽ có

100 triệu hộ nghèo được tiếp cận tới các dịch vụ tài chính để thay đổi cuộc sống" Tạiphiên họp toàn thể bế mạc hội nghị, các đại biểu đã viết bản cam kết và kế hoạch hànhđộng của quốc gia mình để thực hiện mục tiêu này Đại biểu chính thức của Việt Namtham gia Hội nghị này là các nhà lãnh đạo Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữViệt Nam) Những cuộc hội nghị tiếp theo, thành phần tham dự của Việt Nam có thêm

Trang 15

Quỹ CEP và một số tổ chức khác Những đại diện này khi trở về đã có những nỗ lựcthúc đẩy tài chính vi mô Việt Nam phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa.

c Giai đoạn phát triển theo chiều sâu (từ năm 2000 đến nay):

Vào đầu thế kỷ 21, tài chính vi mô không còn là một chương trình trọng tâmcủa các tổ chức trên thế giới Do đó, nhiều dự án, chương trình có hợp phần về tàichính vi mô tại Việt Nam đều lần lượt chấm dứt Chương trình tín dụng có phạm vilớn của UNICEF mà hội phụ nữ là đối tác thực hiện ở 42 tỉnh/thành cũng ngừng hoạtđộng, tiết kiệm của thành viên bị trả lại, quỹ vốn quay vòng được thu gom và sử dụngcho mục đích khác Nhiều nhà tài trợ lớn đã rút hỏi chương trình và đem theo nguồnvốn của họ, bỏ lại đằng sau sự hụt hẫng của những người nghèo đang tham gia cácchương trình đó

Chương trình của các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng lần lượt bàn giao chođịa phương tự quản lý trong khi mô hình còn chưa hoàn chỉnh, chưa rõ rnàg về mặt tổchức, về tính pháp lý và quyền sở hữu, Có thể nói, đây là giai đoạn cực kỳ khó khănvới các tổ chức họat động tài chính vi mô bởi lẽ: 1) Cơ quan được giao thực hiện chưaphải là pháp nhân độc lập để tiếp nhận bàn giao; 2) Cơ quan nhận bàn giao chươngtrình không hiểu rõ về tài chính vi mô Trong khi đó, cơ sở pháp lý để tiếp nhậnchương trình còn nhiều bất cập, không rõ ràng về quyền sở hữu Cơ quan kiểm trahành chính không phù hợp với giám sát hoạt động tài chính vi mô Tất cả những khókhăn đó đã dẫn tới hàng loạt chương trình tài chính vi mô bị thu hẹp hoặc tàn lụi nhưUNICEF, UNFPA, CIDSE, OXFAM Anh, OXFAM Hồng Kông, Quây cơMỹ, Những chương trình chuyên về tài chính vi mô từng nổi danh một thời nhưchương trình của SCUK cũng đã mai một do định hướng không chuẩn Quỹ TìnhThương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) bề thế như vậy nhưng suốt trên 8 năm liền(1998 - 2005) cũng không nhận được thêm nguồn tài trợ và hỗ trợ kỹ thuật nào từ bênngoài khiến cho việc mở rộng bị hạnh chế trong một thời gian dài

Trong bối cảnh đó, một số tổ chức đã quyết tâm củng cố, chuyển đổi cơ cấu tổchức và tài chính, tăng cường năng lực và chuyên nghiệp hóa, sẵn sàng hòa vào dòngchảy tài chính chính thức khi luật pháp cho phép Hàng loạt quỹ xã hội được thành lậpdựa trên cơ sở pháp lý là Nghị định 177-1999/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của cácquỹ xã hội, quỹ từ thiện nhân đạo và sau này được thay thế bởi Nghị định cùng tên số148/2007/NĐ-CP Bảy chương trình tiết kiệm -tín dụng do ActionAid tài trợ đã lựachọn khung pháp lý trên để chuyển đổi Tính tới nay, có khoảng 9 quỹ xã hội hoạtđộng tài chính vi mô Tuy nhiên, cơ sở pháp lý này cũng còn nhiều bất cập Năm 2006,Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) đã quyết định chuyển đổi thành

Trang 16

đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam để tăng tính độclập và hạch toán đầy đủ

Về khung pháp lý và chính sách, mặc dù Chính phủ đã dự thảo Nghị định từnhững năm 2002 nhưng phải đến năm 2005 Nghị định 28/2005/NĐ-CP về thành lập vàhoạt động tổ chức tài chính quy mô nhỏ mới được ban hành, tiếp sau đó là Nghị định

165 bổ sung Nghị định 28 Lần lượt các thông tư hướng dẫn đã ra đời Đến nay mớichỉ có Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và M7 là hai tổ chức được cấp phép thành lập

và hoạt động tài chính vi mô theo khung pháp lý mới Với giấy phép này, Quỹ tìnhThương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) sẽ được chuyển đổi thành Tổ chức Tàichính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tình Thương, góp mặt vàohoạt động tài chính vi mô chính thức của quốc gia

1.3 CUNG, CẦU CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

1.3.1 CẦU ĐỐI VỚI TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

Cũng như tài chính vi mô tại các nước trên thế giới, đối tượng của tài chính vi

mô Việt Nam là các hộ dân thu nhập thấp, tập trung vào những hộ nghèo theo chuẩnnghèo của chính phủ (400,000đ/người/tháng trở xuống tại nông thôn và500,000đ/người/tháng trở xuống tại thành thị) Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2008 là13%, năm 2009 được giảm xuống còn 11% (theo báo cáo của Chính phủ) Đến năm

2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước tăng đột biến lên 14.2% Từ năm 2010, do thực hiện tốtcác chính sách về giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam đã liên tục giảm xuốngcòn 11.76% năm 2011 và 9.6% năm 2012 Tuy nhiên, so với dân số Việt Nam trên 88triệu người (hết năm 2012), số lượng người nghèo vẫn là một con số khá lớn Và giảipháp giảm nghèo một phần chính là tài chính vi mô

Trong số các đối tượng nghèo kể trên, nhóm đối tượng chính của tài chính vi môViệt Nam là phụ nữ Việc xác định đối tượng này xuất phát từ một số yếu tố sau:

- Tài chính vi mô không yêu cầu thế chấp Đây là một cơ hội cho phụ nữ tiếp cậntín dụng vì thông thường ngân hàng yêu cầu thế chấp trong khi các tài sản có giátrị của gia đình như đất đai, phương tiện đi lại thường đứng tên người chồng

- Các dịch vụ tài chính vi mô mà phụ nữ tiếp cận thường có ảnh hưởng sâu rộngđối với cả gia đình Thông thường, các thu nhập tăng lên nhờ các khoản vốn vayđược đầu tư trở lại cho gia đình như cải thiện điều kiện sống, bảo đảm sức khỏe,giáo dục cho con cái

- Dịch vụ tài chính vi mô giúp phụ nữ tự chủ về tài chính, từ đó giảm sự lệ thuộccủa phụ nữ vào chồng, con trong gia đình

- Song song với các dịch vụ tài chính, phụ nữ tham gia các chương trình tài chính

vi mô được thụ hưởng các nội dung lồng ghép như sinh hoạt cộng đồng, giao lưu

Trang 17

văn hóa, văn nghệ, đặc biệt là đào tạo một số kiến thức và kỹ năng hữu ích Việclàm này nhằm mục đích nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội.

