Những năm qua, Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo, quan tâm đến công tác quản lý học tập của sinh viên, coi việc nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ thường xuyên của cả
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
VŨ NGỌC KHUÊ
QUẢN LÝ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRONG GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
- -
VŨ NGỌC KHUÊ
QUẢN LÝ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRONG GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS: Đặng Thành Hưng
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành tác giả bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, khoa Tâm lý - Giáo dục, khoa Quản lý giáo dục trường Đại học sư phạm Thái nguyên và các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy, hướng dẫn tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các đồng chí cán bộ quản
lý, các thầy cô giáo và các em học sinh, sinh viên trường CĐXD Công trình
Đô thị đã tận tình cung cấp thông tin và tham gia ý kiến giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc tới PGS-Tiến sỹ Đặng Thành Hưng, người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, động viên tác giả hoàn thành bản luận văn khoa học này Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và phạm vi nghiên cứu
có hạn và bản thân còn những hạn chế nhất định trong quản lý và quản lý hoạt động học tập, nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được các ý kiến phê bình, đóng góp của Hội đồng chấm luận văn, các thầy cô giáo
và đồng nghiệp để nội dung nghiên cứu của đề tài hoàn thiện hơn
Thái Nguyên, tháng năm 2011
Vũ Ngọc Khuê
Trang 4NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam đang đứng trước nhiều vận hội và thách thức mới khi trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO Điều đó đòi hỏi cấp bách về đổi mới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị của chúng ta Giáo dục và đào tạo không nằm ngoài những đòi hỏi đó mà nó còn được đặt lên một trong những ưu tiên hàng đầu trong công cuộc đổi mới đất nước Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII đã quyết định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và nhấn mạnh “Thực sự coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nhận thức sâu sắc giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển Đại hội IX và các kì Đại hội X và XI của Đảng chỉ rõ nhiệm vụ trong những năm đầu của thế kỷ 21 là cần phải nâng cao đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng đến năm
2020 nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Cùng với công cuộc đổi mới đất nước, những năm qua sự nghiệp giáo dục và đào tạo Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề bất cập phải kể đến đó là: chất lượng đào tạo còn thấp, tiêu cực và bệnh thành tích trở nên phổ biến trong các cơ sở giáo dục, công tác quản lý nhà trường, đặc biệt là quản lý quá trình dạy và học vẫn còn nhiều bất cập, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được đòi hỏi của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu của thực tiễn Vì vậy việc đổi mới nội dung, phương pháp trong quản lý, trong quá trình giảng dạy và học tập là nhu cầu tất yếu đòi hỏi các cấp, các ngành, các
cơ sở giáo dục và đào tạo phải hết sức quan tâm nhằm phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của người quản lý, người dạy và người học
Để hiện đại hóa nền kinh tế, trước mắt phải tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện trong phát triển giáo dục theo 7 nhóm giải pháp lớn được đề ra trong
Trang 6“Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010.” Trong đó, đổi mới chương trình giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo là các giải pháp trọng tâm, đổi mới quản
lý giáo dục là khâu đột phá Đứng trước những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao
về nguồn nhân lực, vấn đề đào tạo công nhân lành nghề đáp ứng nhu cầu của
xã hội đang trở thành vấn đề quan trọng và cấp bách của các cơ sở đào tạo nghề Nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là: “Đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển Cải thiện rõ rệt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” Mục tiêu phát triển giáo dục nghề nghiệp trong Chiến lược phát triển Giáo dục 2001-2010 đã chỉ rõ:
“Đặc biệt quan tâm nâng cao chất lượng dạy nghề gắn với nâng cao ý thức kỷ luật lao động và tác phong lao động hiện đại Gắn đào tạo với nhu cầu sử dụng, gắn việc làm trong các khu công nghiệp, khu chế xuất”, “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo sự chuyển biến cơ bản toàn diện về giáo dục, trong
đó ưu tiên nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực”
Tại Nghị quyết số 37/2004/QH 11 khoá XI kỳ họp thứ 6 của Quốc hội
về giáo dục đào tạo cũng đã chỉ rõ: “Chất lượng giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, hiệu quả giáo dục còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất nước, công tác quản lý giáo dục còn nhiều hạn chế ’’
Trường Cao đẳng xây dựng công trình đô thị trực thuộc Bộ xây dựng là
cơ sở đào tạo cán bộ có trình độ cao đẳng và các bậc học thấp hơn theo cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân thuộc lĩnh vực Xây dựng công trình đô thị 35 năm qua, Trường đã đóng góp đáng kể nguồn nhân lực đã qua đào tạo cho Ngành Xây dựng, đáp ứng phần nào nhu cầu lao động trong nước và quốc
tế đặc biệt là lực lượng lao động trong lĩnh vực xây dựng công trình đô thị, bước đầu khẳng định uy tín và vị thế của Nhà trường trong hệ thống giáo dục
Trang 7quốc dân Những năm qua, Nhà trường luôn quan tâm đến chất lượng đào tạo, quan tâm đến công tác quản lý học tập của sinh viên, coi việc nâng cao chất lượng đào tạo là nhiệm vụ thường xuyên của cả bộ máy và coi việc quản lý học tập của sinh viên là một trong những nội dung của công tác giáo dục trong nhà trường, nó quyết định sự tồn tại và phát triển bền vững của Nhà trường
Tuy nhiên chất lượng và hiệu quả thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Trường và đòi hỏi xã hội đặt ra Có nhiều nguyên nhân và
lý do khác nhau ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và quản lý trong đó cần phải
kể đến một nguyên nhân rất quan trọng đó là công tác quản lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp còn rất nhiều bất cập Vì vậy, cần phải có cái nhìn khách quan, khoa học trong việc đánh giá thực trạng, tìm ra biện pháp quản lý học tập của sinh viên hiệu quả hơn ở Trường cao đẳng xây dựng công trình đô thị
Trong thời gian qua chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu về các biện pháp quản lý học tập nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý học tập của sinh viên và chất lượng giáo dục - đào tạo của Nhà trường Xuất phát từ
bối cảnh lí luận và thực tế trên, tôi chọn và tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản
lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp ở Trường cao đẳng Xây dựng công trình đô thị” để thực hiện luận văn thạc sĩ Quản lí giáo dục
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng các biện pháp quản lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp
ở Trường cao đẳng xây dựng công trình đô thị góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường
3 Khách thể và Đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lí học sinh-sinh viên trong quá trình đào tạo ở Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình Đô thị
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lí học tập của sinh viên trong giờ lên lớp ở Trường Cao đẳng Xây dựng Công trình Đô thị
Trang 84 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xác định cơ sở lý luận của quản lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp ở trường cao đẳng
4.2 Đánh giá thực trạng quản lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp ở Trường CĐXD công trình đô thị
4.3 Đề xuất các biện pháp quản lý học tập của sinh viên trong giờ lên lớp ở Trường CĐXD công trình đô thị
4.4 Đánh giá các biện pháp quản lí học tập bằng phương pháp chuyên gia
