Loại hình thứ 3 của hoạt động kinh tế hay còn gọi là khu vực thứ 3, tạo ra của cải thông qua việc bán hàng hóa và các dịch vụ.. Một bản đồ của các hoạt động kinh tế thứ 3, khi à dựa trên
Trang 1NHỮNG BÀI TIẾNG ANH HỌC THUẬT DÀNH CHO HỌC VIÊN CAO
HỌC Bài 1
How do people earn their living?
1.The third type of economic activity, the
tertiary sector, generates wealth through the
selling of goods and services Tertiary
activities usually include wholesale and
retail selling, educational and medical
services, administrative and governmental
activities, and the transmission of
information Although sometimes this
category is divided, with the services
involing communication and information
being called the quaternary sector, the
differentiation is not emphasized in this
chapter
Con người kiếm sống bằng cách nào
1 Loại hình thứ 3 của hoạt động kinh tế hay còn gọi là khu vực thứ 3, tạo ra của cải thông qua việc bán hàng hóa và các dịch vụ Các hoạt động trong ngành kinh tế thứ 3 thường bao gồm bán buôn và bán lẻ, giáo dục và dịch vụ y tế, các hoạt động quản lý, hành chính và truyền thông Mặc dù đôi khi nhóm này được phân chia theo cách mà ở đó với các dịch vụ liên quan đến truyền thông
và thông tin được gọi là khu vực thứ 4, tuy nhiên sự khác nhau này không được nhấn mạnh trong chương này
2.A map of tertiary activities, when based
on the percentage of workers angaged in
services, does not display the same pattern
of contrast between the more developed and
less developed nations as do primary and
secondary activities ( Figure 10-23) For
example, the percentage of workers exceeds
50 in the relatively rich countries of
Canada, Australia and Sweden as in the less
developed countries of Colombia and
Jodan.Included in the middle category of
2 Một bản đồ của các hoạt động kinh tế thứ
3, khi à dựa trên tỉ lệ lao động tham gia vào các dịch vụ, đã không thể hiện một mô hình tương phản giữa các quốc gia phát triển và các quốc gia kém phát triển như ở các hoạt động kinh tế thứ nhất và thứ 2 ( hình minh họa 10-23) Chẳng hạn , Ở những nước tương đối giàu có như Canada, Úc, Thụy Điển và những nước kém phát triển hơn như Colombia và Jordan, tỷ lệ lao động đểu vượt quá 50% Những nơi có nhóm lao động
Trang 2workers in the service sector are Eastern
Europe and the Soviet Union, which are
centrally planned economies
de-emphasizing consumerism
chiếm vị trí trung bình trong khối dịch vụ Đứng ở giữa nhóm tham gia lao động trong khu vực dịch vụ là các nước Đông Âu và Liên Xô cũ, các nước mà nền kinh tế kế hoạch tập trung không chú trọng tới sự tiêu dùng
3 There are significant differences,
however, between the more developed and
less developed countries in types of
services In affluent countries, the
proportion of the population employed in
tertiary activities has increased over the 20th
century ( and continues to increase ) as
mechanization has reduced labor
requirements in agriculture and
manufacturing In fact, a nation may be
characterized as a post – industrial society if
the relative importance of its economy has
shifted from manufacturing to services By
contrast, in poor countries, a large tertiary
sector in the economy is not the expression
of an affluent, automated society Quite the
opposite Where manufacturing jobs are
few, many persons attempt to earn some
money by selling cheap goods on the streets
or by performing services for richer
inhabitants It takes little capital to be a
small- scale trader and little experience to
3.Tuy nhiên, có những sự khác nhau đáng kể giữa các nước phát triển và các nước kém phát triển về các loại hình dịch vụ Ở các nước giàu có, tỉ lệ dân số tham gia làm việc
ở các hoạt động kinh tế thứ 3 đã tăng trong
20 năm qua ( và còn tiếp tục tăng) vì cơ khí hóa dã làm giảm yêu cầu lao động trong nông nghiệp và sản xuất Trên thực tế, một quốc gia có thể được coi là xã hội hậu công nghiệp nếu tỉ trọng nền kinh tế của nước đó chuyển từ sản xuất sang dịch vụ Ngược lại,
ở các nước nghèo, một khu vực kinh thế thứ
3 rộng lớn trong nền kinh tế không phải là biểu hiện của một xã hội tự động giàu có Hoàn toàn đối lập Ở những nơi các công việc sản xuất rất ít, thì nhiều người lại cố gắng kiếm tiền bằng cách bán hàng hóa rẻ trên phố hoặc cung cấp các dịch vụ cho người giàu có Người ta chỉ cần bỏ ra 1 số vốn nhỏ để trở thành một hộ kinh doanh nhỏ
và chút ít kinh nghiệm để trở thành người giúp việc gia đình
Trang 3be a domestic servant.
