1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc

88 439 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong vòng 1 thập kỷ gần đây chúng ta đã chuyển dần từ mô hình giáo dục đào tạo khép kín sang mô hình giáo dục mở với hệ thống tạo điều kiện học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thôn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

VŨ THANH THÁI

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

QUẢN LÝ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN-LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN

VỚI CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Thái Nguyên, năm 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

-

VŨ THANH THÁI

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN

QUẢN LÝ LIÊN KẾT ĐÀO TẠO NGHỀ GIỮA TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CƠ ĐIỆN-LUYỆN KIM THÁI NGUYÊN

VỚI CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC

Chuyên ngành: Quản lí Giáo dục

Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH. Nguyễn Văn Hộ

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

1.3 Mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo nghề 22 – 31

1.4 Những nhân tố tác động đến chất lượng đào tạo nghề 31 – 36

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo của

Trường cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

2.1 Một vài nét về quá trình hình thành và phát triển Trường cao đẳng nghề

2.3 Thực trạng công tác đào tạo và quản lý đào tạo của trường 40 – 52

2.4 Thực trạng công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo 52 - 60

Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa

trường cao đẳng nghề cơ điện luyện kim Thái Nguyên với các tỉnh miền

núi phía bắc

3.1 Các quan điểm định hướng cho việc đề xuất biện pháp 61 – 63

3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường cao đẳng

nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các địa phương 63 – 79 3.3 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biên pháp 79 – 81

Trang 4

MỘT SỐ KÝ HIỆU VIẾT TẮT

CNH - HĐH Công nghiệp hoá hiện đại hoá

Đoàn TNCSHCM Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:

Từ cuối thế kỷ XX cho đến nay sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học - kỹ thuật và công nghệ, xu thế toàn cầu hoá, phát triển kinh tế tri thức đã và đang tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống và xã hội trong đó có giáo dục và đào tạo

Xã hội hiện đại với đặc trưng là toàn cầu hoá, thông tin, trí tuệ với cuộc cách mạng kỹ thuật số đã làm đảo lộn nhận thức về mục tiêu, về mô hình và khả năng giáo dục đào tạo Quá trình chuyển đổi tư tưởng từ người dạy làm trung tâm sang người học làm trung tâm vừa là cơ sở có tính nền tảng, vừa phải gắn liền với quá trình đổi mới cả về lý luận và thực tiễn công tác giáo dục - đào tạo trong đó có vấn đề quản lý giáo dục - đào tạo

Hiện nay, hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đến sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia Các nhà kinh tế đã khẳng định rằng đầu tư cho con người thông qua các hoạt động giáo dục và đào tạo là đầu tư có hiệu quả nhất, quyết định khả năng tăng trưởng khinh tế nhanh và bền vững của đất nước Nhờ có sự ưu tiên đầu tư cho giáo dục nhằm phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển

Ở Việt Nam, trong nhiều Văn kiện, Nghị quyết của Đảng và Nhà nước

ta ngày càng nhấn mạnh vấn đề này Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng

CSVN khẳng định: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động

lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện

để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”

Dạy nghề là một bộ phận của hệ thống giáo dục quốc dân, có chức năng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn kỹ thuật - nghiệp vụ ở trình độ

Trang 6

sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề theo nhu cầu của thị trường lao động và có thể tiếp tục học bổ sung hoặc nâng cấp trình độ lên cao nếu có nhu cầu và điều kiện

Trong vòng 1 thập kỷ gần đây chúng ta đã chuyển dần từ mô hình giáo dục đào tạo khép kín sang mô hình giáo dục mở với hệ thống tạo điều kiện học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học, thực hiện liên kết đào tạo giữa các nhà trường với các tổ chức kinh tế xã hội khác Công tác quản lý giáo dục đào tạo trong các trường cao đẳng, đại học cũng đã được đổi mới một bước để thích ứng với mô hình và cơ chế mới Tuy nhiên thực tiễn cho thấy chất lượng đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao ở nước ta còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về mặt năng lực, kỹ năng nghề nghiệp Sản phẩm đào tạo của các trường cao đẳng, đại học chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội do còn tách rời giữa các cở đào tạo với các tổ chức sử dụng sản phẩm đào tạo và với điều kiện cụ thể của từng địa phương Những năm gần đây đã xuất hiện sự liên kết trong quá trình đào tạo sinh viên của một

số trường cao đẳng, đại học với các tổ chức kinh tế, xã hội bên ngoài có nhu cầu về sử dụng nguồn nhân lực song vẫn còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn, bất cập vì thiếu những nghiên cứu cơ bản về mặt lý luận trong đó có cả lý luận về quản lý giáo dục đào tạo

Ở Việt Nam, các nhà giáo dục học, tâm lý học tiêu biểu như: Nguyễn Lân, Đức Minh, Hà Thế Ngữ, Phạm Minh Hạc, Đặng Vũ Hoạt, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Quang Uẩn … đã có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực lý luận và thực tiễn đổi mới công tác giáo dục đào tạo Trong lĩnh vực quản lý giáo dục, quản lý nhà trường cũng đã có đóng góp về mặt lý luận của nhiều nhà nghiên cứu có tâm huyết như Phạm Ngọc Quang, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đức Chính, Nguyễn Khánh Bằng và một số người khác Mấy năm gần đây tại các cơ sở đào tạo như: Khoa Quản lý giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I, Viện quản lý giáo dục, Khoa Giáo dục sư

Trang 7

phạm Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa tâm lý sư phạm Đại học sư phạm Thái Nguyên… những vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục, quản lý đào tạo

ở các nhà trường phổ thông, trường cao đẳng, đại học đã thu hút hàng trăm học viên lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ Những nghiên cứu đã dẫn ra ở trên đã có những đóng góp nhất định về lý luận quản lý giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay, đề xuất được những giải pháp quản lý phù hợp, có tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo Tuy nhiên theo nhận thức của chúng tôi để nâng cao hiệu quả liên kết đào tạo giữa các trường với các tổ chức bên ngoài và xã hội thì còn ít công trình nghiên cứu đề cập đến, còn thiếu tính hệ thống về mặt lý luận nhất là trong công tác quản lý đào tạo

Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên được thành lập từ năm 1965 mà tiền thân là Trường công nhân kỹ thuật 3 Sau hơn 46 năm trưởng thành và phát triển đã có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước Trong những năm gần đây, bên cạnh việc mở rộng quy mô, ngành nghề đào tạo, đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức đào tạo, nhà trường còn bắt đầu thực hiện liên kết trong quá trình đào tạo giữa nhà trường và các tỉnh miền núi phía bắc - Nơi có nhu cầu sử dụng sản phẩm đào tạo của trường

để phục vụ sự chuyển dịch cơ cấu và phát triển của địa phương

Liên kết đào tạo là kết quả đổi mới cả về nhận thức và hành động của nhà trường trong công tác đào tạo, nó tạo ra những điều kiện thuận lợi để gắn nhà trường với thực tiễn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và đặc biệt là chủ động giải quyết vấn đề đầu ra - công ăn việc làm cho học sinh sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường Tuy nhiên thực tiễn liên kết đào tạo trong mấy năm qua cho thấy:

- Còn khó khăn, lúng túng trong việc xây dựng lại mô hình đào tạo, đặc biệt là cơ chế liên kết trong đào tạo, quản lý đào tạo nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu đào tạo đề ra

Trang 8

- Việc bố trí, sử dụng và điều động giáo viên đi giảng dạy ở các tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, nhất là ở một số Khoa có nhiều lớp đào tạo theo nhu cầu của địa phương và cơ cấu nghề của Nhà nước

