của mình, cụ thể: Tôi tên là: Phạm Hữu Phương Sinh ngày 23 tháng 01 năm 1954 - Tại: Hà Nội Quê quán: Hà Nội Hiện công tác tại: Ngân hàng Nhà nước Văn phòng đại diện tại TP.HCM Là Nghiên
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HCM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH, NGÂN HÀNG
Trang 3của mình, cụ thể:
Tôi tên là: Phạm Hữu Phương
Sinh ngày 23 tháng 01 năm 1954 - Tại: Hà Nội
Quê quán: Hà Nội
Hiện công tác tại: Ngân hàng Nhà nước Văn phòng đại diện tại TP.HCM
Là Nghiên cứu sinh khóa: 9 của Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM Mã số: 62.31.12.01
Cam đoan đề tài: Các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM
Người hướng dẫn khoa học: Ts Hồ Diệu và Ts Trần Đắc Sinh
Luận án được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM
Đề tài này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu có tính độc lập riêng, không sao chép bất kỳ tài liệu nào và chưa được công bố toàn bộ nội dung này bất kỳ ở đâu (hoặc đã công bố phải nói rõ ràng các thông tin của tài liệu đã công bố); các số liệu, các nguồn trích dẫn trong luận án được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Tác giả
Phạm Hữu Phương
Trang 4ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ICOR Tỷ suất vốn sản phẩm gia tăng
KCN Khu công nghiệp
WB Ngân hàng thế giới
Trang 5Trang
Bảng 1.1 Các cam kết WTO của Trung Quốc về lĩnh vực tài chính 38
Bảng 2.1 Giá trị vốn hóa TTCK Việt Nam so với GDP và Giá trị
giao dịch qua các năm tính đến 31/12
49
Bảng 2.2 Giá trị giao dịch của Trái phiếu tại SGDCK TP.HCM qua
các năm 2005 - 2010
61
Bảng 2.3 Tỷ lệ giá trị giao dịch/giá trị niêm yết trái phiếu Chính phủ
của một số quốc gia năm 2010
Dư nợ cho vay trên địa bàn TP.HCM qua các năm
Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ cho vay trên địa bàn TP.HCM so với cả nước từ năm 2005 - 2010
65
67
Bảng 2.8
Bảng 2.9
Tổng số công ty chứng khoán tại TP.HCM qua các năm
Số lượng công ty Quản lý quỹ và Quỹ đầu tư trên địa bàn TP.HCM
71
78
Bảng 2.10 Số loại chứng ch quỹ niêm yết trên HOS 74
Bảng 3.1 Mục tiêu phát triển Kinh tế – Xã hội TP.HCM đến năm
2020
100
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ Trang
Biểu đồ 2.1 Số lượng cổ phiếu niêm yết trên sàn HOS qua từng năm 47
Biểu đồ 2.2 Số lượng cổ phiếu niêm yết lũy kế trên sàn HOS từ năm
Tỷ lệ huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trong tổng giá trị GDP của Việt Nam từ năm 2001 – 2010
Tỷ lệ cơ cấu trái phiếu phát hành năm 2010 của Việt Nam
Cơ cấu loại hình Công ty chứng khoán
Số lượng chứng ch quỹ niêm yết trên sàn HOS
Hình 1.1 Cơ cấu hệ thống tài chính của Hồng Kông 32
Hình 1.2 Cơ cấu hệ thống tài chính của Singapore 34
Hình 1.3 Cấu trúc hệ thống tài chính Trung Quốc 36
Trang 7CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ ĐỐI
VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH
6
1 1 TRUNG TÂM TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ TRONG PHÁT TRIỂN
NỀN KINH TẾ
6
1.1.3 Vai trò của Trung tâm tài chính trong phát triển nền kinh tế 8
1 2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRUNG TÂM TÀI CHÍNH 9
Sự cần thiết của chính sách và cơ chế đối với việc hình thành
và phát triển Trung tâm tài chính
Các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng đến xây dựng chính sách
và cơ chế cho việc hình thành và phát triển Trung tâm tài chính
11
16
17
17 21
1 4 KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN
TRUNG TÂM TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á - BÀI
26
Trang 81.4.1 Kinh nghiệm về chính sách phát triển Trung tâm tài chính của
một số nước Châu Á
26
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ CÁC CHÍNH SÁCH, CƠ CHẾ HIỆN HÀNH
TRONG THÚC ĐẨY SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH TP.HCM
trường trái phiếu
80
2.2.4 Một số vấn đề khác về chính sách và cơ chế 83
2 3 TRIỂN VỌNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TRUNG TÂM TÀI CHINH TP.HỒ CHÍ MINH
Trang 93 2 HOÀN THIỆN CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ NHẰM PHÁT
TRIỂN CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRUNG TÂM TÀI CHÍNH TP.HỒ CHÍ MINH
Lộ trình hoàn thiện chính sách và cơ chế nhằm hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.Hồ Chí Minh Giải pháp thực hiện lộ trình
125
126
127
3.3.2.2 Thiết lập một cơ chế vận hành thị trường tài chính có hiệu
Trang 103.4.3 Đối với UBND TP.Hồ Chí Minh 152
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong lịch sử phát triển của thế giới, các trung tâm tài chính lớn thường phát triển bên cạnh những khu vực kinh tế năng động nhất Với vai trò đầu tàu kinh tế, Thành Phố Hồ Chí Minh được định hình là trung tâm tài chính của cả nước Phát triển trung tâm tài chính TP.HCM sẽ là điểm đột phá trong nỗ lực xây dựng một hệ thống tài chính hiệu quả phục vụ nền kinh tế thị trường Hiện nay, thị trường tài chính của TP.HCM nói riêng và Việt Nam nói chung còn ở mức phát triển rất thấp so với các thị trường tài chính trong khu vực Cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng, các tổ chức tài chính phi ngân hàng và thị trường chứng khoán cũng cần phát triển mạnh mẽ nhiều hơn nữa cả về chất lẫn về lượng
Tuy nhiên, để xây dựng TP.HCM trở thành Trung tâm tài chính vững mạnh thì thành phố cũng phải đối diện với nhiều trở lực, đặc biệt trong bối cảnh hệ thống tài chính nước ta còn yếu kém, bên cạnh nguy cơ khủng hoảng vẫn luôn ám ảnh những nỗ lực đột phá trong lĩnh vực tài chính và các bước đi trong chiến lược phát triển trung tâm tài chính TP.HCM Vì vậy, Trung tâm tài chính TP.HCM sẽ đóng vai trò cấp thiết cho tiến trình tự do hoá tài chính mạnh mẽ của những chủ trương cấp tiến, phát triển nhanh, đồng bộ, vững chắc thị trường vốn Việt Nam, trong đó, thị trường chứng khoán đóng vai trò chủ đạo Vì vậy, một trong những vấn
đề cấp bách là đòi hỏi Thành phố Hồ Chí Minh phải có một hệ thống giải pháp chủ yếu là các cơ chế và chính sách nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM
Trang 12Từ thực tiễn trên, tác giả đã chọn đề tài: "Các chính sách và cơ chế
nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM "
làm đề tài Luận án tiến sĩ