Bài 2
Manufacturing in the Less Developed
Countries
Less than 10 percent of the
world's manufacturing output comes
from the developed nations, with over
half of that from only six countries
( India, Brazil, Argentina, Mexico,
South Korea and venezuela) However,
the share of the world 's manufacturing
occurring within the less developed
nations is growing, as well as the
percentage of the exports of these
exports composed of industrial products
Manufactured products in the early
1980s accounted for over 40 percent of
the nonfood exports of these countries,
which compares to 20 percent in 1965
and 10 percent 1955
Sản xuất ở những nước kém phát
triển
Gần 10% sản lượng sản xuất của thế giới có nguồn gốc từ các quốc gia kém phát triển, quá nửa trong số đó đến
từ 6 quốc gia (Ấn Độ, Brazil, Argentina, Mexico, Hàn Quốc và venezuela) Tuy nhiên, thì phần sản xuất ở các nước kém phát triển ngày càng tăng, và số phần trăm xuất khẩu của các nước này gồm các sản phẩm công nghiệp Những sản phẩm được sản xuất ra vào khoảng đầu những năm 1980 chiếm hơn 40% là các mặt hàng xuất khẩu phi thực phẩm của các nước này, so với 20% trong năm
1965 và 10% vào năm 1955.
Trang 4Much of the manufacturing is
generated and controlled by
multinational corporations, either
through subsidiaries or by contracting
out to local enterprises The investment
of the multinationals in the less
developed countries is geographically
uneven The oil rich countries of
southwest asia, africa, southeast asia and
Latin America are a major priority The
bulk of the remainder of the investment
goes to in the intermediate class of the
countries Latin America (Brazil,
Argentina) and southeast asia (Malaysia,
singapore) In the poorest coutries of the
world, multinational invest mainly in
plantations and mining (independent
commision on international
development issues 1980, pp.174-87)
Phần lớn các sản xuất này được tạo ra và kiểm soát bởi các tập đoàn đa quốc gia, hoặc thông qua các công ty con hoặc bằng cách ký cho các doanh nghiệp địa phương thầu Việc đầu tư của các công ty đa quốc gia ở các nước kém phát triển là không đồng đều về mặt địa lý Các quốc gia giàu về dầu mỏ Tây Nam Á, Châu Phi, Đông Nam Á và Mỹ Latinh là ưu tiên hàng đầu Phần lớn các phần còn lại của đầu tư dành cho các quốc gia trung gian của các nước
Mỹ Latinh (Brazil, Ác-hen-ti-na) và Đông Nam Á (Malaysia, Singapore) Ở các nước nghèo nhất thế giới, các công
ty đa quốc gia đầu tư chủ yếu vào các đồn điền và khai thác mỏ (Ủy ban độc lập về các vấn đề phát triển quốc tế năm
1980, pp.174-87)
The effect these patterns of investment
is to widen spatial inequalities within the
less developed countries, focusing
industrial development in the cities,
while the rural hinterlands remain tied to
traditional economies (Coates, Johnston,
and Knox 1977, pp 127 – 99) These
differences between the major urban
centers and rural areas often result in
considerable internal migration, along
with the many economic, social, and
political changes that accompany
extensive residential and occupational
movements (chapters4 and 11)
Tác động của những mô hình đầu
tư như vậy là sự gia tăng không đồng đều về mặt không gian giữa các nước kém phát triển, phát triển công nghiệp tập trung ở những thành phố lớn, trong khi đó các vùng nội địa nông thôn gắn liền với các nền kinh tế truyền thống (Coates, Johnston, and Knox1977, pp.127 – 29) Những khác nhau giữa trung tâm thành phố chính và các vùng nông thôn thường dẫn tới di dân nội địa đáng kể, cùng với sự thay đổi rất nhiều
về kinh tế, xã hội và chính trijmaf kèm theo sự thay đổi này là những phong trào về dân cư và nghề nghiệp ở diện
Trang 5rộng
Foreign investment in the less developed
countries tends to concentrate in urban
areas, often ports or capital cities In
Nigeria, for example, during the 1960s,
three-quarters of the capital invested in
medium and large scale industry were
provided by foreign investors mainly
British As with most of the less
developed countries, Nigerian capital
was not available for major industrial
development Foreign firms employed
60,000 people, capitalizing on the
abundance of cheap labor in the country
Most of these firms concentrated on the
processing of raw materials for the local
market, so they were largely located in
the major cities of Lagos-Ibadan and
Port Harcourt
Đầu tư nước ngoài ở các nước kém phát triển có xu hướng tập trung vào các khu vực đô thị, cảng biển hoặc thành phố lớn.
