Chính vì vậy việc so sánh giáo dục giữa các quốc gia với nhau về các chỉ số về giáo dục, so sánh các chỉ số về giáo dục giữa các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước kém
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
Từ hơn một trăm năm nay, vấn đề làm đau đầu các nhà hoạch định chính sách , các nhà kinh tế và các nhà nghiên cứu là làm thế nào để một nước nghèo đuổi kịp các nước giàu về trình độ phát triển kinh tế, trước hết là thu nhập bình quân đầu người Đó là bài toán đuổi kịp trong phát triển kinh tế xã hội
Một số nhà kinh tế học lạc quan cho rằng với xuất phát điểm thấp, trên cơ
sở học tập các bài học thành công cũng như thất bại của nước đi trước, một nước phát triển sẽ có tiềm năng hơn trong tăng trưởng và nhờ vậy có khả năng đuổi kịp các nước phát triển
Báo cáo phát triển công nghiệp năm 2005 của UNIDO ( Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc) chỉ ra rằng cách thức mà các nước dùng để thu hẹp khoảng cách phát triển kinh tế với các nước đi trước là rất đa dạng Vấn đề không phải là bắt chước các định chế, quy trình, công nghệ của các nước phát triển Cũng không thể trông cậy vào các động lực của kinh tế thị trường Có rất nhiều yếu tố đan xen về thể chế, kinh tế, giáo dục, hoa học công nghệ, văn hóa, địa lí, lịch sử mà mỗi nước cần xử một cách phù hợp với điều kiện cụ thể của mình nhằm phát huy hết lợi thế của các nước đi sau
Giáo dục cũng vậy – Nhìn lại những thập niên nửa sau thể kỷ 20 sự cất cách của con rồng châu á – Nhật Bản, thành công của Trung Quốc đã gửi đi một thông điệp chung về vai trò của giáo dục trong việc nâng cao tri thức một trong những nhân tố quyết định cho việc đuổi kịp các nước phát triển
Đất nước Việt Nam cũng vậy đang chuyển mình ngày càng mạnh mẽ để hòa nhập với sự phát triển của thế giới Thời đại mới đang tạo cho chúng ta những
cơ hội nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ Để phát huy sức mạnh truyển thống và tiềm năng của đất nước, con người Việt Nam, để Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường phát triển việc đào tạo và bồi dưỡng thế hệ trẻ có tri thức, có năng lực, có lí tưởng cách mạng trở thành nhiệm vụ cấp thiết của xã hội Nhận thức được yêu cầu đó, Đảng ta rất coi trọng giáo dục coi “ Giáo
Trang 2dục là Quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân” Chính vì vậy việc so sánh giáo dục giữa các quốc gia với nhau về các chỉ số về giáo dục, so sánh các chỉ số về giáo dục giữa các nước phát triển, các nước đang phát triển và các nước kém phát triển cho ta một bức tranh tổng quát qua đó cho ta biết Việt Nam đang ở vị trí nào về giáo dục với các nước đang phát triển
Xuất phát từ yêu cầu đó, sau khi học xong môn “ Giáo dục so sánh” tôi đã
áp dụng kiến thức lí thuyết giáo dục vào thực tế, học hỏi những người đi trước để tích lũy kinh nghiệm về công tác quản lí cho bản thân Tôi mạnh dạn chọn đề tài:
So sánh giáo dục giữa Việt Nam với nước Malaixia xem các số liệu về giáo dục ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của một đất nước trong những giai đoạn cụ thể qua một số chỉ tiêu giáo dục xem kết quả phản ánh giữa giáo dục sự phát triển kinh tế của một đất nước
Tiểu luận hoàn thành với sụ quan tâm, chỉ bảo hướng dẫn, định hướng khoa học của thầy PGS.TS Nguyễn Tiến Đạt – Giảng viên trường ĐH giáo dục – ĐHQG Hà Nội Sự cộng tác giúp đỡ của các thầy trong BGH trường THPT Cầu
Xe Thầy Phạm Thế Ngôn – Hiệu trưởng nhà trường Thầy Phạm Ngọc Nhật – Hiệu trưởng trường THPT Tứ Kỳ, Cô Nguyễn Thu Hạnh Hiệu trưởng trường THPT Hưng Đạo – Huyện Tứ Kỳ - Tỉnh Hải Dương Các thầy đã có 3 năm liên tục đi tham gia học tập tại các nước Singapo, Malaixia, Thái Lan
Tiệu luận có sử dụng các tài liệu học tập của các thầy Hiệu trưởng tham gia học tập tại các nước nói trên và định hướng giáo dục Việt Nam đến năm 2010 –
2015 tầm nhìn 2020 – 2030
Xuất phát từ yêu cầu đó tôi đã mạnh dạn áp dụng đề tài này Mặc dù tiểu luận đã hoàn thành xong với vốn kinh nghiệm còn khiêm tốn bản thân chưa được
đi học tập tại các nước trên nên không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự đóng góp kiến của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn
Trang 3PHẦN B: PHẦN NỘI DUNG.
