1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên

97 895 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 829,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn phát triển và góp phần thiết thực nâng cao đời sống nhân dân, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành, hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI

PHẠM THỊ THÙY

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 41 CỦA CHÍNH PHỦ TẠI HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH

HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi và không trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học của tác giả khác Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi khẳng định rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành chủ quản, cơ sở đào tạo và Hội đồng đánh giá khoa học của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội về công trình và kết quả nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng 9 năm 2012 Tác giả luận văn

Phạm Thị Thùy

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này tôi nhận được

sự quan tâm, giúp đỡ của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới GS.TS Đỗ Kim Chung, thầy giáo hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ tôi về kiến thức khoa học cũng như phương pháp làm việc, chỉnh sửa trong quá trình thực hiện Luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè thường xuyên hỏi thăm, động viên tôi trong khi thực hiện Luận văn này

Có được kết quả nghiên cứu này tôi đã nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo trong trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, sự tận tình cung cấp thông tin của các anh chị ở Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên và các hộ dân ở huyện Khoái Châu Tôi xin ghi nhận những sự giúp đỡ này

Hà Nội, tháng 9 năm 2012 Tác giả luận văn

Phạm Thị Thùy

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i Lời cảm ơn ii Mục lục iii Danh mục viết tắt vi

Danh mục bảng vii

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THEO NĐ 41/2010/CP 5 2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Khái niệm và bản chất của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 4

2.1.2 Đặc điểm của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,

nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 7

2.1.3 Vai trò của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 13

2.1.4 Nội dung nghiên cứu thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 15

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 18

Trang 5

2.2 Cơ sở thực tiễn 20

2.2.1 Hoạt động của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,

nông thôn ở một số nước trên thế giới 21

2.2.2 Hoạt động của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,

nông thôn ở Việt Nam 26

2.2.3 Bài học kinh nghiệm 31

3 ĐẶC ĐIỂM, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

3.1 Đặc điểm của huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên 36

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36 3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 37

3.2 Phương pháp nghiên cứu 38

3.2.1 Chọn điểm

3.2.2 Thu thập số liệu

4.1 Thực trạng thực hiện Nghị định 41 của Chính phủ về phục vụ phát triển

nông nghiệp nông thôn 39

4.1.1 Tình hình tổ chức triển khai nghị định 39

4.1.2 Kết quả của việc triển khai nghị định 40

4.1.3 Tác động của nghị định 62

4.1.4 Đánh giá kết quả thực hiện nghị định 64

4.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc thực hiện chính sách tín dụng

phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo nghị định 41 của Chính

phủ 74

4.2.1 Định hướng phát triển chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông

nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 68

Trang 6

4.2.2 Giải pháp hoàn thiện việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát

triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ 70

a Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và tổ chức thực hiện chính sách 70

b Nâng cao năng lực cán bộ ngân hàng và trình độ văn hóa cho các hộ

dân 71

c Tăng cường sự phối hợp của chính quyền địa phương và năng lực tài

chính của ngân hàng trong việc thực hiện 72

d Tăng cường hiệu quả công cụ kỹ thuật tránh rủi ro trong kinh doanh 74

5 KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

PHỤ LỤC 85

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

3.1 Phân loại mẫu điều tra 37

4.1 Tình hình huy động vốn của các ngân hàng huyện Khoái Châu năm

2009 - 2011 46 4.2 Doanh số cho vay của các ngân hàng 45

4.6 Thực trạng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hộ nông dân tại các xã

56

4

4.7 Mức vốn vay và nhu cầu vay vốn của các hộ nông dân 56

4.8 Thời hạn vay vốn của các hộ nông dân 53

4.9 Ý kiến đánh giá các hộ điều tra về chính sách cho vay vốn 60

Trang 9

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Muốn mở rộng phát triển bất kỳ ngành kinh tế nào cũng cần có vốn, vốn là một trong những nguồn lực quan trọng nhất Để đáp ứng được nhu cầu vốn cho tất cả các ngành, các khu vực kinh tế đặc biệt với ngành nông nghiệp

ở khu vực nông thôn nhiều khó khăn, Nhà nước cần có những chính sách tín dụng hiệu quả thông qua các ngân hàng thương mại, Ngân hàng chính sách, Ngân hàng NN&PTNT, các tổ chức tín dụng, các tổ chức xã hội, cho vay vốn bằng nhiều hình thức, phục vụ bằng nhiều phương thức để đáp ứng nhu cầu cho người sản xuất và kinh doanh Thời gian qua cùng với việc đổi mới chính sách kinh tế, cơ chế quản lý, hệ thống chính sách tiền tệ nói chung và chính sách tín dụng nói riêng đã có những đổi mới căn bản, thể hiện trên nhiều mặt, như hình thành hệ thống ngân hàng quản lý nhà nước về lĩnh vực tiền tệ; ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng thực hiện chức năng kinh doanh tiền

tệ Luật ngân hàng nhà nước và các tổ chức tín dụng đã được quốc hội thông qua làm cơ sở pháp lý cho quản lý tiền tệ và thực thi chính sách tín dụng Nhà nước đang rất quan tâm đến các chính sách tín dụng vì đã xác định được trong giai đoạn phát triển kinh tế hiện nay vốn là nguồn lực đặc biệt quan trọng quyết định đến khả năng mở rộng sản xuất và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá

Để thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn phát triển và góp phần thiết thực nâng cao đời sống nhân dân, thời gian qua Đảng và Nhà nước

đã ban hành, hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung nhiều chính sách kinh tế quan trọng trong đó có các chính sách về tín dụng nông nghiệp, nông thôn.Thực tế từ khi

thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg của Chính phủ về một số chính

sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn và hiện nay là Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính

Trang 10

Khoái Châu là một huyện thuần nông, kinh tế chậm phát triển so với các huyện khác trong tỉnh Để từng bước phát triển kinh tế huyện Khoái Châu cần được đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vốn cho sản xuất Bước đầu cho vay vốn cải thiện điều kiện sản xuất, mở rộng quy mô theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung

Kể từ khi hoạt động đến nay nguồn vốn phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đã có những đóng góp nhất định trong việc tăng cường cơ

sở vật chất kỹ thuật thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá …Bên cạnh đó chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng đã bộc lộ một số hạn chế Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của

Nhà nước là hết sức cần thiết nên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu tình hình

thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên”

Trang 11

1.2 Mục tiêu

a Mục tiêu chung

Đề tài nghiên cứu tình hình thực hiện nghị định 41 về phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn nhằm đánh giá việc thực hiện chính sách tín dụng trên địa bàn huyện Khoái Châu để đưa ra các giải pháp

b Mục tiêu cụ thể

- Góp phần hệ thống hoá được một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Đánh giá được thực trạng về tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo NĐ 41/2010/CP

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo NĐ 41/2010/CP

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn ở nông thôn

- Những hộ nông dân có vay vốn của ngân hàng chính sách, ngân hàng

NN & PTNT trên địa bàn huyện Khoái Châu

- Hoạt động cung ứng tín dụng của ngân hàng cho hộ nông dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Khoái Châu

Trang 12

- Nội dung: Tập trung nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo NĐ 41/2010/CP

Trang 13

2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN

NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN THEO NĐ 41/2010/CP

- Bảo đảm tính hiệu quả

Chính sách phải đạt hiệu quả với mức chi phí hợp lý nhất trong phạm vi

có thể Trong bối cảnh nhu cầu trợ giúp lớn, đối tượng đông và nguồn ngân sách có hạn đòi hỏi cần xác định được nhóm ưu tiên và mức hỗ trợ hợp lý, vừa hướng tới mục tiêu mở rộng về số lượng và nâng chất lượng

- Bảo đảm tính hiệu lực

Việc xem xét thiết lập mục tiêu chính sách phù hợp Xác định phạm vi ảnh hưởng của chính sách, tính toán cân đối dự báo nguồn lực, điều kiện để thực hiện mục tiêu