Ví dụ, tại Nigeria trong những năm
1960, 3/4 vốn đầu tư vào các ngành công nghiệp có quy mô vừa và lớn được cung cấp bởi các nhà đầu tư nước ngoài, chủ yếu là người Anh Như hầu hết các nước kém phát triển, nguồn vốn của Nigeria không đủ cho phát triển các ngành công nghiệp chính Các công ty nước ngoài thuê 6000 người, dựa vào nguồn lao động rẻ, dồi dào của đất nước Các công ty này tập trung vào chế biến các mặt hàng thô cho các chợ ở địa phương, vì thế họ đặt địa điểm tại các thành phố chính của Lagos-Ibanda và Port Harcourt.
Bài 3
SOME ECONOMIC LAWS
Basic human needs are simple, but every
individual has additional personal wants
which may be very complex These
complex personal wants are satisfied in
MỘT SỐ QUY LUẬT KINH TẾ
Những nhu cầu cơ bản của con người rất đơn giản, nhưng mỗi người lại có những mong muốn cá nhân khác và những mong muốn này hết sức phức tạp
Trang 6different ways by different things A car,
a bottle of whisky and a newspaper
satisfy very different wants and the
whisky is not a close substitute for the
car This special characteristic of
satisfying a want us know in economics
as its utility Utility is not the same as
usefulness A submarine, for example,
may or may not be useful in peacetime,
but it satisfies a want Many nations
want submarines Economists describe
this kind of utility as ‘the relationship
between a consumer and a commodity’
Những mong muốn phức tạp này của con người được đáp ứng bằng nhiều cách khác nhau bởi những thứ khác nhau Một chiếc xe hơi, một chai rượu mạnh và một tờ báo có thể làm thỏa mãn những nhu cầu rất khác nhau và một chai rượu mạnh không thể là sự thay thế tương đương cho chiếc xe hơi Tính đặc thù của việc đáp ứng nhu cầu này trong kinh tế học được gọi là độ thỏa dụng Độ thỏa dụng không giống với sự hữu dụng
Ví dụ, một chiếc tàu ngầm có thể có hoặc không có ích trong thời bình, nhưng nó lại làm thỏa mãn nhu cầu Nhiều quốc gia cần tàu ngầm Các nhà kinh tế học mô tả độ thỏa dụng này như
là mối quan hệ giữa người tiêu dùng và hàng hóa
Utility varies between different people
and between different nations A
vegetarian does not want meat but may
rate bananas very highly A mountain –
republic like Switzerland has interest in
submarines, while maritime nations rate
them highly Utility also varies with
time In time of war, the utility of bombs
is high and that of pianos is low Utility
is therefore related to our sense of
prioritles The utility of a commodity is
also related to the quantity available to
the consumer If men buy a large
quantity of paper, they will lose interest
in buying more paper will go down The
Độ thỏa dụng thay đổi giữa những con người khác nhau và giữa các quốc gia khác nhau Một người ăn chay không cần thịt, nhưng lại đánh giá cao về chuối Một đất nước cộng hòa ở vùng núi như Thụy Sĩ ít quan tâm tới tàu ngầm, trong khi những quốc gia ở gần biển lại đánh giá rất cao đối với tàu ngầm Độ thỏa dụng cũng biến đổi theo thời gian Trong thời chiến, bom có độ thỏa dụng cao còn đàn piano thì thấp
Độ thỏa dụng vì vậy liên quantới ý thức của chúng ta về mức độ ưu tiên Độ thỏa dụng của hàng hóa cũng liên quan tới số
Trang 7utility of a commodity consequently
decreases as the consumer’s stock
increases
lượng hàng hóa có sẵn dành cho người tiêu dùng Nếu người ta mua một số lượng giấy lớn, họ sẽ mất dần sự quan tâm tới việc mua giấy Nhu cầu về giấy
sẽ giảm Vì vậy, độ thỏa dụng của hàng hóa sẽ giảm xuống khi lượng tồn kho của người mua tăng lên
In most economic systems, the prices of
the majority of goods and services are
fixed The individual cannot change the
prices of the commodities he wants, and
when planning his expenditure, he must
accept these prices A consumer will go
