1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỀ CƯƠNG PHÂN hóa và BÌNH ĐẲNG xã hội TRONG GIÁO dục

35 4,4K 62

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 308,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân hóa xã hội - Phân hóa xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một hoặc một số đặc điểm, tính chất xã hội nhất định Phân hóa xã hội còn được hiểu là quá trình tạo

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG PHÂN HÓA VÀ BÌNH ĐẲNG XÃ HỘI TRONG GIÁO DỤC

Dành cho lớp cao học Quản lý giáo dục, năm 2014

Câu 1 Phân hóa xã hội là gì? Phân hóa xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu

một số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục

Phân hóa xã hội

- Phân hóa xã hội là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một hoặc một số đặc điểm, tính chất xã hội nhất định

Phân hóa xã hội còn được hiểu là quá trình tạo ra sự khác biệt xã hội mà căn cứ vào đó

có thể phân hóa phân tầng và phân hóa phân loại.

Phân hóa phân tầng là sự phân hóa tạo ra sự khác biệt định lượng để từ đó hình thành các tầng lớp xã hội khác nhau về kinh tế, trình độ học vấn và các đặc điểm khác Ví dụ phân hóa – phân tầng giàu nghèo, giỏi kém, tầng cao tầng thấp.

Phân hóa - phân loại xã hội là sự phân hóa tạo ra sự khác biệt định tính để từ đó hình thành các loại nhóm xã hội khác nhau ví dụ nhóm giáo viên dạy toán, nhóm giáo viên dạy lý, nhóm giáo viên dạy văn, hoặc nhóm bác sỹ răng hàm mặt, nhóm bác sỹ phụ sản, nhóm bác sỹ tai mũi họng.v.v.

- Sự phân hóa xã hội có thể dẫn đến sự hình thành các nhóm xã hội khác nhau, mâu thuẫn nhau thậm chí đối lập nhau Khi sự phân hóa xã hội tạo thành hai nhóm xã hội đối lập nhau thì được gọi là sự phân cực xã hội

Ví dụ:

Về kinh tế: Sự phân hóa xã hội tạo ra 2 nhóm đối lập nhau là nhóm giàu và nhóm nghèo, tương ứng là nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo

Về giáo dục: sự phân hóa xã hội tạo thành nhóm học sinh giỏi và nhóm học sinh kém

Phân hoá XH trong GD được hiểu như thế nào

Phân hoá XH trong GD là: quá trình hình thành các nhóm học sinh (sinh viên, họcviên…), các nhóm nghề nghiệp, trình độ khác nhau trong giáo dục

Ví dụ như: phân hoá XH trong GD tạo thành các nhóm học sinh:

 Nhóm học sinh con nhà giàu và nhóm học sinh con nhà nghèo

Trang 2

 Nhóm học sinh học giỏi, học khá và nhóm học sinh học yếu.

 Nhóm học sinh có sở trường, năng khiếu về các môn khoa học TN, XH, VH, VN TD TT

- Nhóm học sinh theo độ tuổi

 Nhóm học sinh học nghề và nhóm học sinh học văn hoá…

Hay phân hoá XH trong GD còn tạo ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau như:

 Các nhà thơ, nhà văn

 Các nhà khoa học (TN hoặc XH)

 Gíáo viên, bác sĩ, kĩ sư, doanh nhân…

Rồi sự phân hoá này còn hình thành các nhóm với trình độ học vân khác nhau như trung cấp,cao đẳng, đại học…

Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường, đánh giá sự phân hóa xã hội trong giáo dục

Để đánh giá sự phân hóa xã hội trong Giáo dục có thể sử dụng các chỉ báo, hay đơn vị đolường là:

 Tỉ lệ % đi học đúng tuổi cấp, bậc học nhất định

 Tỉ lệ % đi học chung cấp, bậc học nhất định

 Số năm đi học trung bình

 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục) Căn cứ vàochi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bìnhđẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càngtiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa

 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ

tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dụctuyệt đối giữa nam

 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví

dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ

Các hình thức phân hóa xã hội trong giáo dục (còn gọi là các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục) bao gồm:

1 Phân hóa giữa nam và nữ, (phân hóa giới/bất bình đẳng giới)

Trang 3

2 Phân hóa giữa thành thị và nông thôn

3 Phân hóa giữa các vùng miền,

4 Phân hóa giữa các địa phương (các tỉnh, thành phố)

5 Phân hóa giữa các dân tộc

6 Phân hóa giữa nhóm giàu và nhóm nghèo (phân hóa giàu nghèo)

7 Phân hóa giữa nhóm di cư và nhóm không di cư…

Lưu ý không nhầm lẫn hình thức phân hóa nêu trên với chỉ báo, thước đo phân hóa

Ví dụ phân hóa giáo dục giữa thành thị và nông thôn có thể được xác định thông qua chỉ báo /đo lường là tỉ lệ % đi học đúng tuổi trung học phổ thông của thành thị và của nông thôn So sánh hai tỉ lệ % này nếu bằng nhau thì bình đẳng không phân hóa, nếu càng khác nhau thì càng phân hóa, càng bất bình đẳng Tương tự như đối với các hình thức khác