5 Giả thuyết khoa học
Nếu các biện pháp quản lý học tập trong giờ lên lớp kết hợp được các nhiệm vụ quản lý thuộc các cấp trong Trường, đặc biệt là tác động đến hoạt động của giảng viên và sinh viên trong dạy học trên lớp thì việc quản lý học tập sẽ có tác dụng nâng cao kết quả học tập của sinh viên và chất lượng đào tạo của trường
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp tổng quan lịch sử-logic
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu khoa học
- Phương pháp so sánh để tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế
- Phương pháp khái quát hóa để xác định hệ thống khái niệm
6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra để đánh giá thực trạng quản lý học tập ở Trường cao đẳng xây dựng công trình đô thị
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm quản lí
- Phương pháp phân tích hồ sơ quản lí
- Phương pháp quan sát học tập và quản lí học tập
6.3 Các phương pháp khác
- Phương pháp chuyên gia (lấy ý kiến về kết quả nghiên cứu)
- Phương pháp xử lí số liệu và đánh giá bằng toán thống kê
Trang 97 Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
- Nghiên cứu lí thuyết bao quát một số vấn đề lí luận của quản lí đào tạo thuộc hệ cao đẳng
- Nghiên cứu thực trạng tập trung vào quá trình đào tạo và quản lí học tập trong giờ lên lớp ở Trường CĐXD công trình đô thị, Bộ Xây dựng
- Các biện pháp quản lí học tập giới hạn ở cấp trường và các cấp quản lí trong trường, từ giảng viên cho đến các Khoa, Ban, Phòng hữu quan cho đến Ban giám hiệu
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN
TRONG GIỜ LÊN LỚP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1 KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.1.1 Ở nước ngoài
Thời cổ Hy Lạp đã áp dụng quản lý tập trung và dân chủ Khái niệm kiểm tra và trách nhiệm đã có vào khoảng năm 1750 trước công nguyên Ở Phương Đông cổ đại, nhất là Trung Hoa đã có những đóng góp đáng kể vào
sự hình thành các tư tưởng quản lý mà cho đến nay các tư tưởng đó vẫn còn mang đậm nét trong phong cách quản lý của nhiều nước Châu Á
Từ cuối thế kỷ XIV, khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện, hoạt động dạy học
và quản lý hoạt động dạy học đã được nhiều nhà giáo dục thực sự quan tâm
Từ thời cổ đại, nhất là ở Trung Hoa và Ấn Độ đã sớm xuất hiện tư tưởng về
quản lý Khổng Tử (551- 479 TCN) xem hành động dạy học chính là quản lí
vì nó nhằm tạo ra người quân tử, ông là một nhà giáo dục đã tổng kết được rất
nhiều kinh nghiệm trong phương pháp dạy học là “Dùng cách gợi mở, đi từ
gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ, phải luyện tập, phải hình thành nề nếp thói quen trong học tập”
[12, tr 15] Trong các học thuyết về quản lý ở phương Đông cổ đại Khổng Tử,
Mạnh Tử và một số người khác chủ trương dùng “Đức trị” để cai trị dân Hoặc
Hàn phi Tử và một số người khác lại chủ trương dùng “Pháp trị” để trị dân
Ở Phương Tây, nhà triết học Xôcrat cho rằng:“Những người nào biết
cách sử dụng con người thì sẽ điều khiển được công việc, hoặc cá nhân hay tập thể một cách sáng suốt Những người không biết làm như vậy sẽ mắc sai lầm trong công việc” Tư tưởng quản lý con người và những yêu cầu về
người đứng đầu cai trị dân được thể hiện trong quan điểm của Platon (427 –
347 TCN) Theo ông muốn trị nước thì phải biết đoàn kết dân lại, phải vì dân
Trang 11Người đứng đầu phải hiểu biết, thành thật, tự chủ, biết điều độ ít tham vọng về
vật chất, đặc biệt phải được đào tạo kỹ lưỡng
Từ cuối thế kỷ XIV, khi chủ nghĩa tư bản xuất hiện vấn đề về dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà giáo dục quan tâm nổi bật nhất là Cômenxki ( 1592 -1670 ) - ông tổ của nền giáo dục cận đại, theo ông nghề thầy giáo là nghề
rất vinh dự “Dưới ánh mặt trời không có nghề nghiệp nào cao quí hơn” [12, tr
70] Ông đã đặt cơ sở lý luận cho một nền dân chủ giáo dục tiến bộ sau này và cho đến nay hệ thống lý luận đó vẫn còn giá trị tích cực, tiến bộ đối với sự
nghiệp giáo dục đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ trong xã hội văn minh hiện đại
Vào cuối thế kỷ XVII có những nhà nghiên cứu về quản lý tiêu biểu như Rober Owen (1771- 1858), F.Tay Lo (1856 – 1915) người được coi là “Cha đẻ của
Thuyết quản lý khoa học ” Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX xuất hiện hàng loạt
công trình với nhiều cách tiếp cận khác nhau về quản lý: tính khoa học và nghệ thuật của quản lý, những động cơ để thúc đẩy một tổ chức phát triển Trong lĩnh
vực giáo dục, khoa học giáo dục đã thực sự biến đổi về lượng và về chất
Có rất nhiều công trình nghiên cứu nền tảng và ứng dụng ở nước ngoài, nhất là ở các nước phát triển về quản lí giáo dục và quản lí trường học Những nghiên cứu nền tảng giúp hình thành các lí thuyết quản lí và các cách tiếp cận cơ bản trong quản lí giáo dục như quản lí theo mục tiêu, quản lí chất lượng tổng thể (TQM), quản lí dựa vào trường học (SBM), phương pháp lập kế hoạch chiến lược trong giáo dục, phong cách quản lí và quản lí theo tình huống, quản lí dựa vào kết quả, phát triển văn hóa nhà trường, xây dựng và quản lí thương hiệu trường học, quản lí nhân sự giáo dục, quản lí hệ thống trong phát triển giáo dục, thông tin và nguồn lực thông tin quản lí, thống kê giáo dục v.v…
Những nghiên cứu ứng dụng thì vô cùng phong phú, không thể kể hết được Song những hướng đi và hệ thống vấn đề cơ bản hiện nay là các kĩ thuật và mô hình quản lí cụ thể đối với những sự vật và đối tượng cụ thể trong giáo dục và nhà trường Chẳng hạn, ở Mĩ, Anh, Australia, Canada, Hàn Quốc… người ta bàn đến những chiến lược quản lí lớp học, quản lí hành vi
Trang 12người học, quản lí văn bằng và hồ sơ học tập, quản lí hệ thống đánh giá kết quả học tập, quản lí cơ sở vật chất và tài chính trường học, quản lí chương trình giáo dục, quản lí môi trường học tập và học liệu v.v…
Quản lí giảng dạy và quản lí học tập được xem như một nhiệm vụ của quản lí chương trình, tức là quản lí hoạt động giáo dục do thầy và trò thực hiện đồng thời cũng là các chủ thể tham gia quản lí Việc thiết kế các chiến lược dạy học trực tiếp mặc dù là vấn đề sư phạm, chẳng hạn như tổ chức học hợp tác, học tập theo dự án, thảo luận và học theo hợp đồng, học độc lập qua mạng truyền thông đa phương tiện… nhưng rõ ràng cũng mang tính chất quản
lí vi mô Có nghĩa là quản lí ngay tại lớp, tại trường, hay còn gọi là quản lí bên trong trường
Những nghiên cứu ở nước ngoài về quản lí học tập thường gắn liền với các chiến lược, cách tiếp cận và mô hình dạy học Chính ở đây là chỗ gặp gỡ trực tiếp của khoa học quản lí giáo dục với khoa học giáo dục Các thành tựu nghiên cứu cho đến nay hết sức phong phú và ngày càng ảnh hưởng mạnh đến nghiên cứu và quản lí giáo dục ở nước ta
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam đã có nhiều quan điểm về những vấn đề lí luận cơ bản của quản lí giáo dục, quản lí trường học và quản lí dạy học được phân tích và lí giải trong các công trình của Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Văn
Hộ, Phạm Minh Hạc, Đặng Thành Hưng, Đặng Quốc Bảo, Trần Quốc Thành, Nguyễn Sinh Huy, Nguyễn Gia Quý, Hà Sĩ Hồ, Nguyễn Văn Lê, Trần Kiểm, Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,
Phan Văn Kha Trong đó ít nhiều đều đề cập vấn đề quản lí đào tạo, quản lí dạy học và quản lí các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường
Nhiều công trình nghiên cứu cụ thể trong khuôn khổ các đề tài, các tạp chí khoa học, các luận án và luận văn thời gian qua đã dành sự quan tâm cho rất nhiều vấn đề cụ thể của quản lí giáo dục ở các cấp và ngành học khác nhau,
từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học Một số bài báo gần đây trực tiếp
Trang 13bàn về những vấn đề bản chất của quản lớ giỏo dục (Đặng Thành Hưng Bản chất của quản lớ giỏo dục, Tạp chớ Khoa học giỏo dục số 60/9/2010; Đặc điểm quản lớ giỏo dục và quản lớ trường học trong bối cảnh hiện đại hoỏ và hội nhập quốc tế Tạp chớ Quản lớ giỏo dục, số 17 thỏng 10/2010; Vũ Thị Sơn Mụi trường học tập trong lớp, Tạp chớ Giỏo dục, 2/2005)
