1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SO SÁNH GIÁO dục VIỆT NAM và GIÁO dục TRUNG QUỐC

26 10,1K 73

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 277 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chính sách "phát triển đất nước thông qua khoa học và giáo dục", trẻ em Trung Quốc được hưởng nền giáo dục bắt buộc, miễn phí trong 9 năm từ lớp 1 tớilớp9.. Giáo dục đại học ở Trung

Trang 1

SO SÁNH GIÁO DỤC VIỆT NAM VÀ GIÁO DỤC TRUNG QUỐC

Trang 2

PHẦN A HỆ THỐNG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRUNG QUỐC

Hơn 50 năm qua, từ ngày nước Trung Hoa mới ra đời, nền giáo dục của TrungQuốc đó thu được những thành tựu nổi bật: phát triển không ngừng và ngày nay đangtừng bước hiện đại hóa Trước năm 1949 có tới 80% dân số Trung Quốc mù chữ, ởnông thôn tỷ lệ này là 95% Đến nay, tỷ lệ mù chữ chỉ còn 16,5% tổng số dân cả nước.Năm 1949 Trung Quốc có trên 1 triệu trường học các cấp các lọai hình khác nhau, 11triệu 40 vạn giáo viên và trên 225 triệu người theo học Có thể khẳng định rằng nềngiáo dục Trung Quốc là một nền giáo dục có quy mô lớn nhất thế giới

Ngày nay, Trung Quốc sánh ngang với các nước tiên tiến trên thế giới Sảnphẩm của Trung Quốc có mặt khắp thế giới, với giá thành thấp hơn so với sản phẩm từcác cường quốc kĩ nghệ bên Âu châu, Mĩ hay Nhật Nhiều người Việt, trong đó cóchúng tôi, nhìn sự phát triển của Trung Quốc một cách ngưỡng mộ, và tự hỏi làm thếnào mà họ đã đạt được một sự phát triển ngoạn mục như thế, và tự hỏi chúng ta cũng

có thể phát triển như họ? Để trả lời câu hỏi vừa nêu chúng tôi cùng các bạn hãy làmmột phép so sánh giữa hai nền giáo dục Trung Quốc và Việt Nam

I SƠ LƯỢC VỀ ĐẤT NƯỚC TRUNG QUỐC.

Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của đông bán cầu, phía đôngnam của đại lục Á-Âu, phía đông và  giữa Châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; cóbiên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía Bắc), với Kazakstan, Kirghitan, Taghikistan(phía Tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan (phía Tây Nam), vớiMyanma, Lào, Việt Nam (phía Nam), với Triều Tiên (phía Đông)

Dân số: Khoảng 1,3 tỷ người (tính đến tháng 12/2002)

Diện tích: 9,6 triệu km2

Quốc tệ: Nhân dân tệ

Tốc độ tăng trưởng kinh tế GDP: năm 2003 đạt 1.460 tỷ USD, tăng 9,3%, GDPbình quân đầu người lần đầu tiên vượt 1090 USD; năm 2004 đạt 13.651,5 tỷ NDT(1650 tỷ USD) tăng 9,5%

Khí  hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đến khô.Nhiệt độ trung bình toàn quốc tháng 1 là -4,7oC, tháng 2 là 26oC Ba khu vực được coi

là nóng nhất là Nam Kinh, Vũ Hán và Trùng Khánh

Dân tộc: Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc Dân tộc Hán là chủ yếu,ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm 6% dân số cả nước và phân bố trên 50-60%diện tích toàn quốc)

Hành chính: 31 tỉnh, thành phố gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trựcthuộc Trung ương, 4 cấp hành chính gồm: Tỉnh, địa khu, huyện, xã

Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi và Thiên ChúaGiáo

Ngôn ngữ: Tiếng Hán là tiếng phổ thông, lấy âm Bắc Kinh làm chuẩn

Ngày Quốc khách: 01/10/1949

II MỤC TIÊU CỦA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG TRUNG QUỐC

Trang 3

Giáo dục phải kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá ưu tú của dântộc Trung Hoa, tiếp thu mọi thành quả ưu tú, văn minh, phát triển của nhân loại; "đặtgiáo dục vào vị trí chiến lược ưu tiên phát triển” với sứ mệnh cơ bản là “phục vụ xâydựng hiện đại hoá, phục vụ nhân dân, kết hợp với lao động sản xuất và thực tiễn xãhội, bồi dưỡng thế hệ những người…phát triển toàn diện "

III HỆ THỐNG GIÁO DỤC TRUNG QUỐC

1 Hệ thống giáo dục nói chung

Phát triền giáo dục được Trung Quốc đặt là một nhiệm vụ hàng đầu và hết sứcquan trọng Với chính sách "phát triển đất nước thông qua khoa học và giáo dục", trẻ

em Trung Quốc được hưởng nền giáo dục bắt buộc, miễn phí trong 9 năm (từ lớp 1 tớilớp9) "Hướng tới nền giáo dục hiện đại, tới thế giới và tương lai" là đường hướng chủđạo cho sự phát triển hệ thống giáo dục cả ngắn hạn và dài hạn

Hệ thống giáo dục của Trung Quốc có thể chia làm các giai đoạn sau:

1.1 Giáo dục mẫu giáo:

Cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi tại các nhà trẻ

1.2 Giáo dục tiểu học:

Cho học sinh từ 6 đến 11 tuổi Các trường tiểu học thường do chính quyền cácđịa phương điều hành và được miễn phí Tuy nhiên, cũng có một số trường tư do cácdoanh nghiệp và các cá nhân điều hành