Sự phân hoá XH trong giáo dục vừa là hệ quả của sự phân hoá giàu nghèo trong XH song đồngthời nó cũng là tiền đề, là một trong 2 nguyên nhân (cùng với phân công lao động) tác động tớiphân hoá xã hội

Giáo dục là một trog những phương thức phân hóa XH sâu sắc.Những người học ởtrường ĐH Bách Khoa thường tham gia vào các nhóm khoa học công nghệ, người tham giavào trường ĐH xây dựng sẽ tham gia vào các nhóm nghề xây dựng Trình độ học vấn khácnhau tạo những vị thế XH khác nhau như: học trường ĐH Y sẽ trở thành bác sĩ… Học sinh(HS) trong cùng độ tuổi vừa có sự giống nhau lại vừa có sự khác nhau về khả năng tư duy,nhân cách và hoàn cảnh gia đình, nề nếp gia đình, khả năng kinh tế, nhận thức của cha mẹ vềgiáo dục, )

Câu 2 Phân tầng xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân tầng xã hội Phân tầng

xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường và đánh giá sự phân tầng xã hội trong giáo dục

Phân tầng xã hội

Phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các tầng xã hội khác nhau về vị thế xã hội trong cấu trúc xã hội.

- Sự phân tầng xh là quá trình phân hóa xã hội với đặc trưng là tạo ra các nhóm xã hội có

vị thế trên dưới, cao thấp khác nhau về mổ hoặc một số đặc điểm, tính chất cơ bản, trong đó

Trang 4

quan trọng nhất là về kinh tế, quyền lực và uy tín xã hội ví dụ sự phân tầng xã hội tạo ra tầng lớp thượng lưu giàu có, nắm giữ quyền lực và tầng lớp hạ lưu nghèo khổ không có quyền lực.

- Sự phân tầng xh tạo nên cấu trúc phân tầng xã hội gồm các nhóm người có vị thế xác định trong một trật tự xã hội vi dụ: trong trật tự KT tư bản cn nghĩa cấu trúc phân tầng có tầng lớp chóp bu là các nhà tư bản và tầng lớp dưới đáy là những người thất nghiệp vô gia cư

- Sự phân tầng xã hội luôn chưa đựng yếu tố bất bình đẳng xã hội bởi ở đó luôn có những tầng lớp trên và tầng lớp dưới tầng lớp trên có nhiều của cải và nhiều quyền lực, tầng lớp dưới không có quyền lực và thấp cổ bé họng

* Cơ chế và các yếu tố tác động đến phân tầng xã hội

- Phẩm chất, năng lực cá nhân: tùy theo những phẩm chất và năng lực cá nhân mà người

đó có cơ hội thăng tiến nhiều hay ít…

- Giáo dục và đào tạo: giúp cá nhân hình thành và phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết Đây là con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất để mỗi cá nhân lĩnh hội được các kinhnghiệm và tri thức nghề nghiệp để thăng tiến

- Cơ may xã hội: VD: Sinh viên tốt nghiệp đúng ngành nghề mà xã hội đang cần thì cơ hộiviệc làm rất cao

Phân tầng xh trong giáo dục được hiểu một phần nào đó phụ thuộc vào 4 yếu tố trên

Tương tự như đối với phân hóa xã hội đã nêu (tỉ lệ% đi học, số năm đi học trung bình, GINI,chỉ số phân hóa tương đối, tuyệt đối)

Để đánh giá sự phân tầng xã hội trong Giáo dục có thể sử dụng các chỉ báo, hay đơn vị đolường là:

Trang 5

 Tỉ lệ % đi học đúng tuổi cấp, bậc học nhất định

 Tỉ lệ % đi học chung cấp, bậc học nhất định

 Số năm đi học trung bình

 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục) Căn cứ vàochi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bìnhđẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càngtiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa

 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ

tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dụctuyệt đối giữa nam

 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví

dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ

Câu 3 Phân loại xã hội là gì? Hãy vẽ một vài kiểu/mô hình phân loại xã hội Phân loại xã hội

trong giáo dục được hiểu như thế nào? Hãy nêu một số chỉ báo hay đơn vị đo lường và đánhgiá sự phân loại xã hội trong giáo dục