Chương I: Cơ sở lý luận.
1.1Lí do chọn đề tài.
Trên cơ sở một số thông tin chung liên quan đến bài toán đuổi kịp, hội tụ và phân kỳ trong phát triển, bài viết này sử dụng các chỉ số giáo dục quốc tế ( H D I, K
E I, E D I) cùng một số chỉ tiêu thực hiện giáo dục để tìm câu trả lời cho câu hỏi giáo dục Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ giữa các nước có thu nhập bình quân thấp, trung bình, cao, và xu thế vận động của nó ra sao Có thể nói giáo dục Việt Nam đang đi trước một bước so với trình độ phát triển kinh tế và Việt Nam thuộc nhóm những nước đang trong tiến trình đuổi kịp về kinh tế cũng như giáo dục Tuy nhiên, căn cứ vào diễn biến của các chỉ số (tính đến năm 2005), điểm đáng quan tâm là dường như sự phát triển của giáo dục Việt Nam đang có xu thế
chậm lại trong mấy năm gần đây (tính đến năm 2005), so với sự phát triển của
kinh tế cũng như so với sự phát triển về giáo dục của một số nước trong khu vực Bài tiểu luận đưa ra một số khuyến nghị cần lưu ý trong việc phát triển theo cấp học, cũng như trong giáo dục ngoài công lập đồng thời, kiến nghị cần sớm xây dựng và hoàn thiện hệ thống toàn diện các chỉ tiêu giáo dục của Việt Nam thông qua việc tham gia chương trình Chỉ tiêu giáo dục thế giới WEI và áp dụng phương pháp đánh giá của PISA và TIMSS trong dạy và học
Đúng là tiến trình đổi mới giáo dục hơn 20 năm qua đã đem lại cho giáo dục Việt Nam thế và lực mới Việt Nam thuộc những nước đầu tiên có đổi mới mạnh
mẽ về tư duy giáo dục, sớm đặt giáo dục vào vị trí quốc sách hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, tạo cho giáo dục một vị thế mới trong phát triển Việc đổi mới tư duy giáo dục là một đòi hỏi tất yếu để giáo dục có thể đáp ứng
Trang 4được các thách thức mới trước các yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế-xã hội Đây là một quá trình liên tục, được cụ thể hoá bằng các quan điểm chỉ đạo của đảng trong từng giai đoạn phát triển của giáo dục Từ HNTW 4 (khoá VII) đến HNTW2 (khoá VIII), HNTW6 (khoá IX) và mới đây là đại hội đảng X, các quan điểm chỉ đạo này tiếp tục củng cố vị thế của giáo dục và lần lượt xác lập một số
đổi mới trong chủ trương về tạo lực cho giáo dục thông qua đầu tư (đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển), bước đi (giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế-xã hội), phương hướng (phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, những tiến bộ khoa học - công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh), cách làm ( chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá; phát triển giáo dục thường xuyên, xây dựng xã hội học tập).
Vì vậy bài liệu luận này tôi chọn đề tài: “ So sánh giáo dục Việt Nam –
giáo dục Malaixia”.