Trang 14

- Bảo đảm tính khoa học

Cơ sở khoa học là các chính sách ban hành và thực hiện phải được nghiên cứu một cách khách quan, tuân thủ cơ sở lý luận và thực tiễn, chính sách đưa ra phải khả thi

- Bảo đảm tính công bằng

Chính sách hướng tới nhiều đối tượng Vì vậy, phải đảm bảo sự công bằng giữa các nhóm đối tượng hưởng lợi Tránh sự cao bằng chính sách đối với các chính sách xã hội khác

- Nguyên tắc cụ thể

- Các tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ đầu tư tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống của nhân dân trên nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả đầu tư

+ Các tổ chức tín dụng thực hiện cơ chế bảo đảm tiền vay theo quy định hiện hành và xác định mức cho vay không có bảo đảm đối với từng đối tượng cụ thể, phù hợp với đặc điểm kinh doanh của khách hàng và khả năng quản lý rủi ro của tổ chức tín dụng Các tổ chức tín dụng thông báo công khai mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, điều kiện, thủ tục cho vay cụ thể trên cơ sở tuân thủ các quy định hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng

+ Các ngân hàng, tổ chức tài chính thực hiện cho vay các đối tượng chính sách và các chương trình kinh tế theo chỉ định của Chính phủ, được Chính phủ bảo đảm các điều kiện để thực hiện thông qua các chính sách đối với nông nghiệp, nông thôn, nông dân trong từng thời kỳ

+ Các tổ chức tài chính quy mô nhỏ cho vay các đối tượng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thực hiện theo quy định của pháp luật

Trang 15

* Đối tượng, chủ thể của chính sách

- Chủ thể của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm các chủ thể sau đây:

+ Chủ thể định hướng chính sách là chủ thể đưa ra định hướng về việc phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn trên cơ sở đó các chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định chính sách sẽ xây dựng chính sách phù hợp với định hường đề ra

+ Chủ thể chịu trách nhiệm chính đối với quá trình hoạch định và thực hiện chính sách là người chịu trách nhiệm đối với toàn bộ quá trình hoạch định và thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Tùy từng trường hợp, Chính phủ sẽ quyết định giao cho chủ thể nào là chủ thể chịu trách nhiệm chính đối với quá trình hoạch định và thực hiện chính sách

+ Chủ thể quyết định chính sách là người quyết định việc chính sách có được thông qua hay không, có được ban hành triển khai vào thực tế hay không Thông thường đối với chích sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì Chính phủ là người quyết định chính sách

+ Chủ thể chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách: Để triển khai chính sách vào thực tê thì Chính phủ sẽ phải xác định các cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách Căn cứ, chức năng nhiệm vụ của từng bộ, ban ngành thì thường các Bộ, ngành sẽ chịu trách nhiệm đối với việc tổ chức thực thi chính sách là Bộ Tài Chính, Bộ Công thương, Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch và đầu tư, Bộ Tư pháp và Bộ Tài nguyên môi trường, Chủ tịch Ủy ban nhân dân câc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Ngân hàng Nhà nước

- Đối tượng của chính sách bao gồm:

Trang 16

+ Đối tượng cấp tín dụng: Các tổ chức được thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn gồm các tổ chức tín dụng được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng; các tổ chức tài chính quy mô nhỏ; các ngân hàng, tổ chức tài chính được Chính phủ thành lập để thực hiện cho vay theo chính sách của Nhà nước

+ Đối tượng được cấp tín dụng: Tổ chức, cá nhân được vay vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn gồm hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn; cá nhân; chủ trang trại; các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn nông thôn; các tổ chức và cá nhân cung ứng dịch vụ phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản và doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp, có cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn

2.1.2 Đặc điểm của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ

Tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ quan trọng được Ðảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm để phát triển nông nghiệp, nông thôn đối với một nước nông nghiệp truyền thống như nước ta Với sự ra đời của Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của Thủ tướng Chính phủ về một

số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp và nông thôn, tín dụng nông nghiệp nông thôn đã đạt được một số kết quả Dòng vốn tín dụng ngân hàng chảy vào khu vực nông nghiệp, nông thôn đã được khơi thông, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và nâng cao đời sống nhân dân Thực tế hơn

10 năm thực hiện, Quyết định 67/1999/QĐ-TTg đã thật sự là một công cụ quan trọng để Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan triển khai và đưa các

Trang 17

chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn đi vào cuộc sống Tuy nhiên, quá trình triển khai Quyết định bộc lộ một số bất cập, cần thiết phải được sửa đổi,

bổ sung và nâng lên thành Nghị định cho phù hợp với tình hình đất nước sau

10 năm phát triển

Ngày 12/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 41/2010/NĐ-CP

về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thay thế Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ra đời đánh dấu một sự thay đổi quan trọng của chính sách của Nhà nước đối với tín dụng nông nghiệp, nông thôn và về cơ bản, đã khắc phục được những bất cập của Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg sau hơn 10 năm thực hiện Có thể nhận thấy

rõ những điểm mới quan trọng về chính sách tín dụng nông nghiệp, nông thôn trong Nghị định số 41/2010/NĐ-CP năm 2010 so với Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg năm 1999, như sau:

Trước hết là sự khác nhau về hình thức văn bản pháp lý Trước đây văn bản được thể hiện dưới hình thức Quyết định của Thủ tướng Chính phủ thì văn bản mới này đã được nâng lên tầm Nghị định của Chính phủ Việc xây dựng văn bản dưới hình thức Nghị định đã thể chế hóa quan điểm của Ðảng, Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn nói chung được thể hiện tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; là sự tổng kết kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc pháp luật hiện hành về tín dụng nông nghiệp, nông thôn, góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực này Ðồng thời, việc ban hành văn bản dưới hình thức Nghị định cũng là sự đổi mới nhận thức quản lý của Chính phủ đối với tín dụng nông nghiệp, nông thôn phù hợp với hệ thống pháp luật hiện hành về phát triển nông nghiệp, nông thôn; đáp ứng yêu cầu thực tế; bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ của

hệ thống pháp luật Nghị định có 4 chương, 25 điều, khẳng định chính sách

Trang 18

tín dụng nông nghiệp, nông thôn là một hệ thống các biện pháp, chính sách của Nhà nước nhằm khuyến khích các tổ chức tín dụng cho vay, đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng

cơ sở hạ tầng, xóa đói giảm nghèo cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và từng bước nâng cao đời sống của nhân dân

Điểm mới thứ hai của Nghị định số 41/2010/NĐ-CP là sự mở rộng về

sự tham gia của các tổ chức tín dụng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Nếu như Quyết định 67/1999/QĐ-TTg khẳng định vai trò chủ lực của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, khuyến khích các tổ chức tín dụng khác tham gia thì tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP quy định, các tổ chức tín dụng được tổ chức và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng, các tổ chức tài chính quy mô nhỏ, các ngân hàng, tổ chức tài chính được Chính phủ thành lập để thực hiện việc cho vay theo chính sách của Nhà nước có quyền tham gia thực hiện cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Việc cho phép các

tổ chức tài chính vi mô chính thức tham gia trong lĩnh vực tín dụng nông nghiệp, nông thôn cũng đã khẳng định vai trò tích cực của loại hình tổ chức này đối với

sự phát triển nông nghiệp, nông thôn tại Việt Nam

Nghị định 41/2010/NĐ-CP cũng quy định cụ thể các đối tượng được vay vốn phát triển nông nghiệp, nông thôn bao gồm hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn; cá nhân; chủ trang trại; các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn nông thôn; các tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ phục

vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản; các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp, có cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn Các đối tượng này phải cư trú và có cơ sở hoặc dự án sản xuất kinh

Trang 19

doanh trên địa bàn nông thôn Đây là điểm mới thứ ba của Nghị định 41/2010/NĐ-CP

Điểm mới thứ tư của Nghị định 41/2010/NĐ-CP so với Quyết định 67/1999/QĐ-TTg là những quy định chi tiết về các lĩnh vực cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, bao gồm: cho vay chi phí sản xuất, phát triển ngành nghề, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn, cho vay kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, phục vụ sản xuất công nghiệp, thương mại và cung ứng các dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn, cho vay tiêu dùng nhằm nâng cao đời sống nhân dân ở nông thôn và cho vay theo các chương trình kinh tế của Chính phủ