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Liên quan đến những vấn đề mà luận án tập trung phân tích đã có một số công trình nghiên cứu Trong phạm vi tài liệu mà bản thân tiếp cận được cho đến nay thì vấn đề thị trường tài chính và Trung tâm tài chính TP.HCM được đề cập trên một số tạp chí, báo dưới dạng đề cập vấn đề, hoặc nêu một cách tổng quát về sự cần thiết phải xây dựng Trung tâm tài chính TP.HCM, hoặc nghiên cứu điển hình sự thành công của một vài thị trường tài chính và Trung tâm tài chính trên thế giới để rút ra bài học phát triển Trung tâm tài chính Việt Nam
Trên trang web của các Tổ chức như: http://thitruongtaichinh.vn
hoặc http://www.kienthuctaichinh.com, có nhiều bài viết về: Thông tin thị trường tài chính, cổ phiếu, tầm quan trọng của hệ thống tài chính trong nền kinh tế hiện nay … Về bản thân, cũng đã một số bài viết đăng trên Tạp chí ngân hàng và viết bài tham gia hội thảo khoa học về thị trường vốn Việt Nam Riêng về những công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề Thị trường tài chính thì có một số nghiên cứu sau:
- Kỷ yếu hội thảo khoa học của Bộ giáo dục và đào tạo kết hợp với Trường Đại học kinh tế tổ chức chủ đề: “Phát triển TP.HCM thành Trung tâm tài chính của cả nước và khu vực” (tháng 7/2006) chủ yếu bàn về thị trường chứng khoán, thị trường tiền tệ, và một số giải pháp đẩy mạnh huy động vốn để phát triển thị trường tài chính TP.HCM
- Đề án: “Phát triển thị trường vốn Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” (2007) của Bộ Tài Chính trên phương diện: Xác
Trang 13định mục tiêu chiến lược cụ thể cho việc phát triển thị trường vốn đến năm 2010; Hoạch định chính sách và các hoạt động cần thiết để hoàn thiện khuôn khổ luật pháp, phát triển hạ tầng cơ sở, các định chế trung gian và nguồn nhân lực cho thị trường vốn
- Báo cáo tổng hợp của Ủy Ban Nhân dân TP.HCM “Nguồn nhân lực trình độ cao để phát triển thị trường tài chính Thành Phố Hồ Chí Minh” (2008), bàn luận xoay quanh vấn đề thực trạng về cầu nguồn nhân lực, phân tích đánh giá về nguồn nhân lực ngân hàng hiện nay, thị trường nguồn nhân lực cho hoạt động ngân hàng hiện nay và nêu lên giải pháp cung ứng nguồn nhân lực cho thị trường tài chính
Đặc biệt trong thời gian gần đây, các báo chí đã xuất hiện các cuộc tranh luận về cơ hội để TP.HCM phát triển Trung tâm tài chính; để TP.HCM trở thành Trung tâm tài chính; Không thể cứ mãi là kế hoạch… Như vậy, có thể thấy rằng vấn đề nghiên cứu để xây dựng “Các chính sách
và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM” là một nhu cầu thực tiễn và cấp bách
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN
Mục đích nghiên cứu của Luận án nhằm làm sáng tỏ các vấn đề:
- Tập trung làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề Trung tâm tài chính cũng như của các chính sách và cơ chế để sớm hình thành Trung tâm tài chính
- Phân tích, đánh giá về Trung tâm tài chính của một số nước và rút
ra bài học kinh nghiệm đối với TP.HCM
Trang 14- Đánh giá đúng mức thực trạng Trung tâm tài chính TP.HCM cũng như các chính sách và cơ chế hiện hành Đồng thời, nêu lên những thuận lợi, hạn chế và những nguyên nhân hạn chế
- Đưa ra hệ thống giải pháp về các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM một cách có hiệu quả và bền vững
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Vấn đề Trung tâm tài chính là một phạm trù kinh tế có nội dung khá rộng Luận án chỉ tập trung nghiên cứu về các chính sách và cơ chế nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM Lấy số liệu thực tế từ năm 2005 – 2010 làm cơ sở minh chứng
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học kết hợp với các phương pháp thống kê, kế tóan, phương pháp so sánh, mô hình hóa kinh tế vĩ mô, đối chiếu, quan sát tổng kết thực tiễn… Luận án thiết lập các bảng, biểu để minh họa và làm rõ hơn những nội dung, kết luận và số liệu đề cập trong đề tài Luận án có tham khảo và sử dụng số liệu trong thống kê, báo cáo, các kết quả nghiên cứu của các đề tài có liên quan nhằm xây dựng các bảng, biểu đồ, sơ đồ để minh họa và làm rõ mục đích nghiên cứu
6 KẾT CẤU LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận án kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về các chính sách và cơ chế đối với sự hình
thành và phát triển Trung tâm tài chính
Trang 15Chương 2: Thực trạng về các chính sách, cơ chế hiện hành trong thúc đẩy
sự hình thành và phát triển Trung tâm tài chính TP.HCM Chương 3: Hệ thống các chính sách và cơ chế nhằm hình thành và phát
triển Trung tâm tài chính TP.HCM
Trang 16CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TRUNG TÂM TÀI CHÍNH
1.1 TRUNG TÂM TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ TRONG PHÁT
TRIỂN KINH TẾ
Trong những năm gần đây, nhiều quốc gia đã đầu tư lớn vào việc xây dựng và phát triển các Trung tâm tài chính và coi nó như là một giải pháp mang tầm chiến lược để phát triển kinh tế và nâng cao năng lực tài chính quốc gia Riêng khu vực Châu Á, trung tâm tài chính được phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước như: Hồng Kông, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc, … Việc phát triển Trung tâm tài chính ở bất cứ nước nào đều thu hút chất xám có trình độ cao trong lĩnh vực tài chính ngân hàng nhằm tạo
ra những bước đột phá quan trọng để tập trung vốn trung và dài hạn phát triển kinh tế đất nước và hỗ trợ các doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh
1.1.1 Khái niệm về Trung tâm tài chính
Trung tâm tài chính là nơi quy tụ và tập trung nhiều nguồn cung - cầu về sản phẩm tài chính với phạm vi rộng lớn, tập trung trụ sở chính của các tổ chức tài chính tầm cỡ và có uy tín về chuyên môn, thu hút được nhiều nguồn vốn trong nước và quốc tế với nhiều hoạt động đa dạng phong phú, đáp ứng được các chuẩn mực và tiêu chí quốc tế nhằm góp phần chủ yếu vào việc huy động và sử dụng các nguồn vốn có hiệu quả để phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nói cách khác, Trung tâm tài chính là một địa điểm, một thành phố hay một vùng lãnh thổ có
Trang 17một mạng lưới các tổ chức và thị trường tài chính được thiết lập để cung cấp tất cả các dịch vụ tài chính cho quốc gia, khu vực và quốc tế
Vì vậy, trung tâm tài chính gắn liền với cấu trúc hiện đại, không những về hạ tầng kỹ thuật, mà còn bao hàm cả về nguồn nhân lực có trình