Ở phớa Nam, nghiờn cứu về thực tiễn quản lý cỏc mặt hoạt động dạy học cú cỏc luận văn thạc sĩ:
- Thực trạng về cụng tỏc quản lý việc dạy và học ở trường Tiểu học của một số phũng Giỏo dục và Đào tạo quận (huyện) tại thành phố Hồ Chớ Minh (Huỳnh Thị Kim Trang, 2008)
- Thực trạng và giải phỏp để nõng cao hiệu quả quản lý của HT cỏc trường THPT Dõn lập ở tỉnh Đồng Nai (Nguyễn Mạnh Lõm, Trường THPT Lương Thế Vinh, 2009)
- Quản lý hoạt động dạy học của HT trường THPT thành phố Cà tỉnh Cà Mau thực trạng và giải phỏp (Đoàn Thị Bảy, Trường THPT Nguyễn Văn Hiền, 2008)
Mau Lê Ngọc Điệp (2005), Một số biện pháp quản lý việc kiểm tra, đánh giá HS tiểu học tại thành phố Hồ Chí Minh, Viện Chiến l-ợc và Ch-ơng trình giáo dục, Hà Nội
- Huỳnh Trọng Phúc (2006), Giải pháp cải tiến đánh giá thực hiện
nhiệm vụ của GV tr-ờng THPT ngoài công lập tại TP Hồ Chí Minh, Viện
Chiến l-ợc và Ch-ơng trình giáo dục, Hà Nội
- Lê Văn Tuấn (2004), Một số giải pháp bồi d-ỡng nghiệp vụ quản lý cho hiệu tr-ởng các tr-ờng THCS huyện Quan Hoá, Quan Sơn và M-ờng Lát
tỉnh Thanh Hoá, Viện Chiến l-ợc và Ch-ơng trình giáo dục, Hà Nội
Ở phớa Bắc cú cỏc luận văn nghiờn cứu những vấn đề liờn quan đến quản lớ học tập, quản lớ dạy học, quản lớ chuyờn mụn ở cỏc cấp học:
Trang 14- Biện phỏp quản lý hoạt động tự học của sinh viờn khoa Ngụn ngữ và Văn húa Phỏp trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nội trong giai
đoạn hiện nay (Nguyễn Thị Thanh Võn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008)
- Biện phỏp quản lý hoạt động học tập của Học sinh tại Trường THXD
Hà nội (Vũ Thỳy Võn, Trường THXD Hà Nội, 2008)
- Nguyễn Thị Bắc (2005), Một số biện pháp quản lý của hiệu tr-ởng nhằm nâng cao kết quả học tập của HS tr-ờng tiểu học huyện Yên Phong, tỉnh
Bắc Ninh, Viện Chiến l-ợc và Ch-ơng trình giáo dục, Hà Nội
- Nguyễn Văn Lõm (2007) "Quản lớ hoạt động ngoài giờ lờn lớp của HS-SV ngoại trỳ trường cao đẳng giao thụng vận tải", Viện chiến lược và chương trỡnh giỏo dục, Hà Nội
- Nguyễn Tiến Dũng (2005) "Một số biện phỏp phối hợp cỏc lực lượng giỏo dục nhằm phũng chống cỏc tệ nạn xó hội trong cỏc trường chuyờn nghiệp
ở thị xó Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh", ĐHSP Hà Nội
- Vừ Văn Khải (2006) "Cỏc biện phỏp quản lớ hoạt động tự học của sinh viờn trường CĐSP Trà Vinh", ĐHSP Hà Nội
- Trương Mạnh Tiến (2007) " Biện phỏp quản lớ hoạt động phong trào của sinh viờn trường CĐSP Hà Nam", ĐHSP Hà Nội
- Nguyễn Đức Long (2009), Tổ chức và chỉ đạo thực hiện hoạt động ngoại khúa của học sinh, sinh viờn trường cao đẳng nghề mỏ thuộc Tập đoàn cụng nghiệp than - khoỏng sản Việt Nam, Đại học Thỏi Nguyờn
- Tụ Văn Khụi (2008), Quản lý dạy học thực hành nghề (hệ trung cấp)
ở tr-ờng Cao đẳng Công nghiệp Thái Nguyên, Đại học Thỏi Nguyờn
Cỏc nghiờn cứu trờn là những nguồn tư liệu và sự kiện phong phỳ về lý luận và thực tiễn quản lớ giỏo dục và quản lớ trường học, cú ý nghĩa sõu sắc trong việc gợi mở những ý tưởng và hướng nghiờn cứu mới Tuy nhiờn vấn đề quản lớ học tập trờn lớp dự cũng được quan tõm song dường như chỉ được xem như nhiệm vụ của nhà giỏo trực tiếp đứng lớp, ớt khi được đăt ra như một vấn
Trang 15đề của quản lí trường học Trên thực tế không chỉ giáo viên trên lớp quản lí học tập, mà có cả một hệ thống quản lí trong trường
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ QUAN ĐIỂM VỀ QUẢN LÍ TRƯỜNG HỌC
1.2.1 Quản lí và quản lí giáo dục
1.2.1.1 Khái niệm và bản chất của quản lí
Quản lí là một hiện tượng có tính lịch sử, là chức năng xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người, chức năng này ngày càng phát triển theo quá trình phát triển không ngừng của xã hội Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ
sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp…, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng quản
lí Sự cần thiết của quản lý đã được K.Mark viết “Tất cả mọi lao động trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung, phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của cơ quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm riêng lẻ tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (K.Mark và Ăng ghen – Toàn tập, tập 23 trang 34 – NXB Chính
trị Quốc gia)
Về thuật ngữ “Quản lí” có nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều tác giả
trong và ngoài nước cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý Tùy theo cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa
theo nhiều cách khác nhau
Theo Taylor (người Mỹ) “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc
một cách tốt nhất và rẻ nhất” [12, 89] Theo H.Koontz (người Mỹ): “Quản lý
là một hoạt động thiết yếu nhằm bảo đảm sự phối hợp những nỗ lực của các
cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức) Mục tiêu của quản lý là
Trang 16hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của
nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12, 7]
Aonapu (Nhật) cho rằng: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học
và nghệ thuật tác động vào hệ thống mà chủ yếu là các tác động vào con
người nhằm hoàn thành mục tiêu kinh tế - xã hội xác định” [21,7] và A
Fayon (Pháp) lại giải thích: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử
dụng tốt nhất các nguồn lực của nó” [21,7]
Một số kiến giải rất quen thuộc ở Việt đã xuất hiện từ lâu trong các giáo trình, tài liệu và bài báo Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục
tiêu dự kiến” [20, 35] Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ định nghĩa “Quản lý là
một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý
mong muốn” [14, 225]
Hoặc cũng có cách giải thích khác:“Quản lý là một hoạt động thiết yếu,
nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý
là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức quản lý là khoa học” [15, 33] Nhiều nguồn tài liệu định nghĩa khái niệm quản lí đơn giản như sau: “Quản lý
là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [22, 176] và ý tưởng này được biểu đạt như trên Hình 1.1
Trang 17Các chức năng quản lí chung thường được hiểu theo nghĩa kinh điển và đôi khi được lấy để giải thích bản chất của quản lí Tuy nhiên đó cũng là ý tưởng thiếu chính xác, vì các chức năng này chưa nói lên bản chất của quản lí Không cứ gì quản lí, mà hoạt động nào của con người cũng có khâu lập kế hoạch, tổ chức nguồn lực và cách làm, chỉ đạo (định hướng), giám sát, kiểm tra, đánh giá Quan sát một người bán rau, người nấu ăn, hay một việc bất kì nào, chúng ta đều thấy ít nhiều biểu hiện của những khâu này
Thực ra, bản thân khái niệm quản lí tự nó chưa gắn với cái gì cả, chưa
có đối tượng hay chủ thể nào hết, cho nên dùng những chức năng quản lí, chủ thể, đối tượng, quá trình, hành động hay công cụ quản lí để định nghĩa khái niệm quản lí thì chưa thuyết phục Những thứ đó có sau khái niệm quản lí và
KHÁCH THỂ QUẢN LÝ
PHƯƠNG PHÁP
CÔNG CỤ
CHỦ THỂ
Trang 18chính chúng chỉ được hiểu rõ ràng khi đã có khái niệm quản lí rõ ràng rồi Tương tự như không thể dùng khái niệm bánh xe ôtô để định nghĩa khái niệm ôtô được, vì bánh xe đó chỉ rõ ràng khi khái niệm ôtô đã rõ ràng là ôtô nào Nếu làm như vậy chẳng khác nào chúng ta xác định khái niệm ôtô là cái mà bánh xe ôtô được lắp vào hoặc là cái chạy trên bánh xe ôtô…
Do vậy chúng tôi hiểu khái niệm quản lí theo nghĩa một dạng lao động
xã hội Có lẽ không nên bàn về từ ngữ và giải thích nghĩa của từ ngữ, mà cần chỉ ra bản chất quản lí, ở hình thức khái niệm (Concept of Management) Khi
đó mới tránh được tình trạng mơ hồ và khái niệm mới cụ thể được Khái niệm phải phản ánh bản chất sự vật chứ không chỉ nói về những hiện tượng có tính chất minh họa Chúng tôi sử dụng khái niệm quản lí theo nghĩa sau:
“Quản lí là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng tổ chức hoặc cùng công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ, để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của những người tham gia”[16, 6-9]