Quy định cụ thể về nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng có thể coi là điểm mới thứ năm của Nghị định 41/2010/NĐ-CP với bốn nguồn vốn: nguồn vốn huy động; vốn vay, nhận tài trợ, ủy thác; nguồn vốn ủy thác của Chính phủ và vốn vay Ngân hàng Nhà nước thông qua việc sử dụng các công

cụ điều hành chính sách tiền tệ Với việc bổ sung thêm nguồn vốn vay Ngân hàng Nhà nước và không quy định việc sử dụng vốn ngân sách Nhà nước như

Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, Nghị định 41/2010/NĐ-CP đã tách bạch hoạt

động cho vay bằng vốn ngân sách nhà nước cho các đối tượng chính sách, theo các chương trình kinh tế của Chính phủ ở nông thôn được Chính phủ bảo đảm nguồn vốn từ ngân sách chuyển sang hoặc cấp bù chênh lệch lãi suất

Quyết định 67/1999/QĐ-TTg và Nghị định 41/2010/NĐ-CP đều có điều khoản quy định về cơ chế đảm bảo tiền vay và các trường hợp cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, song mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản trong Nghị định 41/2010/NĐ-CP được nâng cao hơn đối với từng loại đối tượng, phù hợp với thực tế Đây là điểm mới thứ sáu của Nghị định 41/2010/NĐ-CP, theo đó, tổ chức tín dụng được cho vay không có tài sản đảm bảo tối đa đến 50 triệu đồng đối với cá nhân, hộ sản xuất; tối đa đến 200

Trang 20

triệu đồng đối với hộ kinh doanh, sản xuất phục vụ nông nghiệp, nông thôn; tối đa đến 500 triệu đồng đối với hợp tác xã, chủ trang trại Quyết định 67/1999/QĐ-TTg chỉ cho phép tổ chức tín dụng quyết định cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với cá nhân, hộ sản xuất tối đa với mức 10 triệu đồng hoặc phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét giải quyết cụ thể đối với các loại cho vay thực hiện theo chính sách của Nhà nước (như cho vay hộ nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, đóng mới, cải hoán tàu đánh bắt, cho vay cho các chương trình khác trong phạm vi nhất định thuộc các vùng, ngành nghề khó khăn)

Điểm mới thứ bảy của Nghị định 41/2010/NĐ-CP là tạo điều kiện hơn cho khách hàng vay vốn trong trường hợp khách hàng vay không có tài sản đảm bảo và không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Theo quy định tại khoản 5, Điều 8, khách hàng được sử dụng giấy xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nếu chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp Khách hàng cũng được ưu đãi khi không phải nộp lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm khi đăng ký giao dịch bảo đảm

Điểm mới thứ tám của Nghị định 41/2010/NĐ-CP so với Quyết định 67/1999/QĐ-TTg thể hiện ở những quy định cụ thể về nguyên tắc trích lập dự phòng rủi ro và xử lý rủi ro Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn cụ thể việc trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro đối với cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, nhờ đó, nếu khi có rủi ro không phải kiến nghị biện pháp xử lý trình Thủ tướng Chính phủ quyết định như Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, thể hiện sự tự chủ và chịu trách nhiệm của tổ chức tín dụng trong hoạt động của mình, không trông chờ vào quyết định của Nhà nước Ngoài ra, Nghị định 41/2010/NĐ-CP có thêm quy định cụ thể về chính sách ưu đãi miễn, giảm lãi đối với khách hàng tham gia bảo hiểm theo hướng

áp dụng mức lãi suất thấp hơn mức lãi suất cho vay tương ứng đối với khách

Trang 21

hàng không mua bảo hiểm Quy định này sẽ khuyến khích khách hàng tích cực tham gia mua bảo hiểm trong nông nghiệp

Một điểm mới nữa của Nghị định 41/2010/NĐ-CP so với Quyết định 67/1999/QĐ-TTg là những quy định khá rõ về nguyên tắc và quy trình xử lý

nợ vay trong trường hợp xảy ra thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng Trường hợp có thiên tai, dịch bệnh trên diện rộng, theo quy định tại khoản 2, Điều 10,

tổ chức tín dụng được thực hiện khoanh nợ không tính lãi cho người vay tối

đa là 2 năm đối với dư nợ hiện còn tại thời điểm khoanh nợ và số lãi tổ chức tín dụng đã khoanh được giảm trừ vào lợi nhuận trước thuế của tổ chức tín dụng Quy định này thể hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với các tổ chức tín dụng khi tham gia phục vụ nông nghiệp, nông thôn và cũng là sự hỗ trợ của Nhà nước đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn trong các trường hợp bất khả kháng Nghị định cũng quy định cụ thể trường hợp khách hàng gặp khó khăn về tài chính do nguyên nhân khách quan, không trả được nợ đúng hạn,

tổ chức tín dụng có thể xem xét cơ cấu lại thời hạn nợ cho khách hàng theo quy định Trường hợp khách hàng đang có nợ cơ cấu nhưng có nhu cầu vay mới để sản xuất, kinh doanh hoặc khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh thì

tổ chức tín dụng căn cứ vào tính khả thi, hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh của khách hàng để xem xét cho vay mới, mà không phụ thuộc vào dư nợ cũ chưa trả đúng hạn

Điểm mới thứ mười mà Nghị định 41/2010/NĐ-CP đã đạt được là bố trí một chương độc lập quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Quyết định 67/1999/QĐ-TTg mới chỉ nêu được trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính trong việc triển khai thực hiện thì tại chương III, Nghị định 41/2010/NĐ-CP quy định cụ thể trách nhiệm của từng cơ quan,

tổ chức, cá nhân như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Tư

Trang 22

pháp, Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và môi trường, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn Việc quy định cụ thể trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân như Nghị định 41/2010/NĐ-CP tạo điều kiện cho các chủ thể này chủ động trong việc triển khai các chức năng, nhiệm vụ được phân công, phân công nhiệm vụ

rõ ràng, tạo cơ chế phối hợp giữa các đơn vị và tránh sự bất cập, chồng chéo giữa các cơ quan, đồng thời, hạn chế việc phải trình Thủ tướng Chính phủ quyết định đối với các trường hợp cụ thể Nếu các cơ quan, tổ chức, cá nhân đều triển khai kịp thời và thực hiện nghiêm túc, đúng chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm quy định tại Nghị định này, chắc chắn các chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả

Nghị định 41/2010/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2010 Chỉ sau khi Nghị định có hiệu lực 14 ngày, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 14/2010/TT-NHNN ngày 14/6/2010 hướng dẫn đầy đủ, chi tiết các điểm mới nói trên của Nghị định 41/2010/NĐ-CP

Có thể còn một vài điểm khác biệt nhỏ giữa Nghị định 41/2010/NĐ-CP

và Quyết định 67/1999/QĐ-TTg nữa, song, có thể khẳng định Nghị định 41/2010/NĐ-CP đã phát huy và kế thừa thành công những thành tựu của Quyết định 67/1999/QĐ-TTg Quan trọng hơn, Nghị định 41/2010/NĐ-CP đã khắc phục những bất cập của Quyết định 67/1999/QĐ-TTg và mạnh dạn đưa

ra những chính sách, ưu đãi mới đối với các đối tượng tham gia tín dụng phát triển nông nghiệp, nông thôn Bên cạnh việc tạo ra một hành lang pháp lý hoàn thiện hơn, Nghị định đã tạo nhiều ưu đãi giúp khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân tiếp cận dễ dàng hơn với nguồn vốn tín dụng ngân hàng, được bảo đảm bởi các chính sách hỗ trợ khi gặp rủi ro do nguyên nhân