độ và chất lượng cao trong ngành Tài chính - Ngân hàng, tiếp cận với những tiêu chuẩn tầm cỡ quốc tế Một trung tâm tài chính với quy mô lớn, song hành với sự phát triển tất yếu của hệ thống ngân hàng và sự khởi sắc của thị trường chứng khoán, sẽ mở ra một nhu cầu cực lớn về nguồn nhân lực trình độ cao và đội ngũ chuyên viên chuyên gia mang tính chuyên nghiệp thực sự Để nhận dạng một thành phố nào đó với tư cách là một trung tâm tài chính, chúng ta có thể xem xét số lượng và chất lượng nguồn nhân lực làm việc trong lĩnh vực tài chính; tổng tài sản của các định chế tài chính; tổng phương tiện thanh toán qua ngân hàng hoặc thị trường chứng khoán; khối lượng của các giao dịch thông tin (qua hệ thống thư từ hoặc giao dịch viễn thông ); sự hiện diện của các ngân hàng quốc tế hàng đầu
và các công ty đa quốc gia lớn Thông thường, các nhà kinh tế sẽ xây dựng một chỉ số đặc thù để xem xét mức độ phát triển của một trung tâm tài chính và được gọi là chỉ số trung tâm tài chính FINDEX Mặc dù chưa có những nghiên cứu định lượng chính thống nhưng chỉ số này dựa trên một
số chỉ tiêu như mức vốn hóa trên thị trường chứng khoán, số lượng các định chế tài chính quốc tế, chi nhánh của các công ty đa quốc gia, tổng phương tiện thanh toán qua ngân hàng và thị trường chứng khoán đang có
xu hướng ngày càng phát triển,…
1.1.2 Đặc trưng của Trung tâm tài chính
Có thể nêu lên một số đặc trưng cơ bản của Trung tâm tài chính:
- Có các điều kiện về vị trí địa lý thuận lợi (giao thông đường thủy
và đường bộ, có các hải cảng, sân bay) với các thế mạnh và lợi thế so sánh
Trang 18như mức độ phát triển về kinh tế, kết cấu hạ tầng, thương mại, công nghiệp
và công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác trên phạm vi quốc gia hoặc quốc tế (ví dụ như Newyork, London, Tokyo,Hongkong, Singapore, Frankfurt, Zurich, Dubai,…)
- Là nơi tập trung một số lớn các định chế tài chính với mật độ dầy đặc (hệ thống Ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng); các công
cụ tài chính (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi); các dịch vụ tài chính (kiểm tóan, định mức tín nhiệm) cũng như các cơ chế họat động của chúng cùng các quan hệ tài chính-tiền tệ
- Có họat động điều tiết cung cầu vốn, tiền tệ rộng với khối lượng giao dịch chi phối và điều chỉnh các họat động tài chính tiền tệ trên phạm
vi vùng khu vực, quốc gia, nhóm quốc gia hay thậm chí trên phạm vi tòan cầu
- Là Trung tâm chính trị, thương mại, đầu tư, nghiên cứu, giáo dục của quốc gia, nơi tập trung số lượng lớn các chuyên gia tài chính giỏi (ví
dụ khỏang 7% GDP của Anh được tạo ra bởi một triệu chuyên gia và nhân viên tài chính làm việc trong một diện tích khỏang một dặm vuông của Trung tâm tài chính London)
- Có sự hình thành và phát triển do kết quả của những nỗ lực chủ quan của con người kết hợp chặt chẽ với những điều kiện khách quan thuận lợi về vị trí địa lý, kinh tế và kết cấu hạ tầng
1.1.3 Vai trò của Trung tâm tài chính trong phát triển nền kinh tế
- Trung tâm tài chính được hình thành với số lượng lớn các định chế tài chính sẽ tăng cường khả năng thống nhất thị trường, hình thành các kênh huy động mọi nguồn vốn tiền tệ phục vụ cho các chu trình phát triển kinh tế trong nước và khu vực cũng như quốc tế
Trang 19- Trung tâm tài chính hình thành và phát triển sẽ tác động sự ra đời
và phát triển của hệ thống cơ sở kinh tế như: Bưu điện, hàng không, vận tải, khách sạn, văn phòng, kiểm tóan, tư vấn pháp lý, bảo hiểm v.v…
- Trung tâm tài chính hình thành sẽ thúc đẩy việc phát triển kinh tế
xã hội trên địa bàn trên các khía cạnh:
+ Các tổ chức kinh tế và dân cư được cung ứng các dịch vụ tài chính – ngân hàng tốt hơn
+ Tăng nguồn thu cho ngân sách thông qua thu thuế và các lọai phí dịch vụ
+ Giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lao động tại chỗ, góp phần ổn định đời sống – xã hội
+ Thu hút khách hàng, các đối tác đến kinh doanh và du lịch, tăng sức cần cho hàng hóa và dịch vụ
- Trung tâm tài chính được hình thành và phát triển sẽ điều hòa lưu lượng tiền tệ trong lưu thông, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm sóat lạm phát trên địa bàn cũng như khu vực và thậm chi tòan cầu
1.2 CÁC YẾU TỐ CẤU THÀNH TRUNG TÂM TÀI CHÍNH
Một nền kinh tế phát triển và bền vững cần đến thị trường tài chính tốt để chuyển vốn từ những người có tiền đến những người có cơ hội đầu
tư sinh lợi Do vậy, hệ thống tài chính mà đặc biệt là các Trung tâm tài chính mới hoàn thành chức năng và nhiệm vụ của mình Hay nói cách khác, Trung tâm tài chính phải quy tụ được các trung gian tài chính mạnh
(các NHTM, các công ty Bảo hiểm, các quỹ đầu tư, sở giao dịch chứng
khoán,…Các văn phòng đại diện của các tổ chức tài chính không có trụ sở chính tại đó) và có tiềm lực hoạt động, quy mô vận hành lớn, hiện đại
Trang 20Bên cạnh sự tập trung của các định chế tài chính, tại các Trung tâm tài chính còn có sự tập trung cao các văn phòng, hội sở của các định chế phi tài chính, các trung tâm thương mại lớn, các cao ốc văn phòng, hệ thống nhà hàng, khách sạn và những tiện ích khác cũng được cung cấp tại đây Những chủ thể của các tổ chức thương mại cũng là những chủ thể tham gia vào hoạt động của trung tâm tài chính với tư cách là những chủ thể tài chính, thông qua đó tạo nên cung – cầu về tài chính Điều này, chứng tỏ yếu tố cấu thành nên Trung tâm tài chính trước tiên phải kể đến,
đó là: Thị trường tài chính và các định chế tài chính trung gian
1.2.1 Thị trường tài chính
Thị trường tài chính cũng như mọi thị trường khác, bao gồm 5 yếu
tố cấu thành chủ yếu, đó là: Hàng hóa, cung, cầu, giá cả và phương thức giao dịch thanh toán Sự hoàn hảo của thị trường tài chính tùy thuộc vào sự hoàn hảo của các công cụ tài chính và sự vận hành của các công cụ đó Thị trường tài chính bao gồm:
- Thị trường vốn
Thị trường vốn là tổng thể các giao dịch về vốn trung và dài hạn Thị trường vốn có chức năng chuyển hóa các khoản vốn ngắn hạn thành vốn trung và dài hạn để cung ứng cho nền kinh tế, cung cấp nguồn vốn với chi phí thấp nhất cho các doanh nghiệp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài và qua
đó thu hút công nghệ mới Thị trường vốn gồm có: Thị trường chứng khoán, thị trường vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp, thị trường tín dụng thuê mua hay cho thuê tài chính (leasing) và thị trường cho vay trung dài hạn Ở Thành phố HCM dã bước đầu hình thành thị trường vốn với một số thị trường như trên tuy còn rất non trẻ