1.2 Mục đích, đối tượng, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.
- Là một học viên cao học chuyên ngành Quản lí và đào tạo nghề, mục đích nghiên cứu là bước đầu tìm hiểu vị trí giáo dục Việt Nam trên bản đồ Đông Nam
Á
- Đối tượng nghiên cứu là các nước: Malaixia
- Nhiệm vụ là điều tra, phân tích thực trạng, nguyên nhân và đặc điểm của giáo dục các nước phát triển và đang phát triển
- Phương pháp nghiên cứu có rất nhiều phương pháp xong để việc nghiên cứu được đơn giản hơn bản thân sử dụng các số liệu đã được thầy : PGS – TS Nguyễn Tiến Đạt cung cấp, các số liệu về chỉ số giáo dục do
Bảng 1: Giáo dục G của Việt Nam và một số nước trong khu vực
(Nguồn: Human Development Report 1997, 2001, 2006)
Bảng 2: Chỉ số KEI của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Nguồn: World
Bank, 2007 Interactive Knowledge Assessment Methodology)
Trang 5Bảng 3: Chỉ số EDI của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Nguồn: EFA
Global Monitoring Report 2005)
3 Phạm vi giới hạn của đề tài.
- Về khách thể nghiên cứu Do điều kiện hạn chế về về thời gian và trình độ nghiên cứu lên bản thân không thể so sánh tất cả các nước trong khu vực Đông Nam Á
- Về đối tượng nghiên cứu bản thân chỉ lựa chọn các nước đang phát triển như ( Malaixia, Việt Nam) Một nước có thu nhập bình quân trung bình là Malaixia và nước có thu nhập bình quân thấp là Việt Nam
Chương II: Thực trạng và kết quả nghiên cứu.
2.1 Thực trạng chung
Công cụ chủ yếu hiện nay để xác định vị trí giáo dục của một nước trong tương
quan so sánh với giáo dục các nước khác trên thế giới là giáo dục so sánh
Ngày nay, giáo dục so sánh không chỉ còn là sự quan tâm của một số nhà khoa học giáo dục Hầu như nhà khoa học giáo dục nào giờ đây cũng phải trang bị các kiến thức và kỹ năng cần thiết về giáo dục so sánh bởi nó được coi là cách thức tốt nhất hiện nay để hiểu về các hiện tượng giáo dục Các hội nghị quốc tế về giáo dục so sánh được tổ chức định kỳ Và trên hết, rất nhiều tổ chức quốc tế, như UNESCO, UNDP, OECD, WB…đã xây dựng các kho dữ liệu đồ sộ, tiến hành phân tích và công bố hàng năm các báo cáo đánh giá và so sánh, trong đó giáo dục các nước, trực tiếp hoặc gián tiếp, được xếp hạng
Cách thức chủ yếu để đánh giá và so sánh một cách tin cậy, khách quan các
hệ thống giáo dục quốc gia là tập trung xây dựng, phát triển và sử dụng các chỉ số (index) và chỉ tiêu (indicator) giáo dục đó là những thông tin về các yếu tố đầu vào, các điều kiện bảo đảm giáo dục và kết quả thực hiện giáo dục Các thông tin
Trang 6này phải tạo thành một tập hợp tương thích các số liệu thống kê phục vụ cho công tác đánh giá và so sánh
Thông thường có hai cách đánh giá Một là đánh giá trên cơ sở so sánh các chỉ tiêu thực hiện với các chỉ tiêu kế hoạch Hai là đánh giá trên cơ sở so sánh quốc tế, giữa các nước trong khu vực hoặc giữa các nước có cùng trình độ phát triển Cả hai cách hiện đều đang được sử dụng rộng rãi ở các quốc gia Tuy nhiên,