Theo cách hiểu này, bản chất của quản lí là gây ảnh hưởng chứ không trực tiếp sản xuất hay tạo ra sản phẩm, có mục tiêu và lợi ích là cái chung chứ không nhằm mục tiêu và lợi ích của riêng cá nhân nào, có tính hệ thống chứ
không phải quá trình hay hành động đơn lẻ Đó là sự vật có thực thể, cấu trúc
và chức năng phức tạp, năng động, vận hành dựa trên những nguồn lực tinh thần (lí luận, tư tưởng khoa học-công nghệ, chính trị, văn hóa, qui tắc đạo đức, v.v…) và vật chất rõ ràng (tiền vốn, hạ tầng kĩ thuật và thông tin, sức người, công cụ chính sách, bộ máy, cơ chế, thủ tục…)
1.2.1.2 Các chức năng quản lí chung
Chức năng quản lý là một thể thống nhất, những hoạt động của chủ thể nảy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu Chức năng quản lý nhằm xác định mối quan hệ giữa các cấp, các bộ phận, các khâu, trong hệ thống quản lý Mỗi hệ thống quản lý lại có
Trang 19nhiều bộ phận, nhiều khâu, nhiều cấp khác nhau và nó gắn với một chức năng nhất định Có 4 chức năng cơ bản, có quan hệ mật thiết bổ xung hỗ trợ cho nhau, đó là: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng lãnh đạo
và chức năng kiểm tra
- Lập kế hoạch
Lập kế hoạch là nhằm xác định mục tiêu, chương trình hành động và bước đi cụ thể trong một thời gian nhất định của hệ thống quản lý Mục đích của việc lập kế hoạch là hướng mọi hoạt động của hệ thống vào các mục tiêu
đã định để nhằm đạt được mục tiêu một cách có hiệu quả, đồng thời cho phép người quản lý, kiểm soát được quá trình thực hiện nhiệm vụ của đối tượng
- Tổ chức
Là quá trình sắp xếp, phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các thành viên của đơn vị, tổ chức, để họ có thể đạt được các mục tiêu của tổ chức có hiệu quả Mục tiêu khác nhau, cấu trúc tổ chức của các đơn vị cũng khác nhau, người quản lý phải biết xây dựng tổ chức sao cho phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ và nguồn lực Một cơ cấu tổ chức hợp lý phải đảm bảo nguyên tắc thống nhất, trong đó mỗi cá nhân đều góp công sức của mình vào việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chung Một tổ chức được tổ chức phù hợp
sẽ phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định chuyển hóa kế hoạch thành hiện thực
- Chỉ đạo
Là quá trình nhà quản lý dùng ảnh hưởng của mình tác động đến con người trong tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu để đạt được mục tiêu của tổ chức Vai trò của người lãnh đạo là phải chuyển được ý tưởng của mình vào nhận thức của người khác, hướng mọi người trong tổ chức về mục tiêu chung của đơn vị theo đúng kế hoạch của mục tiêu quản lý đã định
- Kiểm tra
Là chức năng quan trọng của quản lý nhằm đánh giá và xử lý kết quả đạt được của tổ chức so với mục tiêu quản lý đặt ra, quản lý mà không kiểm
Trang 20tra thì coi như không quản lý Nhờ có hoạt động kiểm tra mà người quản lý đánh giá được kết quả công việc, uốn nắn, điều chỉnh kịp thời những hạn chế
từ đó có biện pháp phù hợp điều chỉnh kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo
Quan hệ giữa các chức năng quản lí được thể hiện trên Hình 1.2
Hình 1.2 Các chức năng quản lí
1.2.1.3 Bản chất của quản lí giáo dục
Thực tế khái niệm “Quản lý giáo dục”, được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “giáo dục” Quản lý giáo dục được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là một hiện thực xã hội Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành giáo dục (Từ Bộ giáo dục - Đào tạo đến cơ sở trường học) hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp
- hướng nghiệp thì “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa hẹp là quản lý một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường,… Đã có nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của quản lí giáo dục, ví dụ:
“Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường, làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo dục theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất
Trang 21của nhà trường XHCN Việt Nam bằng cách đó đạt được mục tiêu dự kiến,
tiến lên trạng thái chất lượng mới” [15, 25]
-“Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái
mới về chất” [20, 35]
- “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học Có tổ chức được
các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [13, 9]
Đó thực chất là những quan điểm chính trị-xã hội về nhiệm vụ của quản
lí giáo dục chứ không phải là khái niệm khoa học Quản lí giáo dục cần phải làm như vậy, cần phải thực hiện những yêu cầu đó, và chắc rằng chỉ ở Việt Nam thôi, chứ ở các nước không có Đảng CSVN và nền giáo dục XHCN thì quản lí giáo dục không phải như vậy
Luận văn sử dụng khái niệm quản lí giáo dục theo nghĩa khoa học Vì quản lí được thực hiện trong và đối với những lĩnh vực khác nhau, trong đó có
giáo dục Dễ hiểu rằng quản lí giáo dục là dạng quản lí dành cho một lĩnh vực
xã hội cụ thể là giáo dục Bản chất của quản lí giáo dục cũng là quản lí chứ
không có gì khác Những cái khác ở đây là mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nguồn lực, công cụ và môi trường… và chỉ khác khi so sánh với quản lí lĩnh vực khác Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lí giáo dục như sau:
Quản lí giáo dục là dạng lao động xã hội đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển hệ thống giáo dục và các thành tố của
nó, định hướng và phối hợp lao động của những người tham gia công tác
Trang 22giáo dục để đạt được mục tiêu giáo dục và mục tiêu phát triển giáo dục, dựa trên thể chế giáo dục và các nguồn lực giáo dục.[16, 6-9]
Do giáo dục là hiện tượng luôn có định chế xã hội – chính trị nên cần phải nhấn mạnh yếu tố thể chế, tức là luật, chính sách, cơ chế, chuẩn và những qui định hành chính khác được áp dụng cho giáo dục Nếu chỉ bàn về quản lí chung chung thì yếu tố thể chế chưa rõ ràng Quản lí giáo dục gắn liền với thể chế cho nên xét tổng thể thì nó luôn là quản lí nhà nước, trừ những yếu tố đơn lẻ và cục bộ tại lớp, tại gia đình, và những gì liên quan đến học độc lập, học tập phi chính qui cũng như những hiện tượng giáo dục tự phát
Quản lí giáo dục thường được thực hiện ở 3 cấp: cấp trung ương, cấp địa phương và cấp cơ sở Cấp trung ương và cấp chính quyền địa phương tỉnh, thành phố được gọi chung là cấp cao Cấp ngành ở tỉnh, thành phố và cấp chính quyền quận huyện gọi là cấp trung, và cấp trường là cấp cơ sở Những cấp quản lí này có lẽ không đồng nhất với ý tưởng quản lí vĩ mô và quản lí vi mô Ở cấp quản lí nào cũng có cả quản lí vĩ mô lẫn quản lí vi mô Đối tượng của quản lí giáo dục vĩ mô là những yếu tố ảnh hưởng đến toàn cục, đến toàn bộ hệ thống giáo dục Đối tượng của quản lí giáo dục vi mô
là những yếu tố chỉ ảnh hưởng cục bộ, đơn lẻ Nội dung sách giáo khoa tuy
là sự vật nhỏ bé nhưng là đối tượng quản lí vĩ mô và việc quản lí nó được thực hiện ở mọi cấp Nhưng việc bổ nhiệm, tuyển dụng các hiệu trưởng trường mầm non, tiểu học… ở quận, huyện nào đó tuy là việc to tát nhưng
đó chỉ là đối tượng của quản lí vi mô, và chỉ được thực hiện cục bộ tại địa phương đó [16, 6-9]
1.2.2 Quản lí trường học
1.2.2.1 Bản chất của quản lí trường học
Khái niệm quản lí trường học cũng có thể được giải thích bằng nhiều cách, ví dụ:
- “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý
Trang 23giáo dục để tiến tới mục tiêu hóa giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và đối với từng học sinh.” [Phạm Minh Hạc, 13,tr 24,25]
- “Quản lý nhà trường được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức,
có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp qui luật) của chủ thể quản lý đối với tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [Trần Kiểm, 18 tr 36,37]
Chúng tôi tán thành và sử dụng những quan điểm của Đặng Thành Hưng [16, tr 6-9] về quản lí trường học Theo ông, trường học là đơn vị cơ sở của tổ chức và hệ thống giáo dục, đồng thời là một dạng của tổ chức trong xã hội Vì vậy có thể hiểu quản lí trường học theo hai nghĩa cơ bản sau:
1 Đó là quản lí giáo dục tại cơ sở
2 Đó là quản lí một loại tổ chức trong xã hội, và cụ thể ở đây là tổ chức giáo dục