1.4 Giáo dục đại học và dạy nghề:

Đối với chương trình đại học, có các khoá học nghề cũng như các khoá học cấpbằng đại học, sau đại học, và tiến sỹ Sinh viên theo học cử nhân sẽ học trong vòng 4-5năm, chương trình Thạc sỹ kéo dài 2-3 năm và tiến sỹ trong 3 năm Giáo dục đại học

do các trường đại học, cao đẳng, các viện và các trường cao đẳng nghề đảm nhiệm.Các cơ sở đào tạo này thực hiện các nghiên cứu khoa học và học thuật, cung cấp cácdịch vụ xã hội và các khoá học cho sinh viên Để vào trường đại học hay cao đẳng,các sinh viên cần thi đại học - thường diễn ra vào tháng bảy hàng năm Việc sinh viên

đỗ đại học hay không tuỳ thuộc vào số lượng thí sinh tham dự kỳ thi đại học và điểmcủa bài thi, vì vậy vào được đại học đối với sinh viên Trung Quốc cũng là sự cạnhtranh khá lớn Những sinh viên không đỗ đại học có thể vào các trường cao đẳng tưnếu muốn tiếp tục việc học tập Học tập tại các trường cao đẳng này thường đắt đỏ hơncác trường đại học công lập Các sinh viên không có điều kiện học đại học, cao đẳng

có thể trau dồi kiến thức cho mình thông qua quá trình làm việc

Trang 4

Giáo dục đại học ở Trung Quốc rất phát triển trong những năm vừa qua với hơn

2000 trường đại học và cao đẳng cấp các loại bằng: cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ Cách đâyhơn 50 năm, Trung Quốc đó chấp nhận học sinh nước ngoài tới học tập Trong số hơn

2000 trường đại học và cao đẳng, hơn 300 trường hiện có sinh viên nước ngoài theohọc Chương trình dành cho sinh viên nước ngoài bao gồm 2 năm học cấp ba, chươngtrỡnh đào tạo lấy bằng cử nhân cao đẳng, đại học, thạc sỹ, tiến sỹ; chương trình khungcấp bằng và chương trình đào tạo ngôn ngữ

Tất cả các trường đại học và cao đẳng có sinh viên nước ngoài cung cấp các điều kiệntốt nhất cho sinh viên ăn, ở ngay tại trường hoặc gần trường Các sinh viên nướcngoài sống ở Trung Quốc có thể sống ở ngoài khuôn viên của trường tuỳ theo nguyệnvọng

Các chương trình học bổng thường chương trình trao đổi song phương, và cácsinh viên thường xin học bổng qua chính phủ Các sinh viên cũng có thể nộp trực tiếpcho trường đại học hoặc cao đẳng mà mình muốn học tập tại đó

Trung Quốc từ lâu được biết đến là một trong những nước có nền văn hoá đồ sộ

và lâu đời nhất thế giới Giờ đây, Trung Quốc lại được nhiều người biết đến như mộtnền kinh tế và kỹ thuật trên đà phát triển mạnh mẽ và một nền giáo dục và đào tạo chấtlượng cao và thực sự thiết thực với tình hình phát triển kinh tế và xã hội của Việt Nam

Sự nghiệp giáo dục hiện đại của Trung Quốc đó được bắt đầu từ trước khi xoá bỏchế độ khoa cử phong kiến vào năm 1905, nhưng sự phát triển toàn diện và quy mômang tính toàn dân của nền giáo dục Trung Quốc chỉ được bắt đầu khi đất nước TrungQuốc mới được thành lập vào năm 1949

Trong hơn 50 năm qua, Chính phủ Trung Quốc vẫn tiếp tục phát huy truyềnthống chú trọng phát triển giáo dục từ ngàn xưa Mỗi năm, ngân sách tài chính đượccấp cho ngành giáo dục chiếm đến gần 14% tổng chi tài chính nhà nước, tương đươnggần 3% GDP

Giáo dục Trung Quốc được chia thành các cấp học như sau

Mẫu giáo: 3 năm ;- Bậc tiểu học: 6 năm;- Bậc trung học cơ sở: 3 năm

- Bậc trung học phổ thông: 3 năm;- Cao đẳng và đại học: 4-5 năm;- Cao học:2-3 năm

- Tiến sỹ: 3 năm

Chính sách tuyển sinh sinh viên quốc tế của các trường đại học và học viện ởTrung Quốc được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ 20 Trong hơn 50 qua, TrungQuốc đã luôn chào đón và tạo điều kiện tốt nhất cho du học sinh quốc tế nhất là sinhviên đến từ Việt Nam

Ban đầu, du học sinh quốc tế lưu học tại Trung Quốc phải học tiếng, đạt trình

độ tương đương HSK 5-6 (Chuẩn kiểm tra Hán Ngữ quốc gia của Trung Quốc) Khi

đó đạt cấp độ 5-6 HSK tiếng Trung, cùng với văn bằng tốt nghiệp Trung học phổthông hay bằng Đại học của Việt Nam, lưu học sinh có thể nộp đơn xin vào học 1chuyên ngành Đại học hay sau Đại học và sẽ được nhận vào học mà không phải thiđầu vào

Trước khi tìm kiếm một đường lối phát triển hợp lý, các nhà lãnh đạo TrungQuốc đó nhín nhận 5 hạn chế chính của nền giáo dục quốc gia Thứ nhất, về cơ bản,giáo dục lạc hậu không thích ứng được với tốc độ phát triển nhanh chóng của nền kinh

tế thị trường, với những đòi hỏi của cải cách mở cửa và sự nghiệp xây dựng hiện đạihoá