- Thị trường tiền tệ
Trang 21Thị trường tiền tệ giao dịch các tài sản tài chính có thời hạn dưới 1 năm Mục tiêu chung của thị trường này là “vốn hóa” đồng vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội Thị trường tiền tệ có chức năng chủ yếu: Cân đối và điều hòa khả năng chi trả của các định chế tài chính trung gian; cân đối các khoản vay và cho vay giữa các định chế tài chính trung gian với NHNN; điều hòa lưu lượng ngoại tệ trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và trong toàn nền kinh tế; góp phần thực hiện chính sách tiền tệ của chính phủ (nghiệp vụ thị trường mở) và đẩy nhanh chu chuyển vốn tại các doanh nghiệp (cấp tín dụng và chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu) Thị trường tiền tệ bao gồm thị trường liên ngân hàng, thị trường tín dụng ngắn hạn của các định chế tài chính trung gian và thị trường hối đoái Tại Thành phố HCM đã hình thành thị trường tiền tệ nhưng còn mang tính chất tự phát với sự tác động và quản lý có mức độ của Nhà nước
- Thị trường dịch vụ tài chính:
Thị trường dịch vụ tài chính không trực tiếp hay gián tiếp tham gia các giao dịch về tài chính và cũng không tham gia điều phối các dòng chảy tài chính Chức năng của thị trường này là cung cấp nhiều dịch vụ hỗ trợ thiết yếu về tài chính và quá trình điều phối vốn Các thị trường dịch vụ tài chính bao gồm: Thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm; Thị trường kiểm toán
- tư vấn tài chính và Thị trường thông tin tài chính Thành phố HCM đã
bước đầu hình thành thị trường này
1.2.2 Các định chế tài chính trung gian
Bao gồm :
- Nhóm Ngân hàng trung gian
Trang 22+ Ngân hàng thương mại: Đây là loại ngân hàng có đặc tính nổi
bật nhất, hoạt động vốn ngắn hạn là chủ yếu Đây là ngân hàng quan trọng trong hệ thống ngân hàng, bỡi lẽ NHTM làm đầy đủ các nghiệp vụ, nhận tiền gửi nhiều nhất, cho vay nhiều nhất so với các loại ngân hàng khác Khái niệm NHTM được sử dụng thông dụng ở Mỹ Ở Nhật các ngân hàng loại này được gọi là ngân hàng thông thường (Odinary Bank) Ở Việt Nam
và Thành phố HCM, các NHTM thực hiện tất cả các nghiệp vụ của ngân hàng kể cả ngắn hạn và dài hạn
+ Ngân hàng đầu tư: Là những ngân hàng làm các nghiệp vụ có
tính chất dài hạn như cho vay dài hạn, góp vốn vào các doanh nghiệp Những ngân hàng này không nhận tiền gửi, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt như nhận tiền gửi của các cổ đông Ngoài ra, ngân hàng đầu tư hành động như những người kinh doanh chứng khoán, như người môi giới chứng khoán Ở Nhật có ngân hàng tín dụng dài hạn (Long term credit bank) Ở Anh có ngân hàng bán buôn (Merchant Bank) tập trung vào cho vay trung hạn Ở Mỹ, ngân hàng đầu tư hoạt động như là những người bảo đảm cho những cuộc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu, phân phối chứng khoán đó cho các nhà đầu tư Ở Việt nam và TP.Hồ Chí Minh chưa có loại hình Ngân Hàng đầu tư
+ Ngân hàng chuyên biệt: Là những ngân hàng chỉ làm một vài
nghiệp vụ của ngân hàng thương mại hoặc của ngân hàng đầu tư Ở Mỹ có ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (Mutual savings Bank) chuyên nhận tiền gửi tiết kiệm, giúp cho người có khoản tiền nhàn rỗi có nơi sinh lời chắc chắn,
vì ngân hàng cho vay rất thận trọng Hiệp hội cho vay và tiết kiệm (Saving and Loan Association) chuyên cho vay để mua nhà trả góp dài hạn Ở Nhật
có Bank of Tokyo chuyên kinh doanh về ngoại hối và tài trợ ngoại thương
Trang 23Ở Anh có Trustee Savings Bank hoạt động như ngân hàng tương hỗ giống
ở Mỹ Việt nam và TP.Hồ Chí Minh hiện nay chưa có các loại hình Ngân hàng này
+ Ngân hàng có mục đích xã hội: Là ngân hàng được lập ra không
nhằm mục đích vì lợi nhuận, mà mục đích chính là giúp đỡ một tầng lớp nào đó trong xã hội có thể vay với lãi suất ngân hàng, nếu không họ là nạn nhân của các cuộc cho vay nặng lãi Ở Việt Nam và Thành phố HCM có Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, Ngân hàng phát triển Việt Nam
và các Chi nhánh của nó
- Các định chế tài chính phi ngân hàng (Nonbank institutions)
Các định chế tài chính phi ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thường xuyên, nhưng không được nhận tiền gửi không kỳ hạn, không làm dịch vụ thanh toán và không có chức năng tạo tiền Các định chế tài chính phi ngân hàng gồm có :
+ Công ty tài chính: Công ty tài chính là một định chế tài chính phi
ngân hàng chuyên huy động vốn và cung cấp tín dụng cho cá nhân và doanh nghiệp với nhiều mục đích khác nhau, chủ yếu là tiêu dùng Ở Việt Nam và Thành phố HCM, công ty tài chính được thực hiện các nghiệp vụ như sau: Huy động vốn và cho vay dưới các hình thức: Chiết khấu, tái chiết khấu, cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh, mở tài khoản và giao dịch ngân quỹ Ngoài ra, công ty tài chính được thực hiện các hoạt động khác nhưng phải được Ngân hàng Nhà nước hoặc các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan cho phép
Trang 24+ Công ty cho thuê tài chính: Công ty cho thuê tài chính là một
định chế tài chính phi ngân hàng Hoạt động của một công ty cho thuê tài chính bao gồm: Cho thuê tài chính, mua và cho thuê lại theo hình thức cho thuê tài chính, tư vấn cho khách hàng về những vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ cho thuê tài chính, thực hiện các dịch vụ ủy thác, quản lý tài sản
và bảo lãnh liên quan đến hoạt động cho thuê tài chính Thành phố HCM
đã có các Cty cho thuê tài chính hoạt động với tư cách là Chi nhánh của Cty mẹ trực thuộc các Ngân hàng thương mại
+ Công ty bảo hiểm: Công ty bảo hiểm là một loại tổ chức tài chính
trung gian, huy động vốn bằng cách bán các hợp đồng bảo hiểm, đồng thời
sử dụng vốn vào các hoạt động đầu tư và bảo vệ tài chính cho những người
có hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro Đây là tổ chức trung gian tài chính lớn nhất trong các tổ chức tiết kiệm theo hợp đồng Ngày nay, công ty bảo hiểm là hình thức điển hình của dạng công ty tài chính ở hầu hết các nước công nghiệp trên thế giới Thành phố HCM có nhiều Cty trong nước và nước ngoài hoạt động tạo nên một thị trường sôi động
+ Công ty chứng khoán: là các tổ chức môi giới trên thị trường
chứng khoán với các chức năng như môi giới, tự doanh, bảo lãnh nhà phát hành, tư vấn đầu tư Ngoài ra công ty chứng khoán còn có thể cung cấp dịch vụ chứng khoán hỗ trợ như: Dịch vụ ứng trước tiền bán chứng khoán,
