1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

31 994 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Lập Và Quản Lý Danh Mục Đầu Tư Chứng Khoán
Tác giả Văn Thị Thu Loan
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Tài Chính
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2007
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 460,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

Trang 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Đặt vấn đề:

Thị trường chứng khoán là một trong những yếu tố cơ bản của nền kinh tế thịtrường hiện đại Mọi biến động về kinh tế, chính trị, xã hội… sẽ tác động ngay trênthị trường chứng khoán và cứ nhìn vào chỉ số giá chứng khoán người ta có thể thấy

rõ mức ảnh hưởng ấy tác động như thế nào

Ở Việt Nam hiện nay, thị trường chứng khoán là thị trường sôi động, tin tứcchứng khoán luôn được đưa lên hàng đầu trên các phương tiện truyền thông và đầu

tư chứng khoán trở thành hoạt động phát triển mạnh mẽ được nhiều người quan tâm.Những nhà đầu tư chứng khoán cũng chính là đem tiền tham gia vào hoạt động kinhdoanh của công ty và hy vọng sau một thời gian sẽ nhận được giá trị cao hơn Nhưngliệu việc kinh doanh này có đạt được mục đích như mong muốn không khi mà công

ty bạn mua chứng khoán làm ăn thua lỗ, phá sản… và giá cổ phiếu giảm đáng kể

Đầu tư chứng khoán kiếm lời là một hoạt động hấp dẫn thu hút các nhà đầu

tư, nhưng đầu tư chứng khoán như thế nào để đạt được lợi nhuận mục tiêu với mứcrủi ro thấp nhất Đó là lý do tôi nghiên cứu đề tài này: “thiết lập và quản lý danh mụcđầu tư chứng khoán”

1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu:

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu:

- Phân tích lựa chọn chứng khoán trong danh mục

- Phân tích và quyết định thời điểm mua chứng khoán

- Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán

1.2.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Nghiên cứu tổng quát về tình hình tài chính và hoạt động của các công ty đã

được niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

- Chọn tập đầu tư gồm các cổ phiếu của các công ty đã được niêm yết

- Thời gian: từ tháng 4 năm 2007 đến nay

1.3 Phương pháp nghiên cứu:

1.3.1 Thu thập dữ liệu: thu thập dữ liệu thứ cấp từ các công ty được niên yết

qua internet, báo, đài…

1.3.2 Phương pháp xử lý số liệu thu được: tổng hợp, so sánh, phân tích số liệu

thu được, thống kê đơn giản, vẽ đồ thị…

1.3.3 Trình tự thực hiện nghiên cứu:

- Nghiên cứu lý thuyết về đầu tư chứng khoán

- Phân tích thái độ chấp nhận rủi ro của nhà đầu tư để lựa chọn chiến lược vàchứng khoán đầu tư

- Phân tích tổng thể nền kinh tế và phân tích ngành

Trang 2

- Tính toán các tỷ số tài chính dự án trên số liệu thu thập để đánh giá công ty.

- Sử dụng đồ thị phân tích, dự báo giá chứng khoán, chọn thời điểm mua bánthích hợp

- Xác định phương thức quản lý danh mục đầu tư và dự đoán kết quả sau khiđầu tư

1.4 Ý nghĩa:

1.4.1 Ở góc độ nhà đầu tư:

Việc thiết lập danh mục đầu tư có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó chính làvấn đề cốt lõi của việc ra quyết định của nhà đầu tư, việc thiết lập danh mục đòi hỏinhà đầu tư phải nghiên cứu lý thuyết về chứng khoán và thực tế thông tin thị trường.Qua đó nhà đầu tư biết rất rõ các thông tin về loại chứng khoán mà mình đã chọn,nhờ vậy mà nhà đầu tư có thể giảm thiểu những rủi ro trong đầu tư Ngoài ra, việc tựnghiên cứu và thiết lập danh mục còn giúp tối thiểu chi phí và gia tăng lợi nhuận

Việc nghiên cứu để thiết lập danh mục ngoài việc giúp nhà đầu tư giảm thiểurủi ro, còn giúp nhà đầu tư hiểu rõ về tình hình hoạt động của một số công ty, mởrộng thêm vốn kiến thức trong kinh doanh cho mình

1.4.2 Đối với bản thân:

Nghiên cứu và thiết lập danh mục đầu tư giúp tôi rất nhiều trong việc mởmang kiến thức về thị trường chứng khoán, qua đó ứng dụng được lý thuyết đã họcmột cách hiệu quả

Tôi hy vọng rằng sau khi tốt nghiệp với chuyên đề thiết lập và quản lý danhmục đầu tư chứng khoán đã nghiên cứu, sẽ giúp tôi thực hiện được ước mơ trở thànhnhân viên tư vấn đầu tư chứng khoán

Trang 3

CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT TẬP ĐẦU TƯ

Việc thiết lập danh mục đầu tư chứng khoán đòi hỏi những gì và đầu tư nhưthế nào để đạt hiệu quả, chương này sẽ trình bày những lý thuyết làm cơ sở cho việcnghiên cứu

2.1 Các hình thức đầu tư chứng khoán:

2.1.1 Tự đầu tư:

Đây là hình thức nhà đầu tư cá nhân tự bỏ tiền ra mua bán chứng khoán, tự raquyết định về số lượng, chủng loại, thời điểm mua bán Có ưu điểm là ít tốn chi phínhưng nhà đầu tư phải tự tìm hiểu các thông tin về công ty mà họ đầu tư Liệu nhàđầu tư có khả năng đánh giá thế nào Để tránh những sai lầm do tự đầu tư, nhà đầu tưcần tham khảo, lựa chọn và thực hiện kiên định một chiến lược đầu tư thích hợp vớikhả năng tài chính của mình, học hỏi kinh nghiệm từ những nhà đầu tư đi trước làđiều rất cần thiết Nhìn chung, khi đầu tư vào những cổ phiếu hàng đầu thì các nhàđầu tư có thể an tâm, cho dù giá rớt thì cũng sẽ tăng trong thời gian ngắn

2.1.2 Đầu tư qua môi giới của công ty chứng khoán:

Nhà đầu tư nhận được dịch vụ tư vấn của nhà môi giới nên mức độ an toàncho nhà đầu tư cao hơn, tuỳ thuộc vào trình độ của nhà tư vấn Các nhà đầu tư chứngkhoán nước ngoài thường sử dụng hình thức này vì họ ít có thời gian theo đuổi thôngtin trên thị trường chứng khoán Tuy nhiên phải trả phí 3% giá trị chứng khoán muahay bán cho dù nhà đầu tư có lãi hay lỗ