Luận văn chỉ quan tâm đến ý thứ nhất Theo nghĩa này, quản lí trường học lại có hai khía cạnh khác nhau nhưng thống nhất với nhau mật thiết đến mức đôi khi khó phân biệt Khía cạnh thứ nhất liên quan đến các cấp quản lí chính quyền và chuyên môn thuộc các cấp trên của trường Mỗi trường học thực chất vẫn do các cấp nhà nước từ địa phương đến trung ương quản lí Thủ tướng, bộ trưởng, chủ tịch tỉnh, thành phố, chủ tịch huyện, quận, xã, phường đều là những chủ thể quản lí trường học Khi đó quản lí trường học do các cấp trên trường thực hiện Và đó là lí do ra đời mô hình quản lí dựa vào trường học (School-based management) Khi nói quản lí dựa vào trường học chính là bàn đến quản lí của các cấp trên trường, chứ không phải bàn về chuyện quản
lí nội bộ hay tự quản ở trường
Nhưng trường học còn được quản lí bởi bộ máy bên trong trường do hiệu trưởng đứng đầu Đó là quản lí trường học tại cấp trường, hay quản lí bên trong trường Thông thường quản lí trường học chỉ được hiểu theo nghĩa này, mà khía cạnh thứ nhất hay bị lãng quên Trên thực tế, quản lí trường học
Trang 24tại cấp trường vừa có tính chủ động, độc lập tương đối tùy theo cơ chế phân cấp cụ thể, song chính nó vẫn chịu sự chi phối và tác động quản lí của các cấp trên trường Cả bộ máy quản lí cấp trường hoàn toàn do các cấp trên trường
bổ nhiệm hoặc bãi miễn
Vì vậy có thể định nghĩa khái niệm quản lí trường học như sau: quản lí
trường học là quản lí giáo dục tại cấp cơ sở trong đó chủ thể quản lí là các
cấp chinh quyền và chuyên môn trên trường, các nhà quản lí trong trường do hiệu trưởng đứng đầu, đối tượng quản lí chính là nhà trường như một tổ chức chuyên môn-nghiệp vụ, nguồn lực quản lí là con người, cơ sở vật chất-kĩ thuật, tài chính, đầu tư khoa học-công nghệ và thông tin bên trong trường và được huy động từ bên ngoài trường dựa vào luật, chính sách, cơ chế và chuẩn hiện có[16, tr9]
1.2.2.2 Nội dung và nhiệm vụ của quản lí trường học
Quản lí giáo dục và quản lí trường học về bản chất là một Quản lí giáo dục thực chất chỉ có giá trị khi đến được trường học, cho dù nói về cấp quản lí nào Quá trình giáo dục thực sự chỉ diễn ra ở trường, các hoạt động giáo dục theo chương trình giáo dục chỉ diễn ra ở trường, chứ không phải ở bộ, tỉnh, huyện… Quản lí giáo dục là quản lí hệ thống các trường học nằm trong phạm
vi quyền hạn của cấp quản lí nhất định Đồng thời quản lí trường học chính là quản lí giáo dục diễn ra tại cấp cơ sở Cho nên nội dung quản lí giáo dục nói chung và nội dung quản lí trường học đều như nhau, chỉ khác nhau về qui mô
mà thôi, bao gồm:
1 Quản lí tài chính giáo dục
2 Quản lí cơ sở vật chất, hạ tầng kĩ thuật (tài sản vật chất)
3 Quản lí nhân sự (cán bộ, công chức, nhân viên, giáo viên, học sinh tài nguyên con người)
-4 Quản lí chuyên môn (chương trình, hoạt động giảng dạy, hoạt động học tập, phát triển nguồn nhân lực giảng dạy và quản lí, các hoạt động nghiên cứu và phát triển khác)
Trang 255 Quản lí môi trường (tự nhiên và văn hóa)
6 Quản lí các quan hệ giáo dục của ngành giáo dục với các thiết chế xã hội khác (Đoàn, Đội, Công đoàn, các hội nghề nghiệp, các hội chính trị-xã hội, gia đình học sinh, cộng đồng dân cư)
Trong mỗi nội dung quản lí này đều luôn có 2 mặt gắn liền với nhau là quản lí hành chính sự vụ (Administration) và quản lí chất lượng (Quality Management) Những công việc, nhiệm vụ chung của quản lí trường học tại cấp trường bao gồm:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên và tập thể HSSV thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình công tác của nhà trường Giáo dục HSSV phấn đấu, học tập tu dưỡng trở thành những công dân tốt
- Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình của BGDĐT làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp giáo dục luôn được cải tiến, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao Biện pháp quản lý là theo dõi sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp thời, thanh tra để uốn nắn những lệch lạc, thiếu sót , Quản lý tốt việc học tập của HSSV theo quy chế của Bộ GD&ĐT Quản lý HSSV bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp học tập
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của nhà trường nhằm phục
vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HSSV Quản lý tốt cơ sở vật chất nhà trường không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt khả năng cho dạy học và giáo dục, đồng thời phải làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và có giá trị
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục Đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học
Trang 26- Quản lý nhà trường cũng có nghĩa là chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên Cần tạo một phong trào thi đua phấn đấu liên tục trong nhà trường
- Quản lí mối quan hệ Nhà trường – Gia đình – Xã hội
Người đứng đầu một nhà trường có chức danh “Hiệu trưởng” Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm lãnh đạo con người, bộ máy của trường và quản lý các hoạt động của nhà trường do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm và công nhận
1.3 QUẢN LÍ HỌC TẬP TRONG NHÀ TRƯỜNG VÀ QUẢN LÍ HỌC TẬP TRÊN LỚP
1.3.1 Quản lí học tập trong nhà trường
Học tập là nhiệm vụ của người học, bộ phận cấu thành quá trình dạy học và hệ thống các hoạt động giáo dục trong nhà trường Vì vậy, quản lí học tập chính là một nhiệm vụ cụ thể trong quản lí dạy học, quản lí chuyên môn
và quản lí đào tạo nói chung trong nhà trường Quản lý đào tạo trong nhà trường thường bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Quản lý các công việc tuyển sinh
- Quản lý thực hiện mục tiêu, chương trình giáo dục
- Quản lý hoạt động giảng dạy, giáo dục của giáo viên và hoạt động học tập, rèn luyện của HSSV
- Quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
- Quản lý một số hoạt động đào tạo ngoài lớp, ngoài nhà trường
- Quản lí các hoạt động có liên quan đến đào tạo của các tổ chức sư phạm trong nhà trường
Trong luận văn sử dụng khái niệm quản lí học tập theo nghĩa sau: quản
lí học tập là một trong những nhiệm vụ của quản lí đào tạo, quản lí chuyên môn trong nhà trường, trực tiếp liên quan đến quá trình học tập và người học, trong khuôn khổ tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi cho người học
Trang 27thực hiện thành công nhiệm vụ học tập của họ theo qui định của chương trình đào tạo nhất định
Chỉ trên khía cạnh chuyên môn thì quản lí học tập được phân biệt với quản lí học sinh-sinh viên (người học) bởi vì quản lí con người lại thuộc lĩnh vực quản lí nhân sự Trên thực tế những nhiệm vụ này luôn gắn liền với nhau nhưng về lí thuyết thì chúng không đồng nhất Thực chất quản lý học tập của sinh viên là hệ thống những tác động có ý thức của chủ thể quản lý trong nhà trường đến quá trình nhận thức của sinh viên Quản lý tốt học tập của sinh viên sẽ nâng cao hiệu quả học tập ở sinh viên Quản lý học tập của SV là quản
lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập SV có những đặc điểm tâm lý, phong tục, tập quán khác nhau, trong quá trình rèn luyện, học tập, cũng như kết quả đạt được cũng khác nhau
Do đó, nội dung quản lí học tập bao gồm:
1 Quản lí hành vi học tập và hành vi khác của người học có liên quan hoặc thể hiện trong học tập (ví dụ hành vi quan hệ bạn bè trong học tập)
2 Quản lí thời gian và các nguồn lực học tập khác (ví dụ học liệu, phương tiện, công cụ, điều kiện học tập)
3 Quản lí nề nếp, tác phong và việc chấp hành kỉ luật, nội qui học tập
4 Quản lí các hồ sơ học tập của học sinh-sinh viên
2 Giáo viên, giảng viên quản lí học tập
3 Nhà trường quản lí học tập thông qua các vai trò khác nhau của Khoa, Ban, Phòng trực thuộc và Tổ, Bộ môn hay Khối chuyên môn cũng như qua giáo viên, giảng viên
Trang 28Sự tham gia quản lí học tập của Đoàn, Hội sinh viên v.v… không tạo thành cấp quản lí mà chỉ là sự hỗ trợ phù hợp theo các cấp quản lí Việc học diễn ra cả trong lớp lẫn ngoài lớp cho nên quản lí học tập cũng được hiểu là công tác bao hàm cả hai môi trường học tập này Tuy nhiên luận văn này chỉ đặt ra vấn đề quản lí học tập trên lớp, mặc dù xét về nội dung quản lí thì nó cũng đầy đủ 5 mảng như quản lí học tập, song giới hạn ở trên lớp Nhưng cho