Trang 23

khách quan, bất khả kháng, đồng thời, tạo điều kiện cho sự phát triển, tăng trưởng mạnh mẽ tín dụng ngân hàng cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Triển khai thực hiện tốt Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ đối với sự phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn, nông dân, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển kinh tế đất nước, góp phần xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội và là địa bàn khẳng định lợi thế của Việt Nam trong hợp tác kinh tế quốc tế

2.1.3 Vai trò của chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp,nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ

Với chủ trương cho vay mọi đối tượng khách hàng, trong đó chủ yếu và luôn ưu tiên cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn, trong những năm qua, Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn(NN&PTNT) tỉnh

đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn Ngay sau khi có Nghị định 41/2010/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn của Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam, Chi nhánh Ngân hàng NN&PTNT tỉnh đã bám sát các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế của tỉnh, tăng cường đội ngũ cán bộ bám sát các địa bàn thôn, xã để thực hiện chương trình vốn đầu tư phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Ngân hàng tổ chức tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, đặc biệt là phối hợp với địa phương để phổ biến chính sách tín dụng trong các buổi họp dân ở thôn, bản Tại trụ sở UBND các xã, Ngân hàng có bảng thông tin cụ thể về đối tượng vay, lĩnh vực được vay, thời hạn vay, mức vay để mọi người dân đều biết Bám sát cơ sở thôn,

xã không chỉ để tuyên truyền, mở rộng nguồn vốn cho vay, mà qua đó, Ngân hàng trực tiếp nắm được tình hình sử dụng vốn, nhu cầu vốn trong dân, và hơn hết là nắm được tâm tư, nguyện vọng từ phía khách hàng để thực hiện đầu tư đảm bảo có hiệu quả

Trang 24

Nghị định 41/2010/NĐ-CP mở rộng các đối tượng được vay vốn, gồm: các hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn; chủ trang trại; các tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản; các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp có cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn Với các lĩnh vực cho vay đa dạng như: cho vay các chi phí sản xuất trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, cho vay phát triển ngành nghề tại nông thôn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn Trên cơ sở những quy định đó, để Nghị định 41/2010/NĐ-CP thực sự phát huy hiệu quả kinh tế, đội ngũ cán bộ Ngân hàng còn thực hiện nghiêm túc những biện pháp kiểm tra, thẩm định các phương án, dự án vay vốn nhằm đảm bảo đối tượng, mục đích, lĩnh vực vay

và hướng dẫn sử dụng vốn Qua đó, Ngân hàng thực hiện đúng các quy định của Nghị định, đảm bảo nguồn vốn đầu tư và tạo điều kiện cho vay thuận lợi đối với mọi đối tượng khách hàng Với các biện pháp tích cực tuyên truyền, đưa vốn về cơ sở, từ tháng 6/2010 đến nay, Ngân hàng đã giải ngân cho vay 198,6 tỷ đồng với trên 2.300 khách hàng Trong đó, cho vay kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phục vụ nông, lâm nghiệp và thủy sản 92,7 tỷ đồng, cho vay chi phí sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp trên 24 tỷ đồng, cho vay sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ phi nông nghiệp trên địa bàn nông thôn 15 tỷ đồng, cho vay đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn 14,2 tỷ đồng

Nguồn vốn cho vay đã thực sự giúp người dân ở khu vực nông thôn nhanh chóng khắc phục những khó khăn về vốn Người nông dân có điều kiện đầu tư nuôi trồng phát triển kinh tế hộ gia đình, các hộ kinh doanh, doanh nghiệp tại vùng nông thôn có điều kiện mở rộng các dịch vụ, cơ sở sản xuất, kinh

Trang 25

doanh Từ nguồn vốn đó, Ngân hàng đã góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2.1.4 Nội dung nghiên cứu thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định 41 của Chính phủ

a Tình hình tổ chức triển khai nghị định

- Xác định bộ máy tổ chức thực hiên chính sách

Để tổ chức thực hiện nghị định 41 về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; NHNN&PTNT và NHCSXH đã giao nhiệm vụ chính thức cho các tổ tín dụng Các tổ tín dụng thực hiện phải đảm bảo được các yêu cầu: Bảo đảm về mặt chính trị, pháp luật; có đủ nguồn nhân lực, vật lực, tài lực; Bảo đảm về thông tin gián tiếp; được quản lý và phân bổ ngân sách; sáng tạo trong thực hiện, kết hợp đúng đắn giữa các cấp, các ngành và các địa phương; có hệ thống báo cáo thống kê, kế toán và hệ thống kiểm toán chặt chẽ; kiểm tra việc thực hiện chính sách đó, có sự đánh giá chính sách một cách khách quan

- Xây dựng chương trình hành động

Các ngân hàng thực hiện chính sách, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ sẽ xây dựng chương trình hành động để đưa chính sách vào thực tế, xây dựng các phương hướng và biện pháp thực hiện cụ thể Các ngân hàng thực hiện phải lập kế hoạch tác nghiệp để chuẩn bị triển khai chính sách Trong đó phải xác định rõ ràng: thời gian triển khai chính sách; mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn thực hiện chính sách; danh mục các công việc cần phải thực hiện; sự phân bổ các nguồn lực để thực hiện từng mục tiêu cụ thể của chính sách trong từng giai đoạn

- Ban hành các văn bản hướng dẫn

Các cơ quan thực thi chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn ban hành những văn bản hướng dẫn các tổ chức tín dụng và

Trang 26

các tổ chức, cá nhân được vay vốn tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn biết và thực hiện

- Tổ chức tập huấn

Các ngân hàng thực hiện chính sách tiến hành tổ chức tập huấn cho các cán bộ, nhân viên chịu trách nhiệm thực hiện chính sách và tổ chức, cá nhân được vay vốn tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn để trang bị cho họ kiến thức và kỹ năng cần thiết để thực hiện chính sách

b Kết quả của việc triển khai nghị định

Việc triển khai nghị định 41 về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; đưa chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn vào thực tiễn thông qua các kênh truyền tải sau:

- Kết quả công tác thông tin tuyên truyền

Thông qua hệ thống thông tin đại chúng, các ngân hàng thực hiện chính sách tuyên truyền, giúp cho mọi người hiểu biết về nội dung chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, hiểu nghĩa vụ và lợi ích của mình khi thực hiện chính sách Qua đó tạo được sự đồng tình ủng hộ của dân chúng, đặc biệt là các tổ chức tín dụng cấp tín dụng cho nông nghiệp nông thôn và những tổ chức, cá nhân được vay vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

- Kết quả huy động nguồn vốn cho thực hiện chính sách

Tài chính chính sách chính là việc huy động nguồn vốn và sử dụng nguồn vốn để cấp tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

Nguồn vốn dùng để cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn bao gồm các nguồn sau:

+ Nguồn tự huy động của các tổ chức tín dụng và các tổ chức cho vay khác

+ Nguồn vốn vay vốn nhận tài trợ, ủy thác của các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước

Trang 27

+ Nguồn ủy thác của Chính phủ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn,

+ Nguồn vốn vay từ Ngân hàng Nhà nước

- Phối hợp hoạt động giữa các ban ngành, các địa phương, các tổ chức quần chúng để thực hiện chính sách

Các ngân hàng thực hiện chính sách thực hiện phối hợp với các ban ngành, đoàn thể huyện để thực hiện nghị định 41 về phục phát triển nông nghiệp nông thôn theo chiều dọc, chiều ngang thông qua hệ thống thông tin, thông qua trao đổi gặp gỡ, hội họp

c Kết quả cho vay và thực hiện chính sách

Kết quả cho vay được thể hiện qua:

- Doanh số cho vay

- Lãi suất cho vay

- Điều kiện cho vay

- Đối tượng vay

- Đặc điểm của chủ hộ vay

về những mặt đạt được và chưa được của việc thực hiện nghị định 41 về phục

vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn Trên cơ sở đó đưa ra những nguyên