Trang 5

Thứ hai, thể chế giáo dục và cơ chế vận hành không thích hợp với nhu cầu cảcách sâu hơn nữa về kinh tế, chính trị, KHKT Quản lý của nhà nước với giáo dục quácứng nhắc khiến cho nhà trường mất sức sống Quá trình ra quyết định giáo dục vẫnmang tính tập trung cao, được chỉ đạo từ trên xuống và các cán bộ cấp thấp hơn vẫnphải trung thành với đường lối và chủ trương của lãnh đạo Đảng

Thứ ba, cơ cấu giáo dục còn mất cân đối Giáo dục phổ thông mỏng và yếu.Không có đủ trường học, chất lượng giảng dạy cũng không cao, thiếu nghiêm trọnggiáo viên và các thiết bị dạy học cần thiết Giáo dục kĩ thuật và nghề nghiệp khôngphát triển Có sự mất cân đối về tỷ lệ các chuyên ngành và tầng bậc trong nội bộ giáodục đại học Bên cạnh đó, có sự chênh lệch đáng kể trong giáo dục giữa nông thôn vàthành thị và giữa những vùng kinh tế phát triển và vùng nghèo

Thứ tư, tư tưởng cũng như phương pháp giáo dục chậm đổi mới, nội dung chươngtrỡnh cũ kỹ, phương pháp dạy học gò bó, khâu hoạt động thực tiễn không được coitrọng Giáo dục vẫn thiên về phục vụ thi cử, mang nặng tư tưởng “cá chép vượt khảihoàn môn hoá rồng” Các nghiên cứu khoa học vẫn được tiến hành theo lối kinhnghiệm, không phục vụ thực tiễn

Thứ năm, đầu tư cho giáo dục không đủ Đội ngũ giáo viên và thiết bị dạy học cònkém và thiếu, chưa được phát huy và sử dụng có hiệu quả Trên cơ sở những hạn chếnhiều mặt trong giáo dục, quan điểm của Trung Quốc là “đặt giáo dục vào vị trí chiếnlược ưu tiên phát triển” với sứ mệnh cơ bản là “phục vụ xây dựng hiện đại hoá, phục

vụ nhân dân, kết hợp với lao động sản xuất và thực tiễn xó hội, bồi dưỡng thế hệnhững người…phát triển toàn diện…” (Đại hội ĐCSTQ XVI)

Xem xét tình hình giáo dục của các quốc gia với quy mô, dân số, trình độ pháttriển khác nhau, chúng ta nhận thấy các quốc gia đều có điểm chung là không một nềngiáo dục nào phát triển mà không có các hạn chế cần khắc phục Một hạn chế chungvới tất cả các nền giáo dục là không theo kịp sự phát triển kinh tế, xu thế toàn cầu hóa

và xu thế cạnh tranh ngày càng cao Vì vậy, đòi hỏi cải cách liên tục chất lượng giáodục luôn luôn là ưu tiên số một với các quốc gia Điều quan trọng là các nhà lãnh đạophải có khả năng nhìn thẳng vào thực tế yếu kém của giáo dục quốc gia, trước khi cóthể hoạch định một chính sách phát triển giáo dục hiệu quả

2/ Sơ đồ hệ thống giáo dục Trung quốc

Trang 6

IV TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO GIÁO DỤC PHỔ THỒNG TRUNG QUỐC

1./ Luật giáo dục nước cộng hòa nhân dân Trung hoa”

Điều 3: Nhà nước kiên trì lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao TrạchĐông và lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội mang mầu sắc Trung Quốc làm tư tưởngchỉ đạo, tuân thủ nguyên tắc cơ bản mà Hiến pháp đã xác định, phát triển sự nghiệpgiáo dục xã hội chủ nghĩa

Điều 4: Giáo dục là cơ sở để xây dựng hiện đại hoá xã hội chủ nghĩa, Nhà nướcđảm bảo ưu tiên phát triển sự nghiệp gdục.Toàn xã hội phải quan tâm và ủng hộ sựnghiệp giáo dục phát triển.Toàn xã hội phải tôn trọng các thầy cô giáo

Điều 5: Giáo dục phải phục vụ công cuộc xây dựng hiện đại hoá xã hội chủnghĩa, phải kết hợp với lãnh đạo sản xuất, bồi dưỡng lớp người xây dựng và kế tục sựnghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển toàn diện về đức, trí, thể…

Điều 6: Nhà nước giáo dục chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa tập thể, xã hội chủnghĩa và lý tưởng, đạo đức, kỷ luật, pháp chế quốc phòng cũng như tinh thần đoàn kếtdân tộc trong tất cả mọi người trung tiểu học

Trang 7

Điều 7: Giáo dục phải kế thừa và phát huy truyền thống lịch sử, văn hoá ưu túcủa dân tộc Trung Hoa, tiếp thu mọi thành quả ưu tú, văn minh, phát triển của nhânloại.