1.3.2 CUNG ĐỐI VỚI TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

Tại Việt Nam, các dịch vụ tài chính vi mô được cung ứng qua 3 nhóm chính:

- Ngân hàng Nông nghiệp và

Phát triển Nông thôn Việt

- Công ty Dịch vụ Tiết kiệm

Bưu điện Việt Nam

- Tổ chức tài chính quy mô

- Trên 50 tổ chức tài chính vi

mô bao gồm các quỹ xã hộihoạt động chuyên về tàichính vi mô

- Hàng trăm dự án, chươngtrình tín dụng nhỏ hoặc tàichính vi mô do Hội Liên hiệpphụ nữ Việt Nam thực hành

Họ/Hụi (Hình thức phổbiến các hội tiết kiệm

và quay vòng vốn)

Họ hàng, bạn bè, hàngxóm

Người cho vay lãi

a Nhóm chính thức.

Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam.

Với mạng lưới 610 chi nhánh tại 63 tỉnh, thành phố và dội ngũ cán bộ, nhânviên lên đến gần 8 000 người, đến tháng 9/2009, Ngân hàng chính sách xã hội đã chovay 46% số người nghèo ở nông thôn và miền núi Sau khi có sự phân định đối tượng,hầu hết các chi nhánh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn không còncung cấp món nhỏ cho các hộ nghèo Thay vào đó, Ngân hàng chính sách xã hội đượcphân công khu vực này và khu vực 3 của miền núi Tuy nhiên, với cơ chế “lấy cho vaytrung hạn làm chủ yếu và mức vốn lớn”, Ngân hàng chinh sách xã hội đã để lại khoảngtrống giữa các hộ nghèo chưa được vay và cả những hộ đang có dự nợ không còn cơhội vay tiếp trong khi vẫn còn nhu cầu Mặt khác, sự phân định thị trường đã vô tìnhloại ra ngoài tầng lớp cận nghèo chiếm tỷ lệ không nhỏ

Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam

Cùng với ngân hàng chính sách xã hội, ngân hàng nông nghiệp và phát triểnnông thôn là hai tổ chức chính thức cho vay dân cư lớn nhất ở khu vực nông thôn và

Trang 18

miền núi Từ năm 2003, ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chuyểngiao việc cho vay hộ nghèo cho Ngân hàng chính sách, nhưng vẫn thực hiện một số dự

án tín dụng do các tổ chức quốc tế tài trợ thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển chínhthức (ODA) cùng với các chương trình tín dụng trựa tiếp khác từ chính phủ Vốn vaycủa ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ yếu cung cấp cho những ngườinông dân ở khu vực nông thôn thuộc tầng lớp trên và cho vay các doanh nghiệp lớn

Quỹ tín dụng nhân dân.

Quỹ TDND Trung ương được thành lập lần đầu tiên vào năm 1993 Quỹ TDND

là tổ chức tín dụng nông thôn thành lập tại xã để cung cấp dịch vụ tài chính cho các hộnông dân tại địa phương Sự ra đời của hệ thống này đã góp phần quan trọng vào chovay nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên phương pháp tiếp cận có tài sản đảm bảo củaQuỹ Ttn dụng nhân dân cũng chưa thực sự hấp dẫn đối với người nghèo

Công ty dịch vụ Tiết kiệm bưu điện Việt Nam.

Được thành lập vào năm 1999, công ty dịch vụ tiết kiệm bưu điện hoạt độngdưới quyền của Tổng cục Bưu chính viễn thông Việt Nam.Chức năng chính của công

ty là cung cấp sản phẩm tiết kiệm dưới dạng phục vụ cho bộ phận dân cư Việt Nam(nông thôn, phụ nữ, người nghèo) để vận động tiết kiệm cho việc đầu tư phát triểnchính phủ Hiện nay công ty đã có chi nhánh hoạt động rộng khắp các tỉnh, thành phố,mức gửi tối thiểu là 50 000 nhưng cũng rất khó khăn đối với những hộ nghèo, dân tộcmiền núi ở xa các trạm, chi nhánh bưu điện

Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tình Thương (TYM)

Tiền thân là Quỹ Tình Thương (Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam), được HộiLiên hiệp Phụ nữ Việt Nam thành lập năm 1992 Trải qua 20 năm hoạt động, QuỹTình Thương đã tiếp cận và cung cấp dịch vụ tài chính và phi tài chính cho trên 80 000thành viên là phụ nữ nghèo thuộc 10 tỉnh phía Bắc Ngày 17/8/2010, được Ngân hàngNhà nước cấp phép thành lập và hoạt động tài chính quy mô nhỏ, Quỹ Tình Thươngchuyển đổi thành Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viênTình Thương (TYM)

 Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn M7

M7-MFI được thành lập trên cơ sở góp vốn của 03 Quỹ xã hội (Quỹ Hỗ trợ phụ

nữ miền núi phát triển Mai Sơn, Quỹ Khuyến khích phụ nữ phát triển thị xã Uông Bí

và Quỹ Hỗ trợ phụ nữ Đông Triều) hoạt động tại địa bàn 02 tỉnh là Sơn La và QuảngNinh M7 đã đựoc Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cấp Giấy phép hoạtđộng số 16a/GP-NHNN ngày 13/01/2012 về việc thành lập và hoạt động của M7-MFI

Trang 19

với tên đày đủ là Tổ chức tài chính vi mô trách nhiệm hữu hạn M7.

b Nhóm bán chính thức.

Các nhà cung cấp tài chính bán chính thức bao gồm các tổ chức được thành lậptheo luật pháp Việt Nam Những tổ chức tài chính vi mô này được coi là khuyến khíchngười nghèo hơn và hướng tới việc cung cấp dịch vụ tài chính sâu rộng hơn và thíchhợp hơn so với khu vực tài chính chính thức Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng 57 tổchức tài chính vi mô hoạt động trong nhóm bán chính thức, tiêu biểu là Quỹ CEP

1.4 VAI TRÒ CỦA TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI VIỆT NAM

Với những sản phẩm, dịch vụ và hoạt động của ngành, tài chính vi mô đã vàđang đóng một số vai trò quan trọng trong sự phát triển của quốc gia, cụ thể:

1.4.1 CUNG CẤP CÁC DỊCH VỤ TÀI CHÍNH CHO XÃ HỘI

Cũng như những đối tượng xã hội khác, người nghèo cũng có những nhu cầukhác trong cuộc sống như nhà ở, lương thực, chăm sóc sức khỏe, học hành, v.v và cácnguồn tài chính để đáp ứng những nhu cầu trên Sự ra đời và phát triển của tài chính vi

mô với đối tượng là khách hàng nghèo và thu nhập thấp góp phần thỏa mãn nhu cầucủa họ cũng như của xã hội nói chung, qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội

1.4.2 THÚC ĐẨY SỰ PHÁT TRIỂN CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

Hoạt động của khu vực tài chính chính thức thường gồm các ngân hàng thươngmại hay các công ty tài chính với đối tượng phục vụ là các doanh nghiệp lớn hay cáckhách hàng truyền thống có khả năng về tài sản Cơ hội cho những người nghèo, ngườithu nhập thấp đối với các dịch vụ này là rất ít Do đó, sự ra đời và hoạt động của tàichính vi mô góp phần bổ sung một nguồn cung tiềm năng, phục vụ cho một đối tượngkhách hàng mà trước đó chưa được quan tâm bởi các nhà cung cấp tài chính chínhthức Xét về mặt cấu trúc thị trường, sự tham gia của những nhà cung cấp dịch vụ mớinày sẽ khiến thị trường tăng tính cạnh tranh, sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trởnên đa dạng và thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của khách hàng và xã hội Tài chính vi mô,khi chứng tỏ được thế mạnh của mình, sẽ khiến các nhà cung cấp dịch vụ chính thứcphần nào hướng sự quan tâm sang ngành này và thúc đẩy sự phát triển của tài chính vi

Trang 20

mô nói riêng và hệ thống tài chính nói chung.