2.1.3 Đầu tư qua nhà tư vấn nổi tiếng:

Các nhà đầu tư giàu có sẵn sàng bỏ tiền để thuê một nhà tư vấn giỏi vềchuyên môn và chiến lược để đưa ra quyết định đầu tư kịp thời Nhà tư vấn chiếnlược sẽ phải theo dõi thường xuyên tài khoản cho khách hàng để kịp thời báo hiệuthời điểm mua và bán hay phải thay đổi danh mục đầu tư để đối phó với tình hình thịtrường như khủng hoảng tài chính, chiến tranh, các yếu tố chính trị, kinh tế thế giới.Nhờ vậy nhà đầu tư có thể thu được khoản lời rất lớn, tuy nhiên hoa hồng cho cácnhà tư vấn này khá cao: từ 6% đến 10%

2.1.4 Đầu tư vào quỹ đầu tư:

Nếu nhà đầu tư không đủ thời gian và ít hiểu biết về thị trường chứng khoán,lại không muốn đầu tư qua môi giới hay nhà tư vấn thì có thể tìm đến các quỹ đầu tư.Quỹ là nơi tập hợp các nhà đầu tư, thường là những nhà đầu tư nhỏ Ưu điểm là, quỹđược quản lý bởi công ty quản lý quỹ, do những chuyên gia điều hành thực hiện việcmua bán Hơn nữa, do tập hợp được lượng vốn lớn từ nhiều nhà đầu tư, quỹ đầu tư

có thể đa dạng hóa danh mục nhờ vậy mà hạn chế được rủi ro.Tuy nhiên chi phí đầu

tư cao, bao gồm chi phí quản lý cho công ty quản lý quỹ, chi phí cho ngân hàng giámsát…

2.1.5 Đầu tư vào Hedged Fund:

Hedged Fund là quỹ không chỉ đầu tư vào chứng khoán mà còn đầu tư vào thịtrường tiền tệ, vàng Quỹ chú trọng đầu tư vào các hợp đồng future, option của cácloại hàng hóa: chứng khoán, tiền tệ (ngoại hối) và vàng Quỹ không phải chỉ mua rồichờ giá lên mà người quản lý quỹ sẽ linh hoạt hơn khi phải thanh lý hợp đồng để bảo

Trang 4

vệ nhà đầu tư Nhà quản lý có thể dùng chiến lược mua bán các hợp đồng theo chiềuxuống của thị trường.

2.1.6 Quỹ bán khống:

Người quản lý quỹ dùng tài sản của quỹ vay mượn cổ phiếu để bán trước, quỹchọn mua cổ phiếu sẽ giảm giá trong thời gian tới, đó là cổ phiếu của những công tyhoạt động kém hiệu quả hoặc có vấn đề về tài chính Và đương nhiên là nhà quản lýquỹ phải sớm nhận ra điều đó trước khi thị trường nhận biết thông tin này, trước khi

cổ phiếu này giảm Khi cổ phiếu này thật sự giảm, quỹ sẽ mua vào để trả nợ vàhưởng được phần chênh lệch giữa giá mua và giá đã bán

2.2 Chiến lược đầu tư:

2.2.1 Chiến lược mua để hưởng cổ tức và tăng giá cổ phiếu:

Nếu thấy giá chứng khoán trong quá khứ tăng một cách điều đặn thì nhà đầu

tư có thể lựa chọn chiến lược này với kỳ vọng tương lai sẽ theo chiều hướng như vậy

mà không phải theo dõi sát sao các biến động hằng ngày, chiến lược này thích hợpvới cổ phiếu của các công ty hàng đầu trong các ngành công nghiệp, có sức mạnh tàichính và đang trong thời kỳ tăng trưởng Chiến lược này khá đơn giản thích hợp vớicác nhà đầu tư mới tham gia vào thị trường

2.2.2 Chiến lược chi phí thấp hơn giá trung bình:

Sử dụng khoản tiền cố định để mua cổ phiếu vào những thời điểm xác địnhtheo tháng, quý, hay nửa năm Khi giá cổ phiếu hạ, nhà đầu tư sẽ mua được nhiều cổphiếu hơn khi giá tăng, chiến lược này kỳ vọng trong tương lai chi phí trung bìnhmua một cổ phiếu thấp hơn giá trung bình cổ phiếu mua trên thị trường Nhưng nếugiá hạ liên tục nhà đầu tư có thể bị lỗ

2.2.3 Chiến lược tổng giá trị đầu tư cố định:

Luôn luôn duy trì một khoản đầu tư cố định vào một hổn hợp cổ phiếu cảtrong trường hợp giá tăng hay giá giảm, khi giá tăng bán bớt cổ phiếu kiếm lời, khigiá giảm mua thêm để đưa tổng giá trị đầu tư về mức ban đầu Chiến lược này dựatrên xu thế giá dài hạn và cũng chưa tối đa hóa lợi nhuận vì nhà đầu tư có thể đã bánkhi giá còn tiếp tục lên Khả năng sinh lời của tập dự án bị hạn chế khi có một chiếnlược giá tăng mạnh kéo dài

2.2.4 Chiến lược duy trì tỷ lệ không đổi giữa trái phiếu và cổ phiếu:

Nhà đầu tư xác định một tỷ lệ cố định giữa giá trị cổ phiếu và giá trị tráiphiếu; theo thời gian, do sự biến động của giá cả chứng khoán, tỷ lệ này thay đổi vàcần được điều chỉnh về giá trị ban đầu Việc điều chỉnh có thể được thực hiện định kìhoặc khi tỷ lệ này biến đổi khỏi một giới hạn phần trăm nào đó Bản chất sinh lời củachiến lược này cũng giống như của chiến lược đầu tư một số tiền cố định: thúc bánkhi giá cao và mua vào khi giá thấp Đây vẫn là chiến lược dành cho những nhà đầu

tư dài hạn nhưng ít nhất nhà đầu tư cũng nên xem lại tỷ lệ đầu tư mỗi năm một lần

2.2.5 Chiến lược mua trả chậm:

Dành cho những nhà đầu tư có kinh nghiệm đầu tư ngắn hạn và có tính chấtđầu cơ Nó cho phép nhà đầu tư chi trả một phần tiền mua cổ phiếu, phần còn lại vay

từ công ty môi giới chứng khoán và dùng chính cổ phiếu đó để đảm bảo cho vốn vay

2.2.6 Chiến lược bán khống:

Trang 5

Nhà đầu tư dự đoán giá chứng khoán trong tương lai sẽ giảm, họ vay chứngkhoán của các nhà môi giới hoặc công ty chứng khoán để bán và hy vọng mua đượcchứng khoán với giá thấp để trả lại cho người vay Việc mua bán này thường đượcthực hiện thông qua một tài khoản bảo chứng, đây là chiến lược đầu tư có độ rủi rocao nhất và chưa được pháp luật hiện hành trên TTCK Việt Nam cho phép.