Phân loại xã hội là sự phân hóa xã hội tạo thành các nhóm xã hội, các loại nhóm xã hội hay cácloại xã hội khác nhau về những đặc điểm, tính chất xã hội nhất định Ví dụ sự phân loại xã hôicăn cứ vào sức khác nhau về loại nghề nghiệp, loại sở thích, nguyện vọng v.v Phân loại xã hội

về mặt nghề nghiệp tạo ra các nhóm nghề nghiệp khác nhau

Trong giáo dục, phân loại xã hội biểu hiện ở việc hình thành các nhóm học sinh sinh viên vớicác nguồn gốc gia đình khác nhau, định hướng nghề nghiệp khác nhau Chỉ báo đo lường vềphân loại là các khác biệt định tính và chỉ báo về sự phong phú đa dạng của các loại nhóm Ví

dụ Một lớp học có thể chỉ có hai nhóm là nhóm gia đình giàu và nhóm gia đình không giàu.Nhưng một lớp học khác có thể có nhiều loại nhóm: nhóm nhà giàu, nhóm nhà nghèo, nhómcông nhân, nhóm nông dân, nhóm tri thức mà mỗi nhóm này lại phân hóa thành nhiều loạinhóm khác

Trang 6

Công bằng xã hội trong giáo dục:

Mọi công dân đều có quyền tiếp cận các cơ hội học tập theo quy định của Luật giáo dục.Công bằng giáo dục mà mục tiêu cuối cùng là thực hiện nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế xã hội, bảo tồn sự đa dạng của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, góp phần xây dựng xã hội: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Lấy thêm các ví dụ

Tham khảo để trả lời cho sinh động phần hỏi thêm của Thầy

Hồ Chủ tịch đã nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước tađược hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành…” Ham muốn vô bờ đó của Người thực sự đã chứng minh cho những quan tâm hết sức lớn lao của Hồ Chủ tịch đối với vấn đề quốc kế dân sinh

(Phát triển giáo dục và thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục - đào tạo là cơ sở để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, phát triển kinh tế - xã hội và bảo tồn vốn văn hoá cho đồng bào các dân tộc để họ có điều kiện vươn lên hoà nhập và thực hiện quyền bình đẳng của mình

là vấn đề hết sức quan trọng và cần thiết nhưng cũng rất khó khăn ở nước ta hiện nay Chỉ khi nào đồng bào dân tộc thiểu số có được một trình độ học vấn cao thì khi ấy họ mới có điều kiện thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, tiếp thu và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất và đời sống vượt qua nghèo nàn, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất, tức là mới có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của mình, và chỉ khi đó các dân tộc thiểu số mới thực sự bình đẳng trong một quốc gia đa dân tộc

Trang 7

Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị

xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập

Nhà nước thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện để ai cũng được học

hành Nhà nước và cộng đồng giúp đỡ để người nghèo được học tập, tạo điều kiện để những

người có năng khiếu phát triển tài năng

Nhà nước ưu tiên, tạo điều kiện cho con em dân tộc thiểu số, con em gia đình ở vùng cóđiều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi, ngườitàn tật, khuyết tật và đối tượng được hưởng chính sách xã hội khác thực hiện quyền và nghĩa

vụ học tập của mình.)( Điều 10 Luật GD2005)

Câu 5:

Bình đẳng xã hội là gì? Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu như thế nào? Nêu một

số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục

1 Khái niệm

- Công bằng xã hội: Là sự tiếp cận và xử lý đúng đắn, không thiên vị các mối quan hệ cơ bản

giữa các cá nhân, tổ chức trong xã hội

- Bình đẳng xã hội: Nói tới bình đẳng xã hội là nói tới sự thừa nhận và sự thiết lập các điều

kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân, cácnhóm xã hội

→ Công bằng, bình đẳng và tự do gắn liền với quyền cơ bản của của con người

- Bình đẳng giáo dục: Là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện, cơ hội

và quyền lợi trong giáo dục

- Bình đẳng xã hội trong giáo dục được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là sự bình đẳng giáo

dục, bình đẳng về cơ hội giáo dục, bình đẳng về cơ hội học tập, bình đẳng về cơ hội đếntrường

Yêu cầu về bình đẳng xã hội trong giáo dục

- Một là, cơ hội đầu vào giáo dục: bình đẳng về cơ hội đến trường, bình đẳng về cơ hội đầu tưcho giáo dục Cần tạo ra sự bình đẳng về cơ hội đến trường cho mọi nhóm xã hội từ miền xuôiđến miền ngược, từ trẻ em bình thường đến trẻ em có hoàn cảnh khó khăn

Trang 8

- Hai là, bình đẳng về cơ hội đầu ra của giáo dục: bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp, bìnhđẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo.

