1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

rèn luyện kỹ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một số hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông

111 893 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 847,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không chỉ học sinh mà cả giáo viên cũng gặp lúng túng trong việc rèn kĩ năng lập ý cho học sinh trong kiểu bài NL về một HTĐS bởi đây là loại văn bản mới được đưa vào chương trình sách g

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THU HÀ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THU HÀ

RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 12 THPT

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Văn - Tiếng việt

Mã số: 60.14.10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Lê A

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài……….………1

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 2

3 Lịch sử vấn đề……….2

4 Phương pháp nghiên cứu……… ……….5

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 6

6 Dự kiến đóng góp của luận văn… ……… 6

7 Cấu trúc của luận văn……… 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN VỀ MỘT HT………….… 8

1.1.NLXH và kiểu bài nghị luận về một HTĐS……….…… .8

1.1.1 NLXH và các kiểu bài NLXH……… 8

1.1.2 Nghị luận về một HTĐS……… ……… 11

1.2 Ý và kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một HTĐS………… 14

1.2.1 Ý trong bài văn nghị luận về một HTĐS…… ……… 14

1.2.2 Kĩ năng lập ý trong kiểu bài NL về một HTĐS……… …… 16

1.3 Thực trạng dạy và học lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS……….21

1.3.1 Đối tượng điều tra……… 21

1.3.2 Nội dung điều tra……….21

1.3.3 Cách thức điều tra………21

1.3.4 Cách đánh giá kết quả……… 22

CHƯƠNG 2:RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NL VỀ MỘT HTĐS CHO HS QUA HỆ THỐNG BÀI TẬP……….…….34

2.1 Trang bị cho HS những kiến thức về cách thức lập ý……… 34

Trang 4

2.1.1 Các căn cứ lập ý……… 34

2.1.2 Qui trình lập ý cho kiểu bài NL về một HTĐS……… 35

2.2 Hệ thống bài tập- phương tiện chủ yếu để rèn luyện cho HS kĩ năng lập ý……… ……… 39

2.2.1 Một số nguyên tắc xây dựng hệ thống bài tập……… … …39

2.2.2 Miêu tả hệ thống bài tập……… ………42

2.3 Phương hướng sử dụng hệ thống bài tập………… …………68

2.3.1 Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết……… ….…68

2.3.2 Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết viết bài……….69

2.3.3 Vận dụng hệ thống bài tập trong tiết trả bài………69

CHƯƠNG 3 : THỂ NGHIỆM SƯ PHẠM……… 70

3.1 Mục đích thể nghiệm………… ……….…….…….70

3.2 Đối tượng và địa bàn thể nghiệm……….… 71

3.3 Phương pháp thể nghiệm……… ……… …….72

3.4 Nội dung thể nghiệm……… 72

3.5 Cách đánh giá kết quả thể nghiệm……….73

3.6 Giáo án thể nghiệm………74

3.7 Kết quả thể nghiệm……… … 88

KẾT LUẬN CHUNG……… ………99

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… ……… …… 104

Trang 5

Chính vì nó bàn về những hiện tượng quen thuộc trong đời sống nên đây là loại văn bản giúp ích nhiều cho người học như: tạo ý thức cho học sinh thường xuyên quan tâm đến các hiện tượng trong đời sống xã hội; có khả năng nhạy bén trước những vấn đề của cuộc sống; có khả năng nhận thức, đánh giá đúng đắn trước các hiện tượng đang xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Trên cơ sở đó học sinh có những ứng xử phù hợp trong cuộc sống Bên cạnh đó kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống được đưa vào giảng dạy trong nhà trường tạo sự gắn bó mật thiết giữa nhà trường và xã hội; đồng thời rèn luyện năng lực tư duy và năng lực biểu đạt của học sinh Lập ý là một khâu quan trọng trong Làm văn nói chung, làm văn NLXH

và NL về một HTĐS nói riêng Bởi một bài văn NL về một HTĐS nói riêng

và một bài văn nghị luận nói chung được tạo thành từ một hệ thống các ý với các cấp độ khác nhau.Nếu không có phương pháp lập ý thì không thể tạo lập thành công văn bản làm văn được Nói như vậy để chúng ta thấy rằng vị trí và vai trò cực kì quan trọng của các phương pháp lập ý hoặc phương pháp lập ý là vấn đề cốt lõi, nòng cốt, trọng tâm nhất của phương pháp dạy

và học làm văn nói chung và phương pháp làm văn NL về một HTĐS nói riêng

Trang 6

Thực tế khảo sát cho thấy khâu lập ý cho một bài văn NL về một HTĐS là khâu mà học sinh còn gặp nhiều khó khăn, còn non kém nhất trong làm kiểu bài này

Không chỉ học sinh mà cả giáo viên cũng gặp lúng túng trong việc rèn kĩ năng lập ý cho học sinh trong kiểu bài NL về một HTĐS bởi đây là loại văn bản mới được đưa vào chương trình sách giáo khoa nên chưa có nhiều tài liệu tham khảo Hơn nữa, cả giáo viên và học sinh đều ít hứng thú với kiểu bài này nói riêng và với môn Làm văn nói chung bởi sự khô khan, không bay bổng mượt mà như những giờ giảng văn

Xuất phát từ những lí do trên và thông qua thực tiễn dạy học, chúng tôi chọn đề tài “ Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một HTĐS cho học sinh lớp 12 THPT”

2 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

2.1.Đối tƣợng nghiên cứu

Quá trình dạy và học văn nghị luận về một HTĐS đặc biệt lưu ý quá trình lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS

Trang 7

và NLVH nhưng trong thực tế kĩ năng lập ý bao giờ cũng chỉ được trình bày trong phần kĩ năng làm văn nói chung và chủ yếu ở loại bài NLVH

Thời kỳ phong kiến cách lập ý cho văn nghị luận được tiến hành chủ yếu theo cách: Thầy đưa ra các bài văn mẫu, từ những bài văn mẫu này Thầy căn cứ vào đặc điểm về nội dung và hình thức của từng loại mà phân tích và giảng giải cho trò Học trò cứ thế mà luyện tập theo Có thể thấy, thực chất của việc lập ý thời phong kiến ở một bài văn nghị luận là giúp người học nắm vững đặc điểm và những yêu cầu về bố cục của từng loại văn mà thôi

Ở thời kì pháp thuộc việc dạy lập ý trong văn nghị luận cũng chủ yếu là cung cấp bài mẫu, người học cứ theo đó mà làm, mà luyện tập

Với yêu cầu đổi mới dạy và học văn trong đó có phân môn Làm văn thì kĩ năng lập ý lại chủ yếu được chú ý ở loại bài nghị luận văn học Kĩ năng này được đề cập đến nhiều trong các bộ SGK làm văn cho HS, sách giáo viên, sách bồi dưỡng giáo viên dạy môn làm văn do trường ĐHSP Hà Nội biên soạn; tài liệu bồi dưỡng dạy SGK cải cách giáo dục môn làm văn do Vụ giáo viên biên soạn; sách làm văn 12 của Trần Thanh Đạm… nhưng tất cả cũng chỉ chú trọng đến NLVH

Kĩ năng lập ý nói riêng và kĩ năng làm văn nói chung chủ yếu được đề cập đến ở các tài liệu dạy học trong nhà trường ( từ phổ thông đến đại học) Ngoài ra một số ít chuyên ngành cũng đề cập đến kĩ năng làm văn nói chung