do tính liên thuộc toàn cầu ngày càng tăng và do lợi ích rõ rệt của văn hoá chia sẻ thông tin, trong vòng một thập kỷ nay, cách đánh giá so sánh quốc tế ngày càng được các chính phủ coi trọng Cách đánh giá này không chỉ giúp xác định vị trí giáo dục quốc gia trong tương quan với các nền giáo dục khác trên thế giới mà chủ yếu là tạo cơ sở để các nhà hoạch định chính sách nhận dạng mặt mạnh mặt yếu, rút ra các bài học cần thiết, đề xuất giải pháp và chính sách phù hợp cho sự phát triển giáo dục
Việc đánh giá giáo dục Việt Nam trên cơ sở xây dựng, phát triển và sử dụng các chỉ tiêu giáo dục đến nay vẫn chưa được coi trọng đúng mức Mặc dù trong Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, khi nói về giải pháp đổi mới quản lý giáo dục có quy định “xây dựng hệ thống thông tin quản lý giáo dục, khai thác nguồn thông tin quốc tế về giáo dục hỗ trợ việc đánh giá tình hình và ra quyết định”, nhưng việc tổ chức thực hiện chưa được thực sự quan tâm và còn nhiều bất cập điều đó góp phần giải thích vì sao đến nay vẫn chưa có cơ sở thuyết phục để tạo sự đồng thuận của xã hội trong việc đánh giá giáo dục nước ta
Điều đáng nói là chính trong quá trình đánh giá so sánh các khía cạnh khác nhau của giáo dục tại các nước trên thế giới, các tổ chức quốc tế đã giúp chúng ta phần nào trả lời được câu hỏi: giáo dục Việt Nam đang đứng ở đâu trên thang xếp hạng giáo dục thế giới Dưới đây sẽ đưa ra một số minh hoạ cụ thể về câu trả lời này, từ đó đề xuất một số vấn đề cần và có thể giải quyết trong thời gian tới để môi trường giáo dục nước ta tiến tới đạt các yêu cầu về tính trung thực và minh bạch
Trang 72.2 Kết quả, công tác điều tra.
2.2.1 Xếp hạng theo chỉ số HDI (Human Development Index)
Chỉ số phát triển con người HDI, do tổ chức UNDP xây dựng và phát triển suốt hơn 15 năm nay, đã quen thuộc với bạn đọc từ lâu Chỉ số này được cấu thành từ ba chỉ số thành phần là chỉ số kinh tế K, chỉ số giáo dục G và chỉ số tuổi thọ T Vì vậy, HDI là một thước đo tương đối tổng hợp phản ánh sự phát triển kinh tế trong mối quan hệ với tiến bộ xã hội
Đối với ngành giáo dục, chỉ số giáo dục G của HDI có thể được sử dụng để đánh giá giáo dục Việt Nam ở một góc độ nhất định Chỉ số này được xây dựng từ
hai chỉ tiêu giáo dục là tỷ lệ biết chữ ở người lớn từ 15 tuổi trở lên và tỷ lệ nhập
học gộp ở tiểu học, trung học và đại học Vì vậy có thể dùng chỉ số G để xếp hạng
các nước ở góc độ xoá mù chữ và quy mô phát triển giáo dục Bảng 1 dưới đây
cho thấy chỉ số G của Việt Nam với chỉ số G của Malaixia
Đáng quan tâm là trường hợp của nước ta: tuy chỉ số giáo dục G có tăng vào năm 1999 nhưng lại tụt vào năm 2004, chứng tỏ một số nước đã vượt lên do tốc độ mở rộng quy mô giáo dục của họ cao hơn như Malaixia
Bảng 1: Chỉ số giáo dục G của Việt Nam và Malaixia (Nguồn: Human Development Report 1997, 2001, 2006).