hỗ trợ phối hợp cho vay cầm cố chứng khoán, dịch vụ mua bán chứng khoán có kỳ hạn (Repo), dịch vụ quản lý cổ đông, dịch vụ chứng khoán hỗ trợ khác…
+ Công ty đầu tư chứng khoán (Investment Company): công ty
đầu tư chứng khoán là tổ chức đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp được hình thành bởi những người đầu tư nhỏ và những người kinh doanh chứng
Trang 25khoán nhằm đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư, phân tán rủi ro cho những nguồn vốn đầu tư Có ba hình thức tổ chức công ty đầu tư: Một là hình thức công
ty cấp giấy chứng nhận mệnh giá, hai là hình thức công ty Ủy thác đầu tư,
ba là hình thức công ty quản lý Quỹ đầu tư
Mỗi công ty đầu tư thường có nhiều quỹ đầu tư theo từng mục tiêu riêng Quan hệ giữa Quỹ đầu tư và Công ty quản lý quỹ đầu tư là quan hệ nội bộ, trong đó Công ty là người quản lý chung, Quỹ là người kinh doanh trực tiếp Công ty quản lý quỹ đầu tư không phải là thành viên của thị trường chứng khoán, do đó việc mua bán chứng khoán của Quỹ đầu tư phải thông qua các công ty chứng khoán Công ty chứng khoán có thể thành lập Công ty đầu tư trực thuộc
+ Quỹ đầu tư: là quỹ dùng phần lớn tài sản của mình đầu tư vào
chứng khoán một cách chuyên nghiệp Chính vì vậy, người ta thường gọi Quỹ đầu tư là quỹ đầu tư chứng khoán Quỹ đầu tư chứng khoán ở Mỹ gọi
là Quỹ hỗ tương được hiểu là một hệ thống mà theo đó một lượng lớn các nhà đầu tư riêng lẻ cùng góp vốn để hình thành Quỹ chung rồi giao cho các nhà quản lý đầu tư chuyên nghiệp thay họ điều hành việc đầu tư vào chứng khoán Quỹ đầu tư cũng là một tổ chức dịch vụ tài chính quản lý vốn thông qua việc quản lý các danh mục đầu tư chứng khoán thay thế cho những người không có kinh nghiệm cũng như nghiệp vụ trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán
Tại Thành phố HCM, các loại hình Cty nêu trên đã được hình thành
và hoạt động sôi nổi dưới sự quản lý của Sở giao dịch chứng khoán và Uỷ Ban Chứng khoán nhà nước
- Một số loại hình tổ chức tài chính khác
Trang 26Ngoài hệ thống ngân hàng thương mại, các định chế tài chính phi ngân hàng thì hoạt động trên thị trường tài chính cón có một số loại hình tổ chức khác như: Quỹ lương hưu, các tổ chức tiết kiệm và cho vay, Quỹ hỗ trợ phát triển và các Quỹ đầu tư phát triển của các tỉnh, thành phố, Tại Thành phố HCM cũng như các Tỉnh, Tp trên cả nước cũng đã có một số tổ chức Quỹ đầu tư phát triển nay là các chi nhánh Ngân hàng phát triển trực thuộc TW
1.2.3 Cơ sở hạ tầng tài chính
Cơ sở hạ tầng tài chính là khuôn khổ các luật lệ và hệ thống nền tảng
để các bên (tiết kiệm – cho vay, đi vay – đầu tư) lập kế hoạch, đàm phán và thực hiện các giao dịch tài chính Cơ sở hạ tầng tài chính có nhiệm vụ hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động hiệu quả của toàn bộ thị trường tài chính phát triển Các thành phần của cơ sở hạ tầng tài chính như sau:
- Hệ thống luật pháp và quản lý nhà nước (bao gồm các cơ chế thực hiện hợp đồng)
- Nguồn lực và thông lệ giám sát
- Cung cấp thông tin (luật và thông lệ kế toán, kiểm toán, trung tâm thông tin tín dụng, các tổ chức định mức tín nhiệm)
- Hệ thống thanh toán và hỗ trợ giao dịch chứng khoán
Trong nền kinh tế phát triển, cơ sở hạ tầng tài chính được phát triển dựa trên sáng kiến của các chủ thể tham gia trên thị trường theo cơ chế của thị trường Tuy nhiên, cơ chế thị trường không phải lúc nào cũng phát huy tác dụng mà cần có sự tác động của Nhà nước Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc phát triển cơ sở hạ tầng tài chính mà quan trọng nhất là để đảm bảo sự ổn định của toàn bộ hệ thống thị trường tài chính cũng như giải
Trang 27quyết các vấn đề ngoại tác, chẳng hạn: Thông tin bất cân xứng hay sự thất bại của thị trường Tại Thành phố HCM, với sự phân cấp hiện nay, Thành phố đã có những văn bản pháp luật cũng như một hệ thống thanh tra giám sát bước đầu hình thành cơ sở hạ tầng tài chính nhất định của địa phương
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH
1.3.1 Sự cần thiết của chính sách và cơ chế đối với việc hình thành và
phát triển Trung tâm tài chính
Sự cần thiết của Chính sách?
Từ “chính sách” được sử dụng hết sức phổ biến, từ những nội dung vĩ
mô như chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa đến tầm vi mô trong chính sách của các công ty Mỗi khi có vấn đề gì nổi cộm trong xã hội, công chúng trông chờ vào những phản ứng của chính quyền Những phản ứng
đó khi định hình và thể hiện một cách chính thức được gọi dưới cái tên
“chính sách” Chính sách cũng có thể hàm chứa những tính toán, định hướng lâu dài của Chính phủ Do vậy, trong các mối quan hệ hoạt động của Trung tâm tài chính thì chính sách là các khuôn mẫu, phương thức gắn kết mục tiêu và chiến lược của Trung tâm tài chính với các cơ chế vận hành Trung tâm tài chính Trong đề tài này, tác giả chỉ tập trung đến thuật ngữ “chính sách” được sử dụng với hàm ý chính sách công, trong đó Nhà nước là nhân vật then chốt
Một khái niệm đơn giản và dễ nhớ nhất là của Thomas R Dye (1984): Chính sách là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm Hiện tại, có rất nhiều khái niệm về chính sách, có thể liệt kê như sau:
Trang 28- Chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (Theo James Anderson năm 2003)
- Chính sách là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin 1978)
- Chính sách là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (William N Dunn, 1992)
- Chính sách bao gồm các hoạt động thực tế do Chính phủ tiến hành (Peter Aucoin 1971)
- Chính sách là toàn bộ các hoạt động của Nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B Guy Peter 1990)
- Theo Charles O Jones (1984), chính sách là một tập hợp các yếu tố, bao gồm:
+ Dự định (intentions): Mong muốn của chính quyền;
+ Mục tiêu (goals): Dự định được tuyên bố và cụ thể hóa;
+ Đề xuất (proposals): Các cách thức để đạt được mục tiêu;
+ Các quyết định hay các lựa chọn (decisions or choices);
+ Hiệu lực (effects)
- Kraft và Furlong (2004) đưa ra một định nghĩa tổng hợp hơn Theo
đó, chính sách là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng Nó được kết hợp với các
Trang 29cách thức và mục tiêu chính sách đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định và thông lệ của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình
Từ các khái niệm trên, có thể thấy đưa ra những từ khóa chính của khái niệm Chính sách, đó là: Vấn đề, chính quyền và sự lựa chọn Có một vấn
đề kinh tế - xã hội nào đó xuất hiện Chính quyền sẽ lựa chọn nội dung, mục tiêu và cách thức giải quyết một vấn đề đó (để cho vấn đề tự phát triển cũng là một cách giải quyết) Sự lựa chọn đưa đến quyết định và toàn bộ quy trình này được đặt trong một môi trường tương tác của các tác nhân chính sách, tạo ra hàng loạt các ràng buộc trước khi chính sách xuất hiện
và các tác động sau đó Theo Kraft và Furlong, chính sách không xuất hiện
từ chân không mà nó chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, được thể hiện cụ thể qua sự can thiệp của nhà nước đối với các thất bại thị trường, những giá trị chính trị thịnh hành, tâm thế công chúng (public mood) vào thời điểm đó, cấu trúc của chính quyền, các quy phạm xã hội của quốc gia, địa phương và hàng loạt các biến số khác
Từ sự chi phối của những điều kiện này, dẫn đến các cách thể hiện khác nhau trong các vai trò chính sách (policy actor) và quy trình chính sách (policymaking processing)
Từ những phân tích ở trên, ta có thể đưa ra kết luận: Chính sách nhằm hình thành và phát triển Trung tâm tài chính sẽ gắn chặt với bản chất Nhà nước, nền tảng của chính sách là các chức năng của Nhà nước, cụ thể
là tính chính trị với vai trò của Chính phủ, sự can thiệp của Nhà nước vào các thất bại thị trường và sự thể hiện trong các quy định để tạo điều kiện hình thành và phát triển Trung tâm tài chính Trên nền tảng đó, thiết kế chính sách phát triển Trung tâm tài chính thực chất là việc giải quyết vấn
đề, dưới một loạt các ảnh hưởng và điều kiện đã nêu trên Chính sách
Trang 30thành công hay thất bại phụ thuộc vào việc có giải quyết được vấn đề hay không Nếu lấy việc giải quyết vấn đề làm trung tâm, chúng ta đi vào logic giải quyết vấn đề gồm:
- Thiết lập nội dung: Xác định vấn đề, mục tiêu cụ thể
- Đưa ra các lựa chọn
- Dự đoán các kết quả
- Đánh giá tác động
- Đưa ra lựa chọn và kiểm soát việc thực thi
Khi nghiên cứu chính sách để hình thành và phát triển Trung tâm tài chính, có nghĩa là cần tập trung vào các biến số của chính sách, dự báo tác động của việc thay đổi chúng Sản phẩm của nghiên cứu chính sách là một giả thuyết còn sản phẩm của phân tích chính sách là một phần cơ sở của việc ra quyết định, một lời khuyên (advice) nên làm như thế nào Hay nói cách khác, xây dựng chính sách nhằm hình thành và phát triển Trung tâm tài chính là quá trình sử dụng các kiến thức khoa học, các phương pháp và
kỹ thuật đa dạng để xử lý thông tin thực tế về chính sách và trong quy trình chính sách, từ đó rút ra những điều cần sửa đổi, bổ sung để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính sách để phát triển Trung tâm tài chính Theo đó, chính sách là một hoạt động có tính công khai và rộng rãi tạo điều kiện để mọi người hiểu biết, mở ra tranh luận về chính sách, đồng thời tìm cách giải quyết vấn đề Sự thành công của chính sách phụ thuộc vào việc nhận diện đúng vấn đề, nắm rõ các điều kiện, thu thập thông tin đúng và đủ, một phân tích khách quan và khoa học
Sự cần thiết của Cơ chế:
Trang 31“Cơ chế" là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây Từ điển
Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động
của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau" Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học biên soạn và xuất bản năm 2000 thì “cơ chế là cách thức mà theo đó một quá trình được thực hiện” Như vậy, khi nói đến trách nhiệm quản lý của một cơ quan, của một Bộ, Ngành và của người đứng đầu Bộ, Ngành là nói đến cách thức mà theo đó việc quản lý, điều hành của Bộ, Ngành đó,của người đứng đầu việc quản lý điều hành là mối quan hệ phối hợp giữa các bộ, ngành liên quan giữa Bộ, Ngành đó với Chính phủ và các cơ quan công quyền cũng như với người dân
Cơ chế để vận hành và phát triển Trung tâm tài chính có nghĩa là làm
ra cơ chế điều hành và quản lý hoạt động của trung tâm tài chính và những thị trường có liên quan đến Trung tâm tài chính phát triển Điều này, có nghĩa là, Quốc hội làm luật, Chính phủ ra các nghị định về cơ cấu, tổ chức
và hoạt động của các bộ, ngành liên quan đến hoạt động của trung tâm tài chính, Bộ trưởng ra các văn bản, quy chế điều hành, quản lý công công việc của bộ và các cơ quan trực thuộc Các bộ, ngành ra các thông tư liên ngành quy định cơ chế phối hợp để vận hành và thúc đẩy trung tâm tài chính ra đời và phát triển Nếu cơ chế làm ra chưa hợp lý, lỗi thời, không theo kịp sự phát triển của xã hội thì trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan và các vị đứng đầu phải kịp thời đề xuất hoặc sửa đổi, bổ sung cơ chế mới cho phù hợp với tình hình thực tiễn
1.3.2 Các nhân tố và điều kiện ảnh hưởng đến xây dựng chính sách và
cơ chế cho việc hình thành và phát triển Trung tâm tài chính
Mới đây, Hiệp hội công nghiệp chứng khóan Hoa Kỳ (SIA) đã công
bố một nghiên cứu cho thấy những nhân tố chủ yếu để hình thành Trung
Trang 32tâm tài chính là: có hệ thống kinh tế chính trị ổn định; có hệ thống thuế công bằng, minh bạch, hiệu quả; có nguồn lao động kỹ năng cao và thị trường lao động linh họat; có cơ sở hạ tầng chất lượng cao Tựu trung lại,
ta thấy các nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của Trung tâm tài chính theo hai giác độ, đó là những nhân tố có tính khách quan và những nhân tố
có tính chủ quan Về khách quan thì có thể xếp vào nhóm này những điều kiện để Trung tâm tài chính ra đời Ngoài ra còn có những nhân tố khác như tình hình biến động của nền kinh tế, cả trong nước và thế giới nói chung, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Đối với các nhân tố có tính khách quan thì con người không thể điều khiển được mà chỉ có thể tuỳ theo tình hình diễn biến để có các biện pháp ứng phó thích hợp Các nhân tố chủ quan bao gồm sự tác động từ phía nhà nước, sự tác động này có thể theo hướng tích cực nhưng cũng có thể theo hướng không có lợi đối với sự phát triển của Trung tâm tài chính Cùng nhóm này còn có trình độ nhận thức của người dân đối với Trung tâm tài chính nói riêng và trình độ dân trí nói chung Vì vậy, có thể chia nhóm nhân tố chủ quan thành nhóm nhân tố có tính pháp luật và nhóm nhân tố có tính văn hoá - lịch sử Nhóm nhân tố chủ quan này có tính chất tương đối quan trọng để quyết định mức độ phát triển của tài chính ở từng quốc gia hoặc khu vực bởi vì đây là nhóm nhân