- Rủi ro lãi suất: là khả năng biến động của lợi tức chứng khoán do nhữngthay đổi của lãi suất trên thị trường gây ra Nói một cách tổng quát, nếu lãi suất thịtrường tăng thì giá trị và thị giá của khoản đầu tư sẽ giảm và ngược lại Khả năngbiến động của lợi nhuận tính được chính là rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất ảnh hưởnggiá trái phiếu, cổ phiếu, bất động sản…

- Rủi ro sức mua: là tác động của lạm phát đối với khoán đầu tư, lợi tức của

cổ phiếu và trái phiếu là những khoản thanh toán bằng tiền cố định không tăng theolạm phát Nếu trong khoản thời gian nắm giữ chứng khoán giá cả hàng hóa dịch vụtăng, các nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua Khoản thiệt hại có thể có về sứcmua đối với sản phẩm vật chất này là rủi ro sức mua

- Rủi ro thị trường: nếu bạn đầu tư vào cổ phiếu hay các quỹ đầu tư và giáchứng khoán lại hạ thấp, trường hợp này gọi là rủi ro thị trường Rủi ro thị trườngphát sinh từ khả năng biến động của lãi suất thị trường do các lực lượng thị trườngluân phiên lên xuống

- Rủi ro phá sản: nhà đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu của công ty sẽ phải chịurủi ro khi công ty mất khả năng chi trả đe dọa phá sản Nếu giá trị tài sản của công tythấp hơn các khoản nợ, các nhà đầu tư phải đối mặt với rủi ro phá sản của công ty.Thị giá cổ phiếu chắc chắn sẽ giảm có thể gần bằng 0

- Rủi ro về khả năng chuyển đổi thành tiền mặt: cổ phiếu công ty nhỏ, hiếmđược giao dịch trên thị trường, khi giá tục giảm, bạn có thể không bán được chúng đểthu hồi vốn liếng Còn đối với cổ phiếu của những công ty hàng đầu, có khối lượnggiao dịch lớn, tính thanh khoản cao, dễ chuyển đổi thành tiền

 Suất sinh lợi:

Tỷ suất sinh lợi của một chứng khoán được đo lường như là tổng các khoảnthu nhập hay lỗ của chủ sở hữu trong một thời kỳ Đó là thay đổi trong giá trị của đầu

tư cộng thêm với tất cả các thu nhập

Mức sinh lợi kỳ vọng của một số loại chứng khoán có liên hệ tỷ lệ thuận vớirủi ro của chứng khoán đó, và cách tính tỷ suất sinh lợi đơn giản của một loại chứngkhoán:

Trang 6

K=

DIV: tỉ lệ chi trả cổ tức

∆P: chênh lệch giá lúc mua vào và khi bán ra

P: giá khi mua vào

2.3.2 Phân tích nền kinh tế toàn cầu:

Trong xu thế hội nhập ngày nay, sự phát triển của một quốc gia hay mộtdoanh nghiệp gắn liền với sự biến động kinh tế toàn cầu Do đó, để đánh giá hoạtđộng của doanh nghiệp thì cần xem xét đến môi trường vĩ mô toàn cầu

Các yếu tố vĩ mô toàn cầu tác động đến viễn cảnh các công ty đó là: Tốc độtăng trưởng kinh tế toàn cầu và của từng quốc gia, sự phát triển của khoa học côngnghệ, giá cả, vấn đề cạnh tranh quốc tế, rủi ro chính trị, lãi suất và tỷ giá hối đoái

2.3.3 Nền kinh tế quốc gia:

Nền kinh tế quốc gia là môi trường hoạt động tổng thể của tất cả các doanhnghiệp, gắn liền với sự phát triển hay suy thoái của doanh nghiệp Vì vậy để đánh giáđúng doanh nghiệp thì việc xem xét tổng thể nền kinh tế quốc gia là điều cần thiết

2.3.4 Các chính sách của chính phủ: các chính sách của chính phủ có liên quan

đến thị trường chứng khoán bao gồm: chính sách tài chính, chính sách tiền tệ

2.3.5 Phân tích ngành:

Phân tích ngành để so sánh thấy rõ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp này

so với doanh nghiệp khác trong cùng ngành, giúp cho việc lựa chọn chứng khoán củadoanh nghiệp nào là phù hợp với mục đích đầu tư

2.3.6 Phân tích, đánh giá các tỷ số tài chính:

* Tìm hiểu báo cáo tài chính:

- Doanh thu: doanh thu tăng thì lãi ròng và doanh lợi trên cổ phiếu cũng tănglên

- Lưu lượng tiền mặt: đây cũng là dấu hiệu quan trọng cho thấy công ty cóvững mạnh hay không, nếu số dư tiền mặt thấp, cuối cùng công ty không còn đủ sứcthanh toán nợ nần

- Lãi kinh doanh trước thuế: lãi kinh doanh trước thuế nên có chiều hướngtăng lên theo doanh thu

- Chi phí trả lãi: chi phí trả lãi tăng do các khoản nợ vay tăng hay do lãi suấtcao hơn

- Cổ tức: cổ tức có tăng trong năm qua? so sánh mức cổ tức với doanh lợi trênmỗi cổ phiếu thường (EPS) giúp ta biết nhiều về chủ trương chi trả cổ tức

- Một số nghi vấn cần nêu ra: chi phí hoặc thuế tăng, hãy tìm nguyên nhân; cóbất kỳ khoản mục nào bất thường làm số liệu báo cáo bị sai lệch không?