Ở dạng văn NLXH cũng có một số cuốn sách đề cập tới kĩ năng lập ý tiêu

biểu là cuốn Làm văn của nhóm tác giả Đỗ Ngọc Thống – Nguyễn Thành

Thi – Phạm Minh Diệu có đưa ra 2 bước để lập ý như sau: Dựa vào yêu cầu

và chỉ dẫn của đề để tìm ra vấn đề trọng tâm và các ý lớn mà bài viết cần

Trang 8

làm sáng tỏ; tìm ý nhỏ bằng cách đặt ra các câu hỏi, vận dụng những hiểu biết về văn học và cuộc sống, xã hội để trả lời các câu hỏi đó

- Trong cuốn Làm văn ( Giáo trình đào tạo giáo viên THCS) tác giả Lê A cũng đề cập đến kĩ năng lập ý ở bài văn nghị luận hay trong cuốn sách Làm

văn 11 do tác giả Trần Thanh Đạm chủ biên cũng nói tới thao tác lập ý trong

văn nghị luận tuy nhiên còn rất chung chung

Nghị luận về một HTĐS thuộc thể loại NLXH Nó cũng ra đời, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời của NLXH Tuy nhiên, trước đây trong nhà trường phổ thông nghị luận về một HTĐS chưa được đưa vào giảng dạy và chưa được nhiều người chú ý quan tâm

Trong những năm gần đây, Nghị luận về một HTĐS là loại văn bản chính thức được đưa vào giảng dạy ở chương trình PT cụ thể là ở kỳ II lớp 9 cấp THCS và kỳ I lớp 12 cấp THPT Đây cũng là loại văn NL được đưa vào cơ cấu trong đề thi của các cấp tuyển sinh và thi tốt nghiệp

Đây là một loại văn bản rất mới nên chưc có một công trình cụ thể nào đi nghiên cứu trực tiếp về loại văn bản này Các kĩ năng làm kiểu bài này cũng chưa có nhiều tài liệu đề cập đến Có một số tài liệu nói về loại bài nghị luận

về một HTĐS, cụ thể:

(1) Dạy và học NLXH: Đỗ Ngọc Thống- NXBGD Việt Nam- 2010 (2) Các dạng đề và hướng dẫn làm bài nghị luận xã hội: Lê A, Nguyễn Thị Ngân Hoa ( đồng chủ biên)- NXB GD- 2009

(3) Thực hành làm văn 10, 11, 12: Lê A ( chủ biên)- NXB GD- 2009 (4) Các tài liệu luyện tập và luyện thi môn Ngữ văn…

Tuy nhiên, chỉ có cuốn “Dạy và học NLXH” của tác giả Đỗ Ngọc Thống- NXBGD Việt Nam- 2010 và cuốn “Thực hành làm văn 12” của tác giả Lê A ( chủ biên)- NXB GD- 2009 là có bàn đến cách làm dạng bài nghị luận về một HTĐS nhưng không cụ thể nói đến kĩ năng lập ý ở kiểu bài này

Trang 9

Tóm lại, kĩ năng lập ý cho loại bài nghị luận nói chung là một kĩ năng rất

cơ bản, thiết yếu đối với học sinh Một số tài liệu có bàn về kĩ năng này nhưng chủ yếu lại liên quan đến kiểu bài NLVH và NLXH nói chung còn kĩ năng lập ý trong kiểu bài nghị luận về một HTĐS thì chưa có tài liệu nào bàn đến một cách cụ thể

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi thực hiện những phương pháp nghiên cứu sau:

4.1 Phương pháp nghiên cứu tiếp thu lí thuyết

Nghiên cứu lí thuyết chung về văn NL và NL về một HTĐS

4.2 Phương pháp điều tra, khảo sát

Điều tra thăm dò ý kiến giáo viên và học sinh về thuận lợi, khó khăn khi học các bài NL về một HTĐS, về hứng thú của học sinh và hiệu quả các bài học này

4.3 Phương pháp thực nghiệm

Phương pháp này có vị trí quan trọng với khoa học giáo dục và công tác nghiên cứu Trong đoạn văn này chúng tôi tiến hành thiết kế giáo án thể nghiệm và làm một số dàn ý chi tiết cho loại bài thuộc phạm vi nghiên cứu của đoạn văn Đồng thời thể nghiệm với một số đề thuộc dạng NL về một HTĐS để xác định đúng đắn tính khả thi của những đề xuất đưa ra trong luận văn này

4.4 Phương pháp chuyên gia

Đây là một phương pháp quan trọng đối với những người làm công tác khoa học và nghiên cứu đặc biệt là những người đang học làm khoa học.Đối với đề tài này, chúng tôi tìm gặp những người có kinh nghiệm trong lĩnh vực dạy học và nghiên cứu về NLXH để trao đổi đồng thời trao đổi với các

Trang 10

đồng nghiệp để bàn về vấn đề có liên quan nhằm rút ra những kinh nghiệm quý báu cho luận văn của mình

5 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

5.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu, luận văn tổng kết cơ sở lí thuyết

và thực tiễn của việc rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS, đề xuất nội dung và biện pháp rèn luyện kĩ năng này cho học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học kiểu bài NL về một HTĐS

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xác định cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS

Đề xuất nội dung và biện pháp rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS

Tổ chức thể nghiệm sư phạm để điều chỉnh và đánh giá hiệu quả cũng như khả năng thực thi của giải pháp được đề xuất

6 DỰ KIẾN ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Đưa ra một số giải pháp giúp giáo viên và học sinh khắc phục những khó

khăn khi rèn kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS thông qua một hệ thống bài tập với các dạng cụ thể

7 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Từ việc xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu luận văn có cấu trúc như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học của việc rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiểu bài

NL về một HTĐS

1.1 Nghị luận xã hội và kiểu bài NL về một HTĐS

1.2 Ý và kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS

1.3 Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh ở kiểu bài NL về một HTĐS

Trang 11

Chương 2: Rèn luyện kĩ năng lập ý ở kiếu bài NL về một HTĐS cho học sinh qua hệ thống bài tập

- Đưa ra một số đề NL về một HTĐS và hướng dẫn cách lập ý cho mỗi đề

- Tổ chức thể nghiệm ở các lớp thuộc lớp theo chương trình chuẩn

- Đánh giá kết quả thể nghiệm

Trang 12

Theo từ điển từ và ngữ Hán Việt: “ Nghị luận” là dùng lí luận để phân tích

ý nghĩa phải trái, bàn bạc, mở rộng vấn đề Còn “xã hội” trước hết là một tập thể người cùng sống, gắn bó với nhau trong quan hệ sản xuất và các quan hệ khác Cũng có thể hiểu “ xã hội” là những gì thuộc về quan hệ giữa người và người về các mặt chính trị, kinh tế, triết học, lịch sử, văn học, ngôn ngữ… Từ đó có thể hiểu NLXH là thể văn hướng tới phân tích, bàn bạc các vấn đề liên quan đến các mối quan hệ của con người trong đời sống xã hội Mục đích cuối cùng của nó là tạo ra những tác động tích cực đến con người

và những mối quan hệ giữa người với người trong xã hội [43,5]

SGK Làm văn 10 cho rằng: NLXH bàn đến mối quan hệ giữa con người với con người Những lời bàn này góp phần làm cho đời sống tinh thần của con người thêm phong phú, tạo cho mỗi người ý thức chăm sóc cuộc sống tinh thần của bản thân mình và xây dựng cho mối quan hệ trong xã hội , trong cộng đồng mỗi này một văn minh, tốt đẹp hơn [21,40]