tố phụ thuộc vào con người, chẳng hạn như các cơ chế, chính sách, hành lang pháp lý mà Nhà nước dựng ra để Trung tâm tài chính hình thành và phát triển mà hợp lý thì sẽ làm cho hệ thống các quan hệ tài chính ở nước
đó được thúc đẩy và trở nên mạnh hơn Hoặc trong thời điểm kinh tế gặp khó khăn, nếu như các chính sách của Nhà nước đưa ra hợp lý thì nền kinh
tế sẽ có thể nhanh chóng phục hồi và tiếp tục phát triển Sự kết hợp giữa các nhóm nhân tố khách quan và các nhóm nhân tố mang tính chủ quan sẽ
Trang 33tạo nên một cơ sở để Trung tâm tài chính hình thành và phát triển
Điều kiện kinh tế vĩ mô
Để Trung tâm tài chính phát triển đồng bộ, lành mạnh, cần đảm bảo các điều kiện kinh tế vĩ mô thiết yếu như: (i) Các công cụ tài chính và các định chế tài chính phải đa dạng, phong phú, trong đó sự tham gia của nhiều định chế lớn, có uy tín có vai trò đặc biệt quan trọng; (ii) Lãi suất đủ linh hoạt, phản ánh đúng quan hệ thị trường; (iii) Hệ thống thông tin minh bạch, đầy đủ và kịp thời; (iv) Hệ thống thuế công bằng và có cơ sở; (v) Hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, có hiệu lực, bảo vệ được quyền lợi của các nhà đầu tư để tạo niềm tin cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài Cụ thể:
- Trung tâm tài chính phát triển phải dựa trên một hệ thống tiền tệ ổn định, tình hình lạm phát được kiểm soát ở mức thấp, tỷ giá hối đoái, lãi suất, tiền lương và các loại giá cả khác đều vận hành đúng theo cơ chế thị
trường
- Trong nền kinh tế, các loại hình doanh nghiệp phải được thành lập
dễ dàng, được đa dạng hóa về chủng loại, phát triển nhanh về số lượng và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng cao
- Nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng và phát triển bền vững, mở ra nhiều cơ hội đầu tư cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, dẫn đến cần thu hút một khối lượng vốn lớn Đồng thời tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế còn tiếp tục kéo dài
Trang 34- Các ngành thuộc lĩnh vực kinh tế đối ngoại phải được chú trọng phát triển mạnh mẽ theo hướng đi của một nền kinh tế mở, đặc biệt là lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng, xuất nhập khẩu, hàng không, hàng hải…
- Nền kinh tế phải có dòng vốn được di chuyển tự do, có một thị trường sơ cấp được hỗ trợ bằng các thị trường thứ cấp mua bán các công
cụ tài chính như các loại chứng khoán, các loại giấy tờ có giá ngắn hạn…
- Thị trường tài chính trong trung tâm phải thông thóang và công bằng, có một hệ thống các định chế hoạt động hữu hiệu, được kiểm tra chắc chắn , thực hiện an toàn các nghiệp vụ tài chính để bảo vệ đồng vốn của các nhà đầu tư
Điều kiện chính trị
- Hệ thống chính trị xã hội ổn định, tạo tính bền vững cho khung pháp
lý, tạo sự tin tưởng cho các nhà đầu tư chuyển dịch vốn qua thị trường tài chính, đặc biệt là các nhà đầu tư quốc tế
- Có một chính sách đối ngoại linh hoạt, ngày càng mở rộng mối quan
hệ hợp tác với nhiều nước trên thế giới và các tổ chức tài chính quốc tế
- Nội bộ nền kinh tế có mối liên kết giữa Trung ương với Địa phương, giữa các Địa phương với nhau, giữa các ngành gắn với địa bàn lãnh thổ
- Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế theo cơ chế thị trường, các mối quan hệ kinh tế được xử lý chủ yếu thông qua cơ chế thi trường
- Chính sách tài chính – tiền tệ tạo thuận lợi cho các hoạt động trên thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ
Điều kiện tự nhiên – Môi trường
Trang 35- Địa điểm hình thành Trung tâm tài chính phải có vị trí chiến lược trên một địa bàn rộng lớn, thể hiện múi giờ hoạt động, vị trí trên các trục giao thông, khoảng cách không gian so từ các địa điểm của thị trường tài chính đang hoạt động với các thị trường tài chính khác trong khu vực và trên thế giới
- Môi trường pháp lý thông thoáng, công bằng, minh bạch, hiệu quả thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước
Điều kiện văn hóa
- Tâm lý xã hội trong công chúng sẵn sàng tiếp nhận các trào lưu mới, các phương thức hoạt động mới trên thị trường tài chính
- Phổ cập kiến thức kinh tế - tài chính – tiền tệ không những trong giới doanh nhân mà còn phải sâu rộng cả trong công chúng, lực lượng Cung - Cầu vốn trên thị trường tài chính
Điều kiện hạ tầng cơ sở - Tiến bộ khoa học kỹ thuật
- Với kết cấu hạ tầng cơ sở hiện đại, chất lượng cao, những tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc du nhập vào nền kinh tế, xâm nhập vào mọi lĩnh vực, mọi ngành kinh tế sẽ tạo ra các cơ hội đầu tư, tạo nhu cầu vốn lớn, tạo đà tăng tốc phát triển kinh tế mạnh mẽ
- Có sự ứng dụng kỹ thuật công nghệ hiện đại vào các hoạt động tài chính, đặc biệt hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin hiện đại để hỗ trợ thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ
Điều kiện nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực có kỹ năng cao trong một thị trường lao động linh họat luôn là yếu tố hấp dẫn nhất đối với các nhà đầu tư vào Trung tâm tài chính Chuẩn bị nguồn nhân lực được coi là yếu tố "đầu tiên" để phát triển
Trang 36Trung tâm tài chính Vì vậy, xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực với trình độ cao để vận hành những phần mềm hiện đại của Trung tâm tài chính Đội ngũ cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, tinh thông quản trị kinh doanh, cán bộ kỹ thuật chuyên sâu về công nghệ, hiểu biết về kỹ năng tài chính ngân hàng, thành thạo vi tính, giỏi ngoại ngữ, lành nghề và có tính chuyên sâu,…
Cần ban hành chính sách thu hút nhân tài, thu hút các chuyên gia
thuộc lĩnh vực tài chính - ngân hàng trong và ngoài nước về làm việc
- Đội ngũ nhân sự lãnh đạo, điều hành, quản lý và tác động thuần thục trên mọi hoạt động của thị trường tài chính
1.4 KINH NGHIỆM VỀ CHÍNH SÁCH VÀ CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN TRUNG TÂM TÀI CHÍNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC CHÂU Á - BÀI HỌC CHO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1.4.1 Kinh nghiệm về chính sách và cơ chế phát triển Trung tâm tài
chính của một số nước Châu Á
có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho giao lưu hàng hoá, giàu tài nguyên thiên nhiên, có nguồn lao động rẻ Tuy nhiên do xuất thân từ những quốc gia thuộc địa nên nền kinh tế của Đài Loan vẫn kém phát triển cho đến đầu những năm 1960 Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế đã mở ra tầm nhìn