DIV + ∆P P

Trang 7

* Các tỷ số tài chính:

- Tỷ số khả năng thanh toán: là tỷ số giữa tài sản lưu hoạt và công nợ ngắnhạn Tỷ số này giúp xác định khả năng thanh toán nợ của công ty Tỷ số này phải ítnhất là 2 mới đảm bảo khả năng thanh toán

- Chỉ số tài sản nhạy cảm: là tỷ số của hiệu tài sản lưu động và hàng tồn khotrên nợ ngắn hạn Chỉ số này lớn hơn 1 được xem là an toàn

- Lợi suất từ vốn kinh doanh (ROE): là tỷ lệ lãi kinh doanh trước thuế trênvốn cổ đông của công ty ROE cao thể hiện công ty làm ăn hiệu quả (tỷ giá này đánhgiá xem công ty kiếm được bao nhiêu lãi so với vốn đưa vào kinh doanh)

- Chỉ số lợi nhuận hoạt động: là tỷ số giữa thu nhập hoạt động và doanh sốbán thực Tỷ số này cho biết lợi nhuận gộp sinh ra mỗi đồng doanh số bán là baonhiêu

- Chỉ số lợi nhuận ròng: là tỷ số giữa thu nhập ròng và doanh số bán thực Tỷ

số cho biết lợi nhuận sau thuế và lãi vay trên mỗi đồng doanh số bán là bao nhiêu

- Tỷ số giá cả trên doanh lợi (P/E ratio): giá thị trường hiện hành của mỗi cổphiếu thường chia cho doanh lợi trên mỗi cổ phiếu ấy P/E càng cao, công ty càngđược sắp hạng cao trên thị trường

- Tỷ số giá cả trên doanh thu (P/S ratio): tương tự như P/E nhưng thay thếdoanh lợi bằng doang thu bán hàng

- Tỷ số giá cả trên trị số sách (P/B): mục đích thẩm định giá cổ phiếu giaodịch ở mức rẻ hay đắt Chỉ số này càng cao chứng tỏ công ty càng phát triển trongtương lai

2.4 Phân tích kỹ thuật:

Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng các dữ liệu thống kê diễn biến của thịtrường, các mô hình, biểu đồ để nghiên cứu, phân tích, đánh giá các trào lưu lênxuống của giá cả Qua phân tích kỹ thuật, các nhà đầu tư sẽ xác định được thời điểmthích hợp cho việc mua, bán chứng khoán ở hiện tại hay tương lai Các nhà phân tích

kĩ thuật không phủ nhận giá trị của thông tin cơ bản Họ tin rằng giá cổ phiếu rồicũng sẽ phù hợp với giá trị đích thực của chúng Tuy nhiên, các nhà phân tích kỹthuật cho rằng quá trình ảnh hưởng thay đổi đến giá cả tuân theo những nguyên tắctrên thị trường, vì thị trường có thể tự điều chỉnh để đạt đến một mức cân bằng mới

2.4.1 Các chỉ tiêu dự báo trong phân tích kỹ thuật:

- Biến động giá cả: giá cả thị trường hay thay đổi và các nhà phân tích quan

sát những biến động này, nối các điểm phản ánh ở mức giá cổ phiếu cao nhất hoặcthấp nhất trên biểu đồ tạo nên đường xu thế Đường xu thế cho thấy qua thời gian giá

cổ phiếu thay đổi như thế nào Giá chứng khoán biến đổi theo ba xu hướng: xuhướng tăng, xu hướng giảm và xu hướng tăng giảm thất thường Xu hướng tăng giảmthất thường là tình trạng giá một loại cổ phiếu tăng lên rồi lại giảm xuống sau đó trở

về mức giá ban đầu; nhìn chung nhà đầu tư khó có thể tìm thấy quy luật thay đổi củagiá chứng khoán trong thời kì này Do đó, nhà đầu tư khá ngần ngại và thường tránhmua bán loại chứng khoán khi chúng rơi vào tình trạng này

- Mức giá trung bình động: mức giá trung bình liên tục cập nhật bằng cách

chọn lấy mức giá mới nhất và loại bỏ mức giá cũ nhất Các mức giá trung bình động

Trang 8

được đưa vào đồ thị để trình bày các dấu hiệu về xu thế biến động giá cả Một số nhàphân tích kỹ thuật xem mức giá trung bình động như là đường kháng cự hay đườngchống đỡ Nếu giá chứng khoán tăng cao hơn mức giá trung bình động, dấu hiệu muavào Ngược lại, khi giá giảm thấp hơn mức giá trung bình động là dấu hiệu bán ra.Tùy theo đầu tư ngắn hạn hay dài hạn mà các nhà đầu tư sử dụng mức giá trung bìnhđộng bao nhiêu ngày Giá trung bình động không phải là mức giá duy nhất mà chúng

ta dựa vào để quyết định mua bán chứng khoán Tuy nhiên giá trung bình động thểhiện khá rõ nét sức mạnh và xu hướng biến động của giá chứng khoán

- Khối lượng giao dịch: dựa vào khối lượng giao dịch để đoán chiều hướng

giá chứng khoán Khối lượng giao dịch thể hiện lượng cung và cầu chứng khoánđược thực hiện, qua đó nhà đầu tư rút ra kết luận về xu hướng biến động của giáchứng khoán hoặc tìm ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến xu hướng biến động giá

cả Khi khối lượng giao dịch tăng, dấu hiệu giá cổ phiếu tăng và ngược lại khốilượng giao dịch giảm, tức có dấu hiệu giá cổ phiếu giảm

- Sức mạnh tương đối: cho biết một chứng khoán mạnh hay yếu hơn so với

một loại chứng khoán khác hoặc một chỉ số chứng khoán Cổ phiếu có sức mạnhtương đối khi nó mạnh hơn so với một cổ phiếu khác hay một chỉ số chứng khoán.Sức mạnh tương đối được phản ánh bởi tỷ lệ tăng/giảm giá của một loại chứng khoán

so với các chứng khoán khác hay chỉ số chứng khoán Khi chứng khoán A tăng giámạnh so với chứng khoán B, ta nói: chứng khoán A có sức mạnh tương đối hơnchứng khoán B

2.4.2 Lập đồ thị phản ánh tình hình thị trường:

Sau khi thu thập các số liệu, các biểu đồ cập nhật thường ngày qua internet,báo chí,… rồi cải biến cho phù hợp nhu cầu phân tích kỹ thuật của mình Nhờ loạithông tin này mà các nhà đầu tư có thể khởi đầu phân tích để xác định các chiềuhướng biến động trên thị trường

Biểu đồ là công cụ đắt lực dành cho các nhà phân tích kỹ thuật Các loại biểu

đồ thông dụng là đồ thị đường (line), đồ thị thanh (bars), đồ thị nến (candlesticks),biểu đồ điểm và số (point and figure)