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu , Lê A thì: NLXH lấy đề tài từ các lĩnh vực chính trị, xã hội, đạo đức làm nội dung bàn bạc nhằm làm sáng tỏ cái đúng, sai, tốt, xấu, phải trái của vấn đề được nêu ra Nội dung ấy thường được cô đúc trong các câu tục ngữ, danh ngôn hoặc một lời nhận xét khái quát nào đấy Các vấn đề đặt ra trong NLXH thường rất rộng: là những quan niệm đối nhân xử thế cách sống hay nói cách khác đó là mối quan hệ giữa con

Trang 13

người với con người Có thể vấn đề đặt ra cũng có thể rất hẹp như: nên tập thể dục buổi sáng như thế nào, học sinh cần đi học đúng giờ…

Nói chung NLXH là dùng lí lẽ, dẫn chứng bàn bạc về các vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức để chỉ ra các mặt trái- phải, đúng- sai, tốt- xấu của những vấn đề ấy Trong nhà trường THPH thì NLXH thường xoay quanh các vấn

đề về tư tưởng, đạo đức, lối sống gần gũi với tuổi trẻ hay bày tỏ ý kiến, suy nghĩ về một hiện tượng tốt hoặc xấu trong đời sống xã hội Và, trong những bài văn nghị luận ở nhà trường các em cần phát biểu những suy nghĩ nghiêm túc, chín chắn của mình về một vấn đề có ý nghĩa xã hội đặt ra cho mình, lứa tuổi mình, không thể phát biểu tùy tiện như trong sinh hoạt hàng ngày

1.1.1.2 Các kiểu bài nghị luận xã hội

Về nghị luận xã hội trong nhà trường phổ thông có 3 dạng chính sau:

- Bàn về một vấn đề tư tưởng, đạo lí thông qua những nhận xét, phán đoán

về tinh thần, tình cảm, tư tưởng, đạo lí, lối sống…

- Bàn về một hiện tượng, con người, sự việc có thật trong cuộc sống ở mọi phương tiện, mọi khía cạnh của nó

- Bàn về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học

Mỗi dạng bài lại có những đòi hỏi và phương pháp riêng.[43,6]

a Dạng bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí là bàn về một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống …của con người.[8,35]

Trong nhà trường phổ thông, do tâm lí, lứa tuổi, tầm nhận thức nên những vấn đề đặt ra để bàn luận không phải là những vấn đề quá phức tạp, lớn lao

mà chỉ là những khía cạnh đạo đức, tư tưởng, tình cảm gắn liền với cuộc sống hàng ngày như tình cảm quê hương, gia đình, bạn bè, ý thức trách nhiệm, tinh thần học tập, phương pháp nhận thức…Những vấn đề này có thể

Trang 14

đặt ra một cách trực tiếp nhưng thường là được gợi mở qua một câu danh ngôn ( tục ngữ, ca dao, câu nói của các bậc hiền triết, các lãnh tụ, các nhà văn hóa, khoa học, nhà văn nổi tiếng…).[43,6]

Nội dung của kiểu bài nghị luận này là phải làm sáng tỏ các vấn đề tư tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,…để chỉ ra chỗ đúng ( hay chỗ sai) của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của người viết Hình thức của bài viết phải có bố cục 2 phần, có luận điểm rõ ràng, sáng tỏ, lời văn chính xác, sinh động

b Dạng bài nghị luận về một hiện tƣợng đời sống

Dạng bài này thường nêu lên một hiện tượng có thật trong đời sống Đó có thể là một hiện tượng tích cực nhưng cũng có thể là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội hoặc một hiện tượng có cả mặt tích cực lẫn tiêu cực…Như thế đòi hỏi người viết phải thể hiện được chủ kiến của bản thân hoặc ca ngợi, biểu dương cái tốt- cái thiện và lên án , vạch trần cái xấu- cái ác…Những hiện tượng đời sống nêu lên trong các đề văn dạng này vừa phải gần gũi với tuổi trẻ học đường vừa phải có ý nghĩa lớn lao đối với cả cộng đồng dân tộc

và thế giới.[43,12]

c Dạng bài nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học

Đây là dạng đề tổng hợp, đòi hỏi học sinh kiến thức về cả hai mảng văn học

và đời sống, cũng đòi hỏi kĩ năng phân tích văn học và kĩ năng phân tích, đánh giá các vấn đề xã hội Nghĩa là có thể kiểm tra người viết cả về kiến thức văn học và kiến thức đời sống Đề thường xuất phát từ một vấn đề xã hội giàu ý nghĩa có trong một tác phẩm văn học nào đó để yêu cầu học sinh bàn bạc rộng ra vấn đề xã hội đó Vấn đề xã hội được bàn bạc có thể rút ra

từ một tác phẩm văn học đã học trong chương trình nhưng cũng có thể từ

Trang 15

một câu chuyện chưa được học ( thường là một câu chuyện ngắn gọn, giàu

Nghị luận về một hiện tƣợng đời sống

1.1.2.1 Khái niệm

Bài nghị luận về một HTĐS thường có nội dung: nêu rõ hiện tượng, phân tích các mặt đúng- sai, lợi- hại, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiến của người viết về hiện tượng xã hội đó [10,67]

1.1.2.3 Cách làm dạng đề nghị luận về một hiện tƣợng đời sống

Nhìn chung để tìm ý cho dạng đề này thì người viết biết đặt ra và trả lời các câu hỏi có ý nghĩa xung quanh vấn đề trọng tâm mà đề yêu cầu Các câu hỏi

và nội dung trả lời có thể sắp xếp theo 3 bước với nội dung cụ thể như sau:

Trang 16

a Giới thiệu thực trạng được nêu trong đề bài

Ở bước này để luyện tập viết các bài văn NL về một HTĐS trước hết người viết cần biết nhận diện hiện tượng ấy như: các biểu hiện, các dạng tồn tại, thậm chí cần cả những số liệu cụ thể.Thực hiện thao tác này đòi hỏi học sinh

có một sự quan tâm, hiểu biết đến các vấn đề đang tồn tại trong đời sống xã hội hiện nay.Nghĩa là phải luôn chú ý lắng nghe thời sự hàng ngày, cập nhật thông tin trong nước và quốc tế chứ không đợi đến lúc nhận đề bài mới tìm Không phải hiện tượng nào cũng được đặt ra trong các đề NLXH mà phải là những vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, có ảnh hưởng rộng đến đời sống cộng đồng cũng như cuộc sống của chính lứa tuổi học sinh Ví dụ như các vấn đề

sau: ô nhiễm môi trường, tai nạn giao thông, căn bệnh HIV/AIDS, các tệ

nạn xã hội, hút thuốc lá,quay cóp bài trong học hành thi cử, phong trào thanh niên tình nguyện,những tấm gương hiếu thảo,vượt khó của thanh niên…Khi phản ánh thực trạng, người viết cần đưa ra những con số, những

thông tin cụ thể tránh lối nói chung chung, mơ hồ để tạo sự thuyết phục với người nghe

b.Phân tích và bình luận nguyên nhân- kết quả ( hậu quả) của vấn đề được nêu ra trong đề bài