1.4.3 GÓP PHẦN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

Nghèo đói là vấn đề nhức nhối trong các quốc gia đang phát triển, trong đó cóViệt Nam Để giúp người nghèo, các cách thức thường được áp dụng là giúp họ pháttriển sản xuất bằng vốn vay, bằng kỹ thuật Nhưng tốt hơn cả là giúp họ tự tạo việclàm ổn định, đối phó với rủi ro và từng bước thoát nghèo Đó chính là những gì tàichính vi mô đang thực hiện Với các sản phẩm lồng ghép đa dạng, tài chính vi môcung cấp cho người nghèo nguồn vốn phù hợp với khả năng chi trả mà không đòi hỏithế chấp, cho phép họ tận dụng các nguồn lực sẵn có để sản xuất kinh doanh, đồngthời cho họ một tấm lưới an toàn để tránh tái nghèo

1.4.4 NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG BIÊN

Trong một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, các yếu tố sản xuất như vốn,

kỹ thuật, phương tiện và các nguồn lực khác đều rất hạn chế Trong khi đó, chúng talại có một nguồn lao động dồi dào Trong khi dân số tăng nhanh hàng năm, các yếu tốsản xuất bổ sung không tăng hoặc không tăng kịp tốc độ tăng dân số Thực trạng nàydẫn đến mỗi đơn vị sản phẩm trên một đơn vị lao động giảm dần Để giải quyết tìnhtrạng này, việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số là không đủ, mà còn cần bổ sung các yếu tốsản xuất Và các dịch vụ tài chính vi mô đã phần nào cho người nghèo tiếp cận vốn và

kỹ thuật, kết hợp với nguồn lực sẵn có của họ như sức lao động, ruộng vườn, địa điểmkinh doanh sản xuất để tạo việc làm bổ sung cho bản thân và xã hội Từ đó, năng suấtlao động biên của họ và xã hội cũng tăng lên

1.4.5 ĐA DẠNG HÓA CÁC KHOẢN THU NHẬP NGOÀI SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

Ở nước ta, người nghèo phần lớn tập trung ở khu vực nông nghiệp, nông thôn,nơi mà họat động sản xuất nói chung phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và chỉ mangtính mùa vụ Ngoài thời gian dành cho nông nghiệp, người dân có thể thực hiện cáccông việc khác nhưng lại thiếu vốn, thiếu kỹ thuật cũng như các phương tiện sản xuất,kinh doanh khác Khi có các dịch vụ tài chính vi mô, họ có một phần nguồn để nghĩđến các ngành nghề phụ hay các công việc kinh doanh, buôn bán khác Nhờ đó, nguồnthu nhập của họ đa dạng hơn, giảm sự phụ thuộc vào các điều kiện thiên nhiên

1.4.6 GIÚP NGƯỜI NGHÈO TRÁNH, GIẢM RỦI RO VỀ KINH TẾ

Như đã đề cập trên đây, người nghèo phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiênnhiên Họ cũng không có đủ điều kiện tài chính để ứng phó với những cú sốc bênngoài nên một khi gặp rủi ro, những nỗ lực suốt một quá trình dài của họ có thể khôngđược giữ lại Một lần bạo bệnh, một lần thiên tai có thể khiến họ mất nguồn thu, thậmchí phải bán hết tài sản với giá rẻ để giải quyết những khó khăn đột xuất Để hỗ trợngười nghèo thoát nghèo bền vững, tài chính vi mô đã cung cấp cho họ dịch vụ bảo

Trang 21

hiểm vi mô để giảm thiểu tác động của những rủi ro trong cuộc sống Nhờ đó, thànhquả lao động của họ không bị mất đi, mà vẫn góp phần giúp họ từng bước thoát nghèo.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Tài chính vi mô đã được chứng minh là hoạt động có ý nghĩa xã hội sâu sắc vàngày càng lớn mạnh ở nhiều quốc gia trên khắp các châu lục, đặc biệt là ở các nướcđang phát triển trong đó có Việt Nam Vì vậy, việc hiểu rõ về tài chính vi mô cùng vớinhững nguyên lý hoạt động, đặc điểm, vai trò và đặc biệt là hiện trạng phát triển tàichính vi mô là cần thiêt và là cơ sở quan trọng giúp các nhà quản lý đưa ra các chiếnlược phát triển tài chính vi mô phù hợp trong cơ cấu kinh tế chung

Trang 22

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

2.1 GIỚI THIỆU HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

2.1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HỘI

Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội, tập hợp rộng rãi

các tầng lớp phụ nữ Việt Nam Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,thành viên của Liên đoàn phụ nữ dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữASEAN (Hiệp Hội các nước Đông Nam Á) Hội tham gia tích cực trong các hoạt động

vì hoà bình, đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc và tiến bộ xã hội trên toàn thế giới

Hệ thống tổ chức của hội gồm 4 cấp: 1) Trung ương; 2) Tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương (gọi là cấp tỉnh); 3) Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh

và tương đương (gọi là cấp huyện) và 4) Xã, phường, thị trấn và tương đương (gọi là

cấp xã). Đến tháng 12/2011, Hội đã tập hợp được 15 342 302hội viên trên toàn quốc.

Mục đích của Hội là hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo

bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của phụ nữ

2.1.2 CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM

Chức năng của Hội được định nghĩa như sau:

- Đại diện chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tầng lớpphụ nữ, tham gia xây dựng Đảng, tham gia quản lý Nhà nước;

- Đoàn kết, vận động, phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chínhsách, pháp luật của Nhà nước, vận động xã hội thực hiện bình đẳng giới

Trên cơ sở đó, nhiệm vụ của Hội bao gồm:

- Tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, lý tưởng cách mạng, phẩm chất đạođức, lối sống; đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;

- Vận động các tầng lớp phụ nữ chủ động, tích cực thực hiện đường lối, chủtrương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tham gia xây dựng Đảng, Nhànước, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng caonăng lực, trình độ, xây dựng gia đình hạnh phúc; chăm lo cải thiện đời sống vật chất,tinh thần của phụ nữ;

- Tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện xã hội và giám sát việc thựchiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước có liên quanđến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ, gia đình và trẻ em;

- Xây dựng, phát triển tổ chức Hội vững mạnh;

- Đoàn kết, hợp tác với phụ nữ các nước, các tổ chức, cá nhân tiến bộ trong khu

Trang 23

vực và thế giới vì bình đẳng, phát triển và hòa bình.

2.2 HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ TẠI HỘI LIÊN HIỆP PHỰ NỮ VIỆT NAM 2.2.1 VAI TRÒ CỦA HỘI LHPN VIỆT NAM TRONG NGÀNH TÀI CHÍNH VI MÔ VIỆT NAM

Ở hầu hết các nước, các tổ chức phi chính phủ là những người tiên phong trongcông nghệ tín dụng vi mô Tại Việt Nam, phong trào này được triển khai thông qua bộmáy của các tổ chức đoàn thể đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng như Hội Liên hiệp Phụ

nữ Việt Nam hay Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân

Từ cuối những năm 1980, thông qua các dự án tăng thu nhập do các tổ chứcquốc tế hỗ trợ, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã bắt đầu triển khai các hoạt động tíndụng nhỏ đi đôi với tiết kiệm nhằm mở rộng cơ hội tiếp cận với các dịch vụ tài chínhcho hội viên phụ nữ Từ những ngày đầu thực hiện, Hội đã vận dụng các nguyên lýchủ yếu của tài chính vi mô kết hợp với đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm từ Hội Phụ

nữ địa phương những người hiểu rất rõ về địa phương mình, có uy tín và luôn quantâm tới chị em phụ nữ để thực hiện các dịch vụ tín dụng vi mô