Đồ thị đường là đường nối các mức giá được sắp xếp theo thứ tự thời gian,dạng đồ thị này được sử dụng khá phổ biến trong phân tích chứng khoán và dự báo tỷgiá hối đoái

Đồ thị thanh và đồ thị nến, biểu diễn các mức giá đóng cửa và mở cửa, giácao nhất và giá thấp nhất trong ngày

Tùy theo kỹ thuật phân tích của nhà phân tích kỹ thuật mà họ có thể lựa chọnloại đồ thị phù hợp để phân tích tốt hơn Ngoài ra, những nhà phân tích không nhấtthiết phải sử dụng tất cả các chỉ tiêu dự báo; họ có thể chỉ xem xét các chỉ tiêu mà họđánh giá là quan trọng, có tác động mạnh đến xu thế thị trường

Nhiều nhà phân tích cho rằng việc dự báo xu hướng giá thị truờng để lựachọn thời điểm mua bán thích hợp thông qua các chỉ tiêu dự báo và đồ thị là chưa đủ.Thông tin thị trường cũng rất cần thiết, nhiều thông tin tác động đến tâm lý nhà đầu

tư và làm xu hướng giá thị trường thay đổi bất thường Vì vậy thông tin thị trường làrất cần cho việc dự báo xu hướng giá

Trang 9

CHƯƠNG 3: THIẾT LẬP DANH MỤC ĐẦU TƯ

3.1 Một số giả định:

Đề tài này nhằm thiết lập danh mục đầu tư có giá trị là 100 triệu đồng, chủđầu tư muốn gia tăng nguồn vốn bằng cách tham gia vào thị trường chứng khoán, cụthể là đầu tư vào các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiệnnay

Với số tiền 100 triệu đồng nhà đầu tư cũng đã lựa chọn nhiều kênh đầu tưkhác nhau trước khi quyết định đầu tư vào chứng khoán

Chẳng hạn, đem tiền gửi ngân hàng, mặc dù rủi ro là rất thấp nhưng suất sinhlợi không cao, hay mua trái phiếu chính phủ để được lợi nhuận 10% trên năm Đây làhình thức đầu tư thụ động và không mang lại lợi nhuận cao Còn nếu tham gia đầu tưbất động sản hay thực hiện một dự án kinh doanh nào đó, thì với nguồn vốn đầu tưban đầu 100 triệu là rất ít Thông qua việc lựa chọn các kênh đầu tư thì nhà đầu tưthấy rằng việc tham gia đầu tư vào chứng khoán Việt Nam một thị trường sôi độnghiện nay là thích hợp nhất

3.2 Mô hình thiết lập danh mục đầu tư:

- Đối với doanh nghiệp Viêt Nam, mặc dù gặp thuận lợi lớn ở sự bình đẳng

về cơ hội làm ăn với doanh nghiệp các nước, nhưng với trình độ khoa học kỹ thuậtchưa cao, công nghệ sản xuất còn kém so với nhiều quốc gia, vẫn chưa tạo lập được

Phân tích vĩ mô nền kinh tế thế giới và kinh tế quốc

giaLựa chọn và phân tích ngànhLựa chọn chiến lược và chứng khoán đầu tư

Phân tích và đánh giá chứng khoán của công ty

Phân tích kĩ thuật xác định thời điểm mua và bán

chứng khoánBáo cáo kết quả sau khi đầu tư

Trang 10

khả năng cạnh tranh ngang bằng trên thị trường quốc tế Vì vậy doanh nghiệp ViệtNam nên đi tìm lợi thế cạnh tranh chủ động nhiều hơn, bớt chú trọng hoạt động giacông thông qua các bên trung gian…

- Ngoài ra, vấn đề cạnh tranh quốc tế hiện nay ngày càng trở nên gay gắt, sảnphẩm cạnh tranh về giá, chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ khách hàng…Đứng trước xu thế cạnh tranh gay gắt thì các doanh nghiệp Việt Nam cần ngày cànghoàn thiện sản phẩm hơn, biết lựa chọn chiến lược, thời cơ thích hợp để quảng bá sảnphẩm, tăng sức cạnh tranh Hiện nay Việt Nam đã gia nhập WTO, được lợi thế về sựbình đẳng và cơ hội làm ăn, được nhiều quốc gia lưu tâm đến Đây là cơ hội tốt đểquảng bá hình ảnh doanh nghiệp thông qua các trang wed bắt mắt với nhiều thông tin

cụ thể, phong phú

- Giá dầu thế giới tăng sau khi một số cơ sở lọc dầu ở Garryville, Louisiana(Mỹ) bị cháy cùng nguy cơ bãi công từ một số cơ sở lọc dầu tại Châu Âu Giá dầulên tới 67,9 USD/ thùng tại Luân Đôn, đây là mức giá cao nhất tháng 4 Ngoài ra,việc công nhân Mỹ tại các nhà máy lọc dầu đình công sẽ làm cho tình hình thị trườngthêm bất ổn và dự báo giá dầu sẽ tăng thêm trong thời gian tới Giá dầu thế giới tăngảnh hưởng nhiều đến các doanh nghiệp, có thể kéo theo các mặt hàng trong thời giantới tăng theo

Hiện nay, thị trường chứng khoán được xem là thị trường phát triển mạnh mẽ

ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển Thị trường chứng khoán NewYork vàLondon được đánh giá là thị trường lớn mạnh và đã tồn tại lâu đời, thị trường thu hútnhiều nhà đầu tư nhất trên thế giới Còn đối với Việt Nam, được đánh giá là nước cótốc độ tăng trưởng GDP rất cao, dân số trẻ Đây là những yếu tố khiến các nhà đầu tưnước ngoài tin tưởng khi đầu tư vào thị trường chứng khoán Việt Nam, thị trườngchứng khoán Việt Nam ngày càng vươn xa ra tầm quốc tế

3.3.2 Kinh tế quốc gia:

- Giai đoạn 2001 - 2005, Việt Nam đã thu hút gần 15 tỉ USD vốn ODA, 20 tỉUSD vốn FDI; tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước

- Năm 2005, Việt Nam đã vươn ra thế giới với kim ngạch xuất khẩu vượt 30

tỉ USD/năm, gấp hơn 6 lần so với năm 1995; chính thức hội nhập vào nền kinh tếquốc tế với 7 mặt hàng vượt mức 1 tỉ USD Năm 2006, Việt Nam sẽ có thêm thànhviên tham gia “Câu lạc bộ 1tỉ USD” Ngoài ra, với kim ngạch xuất khẩu luôn chiếmxấp xỉ 60% GDP, nền kinh tế nước ta được xem là một nền kinh tế có độ mở lớn