Sau khi xác định rõ thực trạng, cần phân tích hiện tượng ở các mặt nguyên nhân, hậu quả và cố gắng tìm các giải pháp để giải quyết thực trạng đó Việc này không quá khó Chỉ cần chú ý một chút tới cách nói của các phóng viên, bình luận viên trên các báo, đài, chú ý quan tâm đến dư luận xã hội và chịu khó tìm hiểu cuộc sống xung quanh mình là HS sẽ làm được Tuy nhiên, khi nghe và tiếp nhận thông tin, dư luận, cần có sự tỉnh táo để xem xét, chọn lọc

và xử lí đích đáng trên cơ sở hiểu biết và cố gắng xây dựng một lập trường

tư tưởng vững vàng, tránh chạy theo dư luận không chính thống mà dẫn tới

Trang 17

chủ quan, hồ đồ khi phân tích, đánh giá hiện tượng Lưu ý là khi phân tích nguyên nhân, nên chú ý đến các mặt khách quan – chủ quan Chẳng hạn, với hiện tượng tai nạn giao thông thì nguyên nhân khách quan là do hệ thống giao thông còn nhiều bất cập (cách phân luồng, phân tuyến, hệ thống biển báo chỉ dẫn, chất lượng của phương tiện tham gia giao thông…), nguyên nhân chủ quan là người tham gia giao thông chưa ý thức đầy đủ về trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp, chưa có ý đúng mức tới vấn đề an toàn… Khi đánh giá hậu quả, cần phải xem xét ở các phạm vi cá nhân – cộng đồng, hiện tại – tương lai… Ví dụ: hiện tượng nghiện Internet không chỉ làm hao tổn về sức lực, tiền của, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách cá nhân

mà còn tạo mầm mống cho những bất ổn trong xã hội.[43,14]

c.Đề xuất ý kiến ( giải pháp) với vấn đề được đưa ra trong đề bài

Sau khi phân tích và bình luận nguyên nhân – kết quả, thường là phần nêu,

đề xuất giải pháp khắc phục Trước hết cần xem lại phần nguyên nhân vì chính nó là gợi ý tốt nhất để tìm ra các giải pháp khắc phục Chẳng hạn một trong những nguyên nhân của nạn bạo hành phụ nữ thì một trong những giải pháp khắc phục tình trạng này là tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức và ý thức về bình đẳng giới cho cộng đồng ; nguyên nhân của tai nạn giao thông là do người tham gia giao thông chưa có ý thức trách nhiệm, chưa nắm vững luật pháp và chưa chú ý đầy đủ đến sự an toàn thì một trong những giải pháp có thể thực hiện là tuyên truyền, giáo dục về an toàn giao thông, xây dựng chế tài xử phạt đối với những trường hợp vi phạm an toàn giao thông…

Về cơ bản, bài NL về một HTĐS cần là sự bộc lộ vốn hiểu biết và lập trường, thái độ của người viết về hiện tượng được nêu Vì vậy, bên cạnh việc nắm vững các bước cơ bản trong quá trình làm bài, người viết còn cần

Trang 18

thể hiện tiếng nói cá nhân và quan điểm đánh giá thật rõ ràng, sắc sảo thì bài viết mới có tính thuyết phục.[43,14]

1.2 Ý và kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS

1.2.1 Ý trong bài văn NL về một HTĐS

1.2.1.1 Quan niệm về ý trong bài văn NL về một HTĐS

Nói chung ý trong bài văn NL về một HTĐS là toàn bộ hệ thống luận điểm, luận cứ nhằm làm sáng rõ và giải quyết sáng tỏ cho luận đề của bài văn Ý trong bài văn NL về một HTĐS nhằm phân tích, đánh giá để hiểu được bản chất của HTĐS được nêu ra, để thấy rõ mặt tích cực, tiêu cực của vấn đề và từ đó rút ra bài học về các HTĐS ấy Từ những bài học đó rút ra ý nghĩa, phương hướng hành động cụ thể đối với HTĐS đó Tất cả các ý đều phải được đưa vào một sự sắp xếp, vào một bố cục cụ thể

1.2.1.2.Mô hình ý trong kiểu bài NL về một HTĐS

Mô hình ý là kết quả của quá trình lập ý được đưa vào bố cục ba phần của văn bản Có thể hình dung mô hình ý trong bài văn nghị luận nói chung qua phác thảo của nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thống sau đây:

Trang 19

Mở bài: Nêu luận đề khái quát

Vận dụng phác thảo trên, có thể hình dung mô hình ý trong bài văn nghị

luận về MHTĐS như sau:

Mở bài: Giới thiệu hiện tượng hiện tượng đời sống và những định hướng

nghị luận khái quát

Trang 20

Kết bài: Từ hiện tượng đời sống rút ra bài học tư tưởng đạo lí

1.2.2 Kĩ năng lập ý trong kiểu bài NL về một HTĐS

1.2.2.1 Quan niệm về kĩ năng lập ý trong kiểu bài NL về một HTĐS

Nhìn chung khái niệm ý trong bài văn nghị luận được hiểu khá thống nhất

Ý, đó là những những nội dung chính tạo nên nội dung cơ bản của một bài viết Và nếu quan niệm ý là những nội dung chính cần trình bày trong bài văn thì lập ý là một quá trình suy nghĩ (có ý thức) nhằm định ra các nội

Trang 21

dung cơ bản của bài viết trước khi diễn đạt thành văn Như vậy ý là kết quả của những dự định sẽ trình bày ra bằng lời được hình thành trong quá trình

tư duy có định hướng Vì thế lập ý là định ra trong đầu óc những nội dung chính, những ý cơ bản sẽ được thể hiện ra bằng lời (bằng chữ) theo một trình tự hợp lý; là giai đoạn tiền văn bản

Đối với HS THPT lập ý cho đề văn là một quá trình suy nghĩ trong một tình huống có vấn đề (đề văn tạo nên tình huống có vấn đề này) nhằm đưa

ra, lựa chọn và sắp xếp những nội dung chính, những ý cơ bản mà học sinh

dự định sẽ triển khai vào bố cục ba phần của bài văn Việc lập ý giúp cho

HS bao quát được những nội dung chủ yếu, những ý cơ bản cần triển khai cũng như xác định được phạm vi nghị luận và mức độ triển khai các ý cơ bản (ý chính) trong bài văn nhờ đó mà tránh được tình trạng xa đề, lạc đề hoặc lặp ý; tránh được việc bỏ sót hoặc triển khai không cân đối Hơn nữa, việc lập ý sẽ giúp người viết phân phối thời gian làm bài hợp lý Quá trình lập ý bắt đầu từ khi học sinh đọc đề đến khi học sinh bắt tay vào viết thành bài văn hoàn chỉnh

Đối với kiểu bài NL về một HTĐS việc lập ý cũng tương tự như vậy, là quá trình tìm, chọn và sắp xếp các ý thành một hệ thống hợp lí trước khi viết thành một bài văn hoàn chỉnh

Ví dụ: Hãy xác lập ý cho đề bài sau : Hiện nay, khủng bố đang là một vấn

nạn có ảnh hưởng trên phạm vi toàn cầu Anh ( chị) suy nghĩ như thế nào

về hiện tượng này?[43,96]

Với đề bài trên chúng ta có thể trình bày các ý như sau:

- Giải thích khái niệm khủng bố là gì và nêu thực trạng khủng bố hiện nay

- Nạn khủng bố đem đến những hậu quả như thế nào

- Cắt nghĩa những nguyên nhân dẫn đến khủng bố

- Tìm những giải pháp gì để hạn chế nạn khủng bố

Trang 22

Chúng ta có thể khẳng định rằng trong viết một văn bản hoàn chỉnh thì khâu lập ý là một khâu rất quan trọng với kiểu bài NL về một HTĐS cũng vậy để có một bài văn hoàn chỉnh, không bị thừa hay thiếu ý hoặc mức độ các ý phải được trình bày sao cho hợp lí thì lập ý là vô cùng quan trọng, là không thể thiếu được

1.2.2.2 Quan hệ giữa kĩ năng lập ý và các kĩ năng khác trong quá trình làm văn NL về một HTĐS

Trong một bài văn nghị luận nói chung và nghị luận về một HTĐS nói riêng có 5 kĩ năng cơ bản sau:

- Kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết

- Kĩ năng tìm ý

- Kĩ năng lập dàn bài

- Kĩ năng diễn đạt, trình bày

- Kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết

Trong 5 kĩ năng trên, mỗi kĩ năng có một vai trò và vị trí riêng nhưng chúng có liên quan chặt chẽ với nhau Xét trong sự sắp xếp trình tự các kĩ năng đó ta nhận thấy kĩ năng lập ý đứng ở vị trí thứ 2 sau kĩ năng tìm hiểu

đề, xác định yêu câu bài viết và đứng trước kĩ năng lập dàn ý, kĩ năng diễn đạt, trình bày và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết

Có thể thấy rằng mỗi kĩ năng có một vai trò riêng và nếu thiếu 1 trong 5 kĩ năng trên thì bài văn sẽ thiếu chính xác, thiếu sự đầy đủ Chúng ta cũng không thể nói kĩ năng nào là quan trọng nhất bởi mỗi kĩ năng có một chức năng riêng tạo thành một mắt xích trong quá trình viết một bài văn nghị luận

Trang 23

a Quan hệ với kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết

Để lập được ý trong bài văn nghị luận nói chung và trong bài văn nghị luận về một HTĐS nói riêng thì chúng ta phải dựa vào kết quả của kĩ năng tìm hiểu đề, xác định yêu cầu bài viết

b.Quan hệ với kĩ năng lập dàn ý

Dàn ý chính là sự sắp xếp các ý vào bố cục ba phần theo một trình tự lôgic

để tạo sự mạch lạc, liên kết, thống nhất trong bài văn Có ý thì mới lập được dàn ý Như vậy, trong quan hệ với lập dàn ý thì lập ý là cơ sở để lập dàn ý xây dựng kết cấu của bài văn Ngược lại, lập dàn ý lấy kết quả của lập ý làm

tư liệu cho mình

c Quan hệ với kĩ năng diễn đạt, trình bày

Trong quan hệ với kĩ năng diễn đạt, trình bày ta thấy rằng lập ý cũng đóng một vai trò quan trọng Trong một bài văn nghị luận nói chung và nghị luận

về một HTĐS nói riêng bao gồm nhiều ý với các cấp độ khác nhau Không phải có bao nhiêu ý thì tất cả các ý đều được trình bày tương đương nhau

mà ta phải xác định trong hệ thống các ý đó thì ý nào là quan trọng nhất, là ý trọng tâm, ý nào là phụ, không quan trọng Với những ý trọng tâm thì ta phải trình bày nhiều hơn, nói kĩ hơn còn những ý phụ thì không cần trình bày nhiều bằng các ý trọng tâm Như vậy mới tạo sự cân đối, hài hòa cho bài văn và khi đọc thì người đọc sẽ dễ dàng nhận ra trong bài viết ấy thì ý nào là cốt lõi, là vấn đề chính

d Quan hệ với kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết

Kĩ năng kiểm tra và hoàn chỉnh bài viết là khâu cuối cùng trong quá trình tạo lập một văn bản Đây là khâu cũng rất quan trọng bởi trong quá trình tạo lập văn bản có khi người viết mắc phải một số lỗi thì đây chính là lúc để chúng ta hoàn chỉnh và sửa chữa các lỗi mắc phải ấy Nếu hệ thống các ý rành mạch, rõ ràng sắp xếp theo trình tự hợp lí thì khâu hoàn chỉnh sẽ dễ

Trang 24

dàng và ngược lại Để kiểm tra và hoàn chỉnh được bài viết thì bài viết phải

có ý Như vậy, giữa kĩ năng lập ý và kĩ năng kiểm tra, hoàn chỉnh bài viết cũng có mối quan hệ gắn bó với nhau

1.2.2.3.Cơ sở của việc hình thành kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS

Cơ sở của việc hình thành kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS dựa trên lí thuyết tâm lí học thần kinh cao cấp của Paplôp và lí thuyết hành vi chủ quan của Skiner Từ hai thực nghiệm của Paplôp và Skiner ta thấy cùng

là những phản xạ có điều kiện nhưng ở thực nghiệm của Paplôp thì việc hình thành phản xạ có điều kiện ấy hoàn toàn là thụ động, không có sự nỗ lực tích cực chủ động của chủ thể mà hoàn toàn phụ thuộc điều kiện bên ngoài Còn thực nghiệm của Skiner đã tăng cường được tính chủ động tích cực của chủ thể không phụ thuộc bên ngoài Trong quá trình tìm kiếm chủ thể có thể có kết quả sai nhưng bằng kinh nghiệm, tự lực tìm kiếm cuối cùng chủ thể tìm đến kết quả đúng Ta có thể khẳng định rằng tất cả các hiện tượng tâm lí đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện Chính vì vậy hoạt động học cũng là phản xạ có điều kiện Dạy học chính là dạy phản xạ có điều kiện Trong hoạt động dạy học thì chủ thể học sinh phải tích cực, chủ động hoạt động tìm kiếm kiến thức Phải làm đi làm lại nhiều lần một hoạt động nào đó thì mới tạo thành đường hằn trong vỏ não và từ đó mới hình thành được kĩ năng mình mong muốn một cách thành thục

Cũng như vậy, muốn hình thành kĩ năng làm văn nghị luận về một HTĐS thì cá nhân phải chủ động tích cực rèn luyện Ngoài việc tiếp thu, áp dụng những kiến thức về lí thuyết đã được giáo viên truyền đạt thì điều quan trọng hơn là học sinh phải được làm được thực hành nhiều Quá trình thực hành ấy phải được tiến hành ở nhiều hình thức khác nhau như: Đọc những bài văn mẫu của những tác giả có uy tín; tham khảo nhiều dạng đề khác

Trang 25

nhau; làm nhiều loại bài tập khác nhau Những hoạt động đó được làm đi làm lại nhiều lần dần dần thành thục và tạo thành kĩ năng Tuy nhiên, những hoạt động đó phải được chủ thể chủ động làm, làm một cách say mê, không

gò bó ép buộc cũng không phải đi chép lại của người khác thì mới tạo thành

kĩ năng được

Như vậy, cơ sở của việc hình thành kĩ năng nói chung và kĩ năng lập ý nói riêng ở kiểu bài NL về một HTĐS chính là bằng cách tiến hành các hoạt động tích cực chủ động có định hướng lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua hệ thống bài tập thực hành như một phương tiện chủ yếu