on buying cigarettes as long as his
satisfaction continues and they render
utility If he continues to pay the current
price, his satisfaction is greater than his
financial sacrifice With each purchase,
however, his satisfaction decreases,
although the prices remain the same If a
consumer’s supply of money is limited,
appoint will come when the financial
sacrifice is greater than the satisfaction
of smoking cigarettes He will stop
buying the commodity The ciagarettes
are the same, but their itility has
changed If the prices rose, he would
buy fewer if they fell, he might buy
more
Đối với hầu hết các hệ thống kinh tế, giá
cả của hầu hết hàng hóa và dịch vụ đã được cố định Mỗi cá nhân không thể thay đổi được giá cả của hàng hóa mà họ cần, và khi sắp xếp kế hoạch chi tiêu, họ phải chấp nhận những mức giá đó Một người tiêu dùng sẽ tiếp tục mua thuốc lá cho đến khi nào anh ta vẫn tiếp tục hài lòng với việc mua thuốc lá và thuốc lá vẫn còn có ích lợi đối với anh ta Nếu anh ta tiếp tục trả tiền mua thuốc là với mức giá hiện tại, mức độ vừa lòng của anh ta sẽ lớn hơn sự chấp nhận hy sinh
về tài chính Tuy nhiên, khi càng mua nhiều thuốc lá thì mức độ hài lòng sẽ giảm dần, mặc dù giá thuốc lá vẫn ở mức đó Nếu nguồn tiền của người tiêu dùng có hạn, sẽ đến lúc sự chấp nhận hy sinh tài chính sẽ lớn hơn sự thỏa mãn đối với việc hút thuốc lá Anh ta sẽ dừng không mua nữa Thuốc lá thì vẫn như vậy, nhưng độ thỏa dụng đã thay đổi Nếu giá tăng lên, anh ta sẽ mua ít hơn;
Trang 8nếu giá giảm đi, anh ta sẽ mua nhiều hơn
We can see that the nature of a
commodity remains the same, but its
utility changes This indicates that a
special relationship exists between
goods and services on the one hand and
a consumer and his money on the other
hand The consumer’s desire for a
commodity tends to diminish as he buys
more units of that commodity Thus
tendency is called the Law of
Diminishing Marginal Utility
Chúng ta có thể thấy bản chất của hàng hóa vẫn giữ nguyên, nhưng độ thỏa dụng thì thay đổi Điều này chỉ ra rằng có một mối quan hệ đặc biệt tồn tại giữa một bên là hàng hóa và dịch vụ, với một bên
là người tiêu dùng và tiền của họ Mong muốn về hàng hóa của người tiêu dùng
có khuynh hướng giảm đi khi họ mua nhiều đơn vị hàng hóa đó Khuynh hướng này được gọi là Quy luật lợi ích (độ thỏa dụng) cận biên giảm dần
Utility is of course related to the Laws
of Supply and Demand When
economists talk about a Law of Supply,
they mean that a rise in prices tens to
increase the supply of a commodity,
while a fall in prices tens to reduce it
When they talk about a Law of Demand,
they mean that a fall in prices tends to
increase the demand for a commodity,
while a rise in prices tends to decrease
the demand In any economic situation,
a consumer will decide to buy a
commodity only in terms of its
particular utility to him
Độ thỏa dụng chắc chắn là liên quan tới Quy luật Cung - Cầu Khi nhà kinh tế học bàn về Quy luật Cung, họ nói rằng
sự tăng lên về giá sẽ dẫn đến sự tăng lên
về lượng cung hàng hóa, trong khi việc giảm giá lại có xu hướng làm giảm lượng cung Khi nói về Quy luật Cầu, họ cho rằng việc giảm giá sẽ làm tăng cầu
về hàng hóa, trong khi việc tăng giá sẽ làm giảm lượng cầu hàng hóa Trong mỗi tình huống kinh tế, một người tiêu dùng sẽ quyết định mua một loại hàng hóa chỉ theo quan điểm về độ thỏa dụng
cá biệt của hàng hóa đó đối với bản thân họ
If the prices of a particular commodity
rise in the economy as a whole, the rise
Nếu giá cả của một hàng hóa cá biệt tăng trong tổng thể nền kinh tế thì tự
Trang 9will naturally encourage producers to
make more of that commodity If, on the
other hand, prices fall locally or
throught the world producers will reduce