- Việt Nam đã gia nhập WTO, tổ chức thương mại toàn cầu, kinh tế Việt Nam

có nhiều chuyển biến

- Những ngành nghề được đánh giá là có nhiều tiềm năng như: công nghệthông tin, viễn thông, dịch vụ, tài chính ngân hàng, thị trường chứng khoán và một sốngành nghề sản xuất những mặt hàng xuất khẩu mà Việt Nam có ưu thế

- Những ngành nghề bị tác động mạnh như: ngành hàng hải, công nghiệp phụtrợ, sản xuất giấy, ngành gỗ

- Ngoài ra, khi mở cửa thị trường theo cam kết của WTO, biến động giá hànghóa và tỷ giá VND/USD ngày càng trở nên khó lường

- Giá xăng dầu thế giới biến động dẫn đến những bất ổn của giá xăng dầutrong nước Mặc dù giá xăng dầu trong thời gian qua có xu hướng giảm do kinh tế

Trang 11

thế giới tăng trưởng chậm lại, nhưng vẫn còn ở mức khá cao Điều này tạo ra gánhnặng đối với nhiều nền kinh tế, đặc biệt đối với nước ta thì gánh nặng này càng lớnhơn do mức độ tiêu thụ xăng dầu khá cao (5% so với của Mỹ chỉ là 2,5% trên GDP).

- Giá cả hàng hóa bấp bênh, thấy rõ nhất là giá các mặt hàng nông hải sảnxuất khẩu sẽ bị tác động mạnh do biến động bất ổn của giá cả thế giới mà cà phê làmột trong những mặt hàng điển hình Đây chính là nguyên nhân chủ yếu làm cho cácdoanh nghiệp kinh doanh cà phê thua lỗ hàng nghìn tỉ đồng trong nhiều năm liền.Ngoài ra, các mặt hàng nông hải sản khác là chủ lực ở nước ta như gạo, cá Basa,tôm thời gian qua thường xuyên rơi vào cảnh được mùa thì mất giá, được giá thìmất mùa Việc giá nông hải sản xuất khẩu sụt giảm trên thị trường thế giới trongnhững năm sắp đến là điều hoàn toàn có thể xảy ra, một phần do kinh tế thế giới có

xu hướng chững lại, phần khác giá các mặt hàng này còn phụ thuộc quá nhiều vàoyếu tố không thể kiểm soát được như thời tiết chẳng hạn

- Biến động tỉ giá là một trong những nguồn gốc rủi ro chính khiến các doanhnghiệp trên thế giới luôn rơi vào thế bị động Với việc có khả năng trong tương lai tỉgiá VND/USD ngày càng linh hoạt hơn, mà gần đây là việc Ngân hàng Nhà nướccông bố chính thức mở rộng biên độ tỉ giá VND/USD lên 0,5% thì bất ổn trong tỉ giágiờ đây đã trở thành một rủi ro mà các doanh nghiệp cần phải tính đến trong khi xâydựng kế hoạch kinh doanh

- Cho đến lúc này, có thể xem như lãi suất của Việt Nam đã được tự do hóahoàn toàn Theo đánh giá của nhiều chuyên gia, vấn đề chạy đua lãi suất trong cácnăm qua giữa các ngân hàng thương mại nhiều lúc không tuân theo một qui luật nào

cả Điển hình là trong năm 2006, khi mà chỉ số CPI giảm, kéo theo lãi suất cơ bản doNgân hàng Nhà nước công bố giảm, các ngân hàng thương mại vẫn điều chỉnh tănglãi suất? việc “chạy đua lãi suất” giữa các ngân hàng thương mại đã tạo ra không ítrủi ro cho doanh nghiệp

- Các doanh nghiệp cần nhận thức rằng những biến động không thể nhậntrước của tỷ giá, lãi suất và hàng hoá không những có thể ảnh hưởng đến kết quảkinh doanh mà còn ảnh hưởng đến thị phần, sức cạnh tranh và thậm chí là cả sự tồntại của doanh nghiệp

- Những thay đổi thất thường trong giá cả hàng hóa có thể đẩy giá cả đầu vàotăng đến mức mà người tiêu dùng chuyển hướng sang sử dụng các sản phẩm nhậpkhẩu thay thế Còn biến động của lãi suất có thể tạo ra áp lực làm tăng chi phí củacác doanh nghiệp Các doanh nghiệp nào có doanh thu thấp sẽ bị tác động bất lợi bởilãi suất tăng lên và có thể lâm vào tình trạng kiệt huệ tài chính

- Qua việc tìm hiểu kinh tế quốc gia, chúng ta đã thấy được sự biến động tỷgiá cũng như giá cả hàng hóa ảnh hưởng như thế nào đến kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp Đồng thời thấy được tiềm năng cũng như thách thức của một số ngànhnghề trước thềm hội nhập Như vậy việc xem xét tổng thể nền kinh tế sẽ giúp chúng

ta rất nhiều trong việc lựa chọn ngành nghề đầu tư

3.3.3 Phân tích ngành:

- Trong vài ba thập niên gần đây, khoa học kỹ thuật của thế giới phát triển rấtmạnh, đặt biệt là công nghệ thông tin đã thúc đẩy nền kinh tế toàn cầu phát triểnnhanh chóng Việt Nam trong thời kì hội nhập thì ngành công nghệ thông tin đượcđánh giá cao Phần lớn các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực công nghệ thôngtin viễn thông tại Việt Nam đều là những dự án rất lớn và với những công ty tên tuổi

Trang 12

lớn như: Hewlett Packard (Mỹ), Sonion (Đan Mạch), Renesas và Videe (Nhật),Allied Technologises (Singapore), Sony (Nhật), Samsung (Hàn Quốc)… Kim ngạchxuất khẩu hàng điện tử và linh kiện máy vi tính ước tính trong năm nay sẽ tăng 25%

so với năm vừa qua Thị trường viễn thông Việt Nam cũng được đưa vào danh sáchnhững thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất ở khu vực Châu Á