1.3 Thực trạng dạy và học lập ý cho học sinh ở kiểu bài NL về một HTĐS

1.3.1 Đối tƣợng điều tra

Để nắm được thực trạng năng lực và việc dạy học về kĩ năng lập ý ở kiểu bài NL về một HTĐS chúng tôi tiến hành điều tra học sinh 4 lớp ở 2 trường THPT trên địa bàn thị xã Sông Công và huyện Phổ Yên đó là trường THPT Sông Công và THPT Phổ Yên

1.3.2 Nội dung điều tra

Điều tra thực trạng năng lực lập ý của học sinh ở kiểu bài NL về một HTĐS thông qua hệ thống bài tập trong tiết lí thuyết bài “Nghị luận về một HTĐS”, thông qua bài kiểm tra và tiết trả bài kiểm tra

1.3.3.Cách thức điều tra

a Đối với học sinh

Chúng tôi đã tiến hành 03 cách đo như sau:

Cách thứ nhất: Cho một đề văn (NLXH), yêu cầu học sinh lập ý trong thời

gian 10 – 15 phút Sau đó chấm bài và thống kê kết quả Qui định 10 – 15 phút theo chúng tôi, đó là thời gian cần thiết để HS lập ý trước khi bắt tay

Trang 26

vào viết thành văn (bài làm văn thời gian từ 120 – 180 phút) Cách này gọi

là phép đo 1

Cách thứ hai: Ra một đề văn NLXH yêu cầu HS lập ý cho bài văn và triển

khai hệ thống ý đó thành một bài văn hoàn chỉnh tại nhà hoặc 2 tiết trên lớp sau đó chấm hệ thống ý và bài văn Ở phép đo này, người chấm phải tiến hành bước chấm hệ thống các ý và bài văn kết hợp với việc so sánh kết quả của dàn ý và bài văn xem chúng có tỉ lệ thuận với nhau không, từ đó mà đánh giá kết quả ở nhiều khía cạnh khác nhau (Cách này gọi là phép đo 2)

Cách thứ ba: Ngoài hai phép đo cơ bản trên, chúng tôi cũng đã tiến hành

điều tra HS và GV để xác định thực trạng lập ý của HS THPT hiện nay ? (Cách này gọi là phép đo 3)

b Đối với giáo viên

Chúng tôi tiến hành điều tra bằng phiếu thăm dò và trực tiếp phỏng vấn, dự các giờ giảng của giáo viên

Trang 27

Đề bài: Chúng ta cần làm gì để giữ gìn “lá phổi” các đô thị hiện nay?[3,61]

* Yêu cầu các ý chuẩn:

- Giải thích thuật ngữ “lá phổi” của các đô thị

- Nêu hiện trạng “lá phổi” của các đô thị

- Nêu những nguyên nhân dẫn đến hiện trạng “ lá phổi” của các đô thị

- Nêu những hậu quả của hiện trạng “ lá phổi” của các đô thị hiện nay

- Những biện pháp để giữ gìn “ lá phổi” các đô thị hiện nay

Kết quả đo:

Kết quả tổng hợp ( số HS đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu)

Không biết lập ý

(Lưu ý: Một bài làm của HS có thể mắc nhiều loại lỗi khác nhau, cho nên chỉ tính từng loại lỗi so với tổng số bài)

Trang 28

b.Phép đo 2:

Bài tập: Hãy lập ý và triển khai thành một bài văn hoàn chỉnh cho đề bài

sau:

Chúng ta cần làm gì để giữ gìn “lá phổi” các đô thị hiện nay?[3,61]

Kết quả tổng hợp ( số học sinh đạt yêu cầu và không đạt yêu cầu)

Không biết lập ý

Số bài có các ý đạt yêu cầu và

bài làm không đạt yêu cầu

Trang 29

Thống kê 2

các ý không đạt yêu cầu

Số bài có các ý không đạt yêu cầu và bài làm đạt yêu cầu

Số bài có các ý không đạt yêu

cầu và bài làm

không đạt yêu cầu

c.Phép đo 3:

em thấy phân môn nào là khó nhất?

chung và nghị luận về một HTĐS nói riêng,

em thấy khó nhất là khâu nào? (chỉ được trả lời 1 khâu)

Tổng số HS tham gia trả

lời

500

Trang 31

Câu hỏi 4: Trong giờ làm văn, em mong muốn ở GV

điều nào sau đây ?