Trang 28

nhân dẫn đến những kết quả này, sau đó đề xuất những giải pháp để khắc phục những điểm chưa đạt được của nghị định

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn

a Năng lực điều hành và tổ chức thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn của các ngân hàng

Năng lực điều hành của các ngân hàng thể hiện thông qua trình độ hoạch định, điều hành nghị định và quản lý các tổ chức tín dụng trong khuôn khổ pháp luật và mục tiêu của nghị định Do đó, khi năng lực hoạch định và điều hành tổ chức thực hiện nghị định của các ngân hàng tốt thì các ngân hàng

sẽ thực hiện các công cụ chính sách tốt hơn, và sẽ có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức tham gia vào việc thực hiện nghị định 41 về phục

vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn

b Nhận thức của cán bộ ngân hàng và người dân đối với chính sách

Để thực hiện vai trò của mình trong việc tổ chức thực hiện nghị định

về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thì các ngân hàng phải sử dụng đội ngũ cán bộ công chức Do đó, trình độ của đội ngũ cán bộ công chức Ngân hàng có vai trò rất quan trọng đối với việc thực hiện nghị định

Trình độ của cán bộ được thể hiện không chỉ là trình độ của từng cán

bộ riêng lẻ, mà đó là trình độ chung của toàn bộ đội ngũ cán bộ đối với tổ chức thực hiện nghị định về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; đồng thời là sự phối hợp, đào tạo và hỗ trợ lẫn nhau giữa các cán bộ Các ngân hàng muốn thực hiện nghị định được tốt thì phải được thực hiện bởi nhiều cán bộ

có trách nhiệm và năng lực Mỗi cán bộ phải có kiến thức rộng về các hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, ngân hàng, tài chính tiền tệ

c Sự phối hợp của chính quyền địa phương và năng lực tài chính của ngân hàng

Trang 29

Phát triển nông nghiệp nông thôn là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có sự tham gia thực hiện xây dựng chính sách của rất nhiều ban, ngành, đoàn thể, Hội Nông dân, Hội phụ

nữ, Huyện đoàn, Hội cựu chiến binh Việc đưa ra cơ chế phối hợp phù hợp với các tổ chức có liên quan trong thực hiện nghị định về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn sẽ giúp các ngân hàng tận dụng được các nguồn lực, nguồn thông tin trong thực hiện vai trò của mình

Các tổ chức tín dụng là đối tượng chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Do đó, các tổ chức tín dụng có mạnh có tốt thì việc thực hiện nghị định mới tốt được

Để có thể thực hiện tốt nghị định thì các tổ chức tín dụng phải đảm bảo được tiềm lực tài chính để cho vay nông nghiệp, nông thôn Tiềm lực tài chính của tổ chức tín dụng có tốt thì việc cho vay nông nghiệp, nông thôn mới đạt hiệu quả

Tiềm lực tài chính của tổ chức tín dụng được thể hiện thông qua các yếu tố như: mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, mức sinh lời, khả năng thanh toán

Tiềm lực tài chính quyết định đến quy mô và tính đa dạng trong việc cung cấp các dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ tín dụng và tiết kiệm Tiềm lực tài chính tốt giúp cho tổ chức tín dụng nâng cao uy tín, mở rộng quy mô khách hàng, tăng khách hàng tiềm năng, tăng khả năng phát triển các dịch vụ ngoài tín dụng và tiết kiệm Tổ chức tín dụng còn có cơ hội mở rộng liên kết hợp tác với tổ chức tài chính khác, với các nhà tài trợ, với các đơn vị khác, tạo đà phát triển nhanh chóng các hoạt động của tổ chức, đa dạng hóa sản phẩm và quy

mô tiếp cận

Các tổ chức tín dụng nhận thức được những lợi ích của việc thực hiện nghị định về phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và tăng cường đầu tư

Trang 30

phát triển mạng lưới tín dụng nông thôn thì quá trình triển khai chính sách sẽ gặp rất nhiều thuận lợi Đồng thời, khi đó, việc thực hiện, ban hành các cơ chế chính sách ưu đãi sẽ hiệu quả hơn, tránh tình trạng ban hành văn bản chỉ có một số đối tượng thực hiện

Các tổ chức tín dụng xây dựng được hệ thống thông tin đảm bảo chất lượng và hiệu quả cho lĩnh vực nông nghiệp sẽ là một yếu tố tác động tích cực đến vai trò của các Ngân hàng Thông tin do các tổ chức tín dụng cung cấp đòi hỏi phải đầy đủ, kịp thời và chính xác vì đây là cơ sở để giúp các ngân hàng có những đánh giá ban đầu đúng đắn về hoạt động của ngân hàng Sự che đậy thông tin, làm sai lệch thông tin sẽ dẫn đến các ngân hàng có cái nhìn sai lệch và dẫn đến những quyết định không chính xác gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện nghị định

d Rủi ro trong sản xuất kinh doanh

- Những thay đổi về điều kiện xã hội có thể tác động đến cách lý giải

vấn đề và vì vậy tác động đến việc thực hiện nghị định Xã hội càng hiện đại, nhận thức của con người càng tiến bộ, trình độ dân trí càng cao thì càng thuận lợi cho việc thực hiện nghị định Khi nhận thức của con người đạt đến trình

độ cao thì việc tuyên truyền phổ biến chính sách của các ngân hàng sẽ thuận lợi hơn, đồng thời ý thức trách nhiệm của người dân đối với việc vay vốn sẽ cao hơn như vậy sẽ hạn chế được rủi ro trong việc cho vay của tổ chức tín dụng

- Những thay đổi về điều kiện kinh tế có tác động đến việc thực hiện nghị định Kinh tế tăng trưởng cao thì các ngân hàng sẽ có nhiều nguồn lực hơn để thực hiện chính sách do đó các ngân hàng thực hiện vai trò của mình trong thực hiện nghị định dễ dàng hơn Mặt khác khi bối cảnh kinh tế ổn định thì khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có nhiều điều kiện để phát triển hơn,

do đó dòng vốn vào khu vực này cũng sinh lời tốt hơn thì các tổ chức tín dụng

Trang 31

sẽ tích cực cho vay đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn hơn

- Công nghệ mới có thể gây ra những thay đổi trong việc thực hiện nghị định Chẳng hạn sự phát triển của tin học và việc áp dụng các công nghệ hiện đại giúp cho việc tuyên truyền phổ biến chính sách trở nên dễ dàng hơn Ngoài ra khi công nghệ hiện đại hơn thì việc thu thập thông tin về tình hình thực hiện nghị định cũng dễ dàng, chính xác và đầy đủ hơn; do đó các ngân hàng sẽ có những quyết định phù hợp hơn với điều kiện thực tế thực hiện chính sách

- Những biến động trong bối cảnh chính trị cũng ảnh hưởng tới việc

thực hiện nghị định Một nền chính trị không ổn định thì tất yếu sẽ khó khăn trong quá trình thực hiện nghị định vì trong những bối cảnh chính trị khác nhau sẽ lựa chọn cách thực hiện nghị định khác nhau Do đó, đây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới việc thực hiện nghị định

vụ tài chính có chi phí phù hợp với khả năng của người dân nông thôn để phát triển sản xuất, tăng thu nhập và nhờ đó vượt ra khỏi vòng nghèo đói Vốn là yếu tố đầu vào quan trọng giúp người nghèo vượt ra khỏi nghèo bằng cách nuôi sống các hoạt động tạo thu nhập