Qua hơn 20 năm, hoạt động tín dụng tiết kiệm của Hội đã phát triển rộng khắptrong cả nước với hàng trăm nghìn nhóm phụ nữ tiết kiệm và vay vốn và trở thành tácnhân chiếm vị trí hàng đầu trong khu vực cung cấp TCVM bán chính thức Vị trí hàngđầu này của Hội trong ngành TCVM đã được ghi nhận trong các báo cáo, đánh giá củacác tổ chức quốc tế như Ngân hàng phát triển châu Á, Ngân hàng Thế giới, v.v

Không chỉ trực tiếp tham gia như một tổ chức cung cấp và trung gian cung cấp cácsản phẩm tài chính vi mô, Hội LHPN Việt Nam - với chức năng luật định là tham giaquản lý Nhà nước và phản biện xã hội – còn đóng vai trò tích cực trong việc xây dựngchính sách thông qua việc góp ý vào các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh lĩnh vựctín dụng quy mô nhỏ Kinh nghiệm thực tiễn và sự tham gia của Hội từ những ngày đầuhình thành Nhóm công tác TCVM giúp lãnh đạo Hội có những đóng góp tích cực hơntrong vai trò là thành viên của Ban công tác TCVM của Chính phủ mới thành lập

Nhờ những đối mới, sáng tạo và khả năng lãnh đạo trong ngành tài chính vi mô,tháng 8/2010 vừa qua, Hội LHPN Việt Nam đã được Thống đốc Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam trao giấy phép thành lập và hoạt động tài chính quy mô nhỏ đầu tiên tại ViệtNam Giấy phép này thể hiện sự tin tưởng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối vớitính chuyên nghiệp và khả năng bền vững trong hoạt động tài chính vi mô của Hội

2.2.2 CÁC HÌNH THỨC HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA HỘI LHPN VIỆT NAM VÀ NHỮNG KẾT QUẢ CHÍNH

a Các hình thức hoạt động TCVM của Hội

Trang 24

Được Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện các hoạt động tín dụng - tiếtkiệm, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam đã thể hiện tốt vai trò quan trọng của mìnhtrong việc cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho phụ nữ nghèo và gia đình họ Cáchình thức cung cấp dịch vụ của Hội có thể kể đến như:

- Phân phối vốn ủy thác của Ngân hàng chính sách xã hội và Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn

- Cung cấp dịch vụ tín dụng - tiết kiệm lồng ghép các hoạt động nâng cao kiếnthức, năng lực cho phụ nữ nghèo và cán bộ Hội thông qua các chương trình, dự án docác tổ chức quốc tế tài trợ và giao cho Hội quản lý hoặc chương trình tài chính vi môthuộc sở hữu của Hội

- Hoạt động tín dụng, tiết kiệm của các tổ, nhóm tín dụng - tiết kiệm xuất phát

từ phong trào vận động cộng đồng do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vận động vớimục tiêu phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình

Phát vốn ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng nông nghiệp

và Phát triển Nông thôn

Thực hiện trách nhiệm của một tổ chức chính trị xã hội trong hoạt động cho vaycác đối tượng chính sách, Hội trở thành kênh phân phối vốn vay của Ngân hàng Chínhsách Xã hội Đồng thời Hội cũng ký nghị quyết liên tịch với Ngân hàng NN&PTNTcung cấp vốn phát triển sản xuất không cần thế chấp cho phụ nữ

Hình 4: Quy mô dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội phụ nữ trung bình/thành

viên và lao động nữ, 2007-2011

Dư nợ bình quân theo thành viên Dự nợ bình quân theo lao động nữ

Nguồn: Phân tích số liệu TCVM Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2013)

Trung bình quy mô của một món vay (lượt vay) đã tăng hàng năm, từ 3.81 triệuđồng/món vay (năm 2007) lên đến 7.15 triệu đồng/món vay (năm 2011), tương đươngvới tăng 1.9 lần Xu hướng tăng quy mô tín dụng TCVM trung bình trên một món vay

Trang 25

đều xảy ra ở cả bốn nguồn tín dụng TCVM cho Hội Phụ nữ trong cùng khoảng thờigian Quy mô món vay trung bình từ ngân hàng NN&PTNT là lớn nhất, đạt tới 20.11triệu đồng trung bình một món vay, 13.9 triệu đồng/món vay từ NHCSXH Dư nợ tíndụng bình quân cho một lao động nữ tăng lên nhanh chóng Năm 2007, mỗi lao động

nữ trung bình được vay 1.21 triệu đồng từ các nguồn tín dụng TCVM ủy thác qua HộiPhụ nữ, và đến 2011 con số này đã là 2.67 triệu đồng/lao động nữ, tương đương vớitốc độ tăng trung bình hàng năm đạt mức 22.4%/năm Quy mô dư nợ tín dụng TCVMtrung bình một lao động nữ chủ yếu được hình thành từ nguồn ủy thác của NHCSXH

 Cung cấp dịch vụ tín dụng - tiết kiệm lồng ghép các hoạt động nâng cao kiến thức, năng lực cho phụ nữ nghèo và cán bộ Hội thông qua các chương trình,

dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ và giao cho Hội quản lý hoặc chương trình tài chính vi mô thuộc sở hữu của Hội

Thực tế cung cấp dịch vụ tài chính vi mô cho phụ nữ nghèo của Hội cho thấyphụ nữ nghèo cũng như người nghèo nói chung hoàn toàn có thể vay và hoàn trả vốn

để phát triển kinh tế với mức lãi suất không bao cấp Nhiều chương trình TCVM vàcác nhóm TDTK mà Hội quản lý vẫn có thể áp dụng mức lãi suất theo hướng thịtrường nhằm bảo đảm tính bền vững do đưa ra được những sản phẩm vốn vay phù hợpvới nhu cầu và khả năng của người nghèo Thực tế cho thấy Hội đóng vai trò quantrọng trong việc chuyển biến nhận thức của người dân, xóa bỏ thái độ trông chờ, ỷ lạivào vốn vay bao cấp của Nhà nước và trở thành kênh chuyển vốn cho người nghèotheo hướng bền vững, giảm bớt gánh nặng bao cấp lãi suất cho ngân sách quốc gia

Tuy tỷ lệ thâm nhập thị trường lao động nữ (1.3%) và mức dư nợ vốn/ngườivay (2.25 triệu đồng) của các chương trình tín dụng - tiết kiệm lồng ghép so với dư nợvốn của hai ngân hàng kể trên là rất nhỏ, hoạt động của các chương tình tín dụng-tiếtkiệm này lại chính là điểm mạnh và thể hiện rõ nét sứ mệnh xã hội của Hội Với trên

210 chương trình tín dụng - tiết kiệm, Hội đã không ngừng đào tạo các kiến thức, kỹnăng giúp cán bộ Hội và phụ nữ nâng cao hiểu biết và năng lực, từ đó nâng cao địa vịcủa họ trong gia đình và xã hội Một số nội dung lồng ghép có thể kể đến như:

- Bình đẳng giới

- Chăm sóc sức khỏe: dinh dưỡng,

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngư nghiệp

- Giải quyết việc làm

- Nhà ở, nước sạch,vệ sinh môi trường

- Hỗ trợ phụ nữ đơn thân, người cao tuổi, người có nguy cơ cao

-

Trang 26

 Hoạt động tín dụng, tiết kiệm của các tổ, nhóm tín dụng - tiết kiệm xuất phát từ phong trào vận động cộng đồng do Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam vận động với mục tiêu phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình

Các tổ, nhóm này được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện Nguồn vốn củacác tổ, nhóm chủ yếu từ tiền góp tiết kiệm của các thành viên (một phần nhỏ là đónggóp từ lao động công ích và đóng góp quỹ, ) và chủ yếu được sử dụng để cho vayquay vòng giữa các thành viên đặt dưới sự quản lý của hội phụ nữ, xã phường Quy

mô một món vay trung bình đạt 0.7 triệu đồng Tuy nhiên, xét về tỷ lệ thâm nhập thịtrường các các tổ TKTD đã hoạt động ở 10953 xã chiếm 98.5% tổng số đơn vị hànhchính cấp xã có hoạt động tín dụng TCVM của Hội, với tỷ lệ thành viên chiếm 41.4%tổng thành viên tham gia các chương trình tín dụng TCVM của Hội và chỉ sau Ngânhàng chính sách xã hội (48.4%) Có lẽ sự phổ biến của loại hình này là nhờ vào sựhiểu biết lẫn nhau giữa các chị em trong cùng cộng đồng và sự đơn giản về thủ tục và

dễ quản lý đối với những món tiền nhỏ

b Những kết quả chính

Với những hình thức này, Hội đã cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho một

bộ phận lớn phụ nữ trong độ tuổi lao động (33.2%) tức là cứ 3 phụ nữ làm việc thì có 1phụ nữ được vay tín dụng TCVM ủy thác qua Hội phụ nữ Số tổ/nhóm và hội viêntham gia các chương trình tín dụng TCVM của Hội tăng dần qua các năm, năm 2007

số tổ/ nhóm là 243.4 ngàn thì năm 2011 số tổ/nhóm đạt 267.3 ngàn, số thành viên thamgia các chương trình tín dụng TCVM của Hội năm 2007 là 5027.7 ngàn thì năm 2011

số thành viên tăng lên đạt con số là 6552.4 ngàn thành viên

Hình 5: Mức độ tiếp cận (% lao động nữ) TCVM qua Hội Phụ nữ, 2007-2011

Nguồn: Phân tích số liệu TCVM Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2013)

Về quy mô dư nợ, tổng dư nợ hoạt động tín dụng TCVM ủy thác qua Hội Phụ

nữ đã tăng mạnh từ năm 2007 (đạt 19144 tỷ đồng) đến 2011 (đạt mức 46881 tỷ đồng)

Trang 27

Tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội Phụ nữ bình quânhàng năm ở mức 25.1%/năm Nếu xét riêng về quy mô dư nợ giữa các đơn vị ủy tháccho Hội Phụ nữ, NHCSXH đang là đơn vị ủy thác có quy mô tín dụng TCVM lớn nhất

và quan trọng nhất đối với hoạt động tín dụng TCVM của Hội Phụ nữ Trong 5 nămqua, tỷ trọng vốn tín dụng TCVM từ NHCSXH cho Hội phụ nữ không ngừng tăng lên.Thêm vào đó, hoạt động tín dụng TCVM của ngân hàng NN&PTNT ủy thác cho HộiPhụ nữ đã thu hẹp quy mô và tiến tới ngừng ủy thác cho Hội Như vậy, tầm quan trọngcủa tín dụng TCVM ủy thác qua Hội Phụ nữ sẽ đặt lên NHCSXH và các tổ TKTD

Hình 6: Quy mô và cơ cấu dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội, 2007-2011

Nguồn: Phân tích số liệu TCVM Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2013)

Về chất lượng tín dụng: Hiệu quả tín dụng vi mô qua Hội Phu nữ ở mức tươngđối tốt, thể hiện ở tỷ lệ nợ quá hạn giảm dần qua các năm Tỷ lệ nợ quá hạn trung bìnhcủa các nguồn vốn tín dụng tại Hội Phụ nữ là tương đối thấp so với tỷ lệ nợ quá hạncủa hệ thống ngân hàng và có xu hướng giảm dần theo thời gian

Hình 7: Quy mô và tỷ lệ nợ quá hạn theo các đơn vị ủy thác, 2007-2011

Quy mô nợ quá hạn theo các đơn vị ủy thác Tỷ lệ nợ quá hạn theo các đơn vị ủy

thác

Nguồn: Phân tích số liệu TCVM Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2013)

Trang 28

Kết quả thống kê cho thấy, quy mô nợ quá hạn có sự thay đổi hàng năm và sựkhác biệt giữa các đơn vị ủy thác Trong tổng số nợ quá hạn tín dụng ủy thác, nợ quáhạn từ ủy thác của NHCSXH là 259.8 tỷ đồng chiếm 73.7% tổng nợ quá hạn ở năm

2011 Quy mô nợ quá hạn tín dụng TCVM ủy thác từ ngân hàng NN&PTNT là 69.4 tỷđồng tương đương với 19.7% tổng nợ quá hạn tại Hội Phụ nữ Nợ quá hạn của cácchương trình TCVM và các cơ sở TKTD ở mức thấp lần lượt chiếm 2.4% và 4.2%trong tổng số nợ quá hạn tại Hội Phụ nữ năm 2011

2.2.3 ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG TÀI CHÍNH VI MÔ CỦA HỘI

a Sản phẩm, dịch vụ tài chính đa dạng

Vốn vay

Cùng với việc đa dạng hóa các kênh chuyển vốn đến cho phụ nữ, thông qua các

dự án Hội còn cung cấp đa dạng các sản phẩm vốn vay, từ vốn vay trung hạn đến vốnvay ngắn hạn và vốn vay theo thời vụ, đáp ứng nhu cầu đa dạng của hội viên phụ nữ.Mục đích sử dụng của các loại vốn vay cũng được phân chia ra nhiều loại như vốn đầu

tư kinh doanh sản xuất, vốn tạo việc làm, vốn cải thiện điều kiện nhà ở, vệ sinh, môitrường, vốn sinh viên,

Tiết kiệm

Bên cạnh việc phát vốn, Hội cũng nhận thức rõ khả năng của người nghèo trongviệc tiết kiệm Từ đó, song song với việc cho vay vốn, Hội giáo dục chị em ý thức tiếtkiệm và tạo điều kiện để chị em có thể tiết kiệm thuận lợi nhất Ngoài việc đóng tiếtkiệm bắt buộc hàng tuần, phụ nữ được tạo điều kiện để đóng các khoản tiết kiệm tựnguyện rất nhỏ từ 5000 đồng trở lên vào các buổi hoàn trả tiền tuần mà không phải đi

xa hay trả phí mở và theo dõi tài khoản tiết kiệm Đặc biệt, Hội đã đưa việc hỗ trợ hộiviên thực hành tiết kiệm là một trong những nội dung quan trọng của khâu đột phá thứnhất của nhiệm kỳ 2012-2017 Điều này cho thấy, Hội càng chứng minh chủ trươngcủa Hội trong việc giáo dục, nâng cao ý thức tiết kiệm, tự tạo nguồn vôn sẵn có choHội viên

Bảo hiểm vi mô

Luôn đi sâu, đi sát với hoạt động của phụ nữ tại cơ sở, Hội nhận thức rõ tìnhtrạng nghèo của người dân, những nhu cầu của họ cũng như những rủi ro mà họ có thểphải gánh chịu Với mục tiêu hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế bền vững, Hội nhận thức

rõ vai trò của bảo hiểm đối với việc đảm bảo đời sống của người nghèo

Xuất phát từ nhận thức đó, Hội đã thiết kế các sản phẩm, dịch vụ bảo hiểm vi

mô đa dạng, thiết thực với những điều kiện thuận lợi để người nghèo chủ động bảo vệbản thân và gia đình Đến nay, Hội đang cung cấp dịch vụ bảo hiểm (tương trợ giađình) cho hơn 80,000 khách hàng của TYM

Trang 29

Ngoài ra, Hội cũng là một kênh phân phối dịch vụ bảo hiểm vi mô của Công tyBảo hiểm Manulife Việt Nam Nhờ đó, không chỉ những chị em phụ nữ tham giachương trình của TYM được tiếp cận dịch vụ bảo hiểm vi mô mà các chị em phụ nữkhác cũng có thể tiếp cận và thụ hưởng dịch vụ này.