- Ba là, cần thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội tronggiáo dục (phải hành động trên nền tảng công lý, pháp luật)

3 Từ góc độ xã hội học, vấn đề về bình dẳng xã hội trong giáo dục được nhìn nhận:

- Thứ nhất, vấn đề công bằng, bình đẳng và hiệu quả giáo dục không phải là vấn đề nội bộ củangành giáo dục mà là của xã hội

- Thứ hai, sự công bằng và bình đẳng trong giáo dục phụ thuộc vào cách phân bổ ngân sáchcủa nhà nước và quy mô, cơ cấu phát triển giáo dục tiểu học, trung học và đại học

- Thứ ba, là trình độ phát triển kinh tế xã hội: cần thực hiện công bằng ngay cả khi kinh tếchậm phát triển Bởi vì bình đẳng xã hội trong giáo dục vừa là mục tiêu vừa là con đường pháttriển con người , phát triển xã hội

Một số chỉ báo hay đơn vị đo lường sự bình đẳng xã hội trong giáo dục: giới tính; thành thị- nông thôn; di cư- không di cư; dân tộc; tình trạng kinh tế hộ gia đình

Lưu ý đơn vị, chỉ báo đo lường sự bình đẳng cũng chính là đơn vị đo lường sự phân hóa xã hộinhưng với ý nghĩa khác: ví dụ hệ số GINI càng gần bằng 0 thì càng bình đẳng Chênh lệchtuyệt đối và chênh lệch tương đối càng nhỏ thì càng bình đẳng

Để đánh giá sự phân tầng xã hội trong Giáo dục có thể sử dụng các chỉ báo, hay đơn vị đolường là:

 Tỉ lệ % đi học đúng tuổi cấp, bậc học nhất định

 Tỉ lệ % đi học chung cấp, bậc học nhất định

 Số năm đi học trung bình

 Số chi phí (chi tiêu) tính bằng tiền cho việc đến trường (chi phí giáo dục) Căn cứ vàochi phí giáo dục có thể tính hệ số GINI để đánh giá mức độ phân hóa (mức độ bất bìnhđẳng, hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1 càng tiến đến 0 càng bình đẳng và càngtiến đến 1 càng bất bình đẳng, càng phân hóa

 Chỉ số phân hóa tuyệt đối = Chênh lệch tuyệt đối giữa các chỉ báo/đơn vị nêu trên: ví dụ

tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nam – tỉ lệ % đi học đúng tuổi của nữ = phân hóa giáo dụctuyệt đối giữa nam

Trang 9

 Chỉ số phân hóa tương đối = Chênh lệch tương đối được tính bằng số lần chênh lệch ví

dụ lấy tỉ lệ % đi học của nam chia cho tỉ lệ % đi học của nữ

không thiên vị các mối quan hệ cơ

bản (nhu cầu & hưởng thụ, nghĩa vụ

& quyền lợi, chi phí & lợi ích, đóng

góp & phần thưởng) giữa các cá

nhân, tổ chức trong xã hội.

 Được cụ thể hóa thành các nguyên

tắc ứng xử và được thể chế hóa

thành các quy định pháp luật hoặc

thành quy tắc bất thành văn

 Công bằng xã hội theo pháp luật là

phương thức, là cơ chế để thực hiện

bình đẳng xã hội thực chất

Bình đẳng xã hội

 Là sự thừa nhận và thiết lập các điều

kiện, các cơ hội và các quyền lợi ngang nhau cho sự tồn tại và phát triển của các

cá nhân, các nhóm xã hội

 Nói tới hành vi ứng xử cụ thể giữangười với người trên từng phương diệncủa cuộc sống

Công bằng xã hội trong giáo dục

- là tạo ra sự bình đẳng về cơ hội học

tập của mọi công dân không phân biệt

tôn giáo, tín ngưỡng, giới tính v.v

được nhà nước quy định trong Điều 10,

Luật Giáo dục 2005

Bình đẳng xã hội trong giáo dục

 là sự bình đẳng giữa các cá nhân, cácnhóm người về điều kiện, cơ hội vàquyền lợi trong giáo dục

 được hiểu một cách cụ thể, rõ ràng là

sự bình đẳng giáo dục, bình đẳng về cơhội giáo dục, bình đẳng về cơ hội họctập, binh đẳng về cơ hội đến trườngCông bằng xã hội và bình đẳng xã hội là một quá trình xã hội:

Trang 10

- Công bằng xã hội là một trong nhựng nguyên tắc phát triển có ý nghĩa trọng đại của mỗi quốcgia Trong đó phải nhấn mạnh sự công bằng về quyền được học hành, quyền được hưởng thụmột nền giáo dục hiện đại, quyền được tham gia phát triển giáo dục Thực hiện công bằngtrong giáo dục trước hết là tạo cơ hội như nhau trong học tập là điều kiện quan trọng để thựchiện quyền bình đẳng trong giáo dục Khi nền công nghiệp dần nhường chỗ cho kinh tế tri thứcthì giáo dục không những là quyền của mọi công dân, mà còn mang sứ mạng vĩ đại là tạo mọi

cơ hội để con người được học tập suốt đời, nghĩa là phải làm cho quốc gia thành một xã hộihọc tập

- Khi tạo cơ hội giáo dục tính đến từng con người, không loại trừ một ai thì chính đó là sự côngbằng về giáo dục được giải quyết cơ bản Sự công bằng về giáo dục là sự công bằng về cơ hội