Điều 8: Hoạt động giáo dục phải phù hợp lợi ích chung của Nhà nước và xã hội.Nhà nước tách rời giáo dục với tôn giáo Mọi tổ chức và cá nhân không được lợidụng tôn giáo để hoạt động gây trở ngại cho chế độ giáo dục của Nhà nước

Điều 13: Nhà nước sẽ thưởng cho tập thể và cá nhân nào có cống hiến nổi bậtcho sự nghiệp phát triển giáo dục

Điều 14: Quốc vụ Viện và Chính quyền các cấp thể theo nguyên tắc phân cấpquản lý, phân cấp phụ trách để lãnh đạo và quản lý công tác giáo dục

Giáo dục Trung học và dưới trung học do Chính quyền địa phương quản lý dưới

sự lãnh đạo của Quốc vụ Viện

Những cơ sở giáo dục bậc đại học, do Quốc vụ viện, chính quyền tỉnh, khu tựtrị, thành phố trực thuộc quản lý

CHƯƠNG III:TRƯỜNG HỌC VÀ CƠ SỞ GIÁO DỤC KHÁCĐiều 28: Trường học và cơ sở giáo dục khác có các quyền lợi sau:

1 Tự chủ quản lý theo chương trình;

2 Tổ chức thự thi mọi hoạt động dạy học;

3 Chiêu sinh hoặc nhận người đến học;

4 Quản lý danh sách học sinh, thực thi thưởng, phạt;

5 Cấp phát chứng chỉ chuyên môn tương ứng cho học sinh;

6 Mỗi giáo viên hoặc cán bộ nhân viên thực thi thưởng phạt;

7 Quản lý, sử dụng các công trình và kinh phí của đơn vị mình;

8 Từ chối mọi sự can thiệp phi pháp đối với hoạt động dạy học của mọi tổ chức

và cá nhân;

9 Các quyền lợi khác mà pháp luật, pháp quy quy định

Nhà nước bảo vệ quyền lợi hợp pháp của trường học và cơ sở giáo dục kháckhông bị xâm phạm

CHƯƠNG IV:GIÁO VIÊN VÀ NHỮNG NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC GIÁO

DỤC KHÁCĐiều 41: Nhà nước khuyến khích trường học, cơ sở giáo dục khác và tổ chức xãhội có biện pháp tạo điều kiện cho công dân được học tập suốt đời

Điều 42: Người học có các quyền lợi sau:

1 Tham gia mọi hoạt động đề ra trong kế hoạch học tập, sử dụng trang thiết bị,

tư liệu sách báo học tập;

2 Được tiền học bổng, tiền vay, tiền trợ cấp học tập theo quy định hữu quan củaNhà nước;

3 Được dánh giá công bằng thành tích học tập và đạo đức, rèn luyện Sau khihoàn thành ngành học theo quy định, sẽ được nhận bằng chuyên môn và bằng học vịtương ứng

4 Nếu không tán thành hình thức kỷ luật của trường được khiếu nại lên ngànhhữu quan; nếu nhà trường, giáo viên xâm phạm quyền hợp pháp về thân thể, tài sản thìhọc sinh được khiếu nại hoặc đề nghị khởi tố theo luật

5 Quyền lợi khác mà pháp luật, pháp quy quy định

Trang 8

CHƯƠNG VII:ĐẦU TƯ VÀ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO GIÁO DỤC

Điều 53: Nhà nước xây dựng thể chế lấy ngân sách Nhà nước là chính, coi kinhphí giáo dục có từ những con đường khác là phụ, tăng cường từng bước đầu tư chogiáo dục, đảm bảo kinh phí ổn định cho các trường quốc lập

Trường học và cơ sở giáo dục khác do tổ chức xí nghiệp sự nghiệp, đoàn thể xãhội và tổ chức xã hội, cá nhân khác mở theo luật, kinh phí do họ tự lo liệu, chínhquyền các cấp có thể có những sự giúp đỡ thích đáng

Điều 54: Tỷ lệ kinh phí dành cho giáo dục so với tổng thu nhập quốc dân phảiđược tăng dần theo đà phát triển của kinh tế quốc dân và sự gia tăng của khoản thungân sách Tỷ lệ cụ thể và từng bước thực thi do Quốc vụ viện quy định

Trong tổng chi ngân sách, các cấp trong cả nước, tỷ lệ kinh phí dành cho giáodục phải nâng dần theo sự phát triển của kinh tế quốc dân

Điều 55: Kinh phí dành cho giáo dục của chính quyền các cấp, thể theo nguyêntắc thống nhất giữa công việc và tài chính, sẽ được giải trình riêng trong dự toán ngânsách

Mức tăng tài chính mà chính quyền các cấp dành cho giáo dục phải cao hơnmức tăng thu nhập thường xuyên của tài chính, đồng thời tăng dần theo kinh phí giáodục tính theo bình quân học sinh trong trường, đảm bảo tăng dần lương cho giáo viên

và kinh phí chung bình quân học sinh

Điều 60: Nhà nước khuyến khích tổ chức xã hội và cá nhân trong và ngoài nướcquên góp, tài trợ cho trường học

Điều 61: Kinh phí giáo dục trong ngân sách Nhà nước, tiền quyên góp của tổchức xã hội cá nhân phải dùng cho giáo dục, không dùng vào việc khác hay bớt xén đi

Điều 62: Nhà nước khuyến khích dùng khoản vay, tín dụng ủng hộ sự nghiệpgiáo dục phát triển

Điều 63: Chính quyền các cấp và ngành quản lý giáo dục khác phải tăng cườngquản lý, giám sát kinh phí giáo dục của các trường và cơ sở giáo dục, nâng cao hiệuquả đầu tư cho giáo dục