- Trong lĩnh vực quản lý đào tạo cũng có nhiều bất cập về mặt phân cấp quản lý, phối hợp quản lý

- Công tác tuyển sinh và giới thiệu việc làm còn có những khó khăn

- Phần lớn các biện pháp quản lý công tác đào tạo là những biện pháp

sử dụng trong mô hình cũ, chưa được đổi mới trong điều kiện thực hiện liên kết đào tạo nên bất cập, kém hiệu quả

- Cơ chế, chính sách của nhà nước đối với việc liên kết đào tạo giữa các trường và các địa phương chưa cụ thể, chưa rõ ràng

- Định hướng nghề nghiệp trong quá trình liên kết đào tạo đáp ứng yêu cầu của địa phương còn bất cập

Từ những lý do về mặt lý luận và thực tiễn như đã trình bày ở trên đã thôi thúc tôi chọn đề tài này làm luận văn tốt nghiệp Vấn đề liên kết đào tạo, đặc biệt là liên kết đào tạo với các tỉnh miền núi lại là vấn đề mới, có nhiều khó khăn song là vấn đề cần thiết, là vấn đề có tính chất nền tảng đảm bảo cho Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên tồn tại và phát triển trong bối cảnh trong nước và hội nhập quốc tế hiện nay

2 Mục đích nghiên cứu:

Đánh giá thực trạng, hiệu quả công tác quản lý đào tạo của nhà trường

để từ đó có cơ sở đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo

ở Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc nhằm nâng cao chất lượng đào tạo

3 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Các biện pháp quản lý đào tạo ở Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên trong liên kết đào tạo với địa phương miền núi phía Bắc

Trang 9

3.2 Khách thể nghiên cứu: Chọn đại diện 30 giảng viên và cán bộ quản

lý đào tạo, 200 sinh viên các hệ đào tạo và 30 cán bộ quản lý đào tạo của các tỉnh miền núi phía bắc trực tiếp tham gia liên kết đào tạo, sử dụng sản phẩm đào tạo của nhà trường

4 Các nhiệm vụ nghiên cứu:

4.1 Nghiên cứu và khái quát các tài liệu lý luận có liên quan đến đối tượng nghiên cứu để từ đó làm rõ một số khái niệm công cụ như: Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý đào tạo, biện pháp quản lý, biện pháp quản lý đào tạo, đào tạo nghề, những yếu tố ảnh hưởng đến liên kết đào tạo nghề

4.2 Tiến hành điều tra và phân tích thực trạng công tác quản lý đào tạo, các biện pháp quản lý đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên trong những năm gần đây

4.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo trong điều kiện thực hiện liên kết đào tạo của nhà trường với mục đích nâng cao chất lượng đào tạo

5 Giả thuyết khoa học:

5.1 Hiệu quả công tác quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên hiện nay còn thấp nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo

5.2 Nếu xây dựng và thực thi một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo phù hợp, đồng bộ, có tính khả thi sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên

6 Phạm vi nghiên cứu :

6.1 Về khách thể nghiên cứu: Tập trung điều tra ở 200 sinh viên, 30 giảng viên và cán bộ quản lý đào tạo, 30 cán bộ quản lý đào tạo ở các đơn vị liên kết

6.2 Về đối tượng nghiên cứu: Đề tài luận văn chỉ tập trung điều tra, nghiên cứu về các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo của Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Luyện kim Thái Nguyên từ 2008 đến 2011

Trang 10

7 Các phương pháp nghiên cứu :

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề ra, đề tài sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá những tài liệu lý luận có liên quan để làm sáng tỏ cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Sử dụng các phương pháp của xã hội học để điều tra, khảo sát, trao đổi với các khách thể nghiên cứu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp thống kê

8 Đóng góp mới của luận văn:

8.1 Về mặt lý luận: Góp phần bổ sung cho lý luận quản lý hoạt động liên kết đào tạo với các tỉnh miền núi ở các trường cao đẳng nghề nước ta hiện nay

8.2 Về thực tiễn quản lý giáo dục: Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo ở một số trường cao đẳng nghề Những kết quả nghiên cứu còn là cơ sở và là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý, giảng viên đang làm công tác đào tạo

8.3 Biện pháp quản lý và liên kết đào tạo với các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm chuyển đổi cơ cấu lao động có tay nghề Học sinh ra trường có việc làm tại địa phương hoặc các nhà máy, Công ty, doanh nghiệp…trong và ngoài ngành Thép

8.4 Tạo lực lượng lao động để phát triển kinh tế xã hội của vùng núi, dân tộc, hộ nghèo theo Quyết định 1956 của Chính phủ

9 Cấu trúc của luận văn:

Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

Trang 11

Chương II: Thực trạng công tác quản lý hoạt động liên kết đào giữa

Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc giai đoạn 2008 - 2011

Chương III: Các biện pháp quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa

Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc

Ngoài ra còn có phần mở đầu; phần kết luận và khuyến nghị

Trang 12

Đối với các trường thì sản phẩm là học sinh tốt nghiệp ra trường có tay nghề cao, tiếp cận được với công nghệ thực tiễn của sản xuất Đây là yếu tố quan trọng để giữ vững thương hiệu, uy tín của nhà trường đồng thời giảm chi phí đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đào tạo

Đối với các địa phương có thể chủ động về đội ngũ lao động và khi tiếp nhận lao động vào làm việc tại địa phương sẽ phù hợp, ổn định, không mất thời gian đào tạo lại do công nhân còn hạn chế về kỹ năng thực hành nghề và khả năng thích ứng với sự thay đổi của công nghệ

Đối với Việt Nam chúng ta, do yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước, đặc biệt là những năm gần đây do sự chuyển biến của nền kinh tế thị trường từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường Trong cơ chế thị trường nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, giá trị của sức lao động tuỳ thuộc vào trình độ tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động Để nâng cao được chất lượng đào tạo nghề, đòi hỏi con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, trau dồi bản lĩnh, nắm vững kỹ năng thực hành nghề đáp ứng yêu cầu của xã hội Xuất phát từ những lý do trên mà hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và địa phương đã được nghiên cứu, rút kinh nghiệm

từ các nước tiên tiến trên thế giới và được vận dụng vào các chính sách của Việt Nam Điều này được cụ thể hoá trong Luật giáo dục năm 2005, Luật Dạy nghề 2006, Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993, Điều lệ mẫu trường cao đẳng nghề năm 2008 Cụ thể: Điều 32 của Luật Dạy nghề đã nêu: “Dạy nghề

Trang 13

thường xuyên được thực hiện linh hoạt về thời gian, địa điểm, phương pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của người học nghề nhằm tạo điều kiện cho người lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng nghề thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, tạo cơ hội tìm việc làm, tự tạo việc làm”

Thực tế ở Việt Nam chúng ta từ những năm 1995 đến nay, thực hiện Chủ trương của Đảng và Nhà nước về xã hội hoá công tác dạy nghề nên đã hình thành mô hình các tập đoàn, tổng công ty, công ty trực tiếp quản lý một

số trường đào tạo nghề Điển hình như Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp tàu thuỷ, Tổng công ty Thép Việt Nam v v

Việc hình thành và phát triển các trường đào tạo nghề thuộc doanh nghiệp

để đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có kỹ thuật trực tiếp sản xuất của doanh nghiệp và nhu cầu của xã hội ở nước ta trong thời gian qua là tất yếu khách quan Là nơi trực tiếp cung cấp lao động qua đào tạo nghề cho doanh nghiệp, phù hợp với nhu cầu thực tế sử dụng của doanh nghiệp, người học được thực hành ngay trên may móc, thiết bị đang được sử dụng ở doanh nghiệp và đặc biệt là các đào tạo cho các tỉnh miền núi theo chủ trương xã hội hoá