Trang 32

a Hoạt động tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn ở Trung Quốc

Trung Quốc hiện có 1,3tỷ dân, trong đó số dân sống ở các vùng nông thôn rất đông chiếm khoảng 70% dân số Vì vậy nông nghiệp đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Sau 30 năm cùng với tiến trình cải cách mở cửa nền nông nghiệp Trung Quốc đãcó nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hoá và bền vững.Trước tình trạng giá lương thực leo thang, khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng lớn Trung Quốc đang tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng tham gia vào hoạt động cấp vốn cho nông dân… Trung Quốc đã mở rộng một kế hoạch thử nghiệm thành lập bảy công

ty cho vay nhỏ ở một số tỉnh nông nghiệp như Sơn Tây, Tứ Xuyên Đến nay

số công ty cho vay nhỏ ở các tỉnh này đã tăng lên Để khuyến khích các công

ty cho vay nhỏ ấn định lãi suất cho vay phù hợp với rủi ro tín dụng, Chính phủ Trung Quốc cũng cho phép các công ty này có thể thu lãi cho vay cao hơn chi phí huy động đến bốn lần và tối thiểu bằng 0,9 lần mức lãi suất cho vay thời hạn một năm do PBoC ấn định

b Ngân hàng Grameen ở Bangladesh

Ngân hàng Grameen (GB) là định chế tài chính nổi tiếng nhất thế giới

về tín dụng nông thôn GB có mạng lưới chi nhánh rộng khắp đến tận cơ sở, mỗi chi nhánh phục vụ 15 - 22 làng Đối tượng phục vụ là các gia đình có chưa đến 0,2ha đất Để vay được tín dụng, người trong các gia đình đủ tiêu chuẩn sẽ lập nhóm gồm 5 người có hoàn cảnh gần giống nhau Mỗi nhóm bầu trưởng nhóm và thư ký để chủ trì cuộc họp hàng tuần Sau khi nhóm được thành lập, một nhân viên ngân hàng sẽ đến thăm gia đình và kiểm tra tư cách của mỗi thành viên để lấy thông tin về tài sản, thu nhập

Trang 33

Khoảng 5-6 nhóm sẽ lập nên một trung tâm trong cùng địa phương Từ các trưởng nhóm sẽ bầu ra trưởng trung tâm, là người chịu trách nhiệm giúp các thành viên tìm hiểu các quy định của ngân hàng, chủ trì cuộc họp hàng tuần Các thành viên sẽ dự một khóa hướng dẫn kéo dài một tuần, nhân viên ngân hàng sẽ giải thích quy định của Grameen, quyền và nghĩa vụ của thành viên Sau khi kết thúc khóa học, nếu đạt yêu cầu, mỗi người được cấp giấy chứng nhận là thành viên chính thức Trước khi đủ tiêu chuẩn vay tiền, mọi thành viên phải chứng tỏ sự thành thực và sự đoàn kết bằng cách tham dự tất

cả các buổi họp nhóm trong ba tuần kế tiếp

Tại cuộc họp hàng tuần, mỗi thành viên đóng góp 1 taka (đơn vị tiền tệ của Bangladesh, 1taka=244 đồng) vào quỹ nhóm Ban đầu chỉ có hai thành viên được vay tiền Thêm hai người nữa được vay nếu hai người vay đầu tiên trả nợ đúng hạn trong hai tháng đầu tiên Người cuối cùng (thường là trưởng nhóm) phải đợi thêm hai tháng nữa cho đến khi những người vay tiền trước mình chứng tỏ là đáng tin cậy

Mỗi khoản vay được trả dần hàng tuần trong vòng một năm Nếu một người vỡ nợ,những người khác trong nhóm sẽ không được vay Do đó, áp lực của các thành viên trong nhóm là yếu tố quan trọng bảo đảm mỗi thành viên

sẽ trả nợ đầy đủ Ngoài việc đóng góp 1 taka mỗi tuần, mỗi thành viên khi vay được tiền phải đóng 5% số tiền vay vào quỹ nhóm Các thành viên có thể vay mượn từ quỹ này với bất cứ mục đích gì, kể cả trả nợ ngân hàng hay tiêu dùng Mỗi nhóm còn lập quỹ khẩn cấp với mức đóng bằng 4% số tiền vay ngân hàng Quỹ này chỉ dùng để giúp thành viên trả nợ trong trường hợp cấp bách như gia đình có người bị chết, bị mất cắp hay thiên tai; quỹ này giống như một khoản bảo hiểm

Bằng các dịch vụ tiết kiệm-tín dụng linh hoạt, GB đã thành công trong việc tiếp cận tầng lớp nghèo nhất (đặc biệt là phụ nữ nông thôn), đạt tỉ lệ thu

Trang 34

hồi nợ gần 100% và nâng cao vị thế kinh tế-xã hội của khách hàng Nhiều nghiên cứu đánh giá rằng, GB cải thiện tính đoàn kết giữa các thành viên, nâng cao ý thức của họ, khuyến khích họ lập những trường học quy mô nhỏ

và tổ chức các sự kiện thể thao cho con cái họ, loại bỏ tập tục của hồi môn, phòng chống những bệnh thường gặp như tiêu chảy, quáng gà ở trẻ em và chống những bất công trong xã hội

c Hoạt động tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn ở nước Mỹ

Nước Mỹ được xem là cường quốc công nghiệp số một, đồng thời cũng

là nước có nền nông nghiệp phát triển bậc nhất toàn cầu Năm 1862 khi thành lập, phương châm đầu tiên mà Bộ nông nghiệp Mỹ đưa ra là: “Nông nghiệp là

cơ sở của ngành chế tạo và thương nghiệp” Qua hơn 200 năm phát triển tới nay, nước Mỹ luôn thực hiện phương châm “Dĩ nông lập quốc”, luôn coi nông nghiệp là cột trụ của nền kinh tế quốc dân Bởi vậy, ngoài nhân tố khách quan trời phú cho nước Mỹ điều kiện thiên nhiên thuận lợi để phát triển nông nghiệp thì chính sách của nhà nước đã góp phần quan trọng làm nông nghiệp phát triển mạnh mẽ vào bậc nhất thế giới hiện nay

Số liệu thống kê mới đây của Cơ quan quyền uy Mỹ cho biết: hiện nay nông dân Mỹ khoảng 4,5 triệu người, chiếm chưa đầy 2% dân số, ngoài việc cung cấp đầy đủ lương thực thực phẩm cho hơn 250 triệu dân, nông dân Mỹ hàng năm còn xuất khẩu hàng lương thực thực phẩm, như bột mì, bông, thịt, rau quả trị giá tới trên 53 tỉ USD, bình quân mỗi giờ nông dân Mỹ đã tạo ra giá trị tới 6 triệu USD hàng xuất khẩu nông sản thực phẩm Sản lượng của 1/3 đất đai canh tác ở Mỹ có liên hệ với thị trường xuất khẩu thế giới, 17% nông sản phẩm dùng cho xuất khẩu, thu nhập từ xuất khẩu chiếm 25% tổng thu nhập của toàn ngành nông nghiệp Xuất khẩu thịt bò của Mỹ chiếm 1/4 thị phần thế giới, ngũ cốc, sữa bò, trứng chiếm 1/5 thị trường thế giới Đó là chưa

kể hàng năm dân chúng Mỹ tiêu thụ lượng hàng nông sản thực phẩm tới 547

Trang 35

tỉ USD, trong đó các trang trại, nông trường của Mỹ cung cấp trên 23%, còn lại là nông dân Mỹ cung cấp và nhập khẩu

Số liệu của Bộ nông nghiệp Mỹ cho biết hiện nay Mỹ có 2,2 triệu nông trường, trang trại lớn nhỏ với bình quân diện tích là 418 mẫu Anh (khoảng 41.800 mét vuông) Ngoài ra còn các gia đình nông dân riêng lẻ, nhưng diện tích canh tác cũng rất lớn Thậm chí một gia đình chỉ có 6 người, nhưng canh tác tới trên 1.000 hécta Sở dĩ nông dân Mỹ có thể canh tác với diện tích lớn như vậy là do tất cả các khâu đều được tự động hóa, cơ giới hóa, lên mạng số hóa và vệ tinh hóa Các khâu như gieo trồng, bón phân, trừ sâu đều dùng máy bay tiến hành Việc tưới nước, chăm sóc và thu hoạch đều được vệ tinh thông báo, hướng dẫn và chỉ đạo Việc tiêu thụ sản phẩm hầu hết thông qua mạng Internet để đưa hàng tới thị trường có nhu cầu Hơn 30% nông dân Mỹ có trình độ đại học trong đó hơn 50% có trình độ trên đại học Số liệu thăm dò

dư luận được tiến hành hàng năm cho thấy có tới 90% gia đình hy vọng con

em mình tiếp tục kế nghiệp cha mẹ sản xuất nông nghiệp, có tới 97% thanh niên và con em gia đình nông dân tự nguyện ở lại gắn với nghề nông