Điều 64: Chính quyền địa phương các cấp và ngành quản lý liên quan khác phảiđưa việc xây dựng cơ bản trường học vào quy hoạch Xây dựng thành phố nông thôn,lên quy hoạch tổng thể những khu đất dành để xây dựng cơ bản các trường và vật tưcần thiết, có chính sách ưu đãi theo quy định hữu quan của Nhà nước

Điều 65: Chính quyền các cấp có chính sách ưu tiên, ưu đãi theo quy định củaNhà nước đối với việc xuất bản sách giáo khoa và sách báo, tư liệu dạy học, việc sảnxuất và cung ứng máy móc đồ dùng dạy học, nhập khẩu sách báo tư liệu, thiết bị giảngdạy, đồ dùng dạy học, phục vụ giảng dạy và nghiên cứu của các trường

Điều 66: Chính quyền cấp huyện trở lên, phải phát triển dạy học trên ti vi, vệtinh và các phương pháp dạy học hiện đại khác, ngành quản lý hữu quan khác phảidành chương trình ưu tiên, giúp đỡ ngành giáo dục

Nhà nước khuyến khích trường học và cơ sở giáo dục khác mở rộng ứng dụngphương pháp dạy học hiện đại

CHƯƠNG VIII: GIAO LƯU VÀ HỢP TÁC ĐỐI NGOẠI VỀ GIÁO DỤCĐiều 67: Nhà nước khuyến khích giao lưu và hợp tác đối ngoại về giáo dục.Quan hệ giao lưu và hợp tác đối ngoại về giáo dục kiên trì, nguyên tắc, độc lập, tự chủ,bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng lẫn nhau, không được làm trái pháp luật Trung Quốc,không được tổn hại chủ quyền quốc gia, an toàn và lợi ích chung toàn xã hội

Trang 9

2 Những biến chuyển về kinh tế - xã hội Trung Quốc từ sau mở của cho đến nay:

Trung Quốc là 1 nước đông dân nhất, có lịch sử hết sức lâu dài, có diện tích lớnthứ 3 trên thế giới, có 1 nền văn hóa rất to lớn, là nơi phát minh ra giấy, thuốc súng, labàn, nghề in

Mặc dù là 1 nước lớn nhưng trong lịch sử trung quốc vẫn bị Mông Cổ đô hộkhoảng 100 năm

Từ 1911 đến 1949 Trung Quốc xảy ra cuộc tranh giành giữa hai phe do TưởngGiới Thạch và 1 bên là Mao Trạch Đông lãnh đạo

Mô hình chủ nghĩa xã hội theo mô hình của Liên Xô từ năm 1949 đến trước khi cảicách mở cửa năm 1978

Đặng Tiểu Bình là người khởi xướng công cuộc cải cách ở Trung Quốc , ông đượcngười dân Trung Quốc đặt cho danh hiệu “tổng công trình sư”, nhà “thiết kế” và làlinh hồn của cụng cuộc cải cách mở cửa thành công của đất nước tỷ dân Ông từng làngười phải 3 lần “vào trung nam hải”( vào lao tù)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế lý tưởng của thế giới là 3,2%, nhưng Trung Quốc đã cónhững năm kinh tế tăng tưởng 15%

Sự kiện đánh dấu nền kinh tế TQ hội nhập thế giới là gia nhập WTO vào năm2001( Việt Nam 2006)

2.1 Những biến chuyển(thành tựu) về GD từ sau mở cửa đến nay:

- Tư duy giáo dục: chuyển đổi quan niệm từ chỗ: GD là công cụ của chuyênchính giai cấp sang quan niệm khoa học và gd là lực lượng sản xuất thứ nhất trongchiến lược phát triển kinh tế xã hội, thực hiện chiến lược: Khoa – Giáo – Hưng – Quốc

và gói gọn trong 16 chữ: “Giáo dục hướng tới hiện đại hóa, hướng ra thế giới, hướngtới tương lai”

Giáo dục bây giờ được coi là lực lượng sản xuất thứ nhất, chứ không chỉ là công cụcủa giai cấp chuyên chính

- Cải tổ mạnh mẽ hệ thống giáp dục quốc dân theo hướng ngày càng hoàn thiện

và hiện đại.(đặc điểm chung của cả 3 nền giáo dục đã nghiên cứu)

240 triệu học sinh-sinh viên, giáo viên là 11,5 triệu

Cải tổ theo hướng sau:

Về cơ cấu: Xác định xây dựng hệ thống cơ cấu: 6-3-3-4 có tính đến các yếu tốlịch sử, tức là chưa chuyển đồng loạt mà vẫn còn có vùng để 5-4-3-4

Chuyển mục tiêu PC THCS lên 9 năm và mục tiêu hoàn thành vào năm 2010.Thực hiện phân luồng giáo dục sau THCS mạnh thành 2 nhánh: lên THPT và

Chuẩn bị ban hành bộ luật giáo dục suốt đời

2.2 Đa dạng hoá giáo dục: phương thức hiệu quả để giải bài toán công bằng xã hội

Giáo dục cho mọi người luôn là mục tiêu hướng tới của các cải cách liên quan đếngiáo dục Bình đẳng về tiếp cận có vai trũ quan trọng trong duy trì ổn định xã hội cũngnhư tăng cường đoàn kết dân tộc Trung Quốc lại gặp phải vấn đề về chênh lệch giàunghèo giữa các tầng lớp dân cư và đặc biệt là giữa các vùng miền của đất nước Do sự

Trang 10

khác biệt về kinh tế của các khu vực trực tiếp ảnh hưởng đến đầu tư giáo dục, cộngthêm với tác dụng thu hút nguồn trí lực của các khu vực kinh tế phát triển, sự khôngđồng đều về giáo dục giữa các khu vực sẽ khiến cho khoảng cách chênh lệch về giáodục giữa các khu vực mở rộng, ảnh hưởng tới sự phát triển kinh tế của khu vực lạchậu, hơn nữa cũn ảnh hưởng tới việc nâng cao tố chất của toàn thể quốc dân Nhận rừđiều đó, nên đảm bảo sự phát triển giáo dục hài hoà giữa các khu vực là một trong cáctrọng điểm chiến lược phát triển giáo dục Trung Quốc.