Mặc dù có chủ trương, chính sách như vậy song ở nước ta cho đến nay thực trạng hoạt động liên kết đào tạo giữa các trường và địa phương được đánh giá là vẫn còn hạn chế, chưa đồng bộ và có rất ít các công trình nghiên cứu về vấn đề trên Những nghiên cứu về liên kết đào tạo mới chỉ giới hạn trong ngành hoặc trong lĩnh vực hẹp Ví dụ: Vào những năm 70 của thế kỷ XX, tác giả Đạng Danh Ánh và một số cán bộ thuộc Tổng cục dạy nghề lúc đó đã đi sâu nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy nghề trong các trường nghề

Năm 1993, tác giả Trần Khánh Đức nghiên cứu vấn đề "Hoàn thiện đào tạo nghề tại xí nghiệp" Đề tài tập trung nghiên cứu giải quyết các trường, lớp dạy nghề đặt tại đơn vị sản xuất và trong một số lĩnh vực về bưu chính viễn thông và hóa chất Năm 1993, tác giả Phạm Khắc Vũ đi sâu tìm hiểu: "Cơ sở

Trang 14

lý luận và thực tiễn phương thức tổ chức đào tạo nghề kết hợp tại trường và

cơ sở sản xuất" Năm 2004, trường Trung học kỹ thuật xây dựng Hà Nội có

đề tài nghiên cứu khoa học cấp thành phố: "Các giải pháp gắn đào tạo với sử dụng lao động của hệ thống dạy nghề Hà Nội trong lĩnh vực xây dựng"

Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên được thành lập từ năm 1965 thuộc Bộ Công nghiệp trước đây, từ năm 1997 đến nay thuộc Tổng công ty Thép Việt Nam quản lý Trường có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho Tổng công ty Thép Việt Nam và các ngành kinh tế khác của xã hội, Trường đào tạo 3 cấp trình độ đó là: Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề

và Cao đẳng nghề các nghề Cơ, Điện và Luyện kim

Hoạt động liên kết đào tạo giữa trường với các tỉnh miền núi phía bắc mới được thực hiện trong một số năm gần đây (đặc biệt là từ năm 2008 đến nay) đã được triển khai và đạt được những kết quả nhất định Để đánh giá thực trạng, tổng kết rút kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp để quản lý các hoạt động trên nhằm đạt kết quả cao hơn cần thiết phải có một nghiên cứu

tổng hợp, khách quan Chính vì vậy tôi chọn “Quản lý liên kết đào tạo nghề giữa Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các tỉnh miền núi phía Bắc” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

1.2 Một số khái niệm cơ bản:

1.2.1 Khái niệm về quản lý:

Quản lý là một hoạt động đặc biệt, là yếu tố không thể thiếu được trong đời sống xã hội, gắn liền với quá trình phát triển, đặc biệt trong xã hội hiện nay thì quản lý có vai trò rất lớn Sự phân công, hợp tác trong lao động giúp đạt năng suất cao trong công việc, điều này đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra tức là phải có người đứng đầu Hoạt động quản lý được nảy sinh từ nhu cầu đó Theo C.Mác, quản lý (QLXH) là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hoá lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và

Trang 15

thông qua quản lý (con người điều khiển con người) Ông coi quản lý là một đặc điểm vốn có, bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội, theo ông: "Bất

cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó

Khái niệm “quản lý” là khái niệm rất chung, tổng quát, nó dùng cho cả quá trình quản lý xã hội Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, dưới đây

là một số nhận thức chung về khái niệm này

- Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (Người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (Đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng Đối tượng quản lý có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị…

- Quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính v v để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước

- Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội, đặc biệt là từ khi con người biết tiến hành những hoạt động lao động chung

- Quản lý là một thuộc tính lịch sử, là nội tại của quá trình lao động, nó

là hiện tượng xã hội xuất hiện sớm ngay từ khi xuất hiện xã hội loài người Khi con người xuất hiện thì xuất hiện quản lý con người và quản lý xã hội

Theo K Marx: Bất kỳ một hoạt động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất

Trang 16

định sự quản lý Quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ

cơ chế sản xuất khác với sự vận động riêng rẽ của nó

K Marx so sánh một cách hình ảnh: Nhạc trưởng với hệ thống nhạc công Trong đó nhạc trưởng là một chủ thể quản lý, nhạc công là những chủ thể bị quản lý Nhạc trưởng và nhạc công có quan hệ quản lý (Quan hệ về công việc và quan hệ con người) để đưa một sản phẩm “Kép”, một sản phẩm siêu sản phẩm Đó là chủ thể quản lý và chủ thể bị quản lý cùng phát triển (Hoạt động tạo ra của chủ thể và sự phát triển của con người)

Những tư tưởng bàn về quản lý xã hội đã xuất hiện rất sớm ở cả Phương đông lẫn Phương tây Song quản lý chỉ trở thành khoa học và được vận dụng vào thực tiễn có tính chất phổ biến chỉ mới bắt đầu vào thập niên đầu của thế kỷ XX (Vào năm 1911 khi Taylor nhà tâm lý học, quản lý học người Mỹ công bố tác phẩm nổi tiếng: Những nguyên lý quản lý khoa học)

Cho đến nay trong các tài liệu chuyên ngành xuất hiện nhiều định nghĩa

về quản lý Các nhà lý luận quản lý Phương tây và các nước Đông âu như Henri Fayon (1841 – 1925) hay F Redrich Taylor (1856 – 1915)… đã nghiên cứu khoa học về quản lý và coi đây là ngành mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển

xã hội, có thể dẫn ra một số như:

Theo F Taylor: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất Sau này ông Lerence chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh

Mỹ đã khái quát quan điểm của F Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình

Cùng thời với F Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó Theo H Fayon: Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra

Trang 17

Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất

Theo Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức

Ở Việt Nam tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong giáo trình “Quản lý kinh tế” cho rằng: Quản lý là tác động hướng đích của hệ thống chủ thể tới sự hoạt động của hệ thống đối tượng bằng một hệ thống các biện pháp, phương pháp và các công cụ làm cho hoạt động của hệ thống bị quản lý đó vận hành đúng theo yêu cầu của các quy luật khách quan và phù hợp với định hướng và mục tiêu của hệ thống chủ thể quản lý

Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng cần xem xét khái niệm quản lý ở hai góc độ: Chính trị - xã hội và hành động Ở góc độ chính trị - xã hội quản

lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức với lao động Còn ở góc độ hành động quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển, điều hành

Quản lý là tác động vừa có tính khoa học, vừa có tính nghệ thuật vào hệ thống con người, nhằm đạt các mục tiêu kinh tế - xã hội

Một xã hội, một tổ chức muốn phát triển tốt thì trước hết phải có một

cơ chế quản lý tốt Cơ chế quản lý ấy phải chi phối và tác động vào các lĩnh vực của xã hội, tổ chức và làm cho nó vận động theo hướng tích cực mà chủ thể quản lý đã xác định Từ góc độ này tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Quản lý là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng nhằm điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người nhằm

Trang 18

đạt tới mục đích, đúng với ý chí của nhà quản lý và phù hợp với quy luật khách quan

Những năm gần đây vấn đề nguồn nhân lực, nhân tài có vị trí đặc biệt quan trọng đến nỗi nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Quản lý là quá trình tập hợp và sử dụng các nhóm nguồn lực (đặc biệt là nhân lực) theo định hướng mục tiêu để thực hiện các nhiệm vụ

Để khái quát và làm rõ được quy trình quản lý Richard Winter (2007)