để con người phát triển bền vững trên cơ sở họ thực hiện được quyền lợi và nghĩa vụ học tậpsuốt đời Thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội tronggiáo dục: bình dẳng về đầu vào giáo dục, bình đẳng về đầu ra của giáo dục

- Giáo dục là phương tiện tạo ra bình đẳng bằng cách mang lại cơ hội công bằng cho mọingười Thông qua cơ hội công bằng, giáo dục kích thích nỗ lực vươn lên của mọi cá nhân, thúcđẩy sự ưu tú, tài năng, sự sáng tạo, nhờ đó tạo ra tiến bộ và phát triển xã hội

Ví dụ sự bình đẳng về cơ hội đến trường: trẻ em ở miền núi, miền xuôi khi đủ 6 tuổi đều có thể

đi học tiểu học Công bằng về giáo dục luôn đòi hỏi sự công bằng về điều kiện học tập Mộtphường trong thành phố lớn có ít nhất một trường tiểu học; một xã vùng cao hiện nay cũng cótrường tiểu học Nếu nhìn vào con số thống kê này, người ta có thể cho rằng, giữa miền núi vớivùng đô thị đã có sự công bằng về giáo dục tiểu học Thực ra vẫn rất bất công bằng khi trườngtiểu học ở thành phố được xây dựng kiên cố, có đủ điện chiếu sáng trong từng lớp học, có bànghế học sinh đóng đúng quy cách, có máy tính cho học sinh sử dụng ngay khi vào lớp 1, v.v còn trường ở vùng cao được bao bọc bằng những tấm phên đan bằng tre hoặc nứa, ghế học sinhghép bằng những cây tre, mùa đông đến gió rừng làm cho lũ trẻ co ro trong lớp học, trời mưahoặc lúc chiều tà, lớp học tối om Cũng là học tiểu học, nhưng chất lượng trường lớp như thếlàm sao mà bảo đảm việc học tập ở hai nơi là công bằng?

Câu 7

Trang 11

Phân tích thực trạng phân hóa xã hội và bình đẳng xã hội trong giáo dục từ tiểu học đến đại học ở Việt Nam Việt Nam

Tiểu học phân hóa xã hội ít, tức là rất gần đến bình đẳng vì tỉ lệ đi học đúng tuổi của tiểu học làgần 100%, chính xác là 95.5% năm 2009

Nhưng càng lên bậc học cao thì phân hóa càng lớn tức là càng bất bình đẳng (lấy các tỉ lệ đi học đúng tuổi để làm ví dụ)

Có thể sử dụng tỉ lệ đi học đúng tuổi của nhóm giàu và nhóm nghèo của từng cấp bậc học học

để chứng minh rằng càng lên bậc học cao càng phân hóa, càng bất bình đẳng

Phân hóa xã hội trong giáo dục là quá trình hình thành các nhóm xã hội khác nhau về một hoặc 1 số đặc điểm, tính chất giáo dục.

Cơ chế và các yếu tố tác động tới sự phân hóa xã hội:

 Sự phân hóa xã hội diễn ra trong những điều kiện xã hội cụ thể:

Ví dụ: Ở thời kỳ những năm 90 của TK 20, chưa xuất hiện mạng internet và máy tính tạiViệt Nam, vì vậy mà ở các lớp học chủ yếu là học chay Tuy nhiên, khi internet được truyềnvào VN thì tại các lớp học xuất hiện nhiều phương tiện công nghệ hiện đại: như máy chiếu,máy tính…hỗ trợ cho công việc học tập

- Sự phân hóa xã hội diễn ra một cách tất yếu theo quy luật Quy luật tự nhiên và quyluật xã hội

Ví dụ: Theo quy luật tự nhiên, các cá nhân sinh ra, lớn lên và tham gia vào các nhóm xãhội khác nhau tương ứng với đặc điểm dân tộc, tuổi, giới tính Theo quy luật xã hội, trẻ

em 6 tuổi thì vào lớp 1, mỗi năm lên một lớp…

- Sự phân hóa xã hội chịu tác động của sự phân công lao động trong xã hội: Do làmnhững công việc khác nhau, chuyên môn hóa khác nhau nên xuất hiện các nhóm nghề khácnhau Trình độ học vấn khác nhau cũng tạo ra những nhóm xã hội khác nhau như nhóm nhữngngười lao động chân tay, nhóm những người lao động trí óc…

Bình đẳng giáo dục là sự bình đẳng giữa các cá nhân, các nhóm người về điều kiện, cơ hội và quyền lợi trong giáo dục.