Mục tiêu cho đến 2010 là giải quyết có hiệu quả vấn đề đầu tư giáo dục của các vùng,khiến cho giáo dục ở các vùng lạc hậu có thể đi trước trình độ phát triển kinh tế củađịa phương đó, đặt nền móng cho sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế sau này,đồng thời chuẩn bị cho sự phát triển cân đối, hài hũa kinh tế trên toàn quốc

3 Đa dạng hoá giáo dục: nền giáo dục hướng nhân bản

Nhấn mạnh đến một xu hướng chung trong nội dung của các mục tiêu chiếnlược giáo dục các nước, đó là giáo dục hướng về con người Giáo dục nhằm phục vụcác mục đích phát triển kinh tế không có nghĩa là tạo ra những công dân cứng nhắc,rập khuôn theo các yêu cầu về khoa học kỹ thuật Trong thời đại mới khi yếu tố conngười càng ngày càng nắm vai trò chủ chốt quyết định thành công thì các nước cũngnhận thức rằng giáo dục phải nhằm tạo ra những con người toàn diện, phát triển mọimặt và được tôn trọng Trên cơ sở đó, giáo dục và nuôi dưỡng tài năng là một trongnhững mục tiêu chung của các quốc gia, nhất là các quốc gia châu Á

Trong chiến lược giáo dục của Trung Quốc, việc nâng cao tố chất của conngười  sẽ trở thành mô thức chủ đạo của giáo dục từ nay về sau Điều này cũng cónghĩa là, việc đào tạo nhân tài theo mô hình phức hợp, biết sinh tồn, giỏi học tập, dámsáng tạo với mục tiêu nâng cao tố chất của toàn thể công dân sẽ trở thành hướng đi cơbản của chiến lược này mục tiêu đào tạo học sinh sẽ là giáo dục toàn diện Người họcsinh được đào tạo ra sẽ là những thanh niên có sức khỏe tốt, dồi dào tinh thần, ổn địnhtâm lý, có năng lực hợp tác và năng lực học tập nhất định Giáo dục tố chất nhấn mạnhhơn đến tính toàn diện và hài hòa của sự phát triển cơ thể Giáo dục tố chất không phải

là giáo dục tuyển chọn, nhưng nó không phản đối giáo dục tài năng, mà còn tích cựctạo điều kiện để cho những người có khả năng trở thành người tài đều có thể xuất hiện.Giáo dục tố chất lấy sự phát triển tự thân của cá thể làm điểm xuất phát và làm cơ sởcủa việc giáo dục Mục tiêu phát triển của giáo dục không phải là tiêu diệt sự khácbiệt, tiêu diệt cá tính, mà ngược lại thừa nhận sự khác biệt và khuyến khích phát triển

cá tính Chính vì vậy, trong nền giáo dục Trung Quốc đó và đang nảy sinh một cuộccải cách, đó là sự chuyển dịch trọng tâm từ “giáo dục khoa cử” chuyển sang “ giáo dục

tố chất”, là sự chuyển biến từ “ giáo dục sách vở” sang “giáo dục nhân bản”; là bướcchuyển từ chỗ “mọi người đều có thể thất bại” sang “mọi người đều có thể thànhcông”

Nhận thức được tầm quan trọng của phân quyền trong giáo dục, Trung Quốc đótiến hành một số cải cách quan trọng liên quan đến quản lý, tài chính và chương trình.Chương trình về Cải cách và phát triển giáo dục Trung Quốc năm 1993 khẳng địnhrằng “hệ thống để vận hành các trường sẽ chứng kiến sự thay đổi lớn lao với sự độcquyền của chính phủ sẽ thay đổi Trong khi mà trọng tâm vẫn còn là những trường họccông thì bên cạnh đó các trường học được tài trợ từ cộng đồng đang dần dần được

Trang 11

khuyến khích thành lập Giáo dục cơ bản (basic education) đạt được chủ yếu thôngqua những trường của chính phủ ở địa phương”.

Trên thực tế, về tài chính, chính quyền TW đó bắt đầu giảm sự bao cấp cho cáctrường ở địa phương, các nhân viên giáo dục tại các Tỉnh thành, thị trấn, làng mạc đótheo đuổi các nguồn khác ngoài kinh phí rót từ trung ương để tài trợ cho giáo dục cơbản Các nguồn khác đến từ đóng góp từ các tổ chức công nghiệp và xã hội; quỹ đượctài trợ từ các tổ chức cộng đồng và các cá nhân; học phí từ học viên; và thu nhập từcác xí nghiệp vận hành trường

Sự phân quyền về tài chánh và quản lý cũng làm xuất hiện khu vực phi chínhphủ trong giáo dục đào tạo Các loại trường trung học phi chính phủ hoặc bán công(semi-private) đó được phép mọc lên Trước đây, các quỹ được cung cấp bởi cộngđồng hay tập thể và sau này thì bởi cá nhân hoặc doanh nghiệp Sự khác biệt chínhgiữa chúng với các trường của chính phủ (công lập) là sự tự trang trải, sử dụng cácnguồn tài trợ khác nhau