đã cho rằng: Quản lý là việc hiện thực hoá các mục tiêu của tổ chức theo cách

có hiệu quả và hiệu xuất cao thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo

và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức

Định nghĩa của Richard Winter theo chúng tôi vừa đầy đủ và rõ ràng, nội hàm của nó không chỉ phản ánh đúng những đặc trưng cơ bản của hoạt động quản lý mà nó còn chỉ rõ quy trình quản lý

Tuy tiếp cận ở những góc độ khác nhau về quản lý, song về cơ bản các nhà nghiên cứu đều gặp nhau ở các nội dung cơ bản, quản lý bao gồm các yếu

tố, các điều kiện sau:

* Là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng quản lý nhằm phối hợp hành động để đạt được mục tiêu quản lý

* Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và

ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý Tác động có thể chỉ một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần

* Quản lý là phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động

Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải

có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình

Trang 19

Đề cập đến các nhiệm vụ của quản lý, nhà quản lý học người Mỹ được coi là tiêu biểu của thế kỷ XX Peter Druker cho rằng có các nhiệm vụ sau:

- Xác định mục tiêu: Đó là điều cần đạt được biểu hiện bằng định lượng hoặc định tính

- Xây dựng tổ chức: Đây là một trong những điều kiện tổng hợp thiết yếu để ổn định, phát triển bộ máy

- Tạo động lực : Đây là đòn bẩy, sức mạnh để tổ chức đơn vị phát triển, con người tiến bộ

- Phát huy nhân lực, vật lực, tài lực: Đây là điều kiện cụ thể tạo nên sức mạnh nội lực, ngoại lực thúc đẩy tổ chức mình quản lý phát triển, đồng thời tránh được lãng phí, tiêu cực trong bộ máy

Ở Việt Nam theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì quản lý có những nhiệm vụ sau đây:

- Xác định mục tiêu, yêu cầu nhiệm vụ quản lý

- Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch

- Xây dựng cơ cấu tổ chức

- Xác định điều kiện, phương tiện để thực hiện mục tiêu kế hoạch

- Chỉ đạo thực hiện

- Quản lý tài chính, cơ sở vật chất

- Phối hợp hoạt động trong, ngoài tổ chức

- Tổ chức, kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm

- Điều chỉnh nội dung, cách thức, phương tiện, tổ chức cho phù hợp tình hình

- Đề xuất các chế độ chính sách và thực hiện chế độ chính sách

Các nhà quản lý giáo dục ở các cấp cần xác định vai trò, chức năng quản lý Quản lý giáo dục phải căn cứ vào các chức năng nhiệm vụ trên để tác động đến bộ máy mà mình quản lý

Trang 20

1.2.2 Quản lý giáo dục:

Về nội hàm khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau

Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều khiển, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thực hiện quá trình GD - ĐT của nhà trường theo yêu cầu phát triển của xã hội

Khi bàn về vấn đề này Viện sỹ A.Fanaxep đã phân chia xã hội thành ba lĩnh vực: Lĩnh vực chính trị - xã hội, lĩnh vực văn hoá - tư tưởng, lĩnh vực kinh tế

Và xếp quản lý giáo dục được xem là một bộ phận nằm trong quản lý văn hoá-tư tưởng

Theo M.I.Kônđakôp: Quản lý nhà trường (công việc nhà trường) là hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi hỏi những tác động có ý thức, có khoa học và có hướng chủ thể, quản lý trên tất cả các mặt của đời sống nhà trường để đảm bảo vận hành tối ưu của xã hội - Kinh tế và tổ chức

sư phạm của quá trình dạy học thế hệ trẻ

Như vậy quản lý nhà trường, quản lý giáo dục là tổ chức hoạt động dạy học Có tổ chức được hoạt động dạy học mới thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục; tức là cụ thể hoá đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng yêu cầu của nhân dân của đất nước Xuất phát từ quan niệm này một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam như Phạm Minh Hạc, Đặng Bá Lãm cho rằng: Quản lý giáo dục (và nói riêng quản lý trường học) là hệ thống tác động

có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (Hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội

tụ là quá trình dạy học-giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất

Từ những định nghĩa dẫn ở trên có thể đi đến cách hiểu khái quát như sau:

Trang 21

Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục để đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển của xã hội

Quản lý giáo dục là một lĩnh vực quản lý kinh tế xã hội đặc biệt nhằm phát triển dân tộc, phát triển nguồn nhân lực, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội

1.2.3 Quản lý đào tạo:

Quản lý đào tạo là một lĩnh vực quản lý bao gồm tất cả những vấn đề

mà cơ sở đào tạo thường làm và bằng cách đó cung cấp cho người học những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và năng lực nghề nghiệp có hiệu quả Hay nói một cách khác, quản lý đào tạo bao gồm các lĩnh vực quản lý các mục tiêu cụ thể của các yếu tố sau:

- Mục tiêu đào tạo

- Nội dung đào tạo

- Phương pháp và hình thức đào tạo

- Nguồn nhân lực đào tạo (Giảng viên)

- Đối tượng đào tạo (Sinh viên )

- Điều kiện đào tạo

- Quy trình tổ chức đào tạo, đánh giá, kiểm tra, kiểm soát các chuẩn mực đảm bảo chất lượng đào tạo

Chất lượng đào tạo quyết định sự tồn vong của cơ sở đào tạo, nên người ta còn cho rằng quản lý đào tạo chính là quản lý chất lượng

Giáo dục đào tạo là một bộ phận của nền kinh tế xã hội Nó được cơ cấu thành hệ thống và là một bộ phận kết cấu hạ tầng của xã hội Do đó quản

lý giáo dục, quản lý đào tạo thực chất là quản lý một lĩnh vực kinh tế - xã hội đặc biệt nhằm đào tạo nguồn nhân lực lao động có trình độ chuyên môn và kỹ

Trang 22

thuật cao nhằm đảm bảo yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của một nền kinh

Quản lý đào tạo có hai chức năng cơ bản:

- Duy trì, ổn định quá trình đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo đạt được các chuẩn mực đã xác định trước

- Đổi mới, phát triển quá trình đào tạo, đón đầu xu hướng phát triển kinh tế - xã hội

Để thực hiện hai chức năng trên quản lý đào tạo cần:

- Phân tích thông tin, nắm bắt được xu hướng phát triển, xác lập chính sách, mục tiêu chiến lược giáo dục - đào tạo

- Xác lập chuẩn mực, quy trình theo mục tiêu, tạo điều kiện và duy trì các cơ chế thực hiện các chuẩn mực đã đề ra

- Đưa hoạt động đào tạo vào kế hoạch với mục tiêu, biện pháp, bước đi rõ ràng

- Hình thành và phát triển tổ chức tương xứng với sứ mệnh, phù hợp với nhiệm vụ chính trị và thực hiện một quy trình đào tạo thích ứng với khả năng nguồn nhân lực của mình

- Thanh tra, kiểm tra các hoạt động đào tạo

Để làm rõ thực trạng quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên với các địa phương và đề xuất những biện pháp quản lý cho thời gian tới, chúng tôi sẽ lấy những yêu cầu trên làm cơ sở khảo sát, đánh giá về quản lý đào tạo

1.2.4 Đào tạo nghề:

Trang 23

1.2.4.1 Nghề:

Theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất định, cho đến nay thuật ngữ “Nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Dưới đây là một số khái niệm:

- Ở Nga được định nghĩa: Là một loại hoạt động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn

- Ở Pháp: Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng, kỹ xảo của con người để từ đó tìm được phương tiện sống

- Ở Anh: Là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đào tạo trong khoa học, nghệ thuật

- Ở Đức: Là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định, đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó

Như vậy, nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến, gắn chặt với sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại Bởi vậy được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau

Ở Việt Nam: Nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có định nghĩa nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay nhu cầu xã hội Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể thấy 1 số nét đặc trưng nhất định đó là:

+ Đó là hoạt động, là công việc lao động của con người được lặp đi lặp lại + Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội

+ Là phương tiện để sinh sống

+ Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định

Trang 24

Nghề biến đổi mạnh mẽ và gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn

1.2.4.3 Đào tạo nghề:

Là những hoạt động nhằm mục đích nâng cao tay nghề hay kỹ năng, kỹ xảo của mỗi cá nhân đối với công việc hiện tại và trong tương lai Đào tạo nghề bao gồm 2 quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau đó là:

- Dạy nghề: Là quá trình giảng viên truyền đạt những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp

- Học nghề: Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người lao động để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định

Đào tạo nghề cho người lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn Bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề …

Năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng không phải là bản năng mà phải trải qua rèn luyện Môi trường tốt nhất cho sự phát triển khả năng này ở học sinh trường nghề đó là họ phải được rèn luyện trong môi trường sản xuất của thực tiễn sau khi được học lý thuyết Đây chính là trách nhiệm của toàn

Trang 25

xã hội đối với công tác đào tạo nghề hiện nay, và cần phải nhấn mạnh, trách nhiệm trước hết là thuộc về lãnh đạo của các trường dạy nghề Chính bản thân

họ phải ý thức được việc cần phải cải tổ công tác quản lý để không ngừng tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa trường dạy nghề và địa phương, cơ sở sản xuất… trong liên kết đào tạo để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của đơn vị

1.3 Mối quan hệ giữa quản lý và chất lƣợng đào tạo nghề

1.3.1 Chất lƣợng và chất lƣợng đào tạo nghề

Chất lượng luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi địa phương, các hệ thống kinh tế xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo Đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh thì chất lượng, chữ tín là chìa khoá và sự đảm bảo thắng lợi trong các cuộc cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo hiện nay cũng cạnh tranh gay gắt, thu hút người học và cung ứng sản phẩm sau đào tạo cho các thị trường lao động trong nước và xuất khẩu lao động ra nước ngoài

Có nhiều khái niệm về chất lượng Sau đây là một số khái niệm có thể xem xét:

- Theo quan niệm của tổ chức kiểm tra chất lượng Châu âu: Chất lượng của sản phẩm là mức độ mà sản phẩm ấy đáp ứng được nhu cầu của người sử dụng

- Theo J.Juran (Mỹ): Chất lượng là tiềm năng thoả mãn nhu cầu của thị trường với chi phí thấp nhất

- Theo ISO 8402 - 86: Chất lượng của sản phẩm là tổng thể những đặc điểm, những đặc trưng của sản phẩm thể hiện được sự thoả mãn nhu cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định và phù hợp với công cụ, tên gọi sản phẩm

- Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5814 - 94: Chất lượng là sự tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể đối tượng có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn

Trang 26

- Tại hội thảo “Nâng cao chất lượng đào tạo” - Đại học quốc gia Hà Nội, tác giả Lê Đức Ngọc cho rằng: Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Những năng lực đó gồm: Khối lượng, nội dung, trình độ kiến thức được đào tạo và kỹ năng thực hành, năng lực nhận thức, năng lực tư duy cùng những phẩm chất nhân văn được đào tạo

Chúng tôi nhất trí với quan điểm của tác giả và cho rằng nội hàm của chất lượng đào tạo được thể hiện:

Trang 27

- Trình độ tư duy lôgic

Giáo dục đào tạo là một hoạt động xã hội có định hướng, có mục đích nhằm tạo ra các thế hệ lao động, có những phẩm chất, kỹ năng, năng lực cần thiết đáp ứng được những nhu cầu phát triển của xã hội Giáo dục - đào tạo là một lĩnh vực xã hội đặc biệt, sản phẩm giáo dục đào tạo cung cấp cho xã hội là nhân cách con người

Việc đánh giá chất lượng sản phẩm, chất lượng đào tạo là công việc rất khó khăn và phức tạp Không thể chỉ đánh giá nó sau khi hoàn thành các công đoạn đào tạo (sau khi tốt nghiệp), mà phải đánh giá cả quá trình sau khi đào tạo, hoặc phải thông qua hiệu quả công việc mà họ đảm nhận sau khi ra trường

Đối với chất lượng sản phẩm đào tạo trong cơ chế thị trường thì chất lượng sản phẩm có ý nghĩa quyết định cho sự tồn tại và phát triển của nhà trường

Trong nền kinh tế nhiều thành phần với mọi trình độ khác nhau, yêu cầu về chất lượng mỗi ngành, nghề, mỗi cơ sở cũng khác nhau nhưng điều đáng quan tâm là dẫu ở trình độ nào (cao hay thấp) thì cũng phải đạt chuẩn chất lượng mà khách hàng yêu cầu Do đó nhiệm vụ quan trọng là phải xác định được chuẩn chất lượng cho mỗi ngành nghề, mỗi trình độ, cụ thể là xác định chuẩn chất lượng cho các bậc học, các ngành học khác nhau

Trang 28

Trong lĩnh vực dạy nghề cũng có các tiêu chí để đánh giá chất lượng đào tạo cụ thể đó là:

- Theo quan niệm chất lượng đầu ra:

Theo quan niệm chất lượng đầu ra - Sản phẩm của quá trình đào tạo, để đánh giá mức độ chất lượng của đào tạo nghề người ta dựa vào các tiêu chí sau:

+ Phẩm chất xã hội, nghề nghiệp (Đạo đức, ý thức, trách nhiệm)

+ Sức khoẻ

+ Kiến thức, kỹ năng

+ Năng lực hành nghề

+ Khả năng thích ứng với thị trường lao động

+ Năng lực nghiên cứu và khả năng phát triển nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp

Các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng, theo Bloom được phân loại thành các mức ở Bảng 1

Trung bình Hiểu Hình thành kỹ năng ban đầu (theo chỉ

dẫn) Trung bình khá Vận dụng Hình thành kỹ năng cơ bản ( Độc lập) Khá Phân tích/ tổng hợp Liên kết, phối hợp kỹ năng

Rất tốt Phát triển/ sáng tạo Phát triển/sáng tạo

Bảng 1 : Phân loại mức kiến thức, kỹ năng theo Bloom

- Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO

Theo quan điểm xem xét chất lượng trên cơ sở các đầu vào của quá trình đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng, theo nguyên lý: Với điều kiện đầu vào tốt và đảm bảo cho quá trình đào tạo tốt sẽ tạo ra sản phẩm tốt Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo trường dạy nghề, theo ILO gồm có 9 nhóm theo Bảng 2

Trang 29

Nhóm tiêu chí Điểm tối đa

4 Các tiêu chí về đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 85

7 Các tiêu chí về khuôn viên và cơ sở hạ tầng 40

8 Các tiêu chí về xưởng thực hành, thiết bị vật tư 60

Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề theo ILO

Các tiêu chí được xem xét và đánh giá với các mức điểm khác nhau Trường nào có mức điểm đánh giá càng cao thể hiện chất lượng đào tạo càng cao

Sản phẩm trong quá trình đào tạo là sản phẩm đặc biệt Với ý nghĩa rộng đó là nhân cách người lao động mà trong đó yếu tố quan trọng hàng đầu

là kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm đáp ứng được thị trường lao động Sản phẩm này sẽ tạo ra mọi sản phẩm khác cho xã hội, nó luôn tự vận động, tự phát triển Do vậy có thể nói đây là sản phẩm quý giá nhất trong mọi sản phẩm (Chất lượng đào tạo toàn diện trong nhà trường được đánh giá qua các mặt: Phẩm chất và năng lực của người học sinh, được biểu hiện qua mục tiêu đào tạo, kiến thức, kỹ năng và thái độ so với chuẩn quy định)