Thiết chế giáo dục hiện đại đòi học phải thực hiện nguyên tắc công bằng xã hội để tạo

Trang 12

ra sự bình đẳng về cơ hội giáo dục Khái niệm này được hiểu theo những nghĩa chính sau đây:

 Bình đẳng về cơ hội đầu vào giáo dục, ví dụ như bình đẳng về cơ hội đến trường,bình đẳng về cơ hội đầu tư cho giáo dục Cần tạo ra sự bình đẳng về cơ hội đếntrường cho mọi nhóm xã hội từ miền xuôi đến miền ngược, từ trẻ em bình thườngđến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

 Bình đẳng về đầu ra của giáo dục, ví dục như bình đẳng về cơ hội sử dụng bằng cấp,bình đẳng về cơ hội tìm việc làm phù hợp với trình độ đào tạo Trên thực tế có sựphân biệt đối xử sinh viên tốt nghiệp giữa trường đại học công lập với trường đại họcdân lập, giữa đào tạo chính quy với đào tạo tại chức Vấn đề đặt ra là làm thế nào đểcác bằng đại học ngang giá trị như nhau giữa các loại trường công lập, bán công, dânlập và tư thục

 Công bằng xã hội và bình đẳng xã hội là một quá trình xã hội: cần thực hiện nguyêntắc công bằng xã hội để từng bước tiến tới bình đẳng xã hội trong giáo dục Khôngthể ngay lập tức đạt được bình đẳng xã hội cũng không thể ban phát, xin cho sự bìnhđẳng xã hội mà phải thực hiện, phải hành động trên nền tảng công lý, pháp luật

Luật Giáo dục (có hiệu lực 1/1/2006 và hiện còn đang sửa đổi), Luật Chăm sóc, bảo vệ vàgiáo dục trẻ em (có hiệu lực 1/1/2005) mang lại quyền bình đẳng trong giáo dục cho toàn bộmọi người dù ở bất kì hoàn cảnh nào, lứa tuổi nào, giới tính nào, địa phương nào

Tỉ lệ nhập học đúng tuổi (theo Nguồn Tổng cục thống kê Giáo dục Việt Nam: Phân tích các chỉ số chủ yếu.2011 Biểu 4.2) cho thấy Luật Giáo dục đã thúc đẩy một cách mạnh mẽ sự

bình đẳng giới trong giáo dục Tỉ lệ nữ giới nhập học đúng độ tuổi ở các cấp học luôn cao hơn

so với nam giới (mặc dù xu thế trọng nam khinh nữ trong xã hội hiện nay đang có nguy cơ

quay trở lại, tỉ lệ sinh nữ/nam là 100/105)

Trang 13

Đặc điểm Tiểu học THCS THPT Cao đẳng Đại học

Khoảng cách bất bình đẳng trong giáo dục giữa thành thị và nông thôn, giữa nhóm giàu

và nhóm nghèo cũng được thu hẹp đặc biết ở những cấp học phổ thông

Số liệu (màu đỏ) có chính xác không?

Luật Phổ cập giáo dục tiểu học ở VN ban hành đáp ứng nhu cầu học tập của đại đa sốcác thành viên trong xã hội Hiện nay khoảng trên 95,5% trẻ em qua tuổi tiểu học đã hoànthành CT tiểu học

Mới đây nhất, Luật Người khuyết tật (được Quốc hội nước CHXHCN VN thông quangày 17/6/2010 - Chương IV Điều 27, 28, 29, 30) cũng đem lại bình đẳng trong giáo dục chonhững con người không được lành lặn (về thể xác, trí tuệ, tinh thần) Họ được học tập vớiphương thức giáo dục chuyên biệt, được hướng nghiệp để hòa nhập cộng đồng

Một số thiết chế giáo dục mang tính pháp luật, một số quy tắc bất thành văn thể hiệndưới hình thức những hệ giá trị, chuẩn mực truyền thống đề cao việc học tập, coi trọng ngườihọc, tạo cho họ có ý thức hứng thú học tập, thực hiện nghiêm túc việc học, từ đó thúc đẩy sựphát triển bình đẳng trong giáo dục ở các nhà trường

Câu 8

Kể tên các hình thức Bất bình đẳng xã hội trong giáo dục Phân tích một hình thức biểu hiện rõ nhất tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục Việt Nam hiện nay.

Cần sử dụng các số liệu năm 2009 (đã nêu trong 2 bảng số liệu ở trên) để chỉ ra rằng phân hóa

xã hội hay bất bình đảng xã hội giữa nhóm giàu và nhóm nghèo ở bậc đại học là rõ nhất,nghiêm trọng nhất

Các hình thức bất bình đẳng xã hội trong giáo dục và phân tích

Bất bình đẳng giới trong giáo dục: Tỉ lệ nhập học ở các nước nghèo đang tăng, nhưng

Trang 14

tỉ lệ nam đi học vẫn cao hơn nữ Ví dụ theo kết quả điều tra chọn mẫu 1997-1998 tỉ lệdân số nữ từ 15 tuổi trở lên chưa đến trường là 13,4% nhiều gấp 2 lần tỉ lệ năm 5.2%một trong