Sự kiểm soát toàn bộ nội dung học tập là một trong những lĩnh vực cuối cùng

mà những người có thẩm quyền của trung ương đang muốn phân quyền Đây là thực tếđối với các nhà nước dân chủ tập trung như Nhật Bản, cũng như đối với các nhà nướcLeninít, tập trung như Trung quốc.  Khung chương trình toàn quốc được soạn thảonăm 1992 và được thực hiện năm 1993 Tuy nhiên, mặc cho những nỗ lực phân quyền,

về cơ bản lĩnh vực này nhà nước vẫn nắm quyền kiểm soát vỡ hầu hết các môn họcvẫn là bắt buộc với những lựa chọn hạn chế

Cho đến ngày nay, phân quyền vẫn đòi hỏi nhiều quan tâm với các nhà hoạchđịnh chính sách Trung Quốc vì rằng làm sao thực hiện phân quyền cho tốt và hiệu quả

là một câu hỏi không dễ trả lời, nhất là bản thân phân quyền trong quá trình thực hiệncũng bộc lộ những hạn chế nhất định Thứ nhất, dường như phân quyền chỉ hoạt độngtốt trong khu vực phát triển về kinh tế trong khi tỉ lệ nghịch với tăng trưởng kinh tế ởcác địa phương nghèo Thứ hai, việc các nhà chức trách trung ương và tỉnh đảm nhậnnhiều hơn chi phí quản lí của giáo dục sẽ có thể dẫn đến một hệ quả ngược là sự hoán

vị của sự phân quyền bởi tái tập trung quyền lực Thứ ba, một thực tế làm đau đầu cácnhà hoạch định chiến lược là chất lượng giáo dục của các trường ngoài công lập.Nhiều trường trong số này chỉ dành cho con cái nhà giàu, chúng đi chệch hướngchương trình nhà nước đó phờ chuẩn một cách quá đáng, các nhà quản lí trường khôngtuân theo những qui định đó được chấp thuận, nhấn mạnh quá nhiều vào lợi nhuận và

họ làm theo kiểu quản lí gia trưởng, và đội ngũ giáo viên thường là những người đónghỉ hưu với tư duy lỗi thời không theo kịp sự phát triển của khoa học công nghệ.Cuối cùng, phân quyền khi được áp dụng vào quản lý giáo dục cần được nghiên cứulàm rừ hai điểm sau đây: một là sự phân quyền ấy có thể thực hiện được một cách thựcchất hay không và hai là liệu phân quyền có tỉ lệ nghịch với sự sụt giảm thành tựu giáodục hay không?

Nước Trung quốc, không giống các nước XHCN khác trong thời kỳ chuyểntiếp, đó chuyển dịch một cách cẩn thận, bằng tất cả cỏc nỗ lực của nú để cho đất nướcthoát khỏi những diện mạo khác nhau của xó hội Trung quốc và kết quả là đó tránhđược một số vấn đề thảm khốc mà các quốc gia khác đó gặp phải Sự phân quyền tự

nó không nhất thiết là điều tốt Cần có vai trò của chính phủ trung ương trong giaiđoạn chuyển tiếp để giúp duy trì sự ổn định và giải quyết những bất bình đẳng vùng

Trang 12

PHẦN B HỆ THỐNG GIÁO DỤC VIỆT NAM

I SƠ LƯỢC VỀ ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM

Đặc điểm địa lý tự nhiên của Việt Nam

- Tọa độ địa lý: 10208’ – 109027’ Đông; Vĩ tuyến: 8027’ – 23023’ Bắc nằm ở cựcĐông Nam của bán đảo Đông Dương, chiếm diện tích khoảng 329.314 km vuông.Giáp Vịnh Thái Lan ở phía Nam, Vịnh Bắc Bộ và Biển Đông ở phía Đông, giáp TrungQuốc ở phía Bắc, Lào và Campuchia ở phía Tây

- Việt Nam gồm ba miền với miền Bắc có cao nguyên và vùng châu thổ sông Hồng.Miền Trung là miền đất thấp ven biển, những cao nguyên trải dài trên dãy Trường Sơn

và miền Nam là vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long

- Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa Ở miền Nam có hai mùa: mưa và khô MiềnBắc có 4 mùa rõ rệt trong năm

- Việt Nam là một nước đông dân cư, tuy diện tích đứng thứ 65 nhưng lại xếp thứ 13

về dân số trên thế giới

- Đơn vị tiền tệ: Việt Nam đồng

II MỤC TIÊU CỦA NỀN GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VIỆT NAM

Xây dựng nội dung chương trình, phương pháp giáo dục, sách giáo khoa phổthông nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu pháttriển nguồn nhân lực phụ vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phùhợp với thực tiến và truyền thống Việt Nam; tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ởcác nước phát triển trong khu vực và trên thế giới

III HỆ THỒNG GIÁO DỤC VIỆT NAM

- Giáo dục cơ bản kéo dài 12 năm và được chia thành 3 cấp học: Tiểu học, Trung học

cơ sở và Trung học phổ thông

- Hệ thống Giáo dục phổ thông Việt Nam hiện hành là: 5-4-3-4

Tiểu học : 5 năm

Trung học cơ sở: 4 năm

Trung học phổ thông: 3 năm

Cao đẳng, đại học: 2,5 năm đến 4 năm

IV TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO TRONG GIÁO DỤC PHỔ THÔNG Ở VIỆT NAM