1.3.2 Mối quan hệ giữa quản lý và chất lƣợng đào tạo nghề

Chất lượng luôn là vấn đề quan trọng nhất của tất cả các nhà trường, việc phấn đấu nâng cao chất lượng đào tạo bao giờ cũng được xem là nhiệm

vụ quan trọng nhất trong công tác quản lý của các cơ sở đào tạo nghề, chất

Trang 30

lượng là một khái niệm khó định nghĩa, khó xác định, khó đo lường Hiện nay

có nhiều quan điểm về chất lượng đào tạo khác nhau

- Chất lượng được đánh giá bằng đầu vào

Một số nước phương Tây có quan điểm cho rằng: “Chất lượng đào tạo của một nhà trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó” Quan điểm này được gọi là: “Quan điểm nguồn lực”, có nghĩa là: Nguồn lực = chất lượng

Theo quan điểm này, một trường tuyển được sinh viên giỏi, có đội ngũ cán bộ giảng dạy uy tín, có nguồn tài chính cần thiết để trang bị các phòng thí nghiệm, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao

Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo được diễn

ra rất đa dạng và liên tục trong một thời gian dài trong nhà trường, đặc biệt là

sự nỗ lực, tích cực của người học Thực tế theo cách đánh giá này, quá trình đào tạo được xem là “Hộp đen” , chỉ dựa vào sự đánh giá “đầu vào” và phỏng đoán chất lượng “đầu ra” Quan điểm này đã chuyển từ việc xem xét chất lượng sang các vấn đề về điều kiện hình thành chất lượng

- Chất lượng được đánh giá bằng “đầu ra”

Một quan điểm khác về chất lượng đào tạo cho rằng “Đầu ra” có tầm quan trọng hơn nhiều so với “đầu vào” “Đầu ra” chính là sản phẩm của quá trình đào tạo được thể hiện ở mức độ hoàn thành công việc của học sinh tốt nghiệp hay khả năng cung cấp các dịch vụ đào tạo của trường đó Có 2 vấn đề

cơ bản liên quan đến cách tiếp cận chất lượng đào tạo này Một là: Mối liên

hệ giữa “đầu vào” và “đầu ra” không được xem xét Trong thực tế đang tồn tại mối quan hệ này, cho dù đó không hoàn toàn là quan hệ nhân quả Hai là: Cách đánh giá “đầu ra” của các trường rất khác nhau

- Chất lượng được đánh giá bằng giá trị gia tăng

Quan điểm này cho rằng chất lượng đào tạo của một nhà trường là tạo

ra được sự khác biệt về kiến thức, kỹ năng và thái độ của học sinh từ khi nhập

Trang 31

trường đến khi ra trường Giá trị gia tăng được xác định bằng giá trị “đầu ra” trừ đi giá trị của “đầu vào”, kết quả thu được là “giá trị gia tăng” mà trường

đó đã đem lại cho học sinh và được cho là chất lượng đào tạo của nhà trường

Theo quan điểm này, một loạt vấn đề sẽ nảy sinh: Khó có thể thiết kế được một thước đo thống nhất để đánh giá chất lượng “đầu vào” và “đầu ra”

để tìm ra hiệu số của chúng và đánh giá chất lượng của trường đó Hơn nữa các trường đào tạo nghề trong hệ thống giáo dục lại rất đa dạng, không thể dùng một bộ công cụ đo duy nhất cho tất cả các trường

Nhìn chung, những quan điểm trên đã đề cập một số dấu hiệu để nhận biết chất lượng, một khái niệm động, nhiều chiều Rất khó để có một ý kiến thống nhất về khái niệm chất lượng đào tạo Tuy vậy, việc xác định một số cách tiếp cận khác nhau đối với vấn đề này là điều nên làm và có thể làm được Theo Tổ chức Giáo dục quốc tế thì cần có bộ tiêu chí chuẩn, việc đánh giá chất lượng một trường học sẽ dựa vào bộ tiêu chuẩn đó Khi không có bộ tiêu chuẩn việc đánh giá sẽ dựa vào mục tiêu của từng lĩnh vực, những mục tiêu này sẽ được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của trường đó

Như vậy để đánh giá chất lượng đào tạo của một trường cần dùng bộ tiêu chí có sẵn, hoặc dùng các chuẩn đã quy định, hoặc đánh giá mức độ thực hiện các mục tiêu

Mối quan hệ giữa quản lý và chất lượng đào tạo thể hiện ở các khía cạnh sau:

- Sự tin cậy: Quá trình quản lý đào tạo của các trường sao cho chất lượng đào tạo phải nhất quán với chiến lược phát triển của các trường và tuân thủ các yêu cầu về quy định của pháp luật hiện hành Thực hiện đúng chức năng, thực hiện cam kết với xã hội

- Sự đáp ứng nhanh: Điều này thể hiện sự sẵn sàng của toàn thể cán bộ giáo viên, công nhân viên trong quá trình đào tạo, cung cấp các dịch vụ đào

Trang 32

tạo, thời gian là cơ sở để đánh giá khía cạnh này Người học và bất kỳ các bên quan tâm nào cũng có quyền được biết rõ các vấn đề như kế hoạch đào tạo, tài liệu tham khảo, những vấn đề học tập, thời gian cấp bằng tốt nghiệp có liên quan đến từng khoá học Tốc độ của sự đáp ứng quyết định mức chất lượng của từng trường đào tạo

- Năng lực: Chất lượng đào tạo đòi hỏi trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của tất cả các thành viên thuộc cơ sở đào tạo đáp ứng công việc được giao Chất lượng của đội ngũ giáo viên, cán bộ chuyên môn và những người phục vụ ảnh hưởng trực tiếp đến hình ảnh tốt đẹp của cơ sở đào tạo Tuy nhiên, khía cạnh này cần được kiểm chứng thông qua hiệu quả của công việc đạt được

- Sự dễ dàng tiếp cận: Các trường đào tạo sử dụng các điều kiện thuận lợi

để người học và các bên quan tâm dễ dàng tiếp xúc Khía cạnh này thể hiện không đơn thuần chỉ thông qua hình thức đối diện trực tiếp Ngoài ra hệ thống thông tin còn là công cụ hỗ trợ đắc lực giúp cho người học và các bên quan tâm

có nhiều cơ hội tìm hiểu về trường, hệ thống này bao gồm điện thoại, Fax, Email, trang Web đây là một trong những phần cứng của một nhà trường

- Tính lịch sự và nhã nhặn: Thái độ giao tiếp giữa tổ chức với người học và các bên quan tâm là một nhân tố hình thành chất lượng của một nhà trường Sự ân cần, tôn trọng, cảm thông và thân thiện sẽ rút bỏ khoảng cách

về mặt tâm lý đối với người học Khía cạnh này giúp cho người học giảm bớt khoảng cách giữa nhà trường với họ Người học sẽ xem nhà trường như là ngôi nhà thứ hai để hình thành mối liên hệ mật thiết và lâu dài

- Sự truyền thông: Các yêu cầu như tìm hiểu về chiến lược, nhiệm vụ, mục tiêu, chương trình đào tạo, cách thức tuyển sinh, thời khoá biểu, cách thức tư vấn học tập, quy trình giải quyết khiếu nại thắc mắc của người học, các giới hạn của khoá học, giá trị của văn bằng tốt nghiệp cần rõ ràng và dễ hiểu Sự truyền thông đòi hỏi cơ sở đào tạo nắm bắt ý đồ mong đợi của người học, các bên quan tâm và thoả mãn nó một cách nhanh nhất dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 33