- Ngành xuất khẩu thủy sản được đánh giá là ngành nhiều triển vọng Chỉtrong hai tháng đầu năm 2007, xuất khẩu thuỷ sản trở thành một trong những lĩnhvực kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất: 41,94% so với cùng kỳ năm 2006 Thịtrường tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng, với khối lượng tiêu thụ ngày càng lớn.Điều này buộc các doanh nghiệp phải tăng công suất hoạt động để sản xuất và giaohàng theo hợp đồng đã kí với nhà nhập khẩu Việc xuất khẩu thuỷ sản tăng trưởngvới tốc độ cao là điều đáng mừng cho ngành, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế saunày như chính sự tăng trưởng của xuất khẩu dẫn đến sự thiếu hụt nguyên liệu nhất làtrong những tháng đầu năm, là sự cản trở về sau cho sự tăng trưởng liên tục giá trịxuất khẩu, năng lực sản xuất của doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp sẽ phải hoạtđộng cầm chừng hay hoạt động không hết công suất và là tiền đề cho hoạt động thumua, nhập lậu nguyên liệu thiếu đảm bảo về chất lương an toàn vệ sinh và hậu quả lànhiều lô hàng bị huỷ, bị trả lại do nhiễm lượng quá chất, kháng sinh cấm sử dụng.Như vậy, vấn đề vệ sinh an toàn sản phẩm xuất khẩu đang là vấn đề cấp bách cầnđược giải quyết Để khắc phục những hạn chế này, Bộ thuỷ sản cũng đưa ra nhiềugiải pháp:

+ Để tránh tình trạng lúc thừa, lúc thiếu nguyên liệu cho chế biến thì phải tínhđến vấn đề nhập nguyên liệu để tái chế xuất khẩu, thì cần tìm biện pháp giúp doanhnghiệp nhập khẩu nguyên liệu có được thủ tục đơn giản, tiện lợi hơn

+ Hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện các qui định liên quan đến chế biếnthuỷ sản và nguyên liệu thuỷ sản dùng cho chế biến xuất khẩu để giải quyết vấn đề

về an toàn vệ sinh hiện nay

+ Xử lý nặng hành vi các doanh nghiệp làm ảnh hưởng uy tín của xuất khẩuthuỷ sản Việt Nam như: bơm chích tạp chất, các thủ thuật làm tăng khối lượng, kích

cỡ nguyên liệu, nhập nguyên liệu không rõ nguồn gốc

Các giải pháp của Bộ thuỷ sản đưa ra nếu được thực hiện tốt thì sẽ tạo cơ hộigiúp ngành xuất nhập khẩu thuỷ sản phát triển mạnh hơn trong thời gian tới

- Trong thời kì hội nhập, ngành giao thông vận tải được nhiều thuận lợi, cũngkhông ít khó khăn Nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư vào Việt Namnhư cơ sở hạ tầng, sân bay, cảng biển… tình hình xuất nhập khẩu trong nước ngàycàng gia tăng và tất yếu các dịch vụ vận tải phục vụ cho nhu cầu xuất nhập khẩucũng tăng theo, đặc biệt là dịch vụ vận tải biển, hàng không

Mặc dù trong xu thế hội nhập, ngành vận tải có nhiều cơ hội phát triển Tuynhiên, chính trong bản thân ngành vận tải Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại như: chưa

bỏ được tư duy làm ăn kiểu cũ, trông chờ vào nhà nước Ngành cũng có nhiều hiệphội như: Hiệp hội cảng biển, Hiệp hội chủ tàu… nhưng các hiệp hội này chỉ hoạtđộng theo hình thức, chưa có sự hỗ trợ, liên kết nhau cùng phát triển để cạnh tranhvới nước ngoài Để ngành vận tải Việt Nam phát triển thì việc đầu tư có cơ sở hạtầng, liên kết và hỗ trợ giữa các doanh nghiệp là rất cần thiết

Ngành hàng hải bị xem là chịu thiệt hại nặng khi Việt Nam gia nhập WTO.Bởi vì, cảng biển Việt Nam tuy nhiều nhưng bố trí chưa hợp lý và ít cảng nước sâu

Trang 13

để đón tàu có trọng tải lớn Trong khi các doanh nghiệp nước ngoài có nhiều kinhnghiệm và phương tiện tốt hơn Việt Nam, điều này buộc Việt Nam phải nâng caochất lượng và hạ giá thành dịch vụ Những doanh nghiệp trong nước nổ lực vượt quathử thách, tự hoàn thiện mình thì sẽ đứng vững và phát triển.

- Qua phân tích ngành, chúng ta có thể thấy được thuận lợi và khó khăn củangành mà chúng ta định đầu tư Qua đó cũng giúp chúng ta trong việc lựa chọn công

ty triển vọng của ngành để đầu tư tốt hơn

3.4 Lựa chọn chiến lược và chứng khoán đầu tư:

Tôi muốn tăng giá trị đồng vốn nhàn rỗi của mình thay vì gửi ngân hàng đểhưởng lãi suất tôi chấp nhận rủi ro đầu tư vào thị trường chứng khoán để được lợinhuận cao hơn Vì mới đầu tư, tôi lựa chọn các công ty có vị thế để đầu tư Thườngthì giá cổ phiếu những công ty này tăng đều đặn và cổ phiếu dễ chuyển đổi thành tiềnmặt Ngoài ra khi mua cổ phiếu công ty còn tránh được rủi ro phá sản, vì đây lànhững công ty mạnh

Chiến lược đầu tư là: Buy and Hold, mua và giữ đợi giá tăng sẽ bán Chiếnlược này thường thích hợp cho những nhà đầu tư mới vì không cần theo dõi giá sátsao hàng ngày mà chỉ cần lựa chọn và phân tích đúng công ty mà ta đầu tư

Khi đã xem xét đến nền kinh tế quốc gia, phân tích ngành đã chọn tôi quyếtđịnh chọn ra 5 loại chứng khoán niêm yết của ngành đã phân tích, sau đó phân tích,

so sánh và chọn ra 3 loại đưa vào danh mục đầu tư Đó là cổ phiếu của công ty sau:Công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển (GMD), công ty cổ phần xuất nhập khẩuthủy sản An Giang (AGF), công ty cổ phần vận tải Hà Tiên (HTV), công ty cổ phầnphát triển và đầu tư công nghệ (FPT), công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản BếnTre (ABT)

Tôi quyết định chọn bốn loại cổ phiếu thuộc 2 ngành để phân tích so sánh.Trong cùng ngành, công ty nào hoạt động tốt hơn, có nhiều triển vọng hơn, phù hợpvới mục tiêu đầu tư hơn…