Bất bình đẳng giữa thành thị và nông thôn: Tỷ lệ đi học của trẻ em ở thành thị luôn

cao hơn tỷ lệ đi học của trẻ em ở nông thôn

Tỷ lệ đi học đúng tuổi thành thị - nông thôn

Cấp học phổ thông đúng tuổi

Thàn

h thị

Nông thôn

Thàn

h thị

Nông thôn

Tiểu học: 6-10 tuổi 89.7 89.1 89.2 88.1Trung học cơ sở: 11-14 tuổi 82.9 77.8 82.6 77.1Trung học phổ thông: 15-17

Bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo: Tỉ lệ đi học của trẻ em xuất thân từ

nhóm gia đình nghèo luôn thấp hơn tỉ lệ đi học của nhóm gia đình giàu

Ví dụ:

1/ Vào năm 1998-1999 tỉ lệ đi học cao đẳng, đại học của thanh niên (18 đến 24) tuổi xuất thân

từ số 20% gia đình giàu nhất (28.13%) nhiều gấp 60 lần tỉ lệ của nhóm gia đình nghèo nhất(0.46%) ( Nguồn: Tổng cục thống kê Điều tra mức sống cư dân Việt Nam 1997-1998 HàNội 2000 Tr 61)

2/ Vào cuối những năm 1980, 92% sinh viên đại học ở Indonesia, 77% ở Venezuala xuất thân

Trang 15

từ nhóm 20% gia đình giàu nhất.(Nguồn: Ngân hàng thế giới Những ưu tiên và chiến lược chogiáo dục Hà nội 1997 Tr 49)

Bất bình đẳng giữa các dân tộc:

Ví dụ:

1/ Đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 13% tổng số dân Việt Nam, nhưng sinh viên người dân tộcthiểu số chỉ chiếm khoảng 4 % trong tổng số hơn một triệu sinh viên đại hoc

2/ Báo cáo của các Sở giáo dục của 5 tỉnh miền núi là Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên

và Sơn La cho biết tỉ lệ học sinh người dân tộc chiếm gần 54% trong tổng số học sinh THPTcủa 5 tỉnh này, nhưng đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tới 80% tổng số dân ( Nguồn: Ban khoagiáo trung ương Công tác khoa giáo vùng đồng bào dân tộc thiểu số Hà Nội 2006 Tr 38.)

Ngoài tỉ lệ đi học, bất bình đẳng xã hội trong giáo dục nhà trường còn thể hiện:

- Đầu tư, quan niệm của xã hội ( vùng, miền )

- Chất lượng đội ngũ giáo viên

- Các hoạt động ngoại khóa, TDTT…

Phân tích một hình thức biểu hiện rõ nhất tình trạng bất bình đẳng xã hội trong giáo dục Việt Nam hiện nay.

Lưu ý: đó là bất bình đẳng giữa nhóm giàu và nhóm nghèo về cơ hội/tỉ lệ đi học đúng tuổi bậc đại học ở Việt Nam

Quan niệm phân biệt “trò giỏi – trò dốt”, “thông minh – tối dạ” đã trở thành một nếp nghĩ hằnsâu trong tư duy mọi người, từ các nhà giáo, nhà quản lý giáo dục cho đến phụ huynh học sinh

Từ nếp nghĩ này mới sinh ra những mô hình như trường chuyên, lớp chọn, lớp “chấtlượng cao” …Những học sinh lớp chọn, trường chuyên, lớp chất lượng cao được học chươngtrình nâng cao với những nhà giáo giỏi nhất, trong điều kiện cơ sở vật chất tốt hơn nhiều so vớicác trường, lớp “đại trà” Vì vậy, các bậc phụ huynh thường tìm mọi cách (kể cả “chạy chọt”)

để con em mình được vào trường chuyên, lớp chọn

Ngay trong một lớp “đại trà”, các giáo viên cũng có sự phân biệt, đánh giá học sinh theomức độ “giỏi – dốt” Không ít giáo viên chỉ chú ý đến những học sinh giỏi, chú trọng kèm cặp,bồi dưỡng những học sinh này để đi thi học sinh giỏi, thi đại học…mà ít quan tâm đến những

Trang 16

học sinh mà họ cho là “dốt”

Những giáo viên này nghĩ rằng những học sinh học khá trở lên mới học hành, thi cử đỗđạt, thành đạt, lập nghiệp được Còn những học sinh “dốt” thì học cũng chẳng “nên cơm nêncháo” gì, lo kiếm xong tấm bằng rồi đi học nghề, hoặc đi làm lao động phổ thông Khâu phụđạo, kèm cặp học sinh yếu kém hầu như ít được quan tâm, chỉ nêu ra cho có trong các bản báocáo của các trường