b Lồng ghép hoạt động xã hội

Như đã đề cập ở trên, dịch vụ tín dụng vi mô do Hội cung cấp là dịch vụ “lồngghép”, các khoản tín dụng được Hội cung cấp cùng với các hoạt động hỗ trợ khác nhưhướng dẫn kỹ thuật sản xuất kinh doanh, dạy nghề tạo việc làm (thông qua chươngtrình phối hợp giữa Hội với các ngành khuyến nông/lâm/ngư, khuyến công, cục dạynghề…) và kiến thức, kỹ năng giúp nâng cao chất lượng cuộc sống (chăm sóc sứckhỏe sinh sản, dinh dưỡng, bình đẳng giới, xóa mù chữ, giảm tỷ lệ trẻ bỏ học v.v.).Cách tiếp cận lồng ghép này không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ và giađình họ mà còn cải thiện, nâng cao vị thế cho phụ nữ, giúp họ tham gia một cách cóhiệu quả và bình đẳng hơn vào đời sống kinh tế xã hội

2.3 MÔ HÌNH TÀI CHÍNH VI MÔ THÀNH CÔNG NHẤT CỦA HỘI: TỔ CHỨC TÀI CHÍNH QUY MÔ NHỎ TNHH MTV TÌNH THƯƠNG (TYM)

2.3.1 GIỚI THIỆU TỔ CHỨC TÀI CHÍNH QUY MÔ NHỎ TNHH MTV TÌNH THƯƠNG

a Lịch sử phát triển

Năm 1989, Ban chấp hành trung ương Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã phátđộng cuộc vận động "phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình" với 5 nội dung cụ thểtrong đó giúp nhau vốn sản xuất kinh doanh đã được từng bước phát triển là nguồn gốccủa chương trình tín dụng của Hội ngày nay

Cuối năm 1991 với sự giúp đỡ tận tình của cố vấn tín dụng FAO - tiến sỹ JameStole B Aris Alip, Hội LHPN Việt Nam đã xây dựng dự án tín dụng "Quỹ TìnhThương" nhằm hỗ trợ vốn cho nhóm phụ nữ nghèo và nghèo nhất theo phương pháptiếp cận kiểu ngân hàng Grameen - Bangladesh

Ngày 7/01/1992, bà Nguyễn Thị Thân – lúc bầy giờ là Tổng thư ký Trung ươngHội LHPN Việt Nam - đã ký quyết định số 11/QĐ về thực hiện Dự án Quỹ TìnhThương và trình Thủ tướng Chính phủ cho phép hoạt động thử nghiệm trên địa bànhuyện Sóc Sơn ngoại thành Hà Nội Ngày 20/2/1992, Chính phủ đã ban hành văn bản

số 563/KTĐN cho phép Hội thực thi dự án trên các vùng miền nghèo

Quỹ Tình Thương ra đời với tên giao dịch quốc tế là "Tau Yeu May" hay còngọi là TYM

 Giai đoạn từ 1992-1997

Từ năm 1992 đến năm 1997, TYM là một dự án trực thuộc Ban Gia đình đời

Trang 30

sống (nay là Ban Gia đình xã hội).

Năm 1992, với khoản tài trợ ban đầu của Quỹ ủy thác Châu Á (ACT) giúpTYM tiếp cận với phương pháp tín dụng theo kiểu ngân hàng Grameen, TYM đã thựchiện hoạt động tín dụng - tiết kiệm ở xã Minh Phú - huyện Sóc Sơn ngoại thành HàNội Sau đó mở sang 2 xã Tiên Dược và Phú Minh cùng huyện

Hoạt động chính của TYM là hỗ trợ vốn cho phụ nữ nghèo tăng thu nhập, pháttriển sản xuất và dịch vụ đông thời tuyên truyền nâng cao kiến thức về khuyến nông,

về giới, sức khỏe sinh sản, phòng chống tệ nạn xã hội.v v

Các khách hàng đến với TYM được tập trung nhau lại thành những nhóm 5người Từ 5-6 nhóm hình thành nên một cụm Hàng tuần, cụm tổ chức họp để trao đổithông tin cũng như hoàn trả gốc, lãi vốn vay và đóng tiết kiệm

Sau 2 năm hoạt động, ngày 24/2/1994, Chủ tịch Hội LHPN Việt Nam - Trương

Mỹ Hoa đã ký Quyết định cho phép Quỹ Tình Thương gia nhập tổ chức CASHPOR Mạng luới tín dụng và tiết kiệm cho những người nghèo khó nhất ở Châu Á - TháiBình Dương

- Giai đoạn từ 1998-2005

Sau 6 năm không ngừng phát triển mở rộng tổ chức, cải tiến sản phẩm, năm

1998, dự án Quỹ Tình Thương được tách ra khỏi Ban Gia Đình - Đời sống thành mộtđơn vị độc lập trực thuộc Đoàn Chủ tịch Trung ương Hội theo Quyết định số 14/QĐ -ĐCT ngày 12/01/1998

Sự chuyển đổi này đã minh chứng cho tính bền vững của chương trình và sựvượt khó vươn lên không ngừng của những người nghèo không đầu hàng với số phận

Từ đây, Quỹ Tình Thương đã hoạt động với bộ máy tổ chức riêng, con dấu, tàikhoản riêng và có các cán bộ chuyên trách trên Văn phòng trung ương Với cơ cấu độclập, tự chủ, đã giúp cho hoạt động tài chính vi mô của TYM chuyên môn và chặt chẽ hơn

Tính đến cuối tháng 11/2005, TYM đã triển khai hoạt động trên 7 tỉnh thànhcủa cả nước với 16 chi nhánh, 21,186 khách hàng với tổng số vốn phát ra gần 355.4 tỷđồng, dư nợ vốn đạt trên 51 tỷ đồng Tỷ lệ hoàn trả luôn đạt trên 99.9% Số tiền tiếtkiệm huy động được từ khách hàng là 24 tỷ đồng Số cán bộ tính đến thời điểm này là

140 cán bộ

 Giai đoạn 2006- tháng 8/2010

Năm 2006 được coi là năm bản lề trong quá trình phát triển của TYM Hội Liênhiệp Phụ nữ Việt Nam quyết định chuyển Quỹ Tình Thương thành đơn vị sự nghiệp cóthu hoạt động vì mục đích xã hội phi lợi nhuận Đây là kết quả của sự nỗ lực khôngngừng của cả tập thể cán bộ Quỹ Tình Thương trong suốt 8 năm Bước chuyển đổi này

Trang 31

tạo điều kiện để TYM có thể tiếp cận với nguồn vốn trong và ngoài nước nhằm mởrộng hoạt động phục vụ thêm nhiều phụ nữ nghèo Bởi hiện nay, các nguồn viên trợnước ngoài cho lĩnh vực tài chính vi mô có nhiều thay đổi từ hướng tài trợ cho khôngsang đầu tư cho vay hoặc ưu tiên cho các thể chế chính thức

Chính bước chuyển đổi này đã giúp TYM phát triển nhanh chóng Từ 21,186khách hàng năm 2005, sau 5 năm TYM đã thu hút được hơn 51,000 khách hàng tănggần 2.5 lần so với số lượng khách hàng tính đến 2005 Nếu như trước đây, một nămTYM chỉ phát triển tối đa từ 1-2 chi nhánh thì nay mỗi năm TYM đã mở rộng 10-15chi nhánh