dù chỉ quản lí học tập trên lớp thì chủ thể quản lí vẫn là tất cả các nhà quản lí
và bộ máy quản lí trong trường, trong số đó có giáo viên và sinh viên
1.3.2 Quản lí học tập trong giờ lên lớp
1.3.2.1 Học tập trên lớp và giờ lên lớp
Học tập trên lớp
Học tập trên lớp là hình thức tiến hành nhiệm vụ học tập theo chế độ truyền thống được qui định bởi không gian (phòng học), thời gian (tiết, giờ, đơn vị học trình), nội dung (bài, chuyên đề, học phần) và phương thức chỉ dạo, tổ chức của người dạy (trực tiếp hoặc gián tiếp) Khái niệm lớp hiện nay không chỉ giới hạn ở lớp học truyền thống, mà gồm bất cứ chỗ học nào thỏa mãn những tiêu chí nói trên
Tuy có nhiều cách hiểu khác nhau về học tập trên lớp, nhưng trong luận văn xem xét việc học tập trên lớp với những đặc trưng sau:
- Tiến trình học tập có hệ thống và tuân theo kế hoạch, bài bản của môn học, ngành học Ví dụ sinh hoạt Đoàn tuy ở trong lớp nhưng không phải là học tập trên lớp
- Diễn ra trong không gian và môi trường có những điều kiện thích hợp cho việc học tập Ví dụ, trong giờ học Toán có thể đọc sách văn hay tiểu thuyết Đó cũng là học tập, nhưng không phải khái niệm học tập trên lớp
Giờ lên lớp
Giờ lên lớp là đơn vị quản lí học tập trên lớp, trong đó diễn ra quá trình học tập trên lớp tại không gian và thời gian xác định (lớp học) Giờ lên lớp có thể được phân bổ trong một hoặc một số tiết học, thời gian của mỗi tiết học
Trang 29được thay đổi từ ít tới nhiều tương ứng từ lớp dưới lên lớp trên Các tiết học được sắp xếp theo một trình tự lôgic phù hợp với khả năng tiếp thu về thể lực
và nhận thức cũng như sự thích ứng sinh học của học sinh được gọi là thời khóa biểu
Giờ lên lớp là không gian và thời gian diễn ra hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh để thực hiện mục tiêu bài học, giáo viên hướng dẫn điều chỉnh hoạt động nhận thức của học sinh, còn học sinh thì tự giác, tích cực hoạt động để tìm được những tri thức mới hình thành kỹ năng hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, luyện tập, vận dụng, ghi nhớ và tái hiện những thông tin đã lĩnh hội
Trong bài báo “Thiết kế bài học nhằm tích cực hóa học tập”, Đặng Thành Hưng đặt ra vấn đề thiết kế môi trường học tập đã xác định: “Giờ lên lớp là môi trường truyền thống và quen thuộc, trong đó có nhóm, tổ, môi trường thực hành qui định cách bố trí bàn ghế, bảng, máy tính theo các sơ
đồ khác nhau”
1.3.2.2 Khái niệm, nội dung và nhiệm vụ quản lí học tập trên lớp
Trong trường đại học, cao đẳng quản lý học tập trên lớp là bộ phận của
quản lí chuyên môn (tức là quản lí chương trình giáo dục) và của quản lí học tập nói chung, nhằm giúp sinh viên thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, rèn luyện thông qua hệ thống những tác động quản lí và tác động sư phạm của tập thể sinh viên, giảng viên, các cấp quản lí và các tổ chức xã hội có trách nhiệm trong trường
Do học tập trên lớp cũng mang đầy đủ giá trị và cũng bao hàm tất cả những nhiệm vụ của học tập nói chung nên nội dung quản lí học tập trên lớp cũng chính là nội dung quản lí học tập Chỉ có điểm khác nhau ở chỗ địa điểm học tập diễn ra trong điều kiện tổ chức bài - lớp và việc quản lí tập trung vào những điều kiện học trên lớp Cụ thể là:
Trang 301 Quản lí hành vi học tập và hành vi khác của người học có liên quan hoặc thể hiện khi học tập trên lớp (ví dụ hành vi quan hệ bạn bè khi học tập trên lớp)
2 Quản lí thời gian và các nguồn lực học tập khác trên lớp (ví dụ học liệu, phương tiện, công cụ, điều kiện học tập trên lớp)
3 Quản lí nề nếp, tác phong và việc chấp hành kỉ luật, nội qui học tập trên lớp
4 Quản lí các hồ sơ học tập của học sinh-sinh viên trên lớp
5 Quản lí kết quả học tập thu được khi đánh giá trên lớp
Toàn bộ nội dung quản lí học tập trên lớp cũng vẫn được thực hiện ở 3 cấp cơ bản là:
1 Người học tự quản lí trên lớp (cá nhân tự quản lí học tập của mình và nhóm người học quản lí lẫn nhau)
2 Giáo viên, giảng viên quản lí học tập
3 Nhà trường quản lí học tập thông qua các vai trò khác nhau của Khoa, Ban, Phòng trực thuộc và Tổ, Bộ môn hay Khối chuyên môn cũng như qua giáo viên, giảng viên
Quản lý học tập trên lớp thường bao gồm những nhiệm vụ sau:
1 Xây dựng nhận thức về ý nghĩa của học tập trên lớp cho sinh viên Căn cứ vào thực tế của từng trường để giải quyết những vấn đề cụ thể riêng, những yêu cầu phổ biến cần chú ý là từng bước xây dựng nhận thức học tập cho sinh viên từ thấp đến cao, từ gần đến xa Những yêu cầu về giáo dục tinh thần thái độ học tập cho sinh viên được cụ thể hóa trong nội quy học tập (Những quy định về bài học, bài làm, bài kiểm tra) để sinh viên rèn luyện thường xuyên thành những thói quen tự giác và phải có sự thống nhất yêu cầu, biện pháp giáo dục tinh thần, thái độ học tập trong tất cả các sinh viên và giáo viên từ các giờ lên lớp đến các hoạt động khác
Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn kể cả Hiệu trưởng cần phối hợp chặt chẽ thống nhất sự giáo dục Xây dựng và thực hiện những nề nếp
Trang 31học tập, truyền thống học tập của nhà trường, để ra những quy định thống nhất về hoạt động học tập của sinh viên căn cứ xây dựng nền nếp, tác phong học tập tốt cho sinh viên, ngăn ngừa những hành vi sai trái Vấn đề này có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả học tập và phát triển nhân cách của sinh viên
2 Chỉ đạo sinh viên đổi mới phong cách học tập và rèn luyện kĩ năng học tập cá nhân, học tập theo nhóm, học tập hợp tác và học độc lập
Giảng viên và nhà trường nói chung không chỉ thực hiện trách nhiệm giảng dạy, giữ gìn kỉ luật học tập, mà quan trọng hơn là quản lí học tập sao cho hỗ trợ và khuyến khích sinh viên nỗ lực đổi mới việc học của mình Trước hết quản lí học tập phải làm sao tác động đến thái độ học tập, giúp sinh viên hình thành và cải thiện phong cách theo hướng hiện đại, rèn luyện kĩ năng học tập theo hướng hiệu quả và linh hoạt, dần dần có phương pháp học tập khoa học I.Ia Lecne đã mô tả tương tác giữa phương pháp dạy học và phương pháp học tập như sau:
Hình 1.3 Tương tác giữa dạy và học trên lớp
(Nguồn: Thái Duy Tuyên, Những vấn đề cơ bản của giáo dục học hiện đại,NXB giáo dục 1999, tr.208)
Khi học trên lớp, sinh viên có thể học tập cá nhân, có thể học nhóm, học hợp tác theo dự án, hội thảo… hoặc học độc lập (tự lực học tập) Tất cả những nhiệm vụ học tập như vậy đều cần sự chỉ đạo, hướng dẫn và khuyến
Hoạt động của giáo viên
Hoạt động của học sinh
Mục đích
Mục đích của học sinh
Cơ chế vận động quá trình nhận thức
ở học sinh
Phương tiện của học sinh
Trang 32khích của giảng viên và nhà trường mới giúp sinh viên tiến đến học được cách học và kết quả học tập tốt
3 Theo dõi, đôn đốc sinh viên thực hiện kế hoạch và chương trình học
tập theo thời khoá biểu và quy định hiện hành về nhiệm vụ học tập trên lớp
Đó là hướng dẫn và tổ chức cho sinh viên xây dựng kế hoạch học tập, sau học kỳ và sau năm học mỗi sinh viên tự kiểm điểm, tổ lớp giáo viên chủ nhiệm đóng góp ý kiến Hoạt động học tập trên lớp cũng được kế hoạch hóa
và tổ chức trên nền tảng của kế hoạch học tập nói chung Trên cơ sở đó, hướng dẫn giúp đỡ từng sinh viên tiếp tục phấn đấu học tập rèn luyện để đạt
được mục tiêu đào tạo
4 Quản lý việc tuân thủ nề nếp học tập và việc chấp hành kỉ luật học tập trên lớp của sinh viên
Đó là quản lý thời gian và hoạt động học tập và tự học của sinh viên tại lớp, theo nhóm hoặc học cá nhân Đồng thời cũng quản lí hành vi ứng xử, giao tiếp của các em trong thời gian học tập và tự học trên lớp, tránh những giờ học hình thức hoặc bị sử dụng sai mục đích Cần theo dõi thái độ, kĩ năng học tập, kết quả học tập và các quan hệ hợp tác học tập giữa sinh viên với nhau cũng như nỗ lực cá nhân của mỗi em trong học tập
Trong quản lí nề nếp và kỉ luật, cần thực hiện mọi khâu của quản lí như lập kế hoạch, tổ chức thực hiện (chẳng hạn giao phó cho cán sự lớp), chỉ đạo, giám sát, kiểm tra và đánh giá quá trình cũng như kết quả học tập Và quan trọng hơn giảng viên còn hướng dẫn sinh viên tự mình làm được như vậy, tức