1/ Lấy người học làm trung tâm, ứng dụng lý luận đi đôi với thực tiễn

Chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nội dung,phương pháp giáo dục của các cấp học, bậc học được quy định trong Luật giáo dục(2005); khắc phục những mặt hạn chế của chương trình; sách giáo khoa hiện hành;tăng cường tính thực tiễn, kỹ năng thực hành, năng lực tự học; coi trọng kiến thứckhoa học xã hội và nhân văn; bổ xung những thành tựu khoa học và công nghệ hiệnđại phù hợp với khả năng tiếp thu của người học

Trang 13

2/ Đa dạng hoá giáo dục và hệ thống giáo dục: điểm khởi đầu trong đổi mới giáo dục Việt Nam

Thứ nhất, nhìn lại lịch sử phát triển lâu dài của giáo dục Việt Nam từ thời kỳdựng nước qua các triều đại phong kiến, qua những năm Pháp thuộc, rồi đến giai đoạnkinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp tuy ở mức độ khác nhau, giáo dụcViệt Nam vẫn luôn luôn là nền giáo dục tinh hoa, dành cho những cá thể trội, nhữngngười có năng lực tiếp thu kiến thức khoa học công nghệ vượt trội và hoặc nhữngngười trong tầng lớp trên của xã hội (như trong thời kỳ phong kiến và thực dân)

Kể từ khi mở cửa, kể từ khi Đảng và Nhà nước chủ trương xã hội hoá giáo dục thì giáodục Việt Nam đã chuyển dần từng bước sang nền giáo dục cho số đông Con em chúng

ta bị bắt buộc phải đi học cho dù không muốn học (giáo dục phổ cập – các nước gọi làgiáo dục bắt buộc – compulsory) hoặc phải đi học nếu không thi không biết làm gì vìkhông kiếm được việc làm (nét đặc trưng của học sinh, sinh viên Thủ đô so với thanhniên nông thôn) hoặc cần có mảnh bằng để dễ xin việc hoặc cần phải nâng tỷ lệ sinhviên trên một vạn dân cho kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới mà trên thực

tế, trình độ phát triển cả về kinh tê xã hội và khoa học công nghệ của một quốc gia đều

tỷ lệ thuận với tỷ lệ này

Tuy rằng Việt Nam hiện nay, không thiếu những học sinh thực sự là thích họckhi có động cơ học tập đúng đắn Ví dụ sinh viên các hệ cử nhân tài năng Thầy dạykiểu gì sinh viên vẫn học giỏi vì các em biết tự học và muốn biết cả những điều màthầy chưa kịp dạy hoặc không dạy Đại đa số sinh viên được chấp nhận học NCS ởnước ngoài mà không cần qua khóa bổ túc nào

Chuyển từ giáo dục tinh hoa sang giáo dục cho số đông, chuyển từ nền giáo dụccho những người thích học sang cho những người đa phần buộc phải đi học, từ một tậpthể người học tương đối đồng đều về chất lượng và năng lực sang một tập thể đa dạng

cả về năng lực, trình độ và tâm nguyện là một sự biến đổi ghê gớm đối với hệ thốnggiáo dục và xã hội.  Những thay đổi này khiến cho mô hình giáo dục tinh hoa và cả xãhội đều không thích ứng kịp Xin lấy một ví dụ nhỏ: trong nền giáo dục cho số đông

ấy, cùng học một chương trình nhưng sinh viên trường này, học sinh tỉnh này có thểlàm thầy sinh viên trường khác, học sinh tỉnh khác, có người cần học thực chất, chấtlượng, nhưng có người chỉ cần mua một cái bằng đại học (cho oai) Đông người họcnhư thế đáng lẽ phải chấp nhận sự phân tầng về chất lượng mà vẫn yêu cầu ở Mù CangChải phải cùng học một chương trình, SGK, phải củng cố chất lượng như ở Thủ đô thìthực là điều quá khó đối với hệ thống giáo dục Đó là điều cần quan tâm khi xây dựng

kế hoạch chấn hưng giáo dục nước nhà nói chung và của các vùng miền nói riêng

Thứ hai, thị trường đang tác động đến từng ngõ ngách của giáo dục Chúng tacũng đã phân tích về điểm này, về những mâu thuẫn nảy sinh đối với giáo dục khi nềnkinh tế chuyển từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nhưng dường nhưchưa thấy hết tầm ảnh hưởng của nó đến sự nghiệp giáo dục vì không thấy bóng dángcủa thị trường trong các hoạch định chính sách giáo dục Xã hội đó phê phán mạnh mẽviệc “ lấy thi để học” và chế độ khoa cử … dạy thêm học thêm… nhưng bản chất xãhội của những việc đó là gì? Tại sao các biện pháp hành chính luôn luôn là “bắt cóc bỏđĩa” Cái đó chính là mặt trái của thị trường Tuy rằng “Thị trường là nơi mà bạn tự dochọn lựa cái tốt nhất và cũng là nơi bạn phải đưa ra cái tốt nhất để không bị loại bỏ Vàđiều đó là quan trọng như nhau đối với giáo dục cũng như với bất kỳ khu vực dịch vụcông nào khác (Kuzminov)” nhưng theo quan niệm giáo dục không tồn tại “trao đổi

Ngày đăng: 31/10/2014, 21:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w