Trang 8Tuy nhiên, để có sự đánh giá đầy đủ hơn, cần xét trong tương quan giữa chỉ
số giáo dục G và GDP đầu người thực tế (PPP$) Căn cứ vào số liệu của Báo cáo phát triển con người, chúng ta có thể xây dựng đồ thị phân bố của các nước có thu nhập thấp và trung bình trên mặt phẳng toạ độ chỉ số giáo dục G và chỉ số kinh tế
K Theo đồ thị đó, có thể thấy Việt Nam, về kinh tế thuộc các nước có thu nhập thấp, nhưng về giáo dục đã đi trước một bước, về cơ bản đạt trình độ của các nước
có thu nhập trung bình
2.2.2 Xếp theo chỉ số KEI (Knowledge Economy Index)
Sức mạnh chủ yếu của KEI là giúp từng quốc gia nhận dạng được các điểm mạnh, điểm yếu của mình trên cơ sở so sánh kết quả thực hiện của 4 cột đỡ kinh tế tri thức với các nước và theo thời gian Việc so sánh này có thể thực hiện trong phạm vi toàn cầu (gồm 140 nước được xếp hạng), trong phạm vi khu vực (với Việt Nam là khu vực đông Á), trong quan hệ với các nước cùng trình độ thu nhập
và trong quan hệ với các nước cùng mức độ phát triển con người HDI
Lấy trường hợp của nước Malaixia trong bảng 1, chúng ta có bảng 2 so
sánh chỉ số KEI cùng 4 chỉ số thành phần của nước ta với Malaixia vào năm 2005
KEI (chỉ số và xếp hạng trg
140 nc)
Thể chế kinh tế Sáng chế, cách
tân
Giáo dục
& ñào tạo
Hạ tầng thông tin
Trang 9Malaixia 6,23 (40) 6,50 6,74 4,45 7,23
TB các nước thu nhập TB
thấp
TB các nước có
Bảng 2: Chỉ số KEI của Việt Nam và một số nước trong khu vực (Nguồn: World Bank, 2007 Interactive Knowledge Assessment Methodology)
Dựa vào bảng 2, hiển nhiên có thể so sánh giáo dục Việt Nam trong nhiều mối tương quan: giữa Việt Nam với các nước trong khu vực, giữa Việt Nam với thế giới, giữa Việt Nam với các nước có thu nhập thấp (GDP bình quân đầu người
Trang 10dưới 766 USD), giữa Việt Nam với các nước đạt trình độ trung bình về phát triển con người (0,5 <= HDI <0,8) Một cách tổng quát, trong 4 cột đỡ của kinh tế tri thức thì cột đỡ giáo dục của Việt Nam là khả quan hơn cả: giáo dục Việt Nam vượt khá xa mức độ trung bình của các nước có thu nhập thấp, ở mức khá của các nước có HDI trung bình, đang tiến tới mức trung bình của thế giới và trung bình của các nước có thu nhập trung bình thấp (766 $ < GDP bình quân ñầu người
<3035$)
2.2.3 Xếp theo chỉ số EDI (Education for All Development Index)
Chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người EDI do UNESCO xây dựng và phát triển trong vài năm gần đây Đó là một chỉ số tổng hợp dùng để theo dõi, giám sát, đánh giá việc thực hiện các mục tiêu phát triển giáo dục cho mọi người
mà các nước đã cam kết trong Tuyên bố Thiên niên kỷ và khuôn khổ hành động Dakar 2000 Về nguyên tắc có 6 mục tiêu cụ thể liên quan đến giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, chương trình học và kỹ năng sống, tỷ lệ biết chữ ở người lớn, bình đẳng giới và chất lượng giáo dục Tuy nhiên, trên thực tế, mục tiêu về các chương trình học và kỹ năng sống chưa thể lượng hoá; còn mục tiêu mở rộng và hoàn thiện giáo dục mầm non đang gặp nhiều khó khăn về dữ liệu Vì vậy, hiện tại chỉ số EDI là giá trị trung bình của 4 chỉ số thành phần là: tỷ lệ nhập học tinh ở tiểu học, tỷ lệ biết chữ ở ngưòi lớn từ 15 tuổi trở lên, chỉ số ngang bằng giới (gender parity index) và chỉ số chất lượng giáo dục
Chỉ số ngang bằng giới được tính bằng trung bình cộng của các tỷ lệ giữa
nữ và nam trong nhập học ở tiểu học, ở trung học và trong người lớn từ 15 tuổi trở lên Chỉ số này mới chỉ phản ánh mức độ tham gia giáo dục của nữ giới, chưa phản ánh sự bình đẳng trong giáo dục giữa nam và nữ đo lường sự bình đẳng này hiện còn gập nhiều khó khăn do thiếu các dữ liệu chi tiết về đầu ra ở các cấp học liên quan đến kết quả học tập của nam và nữ
Khó khăn nhất là việc xây dựng chỉ số chất lượng giáo dục Có nhiều chỉ tiêu được lựa chọn như kết quả học tập, tỷ lệ học sinh/giáo viên, tỷ lệ giáo viên