- Sự tín nhiệm: Nền tảng của sự tín nhiệm được thể hiện khi lấy quyền lợi của người học làm nhiệm vụ trung tâm cho mọi hoạt động quản lý Tuy nhiên, tôn trọng người học không đồng nghĩa cơ sở đào tạo bất chấp các quy định của pháp luật Cải tiến liên tục nhằm nâng cao sự thoả mãn đối với người học và các bên quan tâm là tạo sự tín nhiệm bền vững cho nhà trường

- Sự an toàn: Tham gia học tập là một quá trình đòi hỏi người học phải đầu tư về nhiều lĩnh vực, tốn kém thời gian, tài chính, từ bỏ nhiều cơ hội khác Viễn cảnh tương lai cùng khả năng tự vượt qua được những trở ngại trong quá trình học tập phải có tính khả thi và thuyết phục đối với người học

Sự mập mờ, thiếu chắc chắn và đặc biệt là không tôn trọng pháp luật của cơ sở đào tạo là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến độ an toàn đối với người học và các bên liên quan

- Hiểu rõ người học: Khía cạnh này bao gồm sự nỗ lực của từng cơ sở đào tạo trong quá trình tìm hiểu và phát hiện nhanh chóng các kỳ vọng của người học qua từng thời gian, từng môn học hay cả một khoá học Nhiều hình thức được triển khai như nghiên cứu thị trường, về các trường khác, điều tra qua từng môn học, khi tốt nghiệp, sau khi tốt nghiệp sẽ giúp cơ sở đào tạo hiểu rõ người học Hoạt động này giúp cơ sở đào tạo liên tục cải tiến chiến lược, chương trình, nội dung và phương pháp dạy học Mọi sự xơ cứng, thiếu năng động của quản lý sẽ làm giảm sự tin cậy của người học

- Tính hữu hình: Tính hữu hình thể hiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho giảng dạy, học tập, quản lý và các hoạt động khác trong nhà trường Tính hữu hình bao gồm tất cả hình thức bên ngoài của nhà trường mà người học và các bên quan tâm có thể thấy được

Phân tích tất cả các khía cạnh trên giúp cơ sở đào tạo thiết lập các mục tiêu, chất lượng liên quan đến từng yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo

Sự tác động của các khía cạnh trên sẽ phụ thuộc vào thực trạng của từng hệ

Trang 34

thống quản lý chất lượng cụ thể Các cơ sở đào tạo biết lợi dụng điều kiện thuận lợi không ngừng để nâng cao chất lượng đào tạo

1.4 Những nhân tố tác động đến quản lý đào tạo nghề:

1.4.1 Cơ chế, chính sách của nhà nước

Cơ chế, chính sách của nhà nước ảnh hưởng rất lớn tới sự phát triển đào tạo nghề cả về quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo nghề và nó được thể hiện ở các nội dung sau:

- Khuyến khích hoặc kìm hãm cạnh tranh nâng cao chất lượng Có tạo ra môi trường bình đẳng cho các cơ sở đào tạo cùng phát triển nâng cao chất lượng không?

- Khuyến khích hoặc kìm hãm huy động các nguồn lực để cải tiến, nâng cao chất lượng

- Khuyến khích hoặc hạn chế các cơ sở đào tạo nghề mở rộng liên kết đào tạo và hợp tác quốc tế

- Các chính sách về đầu tư, về tài chính đối với các cơ sở đào tạo nghề

- Có hoặc không có các chuẩn về chất lượng đào tạo Có hay không hệ thống đánh giá, kiểm định chất lượng đào tạo, quy định về quản lý chất lượng đào tạo

- Các chính sách về việc làm, lao động và tiền lương của lao động sau khi học nghề, chính sách đối với giáo viên dạy nghề

- Các quy định trách nhiệm giữa các nhà trường với các địa phương sử dụng lao động, quan hệ giữa các nhà trường với các địa phương

Tóm lại: Cơ chế, chính sách của nhà nước tác động đến tất cả các khâu

từ đầu vào đến quá trình đào tạo và đầu ra của các trường dạy nghề

1.4.2 Môi trường:

Ngày nay, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tác động tới tất cả các mặt đời sống xã hội của đất nước, trong đó có hoạt động đào tạo nghề Toàn cầu hoá và hội nhập đòi hỏi chất lượng đào tạo nghề của Việt Nam phải được nâng lên để sản phẩm tạo ra đáp ứng được yêu cầu của thị trường, khu

Trang 35

vực và thế giới Đồng thời nó cũng tạo cơ hội cho đào tạo nghề của Việt Nam

nhanh chóng tiếp cận trình độ tiên tiến

Hình 1: Quá trình đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo

CÁC CHÍNH SÁCH

MÔI TRƯỜNG

Mục tiêu, nội dung đào tạo

Quá trình đào tạo

Quá trình giảng dạy và học tập (Lý thuyết và thực hành)

Phát triển chương trình, phương pháp đào tạo, phương pháp

Thông tin phản hồi

Sự thích ứng thị trường lao động, tình hình việc làm, năng suất lao động,

thu nhập, phát triển nghề nghhiệp

Trang 36

Phát triển khoa học công nghệ yêu cầu người lao động phải nắm bắt kịp thời và thường xuyên học tập để làm chủ công nghệ mới, đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải thay đổi mới đáp ứng được nhu cầu học tập, KHCN trong đó có KHCN về giáo dục đào tạo phát triển, tạo điều kiện để đổi mới phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức để nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo

Kinh tế xã hội phát triển làm cho nhận thức của xã hội về dạy nghề, học nghề và vai trò của lao động có tay nghề thay đổi cũng ảnh hướng đến chất lượng đào tạo trong các trường dạy nghề, nguồn lực đầu tư cho đào tạo nghề tăng lên là điều kiện vật chất để cải thiện chất lượng đào tạo, thị trường lao động phát triển và hoàn thiện tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các

cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng

1.4.3 Các yếu tố bên trong

Đây là nhóm yếu tố bên trong các cơ sở đào tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo Các yếu tố này do hệ thống quản lý chất lượng của cơ

sở đào tạo quyết định, các yếu tố này bao gồm các nhóm sau:

- Nhóm các yếu tố về điều kiện đảm bảo

Trong trường dạy nghề, các nhân tố về điều kiện đảm bảo ảnh hướng tới chất lượng đào tạo nghề bao gồm:

+ Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý (Manpower - m1)

+ Đầu vào, HSSV tham gia học các chương trình đào tạo (Material-m2) + Cơ sở vật chất, trang thiết bị (Machino – equipment - m3)

+ Nguồn tài chính (Money - m4 )

+ Gắn đào tạo với sử dụng và khuyến khích học nghề (Marketing-m5) + Các nhân tố trên được gắn kết bởi nhân tố quản lý (Management-M)

Hình 2 : Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng trong trường dạy nghề

M1

M5 M4

M

Trang 37

- Nhóm các yếu tố về quá trình đào tạo

Thuộc nhóm này bao gồm:

+ Nội dung chương trình đào tạo có phù hợp với mục tiêu đào tạo đã được thiết kế phù hợp với nhu cầu của thị trường, yêu cầu của người học hay không?

+ Phương pháp đào tạo có được đổi mới, có phát huy được tính tích cực, chủ động của người học, có phát huy được cao nhất khả năng học tập của từng học sinh hay không?

+ Hình thức tổ chức học tập có linh hoạt, thuận lợi, tiết kiệm chi phí cho người học không? Có đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học không?

+ Môi trường học tập trong nhà trường có an toàn, có bị các tệ nạn xã hội thâm nhập không? Các dịch vụ phục vụ cho sinh hoạt, học tập của học sinh có thuận lợi không?