Một nhân tố cũng rất quan trọng là sản xuất nông nghiệp được sự hỗ trợ đắc lực của Nhà nước để đảm bảo “đầu vào lớn, đầu ra nhiều” Chính sách hỗ trợ và nâng đỡ sản xuất nông nghiệp của chính phủ Mỹ thể hiện trên những mặt sau:

Một là, nhà nước cấp khoản hỗ trợ tài chính và tiền vốn to lớn cho sản

xuất nông nghiệp Số liệu thống kê của Mỹ cho thấy sự hỗ trợ vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp của Nhà nước còn cao hơn vào lĩnh vực chế tạo của công nghiệp Theo luật định, trong vòng 10 năm kể từ năm 2002 đến nay nhà nước hỗ trợ 190 tỉ USD cho sản xuất nông nghiệp, bình quân mỗi năm là 19 tỉ USD, dưới mức 19 tỉ USD, là trần cao nhất theo quy định chung của quốc tế

Trang 36

để không bị trừng phạt Năm 2004, tổng các dịch vụ và hạng mục đầu tư cho nông nghiệp tới 74 tỉ USD, tăng 1,4 tỉ USD so với năm 2003, kinh phí cho bảo vệ môi trường nông nghiệp cao nhất tới 30 tỉ USD, trong đó nhà nước hỗ trợ 6,2 tỉ USD Riêng khâu an toàn lương thực, thực phẩm được nhà nước hỗ trợ tới gần 900 triệu USD Năm 2004, nhà nước hỗ trợ 196 triệu USD để nâng cấp mạng số hóa hệ thống Internet cho nông dân nhằm tìm thị trường và có thông tin nhanh nhạy để cạnh tranh trên trường quốc tế

Hai là, Nhà nước thực hiện chính sách “Lấy công bù nông”, tức hỗ trợ

cho các doanh nghiệp công nghiệp có các hạng mục phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, như xây dựng đường sá, cầu cống, điện lực phục vụ phát triển nông thôn và cải thiện đời sống nông dân Những doanh nghiệp có các chương trình phục vụ nông nghiệp như kỹ thuật nông nghiệp, thông tin, mạng tin chuyên về giá cả thị trường hàng nông sản trong và ngoài nước đều được nhà nước hỗ trợ

Ba là, Nhà nước thực hiện ưu đãi thuế cho nông dân, như hàng năm có

25% chủ trang trại được miếng giảm thuế thu nhập, 50% chủ trang trại được hưởng mức thuế thấp 15%, còn lại 5% chủ trang trại và chủ nông trường lớn nộp thuế như quy định Xăng dầu dùng cho sản xuất nông nghiệp đều được bán với giá ưu đãi Đây là nhân tố tích cực thúc đẩy và khơi dậy tính tích cực của nông dân trong sản xuất nông nghiệp

2.2.2 Hoạt động tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn theo NĐ 41/2010/CP ở Việt Nam

Chiếm hơn 70% dân số và hơn 72% lực lượng lao động, nhưng đến nay khu vực nông nghiệp, nông thôn Việt Nam cũng chỉ chiếm dưới 25% tổng dư

nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống tổ chức tín dụng Là khu vực sinh lời thấp, chi phí cao, nhiều rủi ro khách quan (thiên tai, dịch bệnh, khả năng trả

Trang 37

nợ của khách hàng thấp…) nên luồng vốn đầu tư, đặc biệt là vốn thương mại

đổ vào không nhiều

Trong Hội nghị Triển khai chính sách tín dụng phục vụ phát triển NNNT tổ chức vào quý II/2010 tại Hà Nội, ông Nguyễn Đồng Tiến, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, trong 5 năm 2003-2007, Việt Nam đầu tư cho phát triển nông nghiệp đạt 113.000 tỷ đồng, chiếm 8,7% vốn đầu tư Nhà nước và mới chỉ đáp ứng 17% nhu cầu của khu vực này (tính đến ngày 31/5/2010, dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã đạt trên 315.000 tỷ đồng) Đầu tư cho khuyến nông chỉ là 0,13% GDP (trong khi các nước khác là 4%) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp, nông thôn mới chiếm 3% tổng nguồn FDI… Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng bình quân trong cho vay đối với lĩnh vực NNNT 10 năm qua chỉ khoảng 22%/năm, thấp hơn so với tốc độ tăng trưởng bình quân chung của cho vay toàn bộ nền kinh tế (25%/năm) Dư nợ cho vay tập trung chủ yếu tại khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, chiếm khoảng 49% tổng dư nợ cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn Phần còn lại tập trung cho khu vực Duyên hải Miền Trung, chiếm khoảng 14,43%, đồng bằng Bắc Bộ 17,21%, Miền núi phía Bắc 9,86%, Tây Nguyên 9,4%

Mặc dù hiện tại thị trường tài chính nông thôn Việt Nam đang được tiếp nhận nhiều nguồn vốn đầu tư đa dạng như: vốn ngân sách nhà nước; vốn tín dụng nông nghiệp lãi suất ưu đãi đầu tư các dự án; vốn tín dụng lãi suất ưu đãi cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách…Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại khu vực này còn nghèo nàn Trong đó chủ yếu là tín dụng truyền thống, các dịch vụ thanh toán, bảo hiểm nông nghiệp, bảo hiểm tín dụng nông nghiệp còn rất hạn chế, gần như mới phát triển ở mức thử nghiệm, sản phẩm tín dụng của ngân hàng chưa bao gồm các dịch vụ hỗ trợ đi kèm, các công cụ đầu tư tài chính chuyên nghiệp hầu như chưa có Quy trình

Trang 38

cung cấp tín dụng còn phức tạp, chưa phù hợp với trình độ của người dân, đặc biệt là các thủ tục liên quan đến tài sản thế chấp là đất đai; không đáp ứng kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và lãi suất các khoản cho vay thương mại đối với nông nghiệp – nông thôn còn ở mức rất cao Hơn nữa, các nguồn tín dụng đầu tư còn mất cân đối, khả năng huy động vốn tại chỗ chưa cao; sử dụng vốn tín dụng và đầu tư còn tình trạng bị động, bất hợp lý, dàn trải, chồng chéo, ban phát chưa được phối hợp đồng bộ, nhiều chương trình,

dự án kinh tế không được đầu tư đúng hướng, đúng tiến độ gây thất thoát tài sản…Thậm chí, đến nay chưa có một thống kê đầy đủ, chính xác nào về tổng nguồn vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp, thực trạng và nhu cầu vốn đầu tư cho từng địa bàn, từng đối tượng cụ thể trong nông nghiệp

Đây là một trong những lý do tại sao tình hình khu vực nông nghiệp Việt Nam chưa có những cải thiện mạnh mẽ cả về mức sống và trình độ kinh

tế, mặc dầu trên 80% hộ nông dân tại tất cả các vùng, miền trong cả nước đã được tiếp cận vốn và các dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam, nông nghiệp được coi là nền móng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế, cũng như trong thời gian vừa qua, Ngân hàng Nhà nước đã có quan tâm xây dựng các cơ chế chính sách phát triển tín dụng nông nghiệp nông thôn, hỗ trợ nâng cao năng lực của các định chế tài chính, nhất là các định chế tài chính hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, kêu gọi các nguồn vốn nước ngoài cho vay trong lĩnh vực này…Là một thị trường nhiều tiềm năng, gắn với nhu cầu sinh hoạt và kinh doanh ngày càng tăng của trên 2/3 tổng dân số, nhất là với nhu cầu hình thành các vùng chuyên canh lúa, hoa màu, cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm; xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn (điện, đường giao thông), phát triển các trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ và trên 2.000 làng nghề