Tổng số HS tham gia

trả lời

500 Câu trả lời Chú ý nhiều đến việc

Đánh giá về khả năng lập ý của học sinh

- - Khả năng lập ý trong làm văn NL về một HTĐS của HS

hiện nay là TỐT

- - Khả năng lập ý trong làm văn NL về một HTĐS của HS

0%

6,7%

Trang 32

hiện nay là KHÁ

- - Khả năng lập ý trong làm văn NL về một HTĐS của HS

hiện nay là TRUNG BÌNH

- Khả năng lập ý trong làm văn NL về một HTĐS của HS

hiện nay là YẾU

19,%

78%

Đánh giá về tình hình giảng dạy lập ý của giáo viên

- Dạy làm văn NL về một HTĐS khó hơn so với dạy đọc văn

khăn vì thời lượng phân phối cho phân môn làm văn và cho

từng tiết dạy quá ít

- Các thầy cô còn cảm thấy lúng túng khi dạy HS lập ý cho

bài NL về một HTĐS ở việc đưa ra một qui trình lập ý mang

tính ứng dụng, thực hành cao đồng thời với việc hướng dẫn

học sinh vận dụng hiệu quả qui trình ấy vào thực tế học tập

- Các thầy cô còn cảm thấy lúng túng khi dạy HS lập ý cho

bài NL về một HTĐS ở việc hướng dẫn học sinh áp dụng các

kiến thức lý thuyết ở SGK để thực hành lập ý

-Các thầy cô còn cảm thấy lúng túng khi dạy HS lập ý cho

bài NL về một HTĐS ở việc thiết kế một giáo án dạy lập ý

Trang 33

- Các thầy cô còn cảm thấy lúng túng khi dạy HS lập ý cho

bài NL về một HTĐS ở việc đưa ra các biện pháp để học sinh

chuẩn bị bài ở nhà thật tốt

- Các thầy cô còn cảm thấy lúng túng khi dạy HS lập ý cho

bài NL về một HTĐS ở việc đưa ra các biện pháp và hệ

thống bài tập giúp học sinh luyện tập thêm hiệu quả ở nhà

43,%

25,%

Đánh giá về điều kiện phục vụ cho việc giảng dạy

- Để dạy kỹ năng lập ý trong bài làm văn NL về một HTĐS

tốt, cần trang bị cho HS hệ thống các kỹ năng làm văn

một cách bài bản từ cấp dưới

- Để dạy kỹ năng lập ý trong bài làm văn NL về một HTĐS

tốt, cần trang bị đầy đủ cho GV SGK, SGV, tài liệu tham

khảo có khả năng áp dụng, thực hành cao

- Để dạy kỹ năng lập ý trong bài làm văn NL về một HTĐS

tốt, cần dạy cho HS cách học, cách suy nghĩ, kỹ năng giải

quyết vấn đề không cần nặng về truyền thụ kiến thức

- Để dạy kỹ năng lập ý trong bài làm văn NL về một HTĐS

tốt, cần thay đổi cách đánh giá họat động dạy học của giáo

viên

- Chương trình SGK cần biên soạn có hệ thống, gần gũi

với HS, mang tính ứng dụng-thực hành cao và tinh giản

hơn

- Thay đổi cách đánh giá-kiểm tra, thi cử của HS

- Tăng thời lượng dạy học làm văn trên lớp

Trang 34

- Dạy cho HS phương pháp, cách thức làm văn và phương

pháp, cách thức vận dụng kiến thức đọc văn, tiếng việt để

làm văn

- Tỉ lệ giữa việc dạy văn nghị luận xã hội và việc dạy văn

nghị luận văn học ở trường THPT hiện nay là cân đối, hợp lý

- Tỉ lệ giữa việc dạy văn nghị luận xã hội và việc dạy văn

nghị luận văn học ở trường THPT hiện nay không cân đối,

hợp lý

- Tỉ lệ giữa việc dạy văn nghị luận xã hội và việc dạy văn

nghị luận văn học ở trường THPT hiện nay tạm được

HS THPT hiện nay rất yếu Cũng căn cứ vào kết quả tổng hợp của phép đo

1 và phép đo 2, chúng ta có thể thấy những lỗi phổ biến mà đa số HS thường mắc phải trong quá trình lập ý đó là lỗi thiếu ý, lỗi triển khai ý không làm rõ trọng tâm , đặc biệt lỗi không biết làm dàn ý cũng có khá nhiều HS mắc phải

Căn cứ vào kết quả của phiếu phỏng vấn GV thì không 0% GV cho rằng khả năng lập ý của HS hiện nay là tốt và có đến 78% GV cho rằng khả năng lập

ý của HS hiện nay là yếu

Trang 35

Trong quá trình học tập phần Làm văn nói chung và văn NL về một HTĐS nói riêng, 49% HS được khảo sát mong muốn giáo viên chú ý nhiều đến việc rèn khả năng lập ý của các em kết hợp với việc cung cấp, hướng dẫn cụ thể cách vận dụng kiến thức và cách làm một bài làm văn Đặc biệt, nếu có quyền được lựa chọn 1 trong 3 phần của bộ môn Ngữ văn để học thêm giờ thì có đến 64,8% HS chọn phần Làm văn

c Về thực trạng giảng dạy của GV

Đại đa số GV nhận thấy việc dạy làm văn nói chung và dạy làm văn NLXH là rất khó Có đến 96% GV được khảo sát nhận thấy việc dạy làm văn nói chung và dạy làm văn NL về một HTĐS nói riêng khó hơn so với dạy đọc văn và tiếng Việt Các khó khăn mà GV thường gặp phải đó là: chương trình SGK còn nhiều kiến thức trừu tượng, khó hiểu đối với học sinh, khó áp dụng vào thực tiễn, chưa mang tính thực hành cao; tư liệu mang tính ứng dụng thực hành cao phục vụ cho môn học còn ít; HS không chăm, thiếu kĩ năng tự học, bị hổng kiến thức từ cấp dưới (85,2%); thời lượng phân phối cho phần làm văn và cho từng tiết dạy quá ít (87,5%)

Cũng chính vì vậy, có đến 43,4% GV còn cảm thấy lúng túng ở việc đưa

ra các biện pháp và hệ thống bài tập giúp học sinh luyện tập thêm hiệu quả ở nhà; hướng dẫn học sinh áp dụng các kiến thức lí thuyết ở SGK để thực hành lập ý; việc đưa ra một qui trình lập ý mang tính ứng dụng, thực hành

Trang 36

cao đồng thời với việc hướng dẫn học sinh vận dụng hiệu quả qui trình ấy vào thực tế học tập

Trong quá trình dạy học Làm văn nói chung và dạy làm văn NLXH nói riêng vẫn còn tồn tại những hiện tượng: có khá ít GV tích hợp dạy lí thuyết

và kĩ năng làm văn trong giờ trả bài (56,2% GV được khảo sát xác nhận điều này); rất ít GV dạy các tiết lí thuyết, kĩ năng một cách hào hứng (54,7%

GV được khảo sát xác nhận điều này); đa số GV dạy các giờ lí thuyết, kĩ năng làm văn một cách đơn điệu, chiếu lệ (43,5% GV được khảo sát xác nhận điều này); ít GV dạy tiết trả bài một cách hào hứng (54,7% GV được khảo sát xác nhận điều này); vẫn còn khá đông GV thật sự lúng túng, không biết bằng cách nào để rèn kĩ năng lập ý cho HS (35,3% GV được khảo sát xác nhận điều này)

Nguyên nhân của những vấn đề nêu trên là do: HS quen cách học theo bài mẫu ở cấp 2 nên lười tư duy, không chịu thực hành, chưa được trang bị một cách hệ thống các kĩ năng làm văn một cách bài bản từ cấp dưới, không có điều kiện rèn luyện nhiều, kiến thức xã hội hạn chế, nhiều HS học đối phó, không chăm; tư liệu ít, tư liệu đã có thì lạc hậu và GV chưa được trang bị đầy đủ tài liệu phục vụ cho giảng dạy có khả năng áp dụng, thực hành cao; cách đánh giá hoạt động dạy học của GV có nhiều điểm chưa hợp lí; chương trình SGK biên soạn còn hàn lâm, chưa mang tính ứng dụng-thực hành cao, chưa có độ tinh giản hợp lí, và nội dung chưa đáp ứng được yêu cầu dạy cho

HS cách học, cách suy nghĩ, kĩ năng giải quyết vấn đề mà còn nặng về truyền thụ kiến thức; cách đánh giá-kiểm tra, thi cử của HS còn nhiều bất cập; thời lượng phân phối chương trình cho môn Làm văn còn quá ít và chưa hợp lí giữa số tiết dành cho lí thuyết và thực hành trong nội bộ phần Làm văn; văn NLXH cần có kiến thức thực tế rộng, lập luận chặt chẽ; giờ học khô khan, các vấn đề đưa ra bàn luận còn đơn điệu nhàm chán, đa số HS

Trang 37

không thích thú thậm chí xem thường học Văn; GV chưa chú trọng dạy NLXH; tỉ lệ giữa việc dạy văn NLXH và việc dạy văn NLVH ở trường THPT hiện nay chưa thật sự hợp lí Đa số GV đều cho rằng để việc dạy và học phần Làm văn nói chung và văn NLXH và nghị luận về một HTĐS nói riêng cần phải khắc phục tất cả những nguyên nhân dẫn đến thực trạng dạy – học đã nêu ở trên Đồng thời phải có một qui trình hóa hệ thống các thao tác lập ý khả thi trong quá trình dạy- học lập ý

Trang 38

Chương 2

TỔ CHỨC RÈN LUYỆN KĨ NĂNG LẬP Ý Ở KIỂU BÀI NGHỊ LUẬN

VỀ MỘT HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG CHO HỌC SINH

2.1 Trang bị cho học sinh những kiến thức về cách thức lập ý

- Những kiến thức về văn học về xã hội mà học sinh đã học, đã đọc hoặc

đã tiếp thu được qua những nguồn đáng tin cậy

Đối với kiểu bài nghị luận về một HTĐS bàn về những hiện tượng quen thuộc trong đời sống hàng ngày được nhiều người quan tâm và biết đến và đây là loại bài thuộc kiểu bài NLXH nên để lập ý cho kiểu bài này có thể dựa vào các căn cứ sau:

- Căn cứ vào kết quả của việc tìm hiểu đề và phân tích đề

- Những kiến thức về các hiện tượng xã hội mà học sinh có được thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua kinh nghiệm sống và hiểu biết của bản thân về các vấn đề xã hội