3.5 Phân tích và đánh giá công ty:

3.5.1 Ngành xuất nhập khẩu thủy sản:

* Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản An Giang được thành lập

ngày 28/6/2001 từ việc cổ phần hóa Công ty xuất nhập khẩu thủy sản An Giang theoquyết định số 792/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

Hoạt động sản xuất kinh doanh chính của Công ty là sản xuất kinh doanh, chếbiến và xuất nhập khẩu thủy hải sản đông lạnh, nông sản thực phẩm và vật tư nôngnghiệp Công ty Agifish là doanh nghiệp đầu tiên và duy nhất của ngành thủy sản có

mô hình sản xuất kinh doanh khép kín từ khâu sản xuất cá giống, phát triển sinh sảnnhân tạo, nuôi cá bè, chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu và chế biến tận dụng cácphụ phẩm của cá Tra và cá Basa

Sản phẩm cá Basa, cá Tra fillet đông lạnh của Agifish được xuất khẩu đi cácthị trường nước ngoài Các thị trường xuất khẩu chính của công ty là: Mỹ, HồngKông (Trung Quốc), Châu Âu (EU) và các nước Đông Nam Á - ASEAN

Hiện nay trong cả nước có trên 10 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra và cá basađông lạnh, phần lớn tập trung hoạt động ở trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long.Công ty Agifish hiện là doanh nghiệp đứng đầu về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu

Trang 14

cá Tra, cá Basa fillet đông lạnh Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu thủy hải sản,Agifish nằm trong số những doanh nghiệp hàng đầu (thứ 2 về sản lượng và thứ 10 vềkim ngạch xuất khẩu) Lợi thế cạnh tranh của Agifish là ổn định được nguồn nguyênliệu đầu vào, có trang thiết bị máy móc hiện đại với công suất lớn và quan trọng là đãtạo được mối quan hệ đối tác với nhiều khách hàng lớn trên thế giới.

Cơ bản về tình hình hoạt của Agifish trong vài năm gần đây được thể hiệnqua bảng sau:

Bảng 3.1 Chỉ số tài chính của AGF

* Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thuỷ sản Bến Tre (Aquatex BENTRE )

được thành lập từ việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là công ty đông lạnh thủysản xuất khẩu Bến Tre theo Quyết định số 3423/QĐ-UB ngày 01/12/2003 của UBNDtỉnh Bến Tre Tháng 05/2006, công ty đã nâng vốn điều lệ lên 33 tỷ đồng AquatexBENTRE là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu nghêu và cá tra hàng đầu củaViệt Nam Sản phẩm chính của Công ty là nghêu, cá tra và tôm sú đông lạnh

Năm 2006, công ty được trao giải thưởng “2006 Business ExcellenceAwards” do báo thương mại, thương mại điện tử (E-TradeNews) phối hợp cùng với

ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và các cơ quan thương vụ Việt Nam tại thịtrường Tây Ban Nha và Italia bình chọn phạm vi và lĩnh vực hoạt động của Công tybao gồm: chế biến, xuất khẩu thủy sản; nuôi trồng thủy sản; nhập khẩu vật tư, hànghóa; thương mại, nhà hàng và dịch vụ; kinh doanh các ngành nghề khác do ĐHCĐquyết định và phù hợp với quy định của pháp luật Cơ cấu vốn cổ phần trước khiniêm yết ngày 14/10/2006: cổ đông nội bộ là 38,01%, cổ đông nước ngoài là10,73%, còn lại là do cổ đông bên ngoài công ty nắm giữ

Trang 15

Lợi nhuận thuần (triệu đồng) 25.057 7.811 5.393

Tăng 43,97% so với năm 2005, trong đó

doanh thu xuất khẩu đạt 797 tỷ tăng 37%

so với năm 2005 Lợi nhuận sau thuế đạt

46 tỷ tăng 99,5% năm 2005

Doanh thu công ty năm 2004 đạt

331 tỷ, tăng 14,76% so với năm 2005.Trong đó doanh thu xuất khẩu đạt 265 tỷbằng 1/3 doanh thu xuất khẩu AGF, lợinhuận sau thuế đạt 25 tỷ tăng gấp đôi sovới năm 2005

Đánh giá tài chính

Tỷ suất lợi nhuận tăng nhẹ, với tỷ

suất ROE ở mức 20,28% tăng so với năm

2005 là 20% ROA tăng từ 7,6 lên 7,8

Nhìn chung do vốn chủ sở hữu tăng lên

cho nên mặc dù lợi nhuận sau thuế tăng

nhiều nhưng ROE vẫn ở mức ổn định

Tỷ suất lợi nhuận ROA là 8,3;ROE đạt 19,97% thấp hơn AGF là20,28% Thông thường công ty tốt thìROE phải cao hơn mức trung bình củacác công ty cùng ngành Điều này chothấy công ty kiếm được nhiều tiền hơntrên đồng vốn bỏ ra đầu tư Như vậy, ởchỉ số này AGF được đánh giá tốt hơnThông tin cổ phiếu

Chỉ số P/E trung bình năm 2006

là 11,06 thấp hơn P/E trung bình thị

trường là 11,3 Nhưng với kết quả kinh

doanh khả quan của AGF từ 2004 đến

2006 thì giá cổ phiếu trong năm 2007 có

thể tăng

Chỉ số P/E trung bình năm 2006đạt 10,74 vẫn thấp hơn P/E trung bìnhtoàn thị trường Mặc dù kết quả kinhdoanh qua các năm biểu hiện tốt nhưnggiá cổ phiếu ABT có tăng trong tương laikhông thì chưa chắc Bởi vì, ABT làdoanh nghiệp trẻ khả năng cạnh tranhtrong thời gian sắp tới sẽ như thế nào khi

mà công ty không còn được bảo hộ miễnthuế

Thị trường

Ngày đăng: 27/03/2013, 09:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Chỉ số tài chính của AGF - Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Bảng 3.1 Chỉ số tài chính của AGF (Trang 14)
Bảng 3.3 Chỉ số tài chính của GMD - Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Bảng 3.3 Chỉ số tài chính của GMD (Trang 17)
Bảng 3.4 Chỉ số tài chính của HTV - Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Bảng 3.4 Chỉ số tài chính của HTV (Trang 18)
Bảng 3.6: rủi ro và suất sinh lợi dự kiến - Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Bảng 3.6 rủi ro và suất sinh lợi dự kiến (Trang 22)
Bảng 3.6: kết quả đầu tư - Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán
Bảng 3.6 kết quả đầu tư (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w