production Supplies of many
commodities can generally be adjusted
to suit market conditions This means
that changes in market prices lead to
changes in the quantity of a particular
commodity made available to
consumers Household goods and
furniture are in this category In such
instances, supply is said to be elastic,
because it can be increased or decreased
rapidly to suit market prices
nhiên nó sẽ kích thích nhà sản xuất sản xuất thêm nhiều loại hàng hóa đó Mặt khác, nếu giá cả giảm một cách cục bộ hoặc trên toàn thế giới, các nhà sản xuất
sẽ cắt giảm việc sản xuất Lượng cung của nhiều hàng hóa sẽ được điều chỉnh tổng thể cho phù hợp với tình hình thị trường Điều này có nghĩa là những sự thay đổi về giá cả thị trường này dẫn tới
sự thay đổi về số lượng hàng hóa cá biệt sẵn có dành cho người tiêu dùng Hàng hóa gia dụng và đồ gỗ nằm trong hạng mục này Đối với những loại hàng hóa này, cầu được cho là co giãn, bởi vì nó
có thể tăng hoặc giảm một cách nhanh chóng phù hợp với giá cả thị trường
The principle of elasticity operates in the
area of demand as well as in the area of
supply People very seldom have
everything they want They usually have
to choose carefully how they will spend
their money When they exercise this
choice, they work according to their
personal scale come of preferences,
beginning with provide comfort or
convenience of some kind (telephones,
insurance, etc) and finally come the non
– essenals like holidays anh trips to the
theater, which are important parts of life
but not comparable with food anh
Nguyên lý về sự co giãn tác động trong
cả lĩnh vực cầu và cung Người ta rất hiếm khi có được mọi thứ mình mong muốn Họ thường phải lựa chọn một cách cẩn thận việc họ sẽ tiêu tiền như thế nào Khi thực hiện lựa chọn, họ dựa theo cán cân mức độ ưu tiên của cá nhân, bắt đầu bằng những thứ thiết yếu như thực phẩm và nhà ở Tiếp theo trên cán cân của họ mới đến những hàng hóa mang lại tiện nghi, dễ chịu (như điện thoại, bảo hiểm…), và cuối cùng sẽ là những thứ không thiết yếu như các kỳ nghỉ hoặc đi đến rạp hát, những thứ cũng
Trang 10shelter If it is necessary to pay very
high prices for the essentials of life,
people pay them – even if this means
spending all their income In such cases
demand is inelastic For non-essentials,
however, demand is elastic and
particulary responsive to changes in
price
quan trọng trong cuộc sống nhưng không thể so sánh với thực phẩm và chỗ
ở Nếu cần phải trả mức giá cao cho những hàng hóa thiết yếu của cuộc sống,
họ vẫn sẽ trả, thậm chí nếu việc này đồng nghĩa với việc phải chi tiêu hết cả thu nhập của mình Trong những trường hợp như vậy, cầu không co giãn Tuy nhiên, đối với hàng hóa không thiết yếu, cầu lại co giãn và phản ứng lại theo một cách đặc thù để làm thay đổi giá cả hàng hóa
Bài 4
Some superstitions have been with us
for so long that they have been become
customs In many parts of the world it is
polite to say "heath" or "God bless you"
when someone sneezes People used to
think that the soul could escape from the
body during a sneeze they sad that
"God bless you" to protect people from
losing their soul Today we no longer
believe that people who sneeze are in
danger of losing their soul, but we say "
God bless you" anyway We say it not
Những con mèo đen và những chiếc
gương vỡ
Nhiều mê tín dị đoan đã tồn tại với chúng ta lâu nay đã trở thành phong tục tập quán Ở nhiều nơi trên thế giới khi
có ai đó hắt hơi, bạn nên lịch sự nói "sức khỏe" hoặc " Chúa phù hộ cho bạn"
Mọi người thường nghĩ rằng linh hồn có thể thoát ra khỏi cơ thể trong quá trình hắt hơi Họ nói " Chúa phù hộ cho bạn”
để bảo vệ người dân khỏi mất linh hồn của họ.Ngày nay chúng ta không còn tin