- Dựa vào mô hình ý của kiểu bài NL về một HTĐS thông qua 3 bước cụ thể như sau:

+ Giới thiệu thực trạng được nêu trong đề bài

+ Phân tích và bình luận nguyên nhân- kết quả ( hậu quả) của vấn đề được nêu ra trong đề bài

+ Đề xuất ý kiến ( giải pháp) với vấn đề được đưa ra trong đề bài

Trang 39

2.1.2 Qui trình lập ý cho kiểu bài NL về một HTĐS

Hay nói một cách khác là tìm ý chính là các luận điểm, luận cứ cho bài văn nghị luận Đối với kiểu bài NL về một HTĐS bước tìm ý được tiến hành như sau:

(1) Mô tả, kể lại sự việc, hiện tượng một cách khái quát, ngắn gọn

(2) Giải thích (từ ngữ, hình ảnh, thuật ngữ, chi tiết, khái niệm, câu trích dẫn, câu chủ đề )

(3) Nêu các biểu hiện hoặc các mặt đúng, sai của vấn đề cần nghị luận (4) Nêu và phân tích tác dụng, tác hại

(5) Nêu và phân tích nguyên nhân tư tưởng và nguyên nhân xã hội sâu xa của sự việc, hiện tượng

(6) Bày tỏ quan điểm, thái độ khen, chê đối với sự việc, hiện tượng và

phương hướng hành động của bản thân

* Lưu ý: Tuỳ từng đề bài cụ thể mà ta quyết định có thực hiện tuần tự và

thực hiện hết tất cả những bước nêu trên hay không

Ví dụ:

Đề bài: Báo tuổi trẻ ngày 12-7-2004 đưa tin: “Theo Ban chỉ đạo tuyển sinh đại học năm 2004, sau hai đợt thi đã có 3.186 thí sinh bị xử lí kỉ luật do vi phạm quy chế thi, trong đó có 2.637 thí sinh bị đình chỉ thi, chủ yếu do mang và sử dụng tài liệu trong phòng thi Hình thức mang tài liệu và phao

Trang 40

thi ngày càng tinh vi, chúng được giấu trong thước kẻ, điện thọai di động, trong đế giày” Hãy bình luận thực trạng đó

Ta có các ý như sau:

- Nêu thực trạng của hiện tượng gian lận trong kiểm tra – thi cử trong xã hội hiện nay một cách khái quát, ngắn gọn

- Giải thích: Khái niệm gian lận và gian lận trong kiểm tra – thi cử

- Nêu các biểu hiện của hiện tượng gian lận trong kiểm tra – thi cử và các mặt sai trái của nó

- Nêu và phân tích tác hại của hiện tượng gian lận trong kiểm tra – thi cử (Ví dụ: làm mất đi tính công bằng trong xã hội, làm suy thoái đạo đức con người, làm thui chột tính sáng tạo của con người, làm cho con người sống dựa dẫm – ỷ lại – lười biếng…)

- Nêu và phân tích nguyên nhân tư tưởng và nguyên nhân xã hội sâu xa của của hiện tượng gian lận trong kiểm tra – thi cử (Ví dụ: Ý thức hạn chế của học sinh Tình trạng học “giả” trong các nhà trường,…)

- Bày tỏ quan điểm, thái độ phê phán đối với của hiện tượng gian lận trong kiểm tra – thi cử

- Giải pháp của bản thân: Tăng cường chất lượng giáo dục, quản lí việc tuyển sinh thi cử chặt chẽ, nghiêm túc, giáo dục và rèn luyện cho các thế hệ học sinh tinh thần “Học tập nghiêm túc – Thi cử nghiêm túc”…

2.1.2.2 Chọn ý

Sau khi đã xác lập được hệ thống các luận điểm (ý lớn) và luận cứ (ý nhỏ) thì người viết chưa thể tiến hành tạo lập văn bản ngay được mà phải biết xác định được mức độ, cấp độ của các ý mình vừa lập ra

Chọn nghĩa là lựa chọn những cái tốt, cái hay và lược bỏ những cái xấu, cái không cần thiết Chọn ý là biết lựa ra những ý nào là quan trọng, phải xác định được ý nào là trọng tâm của vấn đề và lược bỏ những ý phụ, những

Ngày đăng: 31/10/2014, 18:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1) Lê A (chủ biên) – Thực hành Làm văn 10- NXBGD – 2009 Khác
2) Lê A (chủ biên) – Thực hành Làm văn 11- NXBGD – 2009 Khác
3) Lê A (chủ biên) – Thực hành Làm văn 12- NXBGD – 2009 Khác
4) Lê A (chủ biên), Nguyễn Thị Ngân Hoa (đồng chủ biên)- Các dạng đề và hướng dẫn làm bài NLXH – NXBGD- 2010 Khác
5) Lê A ( chủ biên) – Làm văn ( Giáo trình đào tạo GV THCS hệ CĐSP) – NXB GD – 2001 Khác
6) Lê A – Nguyễn Trí – Làm văn – Giáo trình đào tạo GV THCS – NXB GD – 2001 Khác
7) BGD – SGK Ngữ văn 7 ( mới chỉnh lí) – NXBGD- 2006 Khác
8) BGD – SGK Ngữ văn 9 tập II ( mới chỉnh lí) – NXBGD- 2006 Khác
9) BGD – SGK Ngữ văn 10 (mới chỉnh lí) – NXBGD- 2006 Khác
10) BGD – SGK Ngữ văn 12 (mới chỉnh lí) – NXBGD- 2006 Khác
11) BGD – SGK Làm văn 12 (bộ cũ) – NXBGD – 2000 Khác
12) BGD – Tài liệu bồi dưỡng giáo viên môn Ngữ văn 12 – NXBGD – 2008 Khác
13) BGD và ĐT – Một số vấn đề về phương pháp giảng dạy tâm lí học – NXB GD – 2009 Khác
14) Lương Duy Cán – Rèn kĩ năng làm văn 10 – NXB GD – 2007 Khác
15) Lương Duy Cán – Rèn kĩ năng làm văn 11 – NXB GD – 2007 Khác
16) Đình Cao, Lê A – Giáo trình Làm văn (tập 1) – NXBGD – 1989 Khác
17) Đỗ Hữu Châu (chủ biên) – Làm văn 10 – NXBGD – 1997 Khác
18) Trương Dĩnh – Thiết kế mới về dạy học làm văn 12 – NXB GD – 2002 Khác
19) Nguyễn Minh Diệu- Những bài làm văn 10 – NXB HN – 2007 Khác
20) Hồ Ngọc Đại – Tâm lí học dạy học – NXBGD – 1987 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp kết quả trước khi thể nghiệm và sau khi thể nghiệm - rèn luyện kỹ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một số hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông
Bảng t ổng hợp kết quả trước khi thể nghiệm và sau khi thể nghiệm (Trang 94)
Bảng tổng hợp kết quả trước khi thể nghiệm và sau khi thể nghiệm - rèn luyện kỹ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một số hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông
Bảng t ổng hợp kết quả trước khi thể nghiệm và sau khi thể nghiệm (Trang 96)
Bảng tổng hợp kết quả trước khi thể nghiệm và sau khi thể nghiệm - rèn luyện kỹ năng lập ý ở kiểu bài nghị luận về một số hiện tượng đời sống cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông
Bảng t ổng hợp kết quả trước khi thể nghiệm và sau khi thể nghiệm (Trang 97)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w