+ Môi trường văn hoá trong nhà trường có tốt không? người học có dễ dàng có được các thông tin về kết quả học tập, lịch học, kế hoạch học và các hoạt động của nhà trường

1.4.4 Đặc điểm của quản lý đào tạo nghề

Từ các khái niệm về quản lý chất lượng đã nghiên cứu ở trên, vận dụng vào đào tạo nghề ta có thể thấy: Quản lý chất lượng đào tạo nghề là toàn bộ các hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng trong trường dạy nghề

Trang 38

Hình 3: Chu trình quản lý đào tạo nghề

Điều

chỉnhh

Xác định nhu cầu đào tạo

Phát triển kế hoạch đào tạo

Xây dựng chương trình và các tài liệu giảng dạy

Triển khai đào tạo

Đánh giá đào tạo

Trang 39

cơ sở sản xuất kinh doanh và khoa học kỹ thuật Trường vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng Nhì, Ba; ba Huân chương Lao động Hạng Nhất, Nhì, Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác Trường được Nhà nước lựa chọn đầu tư trọng điểm chương trình mục tiêu Quốc gia giai đoạn 2001 - 2005 và giai đoạn 2006 - 2010

Trường đóng trên địa bàn Phường Tích Lương - TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên với diện tích 74.000 m2 , ngoài ra còn 2 cơ sở là: Phân hiệu đào tạo tại Thị xã Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh, cơ sở đào tạo bồi dưỡng tại Phường Trung Thành - TP Thái Nguyên tỉnh Thái Nguyên

Từ khi thành lập đến năm 1995 Trường thuộc Bộ Công nghiệp và từ năm 1996 đến nay được giao cho Tổng Công ty Thép Việt Nam quản lý để thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục và gắn công tác đào tạo nghề với doanh nghiệp

Năm 1999 Trường đổi tên thành Trường Đào tạo nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên tại Quyết định số: 1514/1999/QĐ/T-TC ngày 25 tháng 8 năm 1999 của Hội đồng Quản trị Tổng công ty Thép Việt Nam

Trang 40

Năm 2007 Trường được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề Cơ điện - Luyện kim Thái Nguyên tại Quyết định số: 76/QĐ-BLĐTBXH ngày 12 tháng 01 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ LĐTBXH

Trường đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà máy xí nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, Tổng Công ty Thép Việt Nam và các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra, đặc biệt như đào tạo cho khu Công nghiệp Gang thép TN, Khu công nghiệp Sông Công, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Cạn Những năm gần đây hầu hết học sinh tốt nghiệp ra trường đều có việc làm ổn định được các nhà máy xí nghiệp đánh giá và khẳng định chất lượng đào tạo của Nhà trường là cao Uy tín và vị thế của Nhà trường ngày càng được khẳng định, dung lượng học sinh hàng năm ngày càng tăng

2.2 Cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của trường

2.2.1 Cơ cấu tổ chức:

Sau khi được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề, nhà trường đã xây dựng Quy chế hoạt động và tổ chức bộ máy của trường Cơ cấu tổ chức hiện nay gồm :

- Ban giám hiệu :

+ Phòng Khảo thí và Kiểm định chất lượng

+ Phòng Tuyển sinh và Giới thiệu việc làm

- Các Khoa gồm :

Ngày đăng: 31/10/2014, 19:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
14. Phạm Minh Hạc (1996), Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
15. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
16. Phạm Minh Hạc (2001), Phát triển toàn diện con người trong thời kỳ CNH – HĐH, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển toàn diện con người trong thời kỳ CNH – HĐH
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
17. Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương (1992), Những vấn đề cơ bản của tâm lý học sư phạm đại học và lý luận dạy học đại học, Đại học SP Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của tâm lý học sư phạm đại học và lý luận dạy học đại học
Tác giả: Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương
Nhà XB: Đại học SP Việt Bắc
Năm: 1992
18. Đặng Bá Lãm (2005), Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước về giáo dục lý luận và thực tiễn
Tác giả: Đặng Bá Lãm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2005
19. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2004), Những quan điểm giáo dục hiện đại. ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quan điểm giáo dục hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Năm: 2004
21. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập (Tập 4,6,7,12),. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (Tập 4,6,7,12)
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
22. Hà Thế Ngữ (1987), Quá trình sư phạm, bản chất, cấu trúc, tính quy luật, Trường CBQLGD TW2, TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình sư phạm, bản chất, cấu trúc, tính quy luật
Tác giả: Hà Thế Ngữ
Năm: 1987
23. Nguyễn Ngọc Quang (1998), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường bồi dưỡng cán bộ quản lý TWI, Hà Nội.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Nhà XB: Trường bồi dưỡng cán bộ quản lý TWI
Năm: 1998
24. Asanaxep.A.G (1997), Con người trong quản lý xã hội, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con người trong quản lý xã hội
Tác giả: Asanaxep.A.G
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1997
25. Các Mác, ăngghen, Lênin, Xtalin (1978), Về Giáo dục, Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về Giáo dục
Tác giả: Các Mác, ăngghen, Lênin, Xtalin
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1978
26. Các Mác. Tư bản (1960), Quyển I, tập 2, Nxb sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyển I, tập 2
Tác giả: Các Mác. Tư bản
Nhà XB: Nxb sự thật
Năm: 1960
27. Harold. Koontz (1992), Những vấn đề cốt yếu của quản lý, Nxb KHKT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Tác giả: Harold Koontz
Nhà XB: Nxb KHKT
Năm: 1992
28. Mác- ăngghen toàn tập (1993), Toàn tập (Tập 27,46), Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập (Tập 27,46)
Tác giả: Mác- ăngghen toàn tập
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia. Hà Nội
Năm: 1993
29. M.I.Kônzacovi (1994), Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục, Trường bồi dưỡng cán bộ quản lý GD-ĐT TW I và Viện khoa học GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục
Tác giả: M.I.Kônzacovi
Năm: 1994

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề theo ILO. - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề theo ILO (Trang 29)
Hình 1: Quá trình đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo. - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Hình 1 Quá trình đào tạo và các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo (Trang 35)
Hình 2 : Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng trong trường dạy nghề. - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Hình 2 Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng trong trường dạy nghề (Trang 36)
Hình 3: Chu trình quản lý đào tạo nghề - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Hình 3 Chu trình quản lý đào tạo nghề (Trang 38)
Bảng 3: Kết quả khảo sát đánh giá thực trạng về công tác quản lý mục  tiêu, nội dung chương trình đào tạo - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 3 Kết quả khảo sát đánh giá thực trạng về công tác quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo (Trang 45)
Bảng 4: Kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ GV - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 4 Kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ GV (Trang 50)
Bảng 5: Kết quả khảo sát thực trạng về cơ sở vật chất. - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 5 Kết quả khảo sát thực trạng về cơ sở vật chất (Trang 53)
Bảng 6 . Kết quả tuyển sinh 4 năm gần đây (nguồn phòng TS&GTVL) - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 6 Kết quả tuyển sinh 4 năm gần đây (nguồn phòng TS&GTVL) (Trang 54)
Bảng 9. Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ và hiệu quả công tác  liên kết đào tạo giữa trường và các địa phương - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 9. Kết quả khảo sát thực trạng về mức độ và hiệu quả công tác liên kết đào tạo giữa trường và các địa phương (Trang 61)
Bảng 11: Kết quả tổng hợp khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của  các biện pháp (Đối với Cán bộ giáo viên) - quản lý liên kết đào tạo nghề giữa trường cao đẳng nghề cơ điện - luyện kim thái nguyên với các tỉnh miền núi phía bắc
Bảng 11 Kết quả tổng hợp khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp (Đối với Cán bộ giáo viên) (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w