Vì vậy, đối tượng học sinh “dốt” bị bỏ rơi, ngày càng tụt hậu và trở nên dốt thật, khôngthể theo kịp bạn bè Nhiều em chán nản, bỏ học đi làm hoặc đi lấy chồng, lấy vợ Hầu hếttrường hợp học sinh bỏ học đều rơi vào hoàn cảnh khó khăn, học lực quá yếu

Câu 9 Chức năng sàng lọc của giáo dục có ảnh hưởng như thế nào đến phân hóa và bình đẳng xã hội trong giáo dục Liên hệ thực tế ở Việt Nam

1.Chức năng sàng lọc của giáo dục

Chức năng đánh giá, phân loại trình độ học vấn của học sinh, từ đó tuyển chọn học sinhvào những trường, những lớp khác nhau về năng lực học tập và trình độ phát triển của cá nhân,được gọi là chức năng sàng lọc của giáo dục

2 Chức năng sàng lọc của giáo dục có ảnh hưởng như thế nào đến phân hóa và bình đẳng

xã hội trong giáo dục

a Quan điểm thứ nhất: Chức năng sàng lọc của giáo dục đảm bảo công bằng và bình đẳng

xã hội.

- Nhờ cơ chế tuyển sinh thông qua việc kiểm tra, thi các trường (phổ thông, cao đẳng,đại học…) sẽ tuyển chọn và phân loại được trình độ học sinh, từ đó có thể xếp các em vào cáclớp có phương pháp dạy học phù hợp, giúp cho các em có thể phát huy hết năng lực của bảnthân

- Cũng nhờ có cơ chế thi tuyển sinh mà các em học sinh năng lực cao, đạt điểm cao hơn

có thể đỗ vào các trường đại học danh tiếng, các em học sinh năng lực thấp, đạt điểm thấp chỉ

có thể đỗ và theo học ở các trường đại học bình thường

Với cơ chế thi cử trên, nếu làm khách quan, chính xác, thì việc sắp xếp các em học sinhvào các lớp học khác nhau trong một trường hoặc vào các trường khác nhau, không phụ thuộc

Trang 17

vào điều kiện kinh tế và địa vị xã hội của gia đình các em, từ đó đảm bảo công bằng, bình đẳng

xã hội trong giáo dục

2.Quan điểm thứ 2: Giáo dục là công cụ sàng lọc của xã hội nên nó góp phần củng cố, duy trì cấu trúc phân tầng bất bình đẳng trong xã hội.

- Thông qua thi tuyển sinh, các trường phân loại trình độ học sinh và thường xếp các em

có kết quả cao vào các lớp có nội dung và phương pháp dạy học tốt hơn so với các em học sinhcòn lại, việc làm này tạo nên sự bất bình đẳng xã hội ngay trong quá trình các em học tạitrường; sự sàng lọc, phân biệt đối xử này theo đuổi suốt quá trình giáo dục từ tiểu học lên đếnđại học, sau đại học và nó dẫn tới sự phân tầng bất bình đẳng xã hội về nghề nghiệp, thu nhập,

vị thế xã hội của học sinh sau khi ra trường

- Với chức năng sàng lọc của giáo dục, tạo ra các trường chất lượng cao, các lớp chấtlượng cao trong các nhà trường, học sinh trong các trường này, các lớp này được hết sức quantâm và được tạo điều kiện học tập tốt nhất có thể; do đó nhiều gia đình giàu có hoặc có địa vị

xã hội đã tìm mọi cách cho con cái họ được vào học trong các trường này, lớp này, gây nên cáctiêu cực và sự bất bình đẳng xã hội trong giáo dục

3 Liên hệ thực tế ở Việt Nam ( vấn đề Phân ban, Phân luồng trong giáo dục của nước ta hiện nay)

- Nước ta trong giai đoạn vừa qua đã tiến hành thí điểm và thực hiện mô hình Phân bantrung học phổ thông:

+ Năm 1992 đến 1998 tiến hành thí điểm Phân ban THPT với 3 ban: Ban Khoa học tựnhiên (ban A), Ban Khoa học tự nhiên – kỹ thuật (ban B), Ban Khoa học xã hội (ban C) (Năm

1998 Thủ Tướng CP ra chỉ số 30 thị dừng CTTĐPB, quay lại CTCCGD)

+ Năm 2003 – 2004 tiến hành thí điểm Phân ban THPT mới với 2 ban: KHTN(ban A),KHXH (ban C) Năm 2005 Bộ GD&ĐT đề nghị điều chỉnh mô hình PB, bổ sung thêm ban cơbản

+ Từ năm 2006 đến nay tiếp tục thực hiện mô hình THPT Phân ban với 3 ban: ban cơbản, ban khoa học tự nhiên, ban khoa học xã hội và nhân văn (thực tế hiện nay đa số học sinhchọn học ban cơ bản)

- Sự phân ban, phân luồng trong giáo dục sẽ không tạo ra sự bất bình đẳng xã hội nếu

Ngày đăng: 31/10/2014, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w