 Giai đoạn tháng 8/2010 đến nay

Tháng 8/2010, theo Giấy phép thành lập và hoạt động tài chính quy mô nhỏ màNgân hàng Nhà nước trao cho Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, TYM chính thứcchuyển đổi thành Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một khách hàngTình Thương, có chủ sỡ hữu duy nhất là Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và hoạt độngdưới sự giám sát của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Đến hết tháng 6/2013, TYM đã đạt 88,041 nghìn khách hàng tại 10 tỉnh phíaBắc và miền trung bao gồm Hà Nội, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An

b Các thành tích đã đạt được

Với những thành tích nổi bật, TYM đã nhiều lần được Đảng, Nhà nước và HộiLHPN Việt Nam khen tặng:

- Năm 1999 nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ

- Năm 2002 nhận huân chương Lao động hạng Ba

- Năm 2007 nhận huân chương Lao động hạng Nhì, được Đoàn chủ tịch TWHội Tặng giải thưởng phụ nữ Việt Nam, được Trung ương Hội LHPN Việt Nam tặng

cờ thi đua đơn vị xuất sắc 5 năm (2002-2007)

- Năm 2012, nhân dịp kỉ niệm 20 năm thành lập, TYM đã vinh dự được nhậnhuân chương lao động hạng Nhất

- Năm 2007, 2008 và 2009, 2010, 2011, 2012, Nhóm công tác tài chính vi môViệt Nam (MFWG), Quỹ Citi và Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam trao tặng giảithưởng tổ chức tài chính vi mô tiêu biểu của năm và giải thưởng dành cho 64 kháchhàng điển hình vượt khó đi lên và 15 cán bộ có thành tích xuất sắc trong việc xóa đóigiảm nghèo

c Sứ mệnh, tầm nhìn và khách hàng mục tiêu

Sứ mệnh: Cải thiện chất lượng cuộc sống của phụ nữ nghèo thông qua hỗ trợ

Trang 32

tín dụng và tiết kiệm, tạo cơ hội cho phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế và xãhội góp phần nâng cao vị thế của người phụ nữ.

Tầm nhìn của TYM là “Trở thành một mô hình tài chính vi mô tốt nhất, cung

ứng dịch vụ tài chính vi mô hàng đầu cho những hộ gia đình có thu nhập ở mức nghèo

và cận nghèo của Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam”

Nhóm đối tượng của TYM là phụ nữ nghèo và cận nghèo, đáp ứng một số tiêu

chuẩn khác được chấp thuận là thành viên của TYM Các thành viên tham gia TYM sẽhình thành nên các Cụm 10-80 người Tại các buổi họp cụm, tất cả các thành viên đềuđược đào tạo về chính sách và thủ tục của TYM, về vai trò của Cụm và cộng đồngcũng như các kĩ năng tài chính và kinh doanh cơ bản

d Sản phẩm, dịch vụ.

Với phương châm phục vụ người nghèo bằng các sản phẩm phù  hợp, chấtlượng dịch vụ thân thiện và gần gũi, TYM luôn nghiên cứu và thiết kế các sản phẩmphù hợp với nhu cầu của người nghèo Hiện nay, TYM đang cung cấp cho khách hàngcủa mình các sản phẩm: vốn vay, tiết kiệm, quỹ tương trợ và các hoạt động cộng đồngnhằm nâng cao kiến thức, cải thiện địa vị cho phụ nữ nghèo Tất cả các dịch vụ củaTYM đều được cung cấp tại các buổi họp cụm hàng tuần/hàng tháng Đây là nơi thutiền hoàn trả và tiết kiệm Cụm cũng là nơi để các khách hàng trao đổi kinh nghiệm vềsản xuất kinh doanh; để cán bộ TYM và các chuyên gia bên ngoài phổ biến, đào tạokiến thức về gia đình, giới và các vấn đề khác; nơi tiến hành các hoạt động xã hội

 Vốn vay

Vốn chính sách

Là loại vốn được thiết kế đặc biệt dành riêng cho các thành viên TYM là hộnghèo theo quy định của Chính phủ Mức vốn tối đa mà thành viên có thể được tiếpcận là 10000 đồng, với lãi suất là 0.12%/tuần Vốn này hỗ trợ cho thành viên sử dụng

để đầu tư vào các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển ngành nghề, chế biến, tiêuthụ sản phẩm, kinh doanh, buôn bán, dịch vụ nhằm tăng thu nhập và cải thiện đời sốnggia đình TV

Vốn phát triển kinh tế

Là loại vốn được sử dụng để đáp ứng nhu cầu các thành viên TYM về vốn đầu tưvào các lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, phát triển ngành nghề, chế biến, tiêu thụ sảnphẩm, kinh doanh, buôn bán, dịch vụ nhằm tăng thu nhập nâng cao đời sống cho giađình TV Mức vốn dao động từ 1 – 25 triệu và tăng dần qua các vòng vốn Vốn pháttriển kinh tế được áp dụng cho tất cả các thành viên của TYM

Vốn tiêu dung

Trang 33

Đáp ứng nhu cầu thành viên về vốn phục vụ cho các mục đích tiêu dùng nângcao chất lượng cuộc sống Thành viên TYM được vay vốn tiêu dùng với các kỳ hạn là

25, 40 tuần Lãi suất trong trường hợp thành viên chứng minh được tình hình tài chínhminh bạch là 0.19%/tuần, hoặc khi không chứng minh được tình hình tài chính minhbạch là 0.24%/tuần

Vốn hỗ trợ xây dựng, sửa chữa (XDSC)

Đáp ứng nhu cầu thành viên TYM về vốn để xây dựng, sửa chữa nhà cửa, côngtrình phụ, công trình nước sạch với các kỳ hạn vay là 70, 100 tuần Lãi suất áp dụng tạithời điểm hiện hành là 0.25%/tuần Vòng 1 thành viên được vay 3-4 triệu đồng, vòng 2trở lên thành viên được vay 3-6 triệu đồng

- V1: từ 1-7 trđ

- V2 trở lên: từ 1-10 trđ 0.12% 50 tuần

2 Vốn tiêudùng

TV TYM có tìnhhình tài chính minhbạch

- V1: 1 - 5 trđ

- V2 trở lên: 1 - 10 trđ 0.19% 25, 40tuần

TV TYM khôngchứng minh đượctình hình tài chínhminh bạch

4 VốnXDSC TV TYM - V1: 3 - 4 trđ- V2 trở lên: 3 - 6 trđ 0.25%/ 70, 100tuần

 Quỹ Tương Trợ (bảo hiểm vi mô)

Xuất phát từ nhu cầu thiết thực của khách hàng và nhằm mục đích xây dựng

Trang 34

tinh thần tương thân tương ái giữa các chị em trong TYM, năm 1996 TYM đã giớithiệu gói sản phẩm Quỹ Tương Trợ cho khách hàng Sản phẩm góp phần hỗ trợ chị emphụ nữ có thu nhập thấp và gia đình vượt qua những rủi ro trong cuộc sống, từ đó giúpchị em và gia đình thoát nghèo và phát triển bền vững Với mức đóng chỉ 1000đ/tuần,

và với nhiều lợi ích phù hợp với điều kiện và nguyện vọng của khách hàng, gói sảnphẩm này nhanh chóng được khách hàng ưa thích và hưởng ứng tham gia Từ tháng4/2013, theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, TYM đang cung cấp 2 sản phẩmtương trợ cho thành viên là tương trợ y tế và tương trợ nhân thọ Một số quyền lợi màthành viên được hưởng như sau:

Bảng 2.2: Tổng hợp các mức chi trả tương trợ Sản

từ tuyếnHuyện trởlên

Thành viênphẫu thuật

từ tuyếnHuyện trởlên

(Tối đa 1lần trong vòng 5 năm tính từ thời điểm

đóng khoản tiền đầu tiên )