là tự quản lí nề nếp và kỉ luật học tập của mình
5 Quản lý các điều kiện đảm bảo cho việc học tập của sinh viên
Điều kiện học tập bao gồm cơ sở vật chất và những bảo đảm tinh thần được tổ chức và sử dụng trong giờ lên lớp phục vụ việc dạy và học Cơ sở vật chất cơ bản thường gồm phòng học, bàn ghế, bảng, các thiết bị kỹ thuật dùng chung như tivi, máy chiếu projector, máy tính, sách báo, tài liệu học tập, các phương tiện kĩ thuật dạy học khác như máy đo, cân, thước cặp, mô hình kĩ
Trang 33thuật, đồng hồ, camera… Trách nhiệm quản lí ở đây là tránh để mất mát, hư hỏng, xếp sai chỗ, sử dụng sai mục đích sư phạm và trái yêu cầu kĩ thuật, khai thác không an toàn, nhắc nhở, khuyến khích sinh viên tự giác ứng xử và tự quản theo những yêu cầu trên Giảng viên cũng có trách nhiệm hướng dẫn sinh viên quản lí những phương tiện học tập cá nhân của các em như laptop, giáo trình, vở ghi, bút thước, máy tính cầm tay v.v… trong quá trình học tập
Những điều kiện tình thần trên lớp càng cần phải lưu tâm quản lí và điều chỉnh kịp thời trên nguyên tắc cởi mở, thân thiện, hợp tác, giàu cảm xúc
và giá trị, có tính chia sẻ và bầu không khí hữu nghị Những điều kiện đó cụ thể là: quan hệ học tập giữa sinh viên với nhau, quan hệ sư phạm giữa sinh viên và giảng viên, tâm lí nhóm học sinh, những diễn biến bất thường ở sinh viên về sức khỏe, tâm lí, tâm trạng, bất đồng, xung đột, bè phái, lãnh đạm… Chúng phải được giám sát thường xuyên bằng quan sát và được chỉnh đốn kịp thời thì môi trường học tập mới thuận lợi
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí học tập trên lớp
1.3.3.1 Mục đích, động cơ, thái độ học tập của sinh viên
Động cơ học tập (nhu cầu, ý chí, hứng thú, tình cảm…) là nguồn gốc tạo ra trạng thái tích cực trong học tập Động cơ học tập rất phong phú và đa dạng Nó không đúng chỗ hoặc tác động yếu thì người học không tích cực học tập và dẫn đến kết quả học tập không tốt Nếu trong quá trình dạy học, thầy tổ chức cho sinh viên tự phát hiện ra những điều mới lạ, tự giải quyết những nhiệm vụ học tập, tạo ra những ấn tượng tốt đẹp đối với việc học thì dần dần làm nảy sinh nhu cầu học tập ở các em Khi học tập trở thành nhu cầu không thể thiếu được của sinh viên thì nó sẽ tạo nên sức mạnh tinh thần giúp sinh viên khắc phục khó khăn trong học tập
Rõ ràng khi động cơ học tập ở sinh viên không phù hợp thì nhiệm vụ quản lí học tập sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều, đặc biệt trên lớp Các em sẽ phân tán chú ý, lười suy nghĩ, làm việc uể oải, vi phạm kỉ luật học tập, không ghi bài, không làm bài tập đầy đủ, không chấp hành đúng nhiệm vụ được
Trang 34giao… Ngược lại quản lí học tập trên lớp sẽ rất thuận lợi nếu động cơ học tập của sinh viên phù hợp với mục tiêu dạy học và nội dung đào tạo Như vậy không chỉ giảng viên chịu trách nhiệm tại lớp về vấn đề này, mà là cả hệ thống đào tạo của trường cũng chung trách nhiệm quản lí và khắc phục những khó khăn do động cơ học tập không phù hợp gây ra, dù điều đó chỉ xảy ra tại lớp và ở bất cứ lớp nào
1.3.3.2 Các điều kiện, phương tiện vật chất phục vụ học tập
Quá trình học tập của sinh viên diễn ra luôn gắn với những điều kiện, môi trường học tập nếu sinh viên được học tập trong những điều kiện thuận lợi được đáp ứng đầy đủ về phương tiện học tập, thời gian học tập vv…Và được học tập trong một môi trường giáo dục tốt của gia đình, nhà trường, quan hệ thầy trò, bạn bè sẽ là cơ sở giúp các em có thể tổ chức tốt quá trình học tập nhằm nâng cao kết quả học tập “Quản lý tốt cơ sở vật chất nhà trường không chỉ đơn thuần là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt năng lực của chúng cho dạy học và giáo dục, đồng thời còn làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và có giá trị” [20, tr.204]
Các nhà quản lí trong trường học sẽ khó quản lí học tập nếu những điều kiện hạ tầng vật chất-kĩ thuật thiếu thốn hoặc không phù hợp Khi đó quản lí
dễ đi vào tình trạng lơi lỏng, thiếu hiệu lực, hoặc ngược lại biến thành gò bó cực đoan, không tạo được nhiều cơ hội hoạt động và trải nghiệm cho sinh viên Thiếu cơ sở hạ tầng kĩ thuật thì quản lí học tập cũng dễ bị chồng chéo, vừa thiếu vừa thừa, thiếu tính hệ thống và dẫn đến thiếu hiệu quả cũng như tính toàn vẹn Ví dụ dễ thấy nhất là hạ tầng thông tin Nếu mỗi nguồn thông tin một nẻo thiếu thông tin thì đương nhiên quản lí sẽ khó có hiệu quả
1.3.3.3 Tập thể lớp và phong trào học tập trong tập thể sinh viên
Theo Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành thì tập thể có vai trò rất to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách “Tập thể là một nhóm người, một bộ phận xã hội được thống nhất lại theo những mục đích chung, phục tùng các mục đích của xã hội” [30, tr200] Tập thể hay
Trang 35nhóm có sức mạnh điều chỉnh nhu cầu, thái độ và hành vi của sinh viên trong mọi quan hệ, kể cả quan hệ học tập, thông qua dư luận xã hội và quá trình chia sẻ, trải nghiệm trực tiếp của sinh viên Do ảnh hưởng đến sinh viên nên tập thể ảnh hưởng mạnh đến quản lí học tập trên lớp
Phạm Viết Vượng cho rằng tập thể có kỷ luật nghiêm, mọi hoạt động được tiến hành trong một trật tự, một nề nếp sẽ là một môi trường thuận lợi để sinh viên rèn luyện và hình thành thói quen tốt nhất Tập thể sinh viên là một tập thể được tổ chức để giáo dục, là môi trường thuận lợi để học sinh thi đua
và là nơi để sinh viên thử sức, thể hiện và khẳng định khả năng của mình Những gương tốt của bạn bè sẽ là nguồn động viên lớn để các em phấn đấu học tập noi theo
Một trong những hoạt động cơ bản của sinh viên là hoạt động học tập
Vì vậy, bầu không khí học tập trong tập thể sinh viên có vai trò rất quan trong trong việc hình thành động cơ và ý thức học tập Sống trong một tập thể gắn
bó với nhau, lấy học tập làm mục tiêu phấn đấu chung cho tất cả mọi thành viên thì mỗi cá nhân khó có thể thờ ơ trước hoạt động của mọi người khó có thể tự tách mình ra khỏi bầu không khí ấy Mỗi cá nhân sẽ cảm thấy tự xấu hổ nếu mình thua kém bạn bè, sẽ áy náy băn khoăn khi sử dụng thời gian một cách lãng phí cho những việc vô ích Những hành động trái với trật tự đã được thiết lập của tập thể sẽ bị chỉ trích, phê bình và buộc mỗi cá nhân phải hòa mình vào không khí chung ấy Rõ ràng, một tập thể lớp trong đó có mọi người đều gương mẫu và cố gắng hoàn thành nhiệm vụ học tập sẽ là môi trường tốt nhất giúp cho người học có ý thức tự giác, tạo niềm say mê, phấn khởi cố gắng khẳng định mình trước tập thể sinh viên
1.3.3.4 Cách thức đánh giá kết quả học tập
Một trong những chức năng của đánh giá kết quả học tập là chức năng giáo dục Nó “có tác động mạnh mẽ đến tâm lý đối tượng, tạo điều kiện để đối tượng phát triển nhân cách, thói quen tự đánh giá đúng mình, tinh thần trách nhiệm, nỗ lực ý chí, tính kiên định, lòng tự tin vào mình, ý thức tập thể và
Trang 36quan hệ ứng xử…”[19, tr.128] Việc đánh giá chính xác, chân thực, hình thức, nội dung đánh giá phù hợp với mục tiêu, yêu cầu đào tạo sẽ có tác dụng tực tiếp đến người học, giúp người học tìm ra nguyên nhân, đề ra những giải pháp
để việc học có hiệu quả Việc đánh giá tốt sẽ dẫn đến sự tự đánh giá tốt của người học
Trong từng giai đoạn học tập của sinh viên, việc đánh giá có tác dụng định hướng cho việc học tập được tiếp tục như:
- Xác định khả năng học tập của sinh viên
- Xác định hoạt động lĩnh hội tri thức của sinh viên
- Thúc đẩy sinh viên học tập thường xuyên và chăm chỉ
- Giúp sinh viên tự đánh giá trình độ, bổ sung, điều chỉnh và hoàn hiện việc học của mình
Tất cả những tác dụng trên của đánh giá đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến quản lí học tập Khi tác dụng là tích cực, thì nó hỗ trợ tốt cho quản lí và khi tác dụng là tiêu cực thì nó hạn chế hiệu lực quản lí và là giảm hiệu quả quản
lí Cách thức đánh giá còn trực tiếp ảnh hưởng đến nhu cầu và khả năng tự đánh giá của sinh viên, nhất là đánh giá thường xuyên
1.3.3.5 Phương pháp dạy học của giáo viên
Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung nhưng sinh viên học tập có hứng thú,