Trang 39

Trong thời gian tới, để tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững thị trường tín dụng nông nghiệp và nông thôn cần có những giải pháp đồng bộ và mạnh mẽ hơn:

Một là, tăng cường vai trò của Chính phủ trong các hoạt động tín dụng nông

nghiệp, nông thôn Xây dựng và quản lý các quy hoạch phát triển NNNT; sử dụng đất, thực hiện chính sách giao đất và cấp chứng nhận quyền sử dụng đất tạo thuận lợi cho các hoạt động xúc tiến đầu tư và cho vay, thế chấp trong tín dụng nông thôn.Đặc biệt,cần khuyến khích quá trình tích tụ ruộng đất cho kinh doanh lớn thông qua những điều chỉnh thích hợp; mạnh dạn về hạn điền

và thời gian, phương thức giao đất

Thực hiện các hỗ trợ trực tiếp tài chính - tín dụng trong những trường hợp đặc biệt, như khắc phục hậu quả thiên tai, phát triển vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số; thực hiện các chương trình thí điểm xây dựng cơ sở hạ tầng nông nghiệp…,

Hỗ trợ đào tạo cán bộ và hoạt động của các tổ chức, tổ chức tín dụng ở những vùng khó khăn, thực hiện đơn giản hóa và rút ngắn thời hạn thủ tục đăng ký và cấp sổ đỏ xác nhận chủ quyền đất, cải tổ Luật giao dịch bảo đảm, giảm bớt quy định quản lý đối với các tổ chức tín dụng

Trong một số trường hợp, Nhà nước cần mạnh dạn lập các doanh nghiệp nhà nước chuyên bao tiêu sản phẩm nông nghiệp, nhất là chế biến xuất khẩu, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh và sản phẩm, thương hiệu xuất khẩu có sức cạnh tranh cao, cũng như tạo thuận lợi và an toàn cho việc cấp tín dụng của ngân hàng và hỗ trợ các hoạt động này

Hai là, tăng cường năng lực tài chính, quản trị rủi ro và đổi mới hoạt động

của các tổ chức tín dụng NNNT, nòng cốt là Ngân hàng NNPTNT, Quỹ tín dụng nhân dân, Ngân hàng Chính sách xã hội

Trang 40

Tái cấu trúc và tăng vốn điều lệ, tăng năng lực tài chính cho các định chế này; cải tiến phương thức cho vay vốn của ngân hàng theo hướng giảm bớt các thủ tục phiền hà, nhằm tạo thuận lợi cho người vay dễ dàng và nhanh chóng vay được vốn với chi phí giao dịch thấp (thủ tục đơn giản và nhanh chóng nhận được tiền)…Các ngân hàng cần lập kế hoạch cho vay tín dụng nông thôn một cách hợp lý về thời hạn, cơ cấu vốn đầu tư, cũng như hạn mức vốn vay, đảm bảo khai thác tiềm năng kinh tế tự nhiên của mỗi vùng

Tiến hành đổi mới toàn diện mô hình tổ chức, mạng lưới kinh doanh theo mô hình Ngân hàng Thương mại hiện đại, giảm trung gian, tăng năng lực cho các đơn vị trực tiếp kinh doanh…

Ba là, tăng cường đa dạng hóa các nguồn vốn và sản phẩm tín dụng cho phát

triển NNNT

Nhà nước cần mở rộng tự do hóa, cùng với tăng cường tiêu chuẩn hóa

và các hoạt động giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng chính thức (hệ thống ngân hàng, quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức tài chính vi mô) và phi chính thức (quan hệ vay mượn gia đình, bạn bè, người thân…) trong nước và nước ngoài để hỗ trợ các tổ chức tín dụng đa dạng hóa nguồn vốn và sản phẩm tín dụng phù hợp với trình độ phát triển và dân trí, tập quán ở mỗi địa phương…Các ngân hàng và tổ chức tín dụng cần thành lập bộ phận chuyên trách và mở rộng mạng lưới ở những nơi có điều kiện để thực hiện việc huy động vốn

Kết hợp nhiều phương thức cho vay linh hoạt như phương thức cho vay

dự án đầu tư, cho vay hạn mức tín dụng, cho vay hợp vốn… nhằm giúp cho người vay chủ động hơn trong sử dụng vốn phù hợp với chu kỳ sản xuất nông nghiệp, giảm thủ tục vay, tiết kiệm được các chi phí gián tiếp khi tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng.Đặc biệt, có thể phát triển loại hình tín dụng cho thuê tài chính trong lĩnh vực NNNT Mở rộng thị trường cho thuê tài chính

Ngày đăng: 31/10/2014, 16:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đinh Thị Thùy Dương, 2009, Tác động của hoạt động tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên.Luận văn thạc sĩ, trường Đại Học Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của hoạt động tín dụng trong việc phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Đinh Thị Thùy Dương
Nhà XB: trường Đại Học Kinh tế và quản trị kinh doanh Thái Nguyên
Năm: 2009
2. Phan Văn Hướng , 2010, Nâng cao năng lực tiếp cận vốn tín dụng chính thống của các hộ nông dân ở huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên. Luận văn thạc sĩ trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Khác
3. Nguyễn Hải Hoàng, 2011, Nghiên cứu tình hình thực thi chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp của Nhà nước ở huyện Quế võ, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn thạc sĩ trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội Khác
4. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm 2010 của Ngân hàng NN&PTNT huyện Khoái Châu Khác
5. Đỗ Kim Chung, 2010, Bài giảng môn chính sách phát triển, Trường đại học nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2009 và phương hướng nhiệm vụ năm 2010 của NHCSXH huyện Khoái Châu Khác
7. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011 của Ngân hàng NN&PTNT huyện Khoái Châu Khác
8. Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2010 và phương hướng nhiệm vụ năm 2011 của NHCSXH huyện Khoái Châu.Website Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 Phân loại mẫu điều tra  Đối tượng Số mẫu Nội dung thu thập Phương pháp - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 3.1 Phân loại mẫu điều tra Đối tượng Số mẫu Nội dung thu thập Phương pháp (Trang 48)
Bảng 4.1. Tình hình huy động vốn của các ngân hàng huyện Khoái Châu  năm 2009 - 2011 - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.1. Tình hình huy động vốn của các ngân hàng huyện Khoái Châu năm 2009 - 2011 (Trang 54)
Bảng 4.2. Doanh số cho vay của các ngân hàng - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.2. Doanh số cho vay của các ngân hàng (Trang 56)
Bảng 4.3.  Lãi suất cho vay của NHNNo&PTNT huyện Khoái Châu - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.3. Lãi suất cho vay của NHNNo&PTNT huyện Khoái Châu (Trang 57)
Bảng 4.4. Đặc điểm của các hộ dân được điều tra - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.4. Đặc điểm của các hộ dân được điều tra (Trang 61)
Bảng 4.5. Tình hình dư nợ của các ngân hàng (đến 31 tháng12 hàng năm) - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.5. Tình hình dư nợ của các ngân hàng (đến 31 tháng12 hàng năm) (Trang 64)
Bảng 4.6. Thực trạng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hộ nông dân tại các xã - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.6. Thực trạng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của các hộ nông dân tại các xã (Trang 66)
Bảng 4.7. Mức vốn vay và nhu cầu vay vốn của các hộ nông dân - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.7. Mức vốn vay và nhu cầu vay vốn của các hộ nông dân (Trang 69)
Bảng 4.8. Thời hạn vay vốn của các hộ nông dân - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.8. Thời hạn vay vốn của các hộ nông dân (Trang 71)
Bảng 4.9. Ý kiến đánh giá các hộ điều tra về chính sách cho vay vốn tín dụng - Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo nghị định số 41 của chính phủ tại huyện khoái châu, tỉnh hưng yên
Bảng 4.9. Ý kiến đánh giá các hộ điều tra về chính sách cho vay vốn tín dụng (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w