Năm thứ hai

Từ năm thứ ba

Trên 65 tuổi

250.000đ 750.000đ 1.000.000đ 500.000đ

Đối tượng

TV tham gia năm thứ nhất

TV tham gia năm thứ hai

TV tham gia từ năm thứ

ba trở lên

Tv, chồng trên 65 tuổi

TV 750.000đ 2.250.000đ 3.000.000đ 1.500.000đ

Chồng 250.000đ 750.000đ 1.000.000đ 500.000đ

Con 250.000đ 750.000đ 1.000.000đ

Trang 35

 Tiết kiệm

Để xây dựng nguồn vốn tự có và giáo dục thói quen tiết kiệm, tất cả các thànhviên của TYM đều được yêu cầu đóng tiết kiệm bắt buộc hàng tuần 10000 đồng/tuần.Tiết kiệm bắt buộc có lãi suất là 0.3%/tháng và được phép rút linh hoạt Ngoài ra,TYM còn khuyến khích thành viên gửi tiết kiệm tự nguyện, bắt đầu từ những món tiềnrất nhỏ trị giá 5000 đồng mỗi tuần

Đặc biệt, sau khi được câp phép, để đa dạng hóa sản phẩm đồng thời tạo nguồncho tổ chức, TYM đã đẩy mạnh triển khai các chương trình tiết kiệm tự nguyện có kỳhạn nhằm tạo điều kiện cho thành viên có thêm nhiều lựa chọn khi có tiền tiết kiệm.Với sản phẩm này, thành viên có thể gửi tại cụm hoặc tại chi nhánh với thủ tục gửi -rút tiết kiệm đơn giản, linh hoạt Ngoài các lựa chọn về kỳ hạn 3, 6, 9 Bên cạnh đó,thành viên còn có cơ hội nhận được những phẩn quà may mắn trong các chương trìnhkhuyến mại của TYM

 Sản phẩm phi tài chính:

Không chỉ cung cấp các sản phẩm tín dụng, tiết kiệm, TYM cũng đang thựchiện rất tốt vai trò và sứ mệnh xã hội của mình thông qua việc thực hiện các hoạt độngphát triển cộng đồng với các hoạt động cụ thể:

Thường xuyên tổ chức các khóa đào tạo tập trung cho các khách hàng.

- Đào tạo khách hàng trước khi tham gia hoạt động của TYM nhằm trang bị cho

họ kiến thức cơ bản về tín dụng và đảm bảo họ có sự hiểu biết đầy đủ, rõ ràng về mụcđích, ý nghĩa và cơ chế hoạt động của TYM cũng như các sản phẩm, dịch vụ họ đượchưởng cùng những bổn phận phải thực hiện. 

- Đào tạo cho đội ngũ cán bộ cụm: Nội dung đào tạo tập trung vào kĩ năng lãnhđạo, quản lý tại cộng đồng Đặc biệt, các cụm trưởng còn được đào tạo về cách điềuhành họp cụm, quản lý cụm và tổ chức các hoạt động của cụm Hàng năm TYM tiếnhành cho khách hàng bầu lại cán bộ cụm để các khách hàng đều có cơ hội được đàotạo những kĩ năng này

- Đào tạo nâng cao kiến thức kinh doanh và quản lý doanh nghiệp nhỏ cho kháchhàng có dự án kinh doanh, buôn bán

- Đào tạo, nâng cao nhận thức của khách hàng về vấn đề giới, vệ sinh môi trường,chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và phụ nữ mang thai Đây là những hoạt động lồngghép không chỉ dành cho khách hàng của TYM mà còn có sự tham gia của cán bộ chủchốt cấp thôn/xã/huyện nơi TYM hoạt động  

- Dạy xóa mũ chữ cho phụ nữ nghèo

Ngày đăng: 01/11/2014, 03:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngân hàng Thế giới, Việt Nam: Phát triển Chiến lược Toàn diện nhằm Mở rộng sự tiếp cận [của người nghèo và người có thu nhập thấp] đối với các Dịch vụ Tài chính Vi mô - Quyển II: Các lựa chọn/giải pháp cho một Chiến lược Toàn diện (30/09/2006) Khác
2. Tạp chí ngân hàng số 7, tháng 4/2013 3. Tạp chí ngân hàng số 12, tháng 6/2013 Khác
6. Báo cáo thường niên năm 2008, 2009, 2010 của Tổ chức tài chính quy mô nhỏ trách nhiệm hữu hạn một thành viên Tình Thương (TYM) Khác
8. Kết quả khảo sát các chương trình TCVM của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (Năm 2013) Khác
9. Lê Thị Lân, Xây dựng ngành tài chính vi mô Việt Nam phát triển theo hướng bền vững để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo (2009) Khác
10. Thạc sĩ Nguyễn Đức Hải, Tài chính vi mô và vai trò của nó trong hệ thống tài chính quốc gia (2009) Khác
11. Nguyễn Văn Phương, Tài chính vi mô – Lý luận cơ bản và sự cần thiết phát triển tại Việt Nam (2009) Khác
12. TS. Võ Khắc Thường & ThS. Trần Văn Hoàng, Tài chính vi mô tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm nhằm hạn chế đói nghèo tại Việt Nam Khác
13. Lê Thị Xuân, Giải pháp tăng cường ảnh hưởng của ngành tài chính quy mô nhỏ đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam (2009) Khác
19. Nghị định 28/2005/NĐ-CP ngày 09/03/2005 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ Khác
20. Nghị định 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Nghị định số 28/2005/NĐ-CP Khác
21. Thông tư 02/2008/TT-NHNN ngày 02/4/2008 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị định 28 và Nghị định 165 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4: Quy mô dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội phụ nữ trung bình/thành viên và lao động nữ, 2007-2011 - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 4 Quy mô dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội phụ nữ trung bình/thành viên và lao động nữ, 2007-2011 (Trang 23)
Hình 5: Mức độ tiếp cận (% lao động nữ) TCVM qua Hội Phụ nữ, 2007-2011 - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 5 Mức độ tiếp cận (% lao động nữ) TCVM qua Hội Phụ nữ, 2007-2011 (Trang 25)
Hình 7: Quy mô và tỷ lệ nợ quá hạn theo các đơn vị ủy thác, 2007-2011 - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 7 Quy mô và tỷ lệ nợ quá hạn theo các đơn vị ủy thác, 2007-2011 (Trang 26)
Hình 6: Quy mô và cơ cấu dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội, 2007-2011 - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 6 Quy mô và cơ cấu dư nợ tín dụng TCVM ủy thác qua Hội, 2007-2011 (Trang 26)
Bảng 2.2: Tổng hợp các mức chi trả tương trợ - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Bảng 2.2 Tổng hợp các mức chi trả tương trợ (Trang 32)
Bảng 2.1: Tổng hợp các sản phẩm vốn của TYM tháng 6/2013 Stt Sản - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Bảng 2.1 Tổng hợp các sản phẩm vốn của TYM tháng 6/2013 Stt Sản (Trang 32)
Hình 9: Biểu đồ tăng trưởng về Thành viên qua các năm - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 9 Biểu đồ tăng trưởng về Thành viên qua các năm (Trang 38)
Hình 12: Tỷ trọng dư nợ theo mục đích sử dụng vốn - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 12 Tỷ trọng dư nợ theo mục đích sử dụng vốn (Trang 39)
Hình 14: Biểu đồ số lượt chi trả quỹ tương trợ từ tháng 8/2008 đến nay - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Hình 14 Biểu đồ số lượt chi trả quỹ tương trợ từ tháng 8/2008 đến nay (Trang 41)
Bảng 2.3: Tổng hợp một số kết quả hoạt động phi tài chính của TYM - thực trạng triển khai tài chính vi mô tại hội liên hiệp phụ nữ việt nam nhìn từ mô hình tài chính vi mô thành công nhất của hội
Bảng 2.3 Tổng hợp một số kết quả hoạt động phi tài chính của TYM (Trang 43)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w