mới cho Đài Loan bắt tay vào quá trình Công nghiệp hoá từ việc giải
Trang 37thể các cơ cấu và khu vực sản xuất truyền thống như nông nghiệp, doanh nghiệp tiểu thủ công nghiệp đi theo hướng tự do hoá các tiềm năng phát
triển, Nhà nước có cơ chế kinh tế khuyến khích tiết kiệm và đầu tư,
Nhà nước đảm nhận đầu tư mạnh mẽ vào khu vực kiến thiết cơ sở hạ tầng
và xây dựng kiến trúc thượng tầng như hệ thống luật pháp và phát triển tri thức, đào tạo kiến thức chuyên môn và kiến thức thị trường Công thức tạo vốn cơ bản giai đoạn đầu vẫn là tiềm năng trong nước cộng đầu tư từ nước
ngoài Giai đoạn đầu lấy khuyến khích tiết kiệm trong nước làm nguồn quyết định đầu tư, giai đoạn sau - khi nền kinh tế đạt mức thu nhập 2.000 USD GDP/người thì chuyển sang chiến lược kích cầu để tạo thị trường, đồng thời chuyển mạnh sang chiến lược sản xuất hàng xuất khẩu
qua chế biến Đến những năm 70, Đài Loan vẫn ở trong tình trạng thiếu vốn nên lãi suất do chính phủ điều chỉnh rất cao Cú sốc dầu mỏ lần thứ 2 xuất hiện cũng với lạm phát cố định đã làm cho lãi suất thực tế của nước này chỉ từ năm 1982 mới thực sự dương (>0) Từ đó, các khoản tiết kiệm của Đài Loan liên tục tăng, nguồn vốn này đã được sử dụng cho phát triển công nghiệp theo định hướng mở rộng xuất khẩu và xuất khẩu là động lực cung cấp chính cho công nghiệp hóa Đài Loan thật sự tăng trưởng nhanh chóng đáng kinh ngạc từ sau hội nghị G5 và là bàn đạp cho sự tăng trưởng các tài sản tài chính nhanh đồng thời là nền tảng cho sự phát triển ổn định của nền tài chính Đài Loan xây dựng hệ thống tài chính như sau:
- Ngân hàng trung tâm: Chức năng chủ yếu là điều chỉnh theo
hoạt động tiền tệ - tín dụng, quản lý ngoại hối, phát hành tiền (theo ủy thác của Ngân hàng Đài Loan), quản lý ngân khố quốc gia, thanh tra tất cả các
tổ chức tài chính và đầu tư cho nền kinh tế
Trang 38Trước đây, công cụ chủ yếu để thực hiện chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung tâm là điều chỉnh khung giới hạn lãi suất vay và cho vay Sau cuộc điều chỉnh khung giới hạn lãi suất vào tháng 7/1989 thì công cụ này được bãi bỏ và chỉ được sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt
- Ngân hàng thương mại: Nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của các
NHTM là nhận các khoản tiền quỹ, thực hiện cho vay (với thời hạn tới 7 năm) tín dụng, quản lý ngoại hối, phát hành tiền (theo ủy thác của Ngân hàng Đài Loan), quản lý các hoạt động trao đổi ngoại tệ
- Các ngân hàng nước ngoài: Hoạt động theo giấy phép kinh
doanh ngân hàng và bị hạn chế khối lượng tiền huy động tiền gửi (mức huy động tối đa không vượt quá 15 lần số vốn từ nước ngoài chuyển vào) Bất
kỳ khối lượng nào vượt quá giới hạn trên đều phải được ký thác tại Ngân hàng trung tâm và không tính lãi
- Các ngân hàng chuyên doanh: Ngân hàng liên thông; Ngân hàng
đất đai Đài Loan; Ngân hàng môi giới Đài Loan; Các tập đoàn ủy và đầu tư; Các hiệp hội tín dụng; Bộ phận tín dụng của các hiệp hội dân chủ và ngư dân; Hệ thống tiết kiệm bưu điện; Các công ty bảo hiểm nhân mạng, các công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn bất ngờ
- Các công ty hối phiếu tài chính: Các công ty này được giao
nhiệm vụ kinh doanh, giao dịch các loại hối phiếu tài chính ngắn hạn, các nghiệp cụ tiếp nhận, môi giới, bảo lãnh hối phiếu thương mại,…Ngày nay các công ty này vẫn giữ vị trí then chốt trong việc hình thành lãi suất thị trường
Trang 39- Đặc điểm cơ bản của hệ thống tài chính Đài Loan
+ Phần lớn các tổ chức tài chính Đài Loan được hình thành từ các
dạng khác nhau của mỗi tầng lớp xã hội, mạng lưới tài chính quá lớn so với diện tích và dân số của Đài Loan
+ Chính sách hậu thuẫn của Chính phủ bằng quan điểm tài
chính, việc phân phối vốn được định hướng vào những lĩnh vực công
nghiệp then chốt và có hiệu quả, phù hợp với chính sách kinh tế của từng thời kỳ
+ Các nguồn tiết kiệm phân tán của cá nhân được huy động qua
hệ thống tiết kiệm bưu điện, nguồn vốn tích tụ này được chuyển cho các
ngân hàng để dịu đi chính sách tài trợ
+ Các NHTM thực hiện cho vay dưới sự điều chỉnh bằng các
chính sách của Chính phủ Quá trình kiểm tra hành chính và luật pháp chỉ
giới hạn ở các khoản cho vay theo mục đích đặc biệt
Chính nhờ sự kết hợp giữa tiềm lực kinh tế, chính sách tài chính tốt
và thị trường tài chính phát triển mạnh mẽ đã làm cho nền kinh tế Đài Loan tăng trưởng cao trong nhiều năm qua Tính đến hết tháng 7/2010, mức thu nhập bình quân theo đầu người là 14.000USD/năm, xếp thứ 25 trên thế giới
Trang 40Hồng Kông là một trung tâm tài chính, thương mại quan trọng và là nơi tập trung nhiều Công ty hàng đầu của khu vực châu Á -Thái Bình
Dương Hồng Kông có được sự thành công về kinh tế và thị trường tài chính như ngày hôm nay là do thuận lợi về cảng biển, nền kinh tế không bị Chính phủ can thiệp, thuế suất thấp và công việc kinh doanh
ít bị hạn chế nhất
Giống như Singapore, Hồng Kông chỉ đóng vai trò người cung cấp vốn chính ở Châu Á, đối với thế giới Hồng Kông còn được coi như là một trung tâm quản lý và cung cấp vốn quan trọng Hồng Kông sở hữu một trong số những thị trường ngoại hối lớn nhất thế giới, không những thế Hồng Kông còn nổi tiếng về bán buôn vàng và các hàng hóa khác, đồng thời Hồng Kông còn được biết đến là một trung tâm bảo hiểm có tiếng So sánh các nước Chấu Á, thì Hồng Kông có một đặc điểm nổi bật là ngoài M1 chủ yếu có chức năng thanh toán, tỷ lệ M2 trên GDP và M3 trên GDP rất cao.M2 và M3 cao là do tiền gửi ngân hàng bằng ngoại tệ, nhất là việc tăng tiền gửi có kỳ hạn là ngoại tệ Hồng Kông bỏ thuế khấu trừ tại gốc đối với lãi suất trả cho tiền gửi bằng ngoại tệ của những người cư trú và khấu trừ tại gốc đối với tiền gửi bằng đô la Hồng Kông của những người không cư trú cũng được xóa bỏ
Mở rộng giao dịch liên ngân hàng của các tổ chức tài chính Hồng Kông là lý do chính cho việc tăng lên nhanh chóng tỷ lệ toàn bộ tài sản của các tổ chức hợp pháp trên GDP Đối với Hồng Kông, không thể bỏ
qua tác động của truyền thống có các chính sách kinh tế không bị can thiệp
và chính sách không lạm phát dựa trên chính sách tài chính cân bằng
Hồng Kông không kiểm soát ngoại hối, không hạn chế quá gắt gao các