có tích cực không? Phần lớn phụ thuộc vào phương pháp dạy học của người thầy Phương pháp dạy học quyết định môi trường và những cơ hội hoạt động của người học
Hiệu quả của phương pháp dạy học phụ thuộc vào trình độ nghiệp vụ
sư phạm của giáo viên Việc nắm vững nội dung dạy học và quy luật, đặc điểm nhận thức của sinh viên là tiền đề quan trọng cho việc sử dụng phương pháp dạy học nào đó Thực tiễn dạy học cho thấy, cùng một nội dung dạy học, cùng sử dụng một phương pháp dạy học, nhưng mức độ thành công của giáo viên là khác nhau
Trang 37Phương pháp dạy học của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động học tập của sinh viên Nó ảnh hưởng đến nhu cầu, hứng thú học tập (người học có khát vọng và mong muốn học tập đến đâu), sự phát triển kĩ năng học tập và hình thành phong cách học tập (người học biết học đến trình độ nào), phương hướng và biện pháp học tập (người học có thể học tập đúng đắn và thành công hay không), và cả ý chí, nghị lực của người học trong học tập (người học có biết vượt khó khăn, chấp nhận thách thức và rèn luyện được tính kỉ luật, tính bền bỉ và thường xuyên học tập hay không) Xét từ góc độ này, bản thân những tác động của phương pháp dạy học chính là những tác động quản lí học tập trực tiếp, chỉ có điều những tác động quản lí này không kèm theo quyết định hành chính và con dấu thôi
1.3.3.6 Tính sẵn sàng và phong cách học tập của sinh viên
Theo Đặng Thành Hưng, bản chất của mỗi người học xét trong quan hệ với nhiệm vụ học tập là có khác biệt nhất định [17, tr.4] Từ quan điểm này, quản lí học tập cần phải phù hợp với người học nói chung, với tính sẵn sàng học tập và phong cách học tập của họ
Trước mỗi nhiệm vụ học tập, trạng thái tâm lí của người học gọi là tính sẵn sàng học tập Nó bao gồm 2 mặt:
1 Thiện ý, hay tính thân thiện của họ trước việc học
2 Khả năng của họ so với việc học
Các nhà quản lí học tập cần lưu ý đến mức độ tính sẵn sàng học tập của người học trong 4 trường hợp điển hình sau đây để có biện pháp phù hợp:
1 Khả năng cao nhưng thiện ý thấp - cần chú ý tác động tình cảm, nâng cao thiện ý, cải thiện quan hệ và môi trường sư phạm
2 Thiện ý thấp nhưng khả năng cao - cần chú ý tác động vào khả năng, nhất là kĩ năng học tập, cải thiện tri thức nền tảng
3 Khả năng thấp và thiện ý cũng thấp – đó là thách thức thực sự, cần
nỗ lực tiến hành công tác phụ đạo, khuyến khích toàn diện và tiếp cận cá nhân hóa với người học
Trang 384 Khả năng cao và thiện ý cao – đó là điều mừng và hứa hẹn tuyệt vời, không cần can thiệp mà chỉ cần khuyến khích, tạo điều kiện học tập
Các dạng trí tuệ ở người qui định nên các phong cách học tập tương đối khác nhau Tùy theo phong cách nào trội ở người học thì nhà quản lí cần thích ứng nhất với họ để đạt hiệu quả cao
1 Trí tuệ ngôn ngữ - người có khiếu về ngôn ngữ và sẽ học hiệu quả dựa vào lợi thế này Cách dạy cần phát huy ưu thế ngôn ngữ của họ
2 Trí tuệ logic-toán - người có khiếu về tư duy và hành động logic và
sẽ học hiệu quả nếu học liệu và cách dạy có logic tốt, rõ ràng
3 Trí tuệ không gian - người có khiếu về nhận thức quan hệ không gian, hình ảnh và cảnh quan bên ngoài, sẽ học hiệu quả nếu học liệu và cách dạy trực quan, tự nhiên và khoáng đạt
4 Trí tuệ vận động - người có khiếu về vận động cơ thể nên sẽ tư duy
và học tập tốt bằng thực hành, táy máy tay chân, mò mẫm và hiếu động
5 Trí tuệ âm nhạc - người có khiếu với âm luật và âm thanh, sẽ học hiệu quả nếu học liệu có kèm âm thanh, ngôn ngữ dạy học có nhạc điệu, môi trường học tập giàu chất nhạc
6 Trí tuệ hướng nội - người sâu sắc về suy ngẫm, phán đoán nội tâm,
sẽ học hiệu quả nếu được thử thách, nghiên cứu, tìm tòi và không gian yên tĩnh, học liệu giàu thông tin
7 Trí tuệ hướng ngoại - người có khuynh hướng bộc trực, cởi mở và hoạt bát, sẽ học hiệu quả khi cách dạy thân thiện, không gian khoáng đạt, học liệu đơn giản và nhiều phương tiện giao tiếp
8 Trí tuệ tự nhiên - người vô tư, hồn nhiên chất phác và thiên về bản năng trong nhận thức, sẽ học hiệu quả khi có nhiều biến đổi trong học tập, việc học sinh động tự nhiên, không gò bó, môi trường học tập sống động
Tính sẵn sàng học tập và phong cách học tập của sinh viên là những nhân tố nền tảng chi phối cách quản lí học tập cũng như cách dạy học của nhà trường, của nhà giáo
Trang 391.4 ĐẶC ĐIỂM SINH VIÊN VÀ VIỆC HỌC TẬP Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.4.1 Đặc điểm phát triển của sinh viên cao đẳng
Học sinh sinh viên (HSSV) trước hết là công dân có đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo qui định trong Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trong các luật định hiện hành “Công tác HSSV phải hướng vào thực hiện mục tiêu đào tạo chung là hình thành nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân; đào tạo những người lao động tự chủ, sáng tạo và có kỷ luật, giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, có kiến thức văn hóa, khoa học, công nghệ, kỹ năng nghề nghiệp, có sức khỏe, có khả năng góp phần hiệu quả làm cho dân giàu nước mạnh, đưa đất nước tiến kịp thời đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” Vì vậy công tác quản lý, phát triển toàn diện cho HSSV đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần xây dựng nên con người XHCN
Sinh viên là những người tốt nghiệp THPT hoặc bổ túc THPT có độ tuổi từ 18 đến 21, được trang bị hệ thống tri thức khoa học cơ bản hiện đại
Họ là lớp người có lý tưởng, hoài bão lớn, có sức khỏe, năng động, nhạy bén, tiếp thu nhanh, nhận thức của họ rất phát triển, biết kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc và nhân loại, có xu hướng tham gia xã hội, tính tự lập, độc lập, tự giác cao, nhu cầu tự khẳng định, tự đánh giá
1.4.1.1 Đặc điểm sinh học và tâm lí
Hình thể đạt được tự hoàn chỉnh về cấu trúc và phối hợp giữa các chức năng Hệ thần kinh cao cấp đã đạt đến mức trưởng thành Nhiều yếu tố bẩm sinh di truyền được phát triển cao dưới những điều kiện môi trường và môi trường giáo dục Khả năng hoạt động trí tuệ của sinh viên vượt xa hoạt động trí tuệ của học sinh THPT
Một đặc điểm tâm lý quan trọng của lứa tuổi này là sự phát triển tự ý thức Đó là quá trình tự quan sát, tự phân tích, tự kiểm tra, tự đánh giá về hoạt động và kết quả tác động của bản thân, về tư tưởng, về tình cảm, phong cách,
Trang 40đạo đức, hứng thú, v.v…, là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống
- Sự phát triển trí tuệ ở giai đoạn này được đặc trưng bởi sự nâng cao năng lực trí tuệ, phát triển tư duy sâu sắc, SV có khả năng giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn, có tiến bộ rõ rệt trong lập luận logic, trí tưởng tượng, khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết học tập
- Sự phát triển tình cảm: sinh viên ở thời kỳ lứa tuổi có nhiều xúc cảm, nhiều tình huống mới nảy sinh đòi hỏi các em phải có những phán đoán, những quyết định chín chắn
1.4.1.2 Đặc điểm xã hội
Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu giao tiếp, mở rộng mối quan hệ xã hội, quan tâm đến việc phát triển kỹ năng mới, cách ứng xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường xã hội ngày càng mở rộng Đặc biệt là các em đã quan tâm tới tương lai, tự xác định và lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân
Đây là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể chất sang trưởng thành
về phương diện xã hội, hình thành và ổn định tính cách SV bắt đầu có kế hoạch riêng cho hoạt động của mình và độc lập trong phán đoán và hành vi
Họ xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm vững nghề nghiệp và bắt đầu thể hiện mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống Điều đó có nghĩa là họ bắt đầu có tính độc lập, tính tự lập và tính tự quản cao
1.4.1.3 Đặc điểm nhân cách của sinh viên
Sự phát triển nhân cách của sinh viên là quá trình biện chứng của sự nảy sinh và giải quyết các nhu cầu mới, là quá trình chuyển các yêu cầu và giá trị xã hội bên ngoài thành yêu cầu và giá trị cá nhân của bản thân trong điều kiện tự vận động và hoạt động tích cực của bản thân họ Những nhu cầu nổi trội thời kì lứa tuổi này là: