Bộ cũng yêu cầu các ñịa phương xây dựng quy hoạch phát triển ñồng cỏ, ñồng thời có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích nông dân phát triển trồng cỏ phục vụ chăn nuôi.[5] Nhận thức rõ vai trò rấ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
*********
NGUYỄN VĂN TOÀN
NGHIÊN CỨU LIỀU LƯỢNG PHÂN ðẠM BÓN CHO CỎ VOI LAI TRÊN ðẤT XÁM BẠC MÀU
Trang 2i
LỜI CAM ðOAN
- Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực
và chưa ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam ñoan rằng, mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiện luận văn ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Toàn
Trang 3
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực tiễn nghiên cứu ñề tài, tôi luôn nhận ñược sự quân tâm của cơ quan, nhà trường, sự giúp ñỡ tận tình của các thầy, cô, các ñồng nghiệp, bạn bè và gia ñình
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc ñến PGS TS Nguyễn Như Hà, người thầy ñã tận tình giúp ñỡ, hướng dẫn tôi thực hiện ñề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Cây lương thực - Khoa Nông học - Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, ñã tạo ñiều kiện, hướng dẫn, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu ñể có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn ñến lãnh ñạo Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Xuyên, lãnh ñạo phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Cẩm Xuyên ñã tạo ñiều kiện giúp ñỡ cho tôi ñược tham gia khóa ñào tạo này
Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia ñình, bạn bè ñã ñộng viên, tạo ñiêu kiện và giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Hà Nội, ngày 02 tháng 10 năm 2012
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Toàn
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục bảng v
Danh mục viết tắt viii
PHẦN I - MỞ ðẦU 54
1.1 ðặt vấn ñề 1
1.2 Mục ñích của ñề tài 3
1.3 Yêu cầu 3
PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 Vai trò của chăn nuôi và trồng cỏ phục vụ chăn nuôi 4
2.1.1 Vai trò của chăn nuôi 4
2.1.2 Vai trò của trồng cỏ phục vụ chăn nuôi 5
2.2 Vai trò của phân bón ñối với cây trồng 6
2.2.1 Phân bón và năng suất cây trồng 6
2.2.2 Phân bón với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt 8
2.2.3 Phân bón và chất lượng sản phẩm nông nghiệp 10
2.2.4 Phân bón với thu nhập của người sản xuất 12
2.3 Tình hình trồng cỏ chăn nuôi trong và ngoài nước 13
2.3.1 Tình hình trồng cỏ chăn nuôi trên thế giới 13
2.3.2 Tình hình trồng cỏ chăn nuôi ở Việt Nam 14
2.4 Nghiên cứu bón phân cho cỏ Voi 16
2.4.1 ðặc ñiểm chung về cây cỏ Voi 16
2.4.2 Nghiên cứu về bón phân cho cỏ 17
2.5 ðặc ñiểm ñất xám bạc màu 26
Phần III ðỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
Trang 5iv
3.1 đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Nội dung nghiên cứu 28
3.2.1 đánh giá ảnh hưởng của lượng phân ựạm ựến quá trình sinh trưởng và năng suất cỏ VA06 theo các ựợt cắt 28
3.2.2 Xác ựịnh lượng bón phân ựạm thắch hợp cho cỏ Voi lai trên ựất xám bạc màu tại tỉnh Vĩnh Phúc 28
3.3 Phương pháp nghiên cứu 29
3.3.1 Bố trắ thắ nghiệm 29
3.3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 29
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi 30
3.3.4 Các chỉ tiêu phân tắch 32
3.3.5 đánh giá hiệu quả của việc bón phân N cho cỏ Voi lai 32
3.3.6 Phương pháp phân tắch 32
3.3.7 Phương pháp xử lý số liệu: 33
Phần IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 đánh giá ảnh hưởng của lượng phân ựạm ựến quá trình sinh trưởng và năng suất cỏ VA06 theo các ựợt cắt 34
4.1.1 đánh giá ảnh hưởng của các lượng phân ựạm bón tới quá trình sinh trưởng, phát triển của cỏ VA06 34
4.1.2 đánh giá ảnh hưởng của lượng phân ựạm bón ựến năng suất cỏ VA06 44
4.1.3 đánh giá ảnh hưởng của các lượng phân ựạm bón tới chất lượng cỏ 49
4.2 Xác ựịnh lượng bón phân ựạm thắch hợp cho cỏ Voi lai trên ựất xám bạc màu tại tỉnh Vĩnh Phúc 52
4.2.1 Hiệu quả của việc bón phân ựạm cho cỏ VA06 trên ựất xám bạc màu 52
4.2.2 đánh giá tắnh chất nông hóa của ựất trước và sau thắ nghiệm 62
V KẾT LUẬN VÀ đỀ NGHỊ 63
5.1 Kết luận 63
5.2 đề nghị 63
Trang 6Bảng 2.3 Ảnh hưởng của phân bón ñến nhu cầu nước ñể tạo thành 1 ñơn
vị chất khô của cây 10
Bảng 2.4 Liều lượng ñạm bón cho cỏ phụ thuộc vào ñiều kiện sinh
trưởng 23
Bảng 2.5 Liều lượng và thời kỳ bón phân cho cỏ voi 26
Bảng 2.1 Công thức thí nghiệm 29
Bảng 4.1 Ảnh hưởng của bón các lượng phân ñạm khác nhau tới sự phát
triển chiều cao của cỏ VA06 35
Bảng 4.2 Ảnh hưởng của bón những lượng phân ñạm khác nhau tới sự
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của việc bón những lượng phân ñạm khác nhau tới
khối lượng của từng khóm cỏ VA06 45
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của lượng phân ñạm tới năng suất của cỏ VA06 47
Bảng 4.7 Ảnh hưởng của các lượng phân ñạm ñến chất lượng của cỏ
VA06 50
Trang 7vi
Bảng 4.8 Hiệu quả của việc bón phân ñạm cho cỏ VA06 trên ñất xám
bạc màu 53
Bảng 4.9 Hiệu suất phân N bón cho cỏ VA06 trên ñất xám bạc màu 56
Bảng 4.10 Ảnh hưởng của sử dụng phân ñạm ñến tỷ lệ lãi trên chi phí
mua phân ñạm bón cho cỏ voi 59
Bảng 4.11 Ảnh hưởng của việc sử dụng phân ñạm ñến hiệu quả kinh tế
của trồng cỏ 60
Bảng 4.12 Ảnh hưởng của bón phân tới một số tính chất hóa học ñất sau
thí nghiệm trồng cỏ VA06 62
Trang 9
Trong ñịnh hướng quy hoạch sản xuất thức ăn thô xanh phù hợp với ñiều kiện từng vùng, ñáp ứng ñủ nhu cầu thức ăn thô xanh ñể phát triển chăn nuôi trong nước và tiếp cận thị trường quốc tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ñã ñề ra mục tiêu ñưa diện tích trồng cỏ lên 290.000 ha vào năm
2010 và 500.000 ha vào năm 2020 Bộ cũng yêu cầu các ñịa phương xây dựng quy hoạch phát triển ñồng cỏ, ñồng thời có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích nông dân phát triển trồng cỏ phục vụ chăn nuôi.[5]
Nhận thức rõ vai trò rất quan trọng của việc trồng cỏ phục vụ chăn nuôi, nhiều giống cỏ năng suất chất lượng ñược nhập vào nước ta từ những năm 70 của thế kỷ 20, nhiều loại cỏ ñã thích nghi với ñiều kiện nước ta, trong ñó có cây cỏ Voi là cây hòa thảo lưu niên có khả năng cho năng suất chất xanh rất cao trong 5 - 7 ñợt cắt/năm Cỏ Voi ñược ñưa vào Việt Nam từ rất sớm và
Trang 102
ñang là loại cỏ chủ lực ñược trồng ñể chăn nuôi trâu bò Tuy nhiên kỹ thuật trồng cỏ chăn nuôi ở Việt Nam nói chung cỏ voi lai nói riêng hầu hết vẫn còn mang tính tận dụng quảng canh, chưa chú trọng thâm canh ñể ñạt năng suất, chất lượng cao ñáp ứng nhu cầu ngành chăn nuôi ðể trồng cỏ theo phương thức thâm canh, cùng với chọn giống cỏ tốt thì cần có kỹ thuật và chăm sóc phù hợp, trong ñó bón phân có vai trò quan trọng ñể cỏ sinh trưởng tốt cho năng suất, chất lượng cao Bón phân hợp lý còn là cơ sở rất quan trọng ñể trồng
cỏ có hiệu quả kinh tế cao, không gây hại môi trường ñể phát triển bền vứng
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh chú trọng phát triển chăn nuôi, trong ñịnh hướng phát triển nông nghiệp ñến năm 2020 Tỉnh ñã xác ñịnh chăn nuôi là khâu ñột phá trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, với tốc ñộ tăng từ
6 - 8 %/năm và tỷ trọng của giá trị sản phẩm chăn nuôi chiếm 52% trong giá trị sản xuất nông nghiệp Thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở Vĩnh Phúc những năm gần ñây cho thấy ñể chăn nuôi ñạt hiệu quả cao, phải thay ñổi phương thức chăn nuôi, chuyển từ chăn nuôi quảng canh sang thâm canh, sử dụng giống tốt, quản lý dịch bệnh và trồng cỏ ñể chủ ñộng thức ăn xanh là những yếu tố
có ý nghĩa quyết ñịnh
ðối với cây trồng ñạm là yếu tố chính, yếu tố quyết ñịnh sự sinh trưởng phát triển và năng suất của cây Vì vậy trong trồng trọt, ñặc biệt ñối với loại cây trồng lấy sinh khối, có khả năng cho năng suất rất cao như cỏ Voi lai, có yêu cầu rất cao về phân khoáng nhất là phân ñạm
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên chúng tôi thực hiện ñề tài: “ Nghiên cứu liều lượng phân ñạm bón cho cỏ Voi lai trên ñất xám bạc màu tại tỉnh Vĩnh Phúc”
Trang 11- đánh giá ảnh hưởng của phân ựạm tới sinh trưởng của cỏ thông qua
các chỉ tiêu chiều cao, số lá, số dảnh;
- đánh giá ảnh hưởng của phân ựạm tới chất lượng cỏ VA06 thông qua các chỉ tiêu : vật chất khô, protein thô, lipit, chất xơ, chất khoáng tổng số;
- Xác ựịnh lượng bón phân ựạm thắch hợp cho cỏ VA06 trên cơ sở ựảm bảo năng suất, phẩm chất cỏ cao, có hiệu quả sử dụng phân bón cao, không ảnh hưởng xấu tới ựất
Trang 124
PHẦN II - TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Vai trò của chăn nuôi và trồng cỏ phục vụ chăn nuôi
2.1.1 Vai trò của chăn nuôi
Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực kinh tế quan trọng trong ngành nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi) ðặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa rất quan trọng ñối với nước ta khi có tới hơn 70% dân cư sống dựa vào nông nghiệp Chăn nuôi ñóng vai trò chủ yếu sau:
- Chăn nuôi là nguồn cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cao (thịt, trứng, sữa) cho ñời sống con người Các sản phẩm chăn nuôi ñều có hàm lượng protein cao và giá trị sinh vật học của protein cao hơn các thức ăn có nguồn gốc thực vật
- Chăn nuôi là nguồn cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp như công nghiệp chế biến, công nghiệp tiêu dùng, các ngành công nghiệp sản xuất da dày, chăn, ñệm, sản phẩm thời trang Các loại mỹ phẩm, thuốc chữa bệnh, vacxin phòng nhiều loại bệnh ñều có nguồn gốc từ sữa và trứng Chăn nuôi cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy chế biến thức ăn cho gia súc
- Chăn nuôi là nguồn cung cấp phân bón cho trồng trọt, thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản Trong sản xuất nông nghiệp hướng tới canh tác bền vững không thể không kể ñến vai trò của phân bón hữu cơ nhận ñược từ chăn nuôi Phân chuồng với tỷ lệ N, P, K cao và cân ñối, nếu biết chế biến và sử dụng hợp lý sẽ có tác dụng to lớn ñến cải tạo ñất trồng trọt, nâng cao năng suất cây trồng Mỗi năm từ một con bò cho từ 8 - 10 tấn phân hữu cơ, từ một con trâu cho từ 10 - 12 tấn (kể cả ñộn chuồng), trong ñó có 2 - 4 tấn phân nguyên chất Phân trâu, bò, lợn sau khi xử lý có thể là thức ăn tốt cho cá và các ñối tượng thuỷ sản khác [4]
Cùng với trồng trọt chăn nuôi là ngành cổ xưa nhất của nhân loại, nó cung cấp cho con người thực phẩm có dinh dưỡng cao, nguồn ñạm ñộng vật
Trang 135
như thịt, sữa, các sản phẩm từ sữa… Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, cho công nghiệp thực phẩm và cho xuất khẩu
Theo ông Hoàng Kim Giao, chăn nuôi gia súc ăn cỏ là nghề truyền thống của nông dân Việt Nam, ngoài cung cấp sức kéo phân bón cho nông nghiệp còn cung cấp thịt, sữa và các sản phẩm từ sữa có giá trị kinh tế và dinh dưỡng cao cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của xã hội và giảm thị phần sữa nhập khẩu hàng năm từ 90% xuống 75% Phát triển chăn nuôi gia súc ăn
cỏ là một trong những thế mạnh của các nước có khí hậu nhiệt ñới như Việt Nam nhằm tận dụng nguồn thực vật phong phú, phụ phẩm nông nghiệp và công nghiệp chế biến nông sản ña dạng làm thức ăn chăn nuôi gia súc ăn cỏ - vật nuôi không cạnh tranh lương thực và các loại ngũ cốc góp phần ñảm bảo
an ninh lương thực [20]
Những năm gần ñây chăn nuôi ñại gia súc ñang ñược các ñịa phương
và nông dân chú trọng phát triển tại nhiều tỉnh phía Bắc, bởi ñây là nghề truyền thống, phù hợp với phong tục tập quán, trình ñộ và khả năng kinh tế của mỗi hộ Trang trại chăn nuôi bò và chăn nuôi bò ở các hộ nông dân ñã phát triển mạnh ðến nay, cả nước có gần 6,8 triệu con bò, tốc ñộ tăng ñàn bò bình quân ñạt gần 10%/năm Tuy nhiên, sản xuất thịt bò trong nước vẫn chưa ñáp ứng yêu cầu tiêu thụ nội ñịa, nên phải nhập thêm thịt bò từ Mỹ, Australia, New Zealand…ñể phục vụ tiêu dùng trong nước và khách du lịch Vì vậy, cơ hội cho phát triển chăn nuôi bò và các gia súc ăn cỏ khác của nước ta ñể ñáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ trong nước là rất lớn
2.1.2 Vai trò của trồng cỏ phục vụ chăn nuôi
Nước ta là một trong những nước có bình quân diện tích ñất nông nghiệp/người thấp nhất thế giới, ñồng thời cũng là nước nghèo nên việc phát triển gia súc ăn cỏ chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn xanh Vì vậy trồng cỏ thâm canh có vai trò rất quan trọng cho việc ñảm bảo và chủ ñộng nguồn thức ăn
Trang 14do vậy chi phí sản xuất cao hơn Khi nuôi thâm canh (với mức tăng trọng trung bình 430 gam/ngày), ñến 18 tháng tuổi bò ñạt khối lượng 283 kg, chi phí thức ăn và công nuôi là 15.700 ñ/kg tăng trọng; trong khi ñó ở mức nuôi dưỡng thấp hơn (chỉ ñạt tăng trọng 200 gam/ngày) thì ñến 18 tháng tuổi bò chỉ ñạt khối lượng 185 kg, làm chi phí thức ăn và công chăn nuôi ñạt tới 16.900 ñ/kg tăng trọng Vì vậy có ñủ cỏ cho bò ăn tối ña ñể ñạt tăng trọng tối
ña sẽ giảm giá thành sản xuất
2.2 Vai trò của phân bón ñối với cây trồng
2.2.1 Phân bón và năng suất cây trồng
Thực tiễn sản xuất ở nhiều nước trên thế giới, cũng như ở Việt Nam cho thấy, không có phân hoá học không thể có năng suất cao Ở các nước có
hệ thống nông nghiệp phát triển trong hơn 100 năm gần ñây (từ khi bắt ñầu sử dụng phân bón hoá học), hơn 60% năng suất cây trồng tăng là nhờ sử dụng phân khoáng Ở các nước châu Á, Thái Bình Dương (nước sử dụng phân bón chưa cao) phân bón làm tăng 75% năng suất lúa trong thập kỷ 1979 - 1989 Xie Jian Chang [22] nghiên cứu quan hệ giữa năng suất ngũ cốc với việc sử dụng phân bón ở Trung Quốc ñã có kết luận: Năm 1993 so với năm
1965, năng suất ngũ cốc tăng 2,58 lần, sản lượng tăng 2,3 lần Tổng kết nông nghiệp ở Trung Quốc, Von uexkul và Muter (1993) [23] cho biết: Trước năm
1949 nông dân Trung Quốc chưa sử dụng phân hóa học, chỉ sử dụng phân hữu
cơ năng suất lúa chỉ ñạt 2,20 tấn/ha Nhưng từ năm 1990 trở lại ñây, trong
Trang 157
tổng số dinh dưỡng bón cho lúa chỉ có 24% N, 32% P, 79% K từ phân hữu cơ
Số còn lại do phân hóa học cung cấp, năng suất lúa ựạt 5,80 tấn/ha
Nông dân Việt Nam có câu ỘNhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giốngỢ
ựã khẳng ựịnh vai trò của phân bón trong hệ thống liên hoàn tăng năng suất cây trồng Trong mấy thập kỷ vừa qua, năng suất cây trồng ựã không ngừng tăng lên, ngoài vai trò của giống mới có tác dụng quyết ựịnh của phân bón Giống mới cũng chỉ phát huy ựược tiềm năng của mình - cho năng suất cao khi ựược bón ựủ phân và bón hợp lý
Từ kết quả nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm trong sản xuất, năm
1997, Bùi đình Dinh [9] ựã ước tắnh: Ở Việt Nam phân bón ựóng góp vào việc tăng tổng sản lượng từ 38 - 40%, trong ựó phân hoá học khoảng 28 - 30% Cứ sử dụng 1 tấn NPK nguyên chất thì thu ựược 10 tấn thóc trong sản xuất, 13 tấn thóc trong mô hình Năm 1993, Nguyễn Văn Bộ [5] kết luận: Ở miền Bắc với lúa xuân, phân bón ựóng góp khoảng 36,78%, với lúa mùa 21%, Nguyễn Văn Luật năm 1998 [18] cũng ựánh giá: Ở ựồng bằng sông Cửu Long phân bón ựóng góp 37% tổng sản lượng
Khi nói về vai trò của trồng cỏ và bón phân cho cỏ trong chăn nuôi ở Pháp A.Gros (1967) cho biết: Bón phân ựầy ựủ thường có ảnh hưởng rất rõ ựến năng suất cỏ Người ta dễ dàng làm năng suất của một ựồng cỏ không ựược bón phân tăng gấp ựôi Không thể không bón nhiều phân cho cỏ trồng thâm canh vì ựây là những loài cỏ có yêu cầu cao và năng suất rất cao, ựồng cỏ sẽ hỏng nếu người ta hà tiện phân bón Tuy nhiên việc bón phân cho cỏ chỉ thực
sự phát huy hết tác dụng khi bón cân ựối ựạm, lân, kali Trong ựó phân ựạm
có vai trò lớn ựối với các loại cỏ hòa thảo vốn có năng suất cao vượt trội Những loài cỏ hòa thảo tốt có năng suất rất cao cần rất nhiều ựạm A.Gros còn cho biết, kết quả trung bình của hàng ngàn thắ nghiệm, thực nghiệm bón phân cho cỏ ựạt hiệu suất phân ựạm là 12 - 15 ựơn vị thức ăn (30 - 38 kg cỏ khô)
Trang 168
Trong khi chỉ cần 7 - 10 kg cỏ khô ñể trả tiền cho một ñơn vị ñạm ñã bón nên việc bón phân cho cỏ rất có lãi và cho phép giảm mạnh giá thành sản xuất cỏ Phân bón ñặc biệt là phân ñạm là cơ sở của việc quản lý ñồng cỏ hiện ñại, chế ñộ bón phân hữu hiệu tạo khả năng ñạt sản lượng dồi dào là dựa trên
cơ sở bón phân ñạm làm nhiều lần, rải ñều suốt vụ sinh sản và có bổ sung lân
và kali Một số loài cỏ nhiệt ñới như cỏ Napier (Penniselum purpureum), cỏ Ghinê (Panicum macimum) và cỏ Pangola (Digitarlade cumbens) tỏ ra có
tiềm năng năng suất rất cao trong ñiều kiện bón phân thích hợp và quản lý tốt Trong hoàn cảnh ñó, trung bình trên một ha trong một năm cỏ Napier hoặc cỏ Voi có thể sản xuất ñược 200 - 300 tấn thức ăn xanh dùng làm cỏ chăn nuôi Theo Zurn, khi sử dụng phân P - K và N - P - K so với không bón phân thấy rằng các công thức trên làm tăng năng suất cỏ lên 33 và 70% Còn theo Crespo thì tăng hàm lượng ñạm từ 0 ñến 830 kg N/ha/năm cho sáu loài cỏ khác nhau cho thấy tương quan tỷ lệ thuận giữa năng suất và lượng ñạm sử dụng Voisin cho thấy rằng bón lót P - K rải một tấn trong năm có tác dụng cả năm làm tăng năng suất cỏ so với không bón phân [17]
2.2.2 Phân bón với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt
Trong mối quan hệ với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn (làm ñất, giống, mật ñộ gieo trồng, tưới tiêu ), sử dụng phân bón hợp lý luôn là cơ
sở quan trọng cho việc phát huy hiệu quả của các biện pháp kỹ thuật khác
Trang 179
Bảng 2.1 Tác dụng của các biện pháp kỹ thuật
tổng hợp tới năng suất khoai tây
(tấn/ha)
Tăng năng suất (tấn/ha)
Kỹ thuật canh tác tiên tiến, không bón phân 15,40 6,30
Kỹ thuật canh tác tiên tiến, có bón phân 27,40 18,30
Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Như Hà,2009
Giống cây trồng cần phải ñược bón phân cân ñối theo yêu cầu, mới phát huy hết tiềm năng năng suất của giống Giống lúa lai có tiềm năng năng suất cao hơn lúa thường 20 - 30%, nhưng lại ñòi hỏi phân bón nhiều hơn và tỷ
lệ N, P, K phải phù hợp mới thể hiện tính ưu việt của nó
Bảng 2.2 Nhu cầu dinh dưỡng của các giống lúa
có tiềm năng năng suất khác nhau
Lượng hút các chất dinh dưỡng
chính (kg/ha) Giống lúa Năng suất
(tấn/ha)
Lúa thường 5,00 - 5,50 100 - 120 40 - 50 100 - 120 Lúa lai 6,50 - 7,00 150 - 180 70 - 80 180 - 200
Nguồn: Dẫn theo Nguyễn Như Hà, 2009
Mật ñộ gieo trồng và bón phân cũng có quan hệ mật thiết và phức tạp, phải ñược giải quyết thích hợp ñối với mỗi cây
Trang 182.2.3 Phân bón và chất lượng sản phẩm nông nghiệp
Phẩm chất của nông sản do nhiều loại hợp chất hữu cơ chi phối, và sự hình thành những hợp chất hữu cơ ñó là kết quả của những quá trình sinh hoá
do nhiều loại men ñiều khiển Mặc dù chất lượng sản phẩm cây trồng quyết ñinh bởi ñặc ñiểm của cây và giống cây trồng Nhưng do cây trồng hút chất dinh dưỡng từ ñất và phân bón ñể tạo nên năng suất và chất lượng sản phẩm nên việc thiếu hay thừa một số chất nhất ñịnh trong dinh dưỡng của cây làm ảnh hưởng ñến hoạt ñộng của men do ñó ảnh hưởng ñến phẩm chất nông sản Phân lân làm tăng rõ phẩm chất các loại rau, cỏ làm thức ăn gia súc và chất lượng hạt giống Cỏ trồng làm thức ăn gia súc phải chứa 0,60% P2O5 thì mới ñảm bảo tiêu chuẩn thức ăn gia súc tốt, nên rất cần thiết phải bón phân lân cho ñồng cỏ ðể ñảm bảo chất lượng hạt giống rất cần bón phân lân
Bón phân kali cho cây trồng có tác dụng làm tăng hàm lượng ñường, bột, tăng chất lượng sợi
Trang 19Vì vậy bón phân cân ñối và hợp lý cho cây trồng không chỉ làm tăng năng suất mà còn làm tăng chất lượng sản phẩm như: Hàm lượng các chất khoáng, protein, ñường, bột và vitamin, Thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân ñối hoặc bón quá nhu cầu của cây ñều làm giảm chất lượng nông sản Giữa các bộ phận của cây thì phân bón làm thay ñổi thành phần hoá học của lá dễ hơn thành phần hoá học của hạt Phân bón ảnh hưởng ñến chất lượng nông sản nói chung ñặc biệt là các loại nông sản làm thức ăn cho người
và gia súc Các chỉ tiêu về chất lượng thức ăn gia súc thường chịu ảnh hưởng của phân bón là: Hàm lượng muối khoáng, các hợp chất hữu cơ có chứa N, các loại hợp chất có chứa C, vitamin, hocmon, enzim…
Các kết quả nghiên cứu cho thấy: Sự cung cấp quá lượng N gây ra hiện tượng thiếu Cu làm ảnh hưởng ñến chất lượng sữa và sự sinh trưởng bình thường của gia súc ăn cỏ Bón nhiều kai gây ra sự thiếu magie, natri, thiếu P gây ra sự tích lũy quá nhiều isoflavin trong cỏ, ñộc hại cho gia súc, sự thiếu mangan ở ñồng cỏ gây ra hiện tượng vô sinh khi mà ñất thiếu mangan lại bón quá nhiều vôi Nói chung, quá thiếu hay quá thừa một yếu tố nào ñó ñều ảnh hưởng xấu ñến phẩm chất cỏ ðối với yếu tố N ảnh hưởng xấu khi quá thiếu hay quá thừa ñều thể hiện rõ [15] ðối với các yếu tố P, K và vi lượng, sự giảm sút chất lượng khi quá thiếu hoặc mất cân ñối với các yếu tố khác ñược nói ñến nhiều hơn nhưng còn ít tài liệu nói ñến ñộc hại khi quá thừa
Theo A.Gros (1977) trong trồng cỏ bón phân hợp lý cho kết quả rất tốt không chỉ về năng suất mà còn ảnh hưởng tốt ñến phẩm chất, giảm giá thành
Trang 202.2.4 Phân bón với thu nhập của người sản xuất
Như trên ñã thấy, bón phân là biện pháp kỹ thuật có ảnh hưởng quyết ñịnh ñối với năng suất, phẩm chất nông sản và hiệu lực của các biện pháp kỹ thuật khác, nên trong trồng trọt người sản xuất rất coi trọng ñầu tư phân bón Phân bón còn là một vật tư sản xuất thường chiếm tỷ lệ lớn trong chi phí vật
tư và tổng chi phí của trồng trọt Vì vậy việc sử dụng phân bón hiệu quả sẽ làm tăng nhiều thu nhập và lợi nhuận cho người sản xuất
Andre Gros (1977) cho biết: Một trong những ñiều kiện cơ bản của lợi nhuận nông nghiệp là tận dụng ñược vốn kinh doanh, trong ñó vốn dùng cho phân bón có tác dụng kích thích lãi và không nên hà tiện Kinh nghiệm ở Pháp cho thấy việc tăng chi phí về phân bón thường ñi ñôi với việc tăng thu nhập
và lãi thuần
Bón phân cân ñối trong trồng trọt còn giải quyết ñược mâu thuẫn giữa việc ñạt năng suất cây trồng cao và chất lượng sản phẩm ñể ñảm bảo thu nhập cao cho nông dân
Người trồng trọt có thể bón phân ñể ñạt lợi nhuận tối ña từ một ñơn vị diện tích trồng trọt thông qua việc xác ñịnh ñược lượng phân bón và năng suất tối thích kinh tế càng cao trong mối quan hệ với các biện pháp kỹ thuật trồng trọt liên hoàn tiên tiến Nghiên cứu của HLS Tandon (1994) về sản xuất của
1 nông hộ trên 2 ha cho thấy, nhờ thâm canh cao dù chi phí sản xuất tăng nhiều hơn (1200$, trong ñó tăng chi phí phân bón nhiều nhất - 500$) mà làm tăng thu nhập (4000$) nhiều lần (hơn 8 lần) so với không thâm canh (480$) Tính hợp lý của việc bón phân trong trồng trọt cũng bị các quy luật kinh tế chi
Trang 2113
phối, vì giá của nông sản thấp hay giá của phân bón cao sẽ giới hạn khả năng tăng sử dụng phân bón ñể ñạt lợi nhuận tối ưu cho sản xuất trong từng ñiều kiện cụ thể
Như vậy sử dụng phân bón hợp lý là biện pháp kỹ thuật hiệu quả nhất ñối với sự phát triển và hoàn thiện của trồng trọt Vì không chỉ quyết ñịnh năng suất, chất lượng nông sản cao, ổn ñịnh ñộ phì nhiêu ñất mà còn là cơ sở quan trọng cho việc ñảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và các biện pháp kỹ thuật trồng trọt khác phát huy hiệu quả nhằm ñem lại lợi nhuận tối ña cho người sản xuất mà không gây hại môi trường
2.3 Tình hình trồng cỏ chăn nuôi trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình trồng cỏ chăn nuôi trên thế giới
ðể phát triển chăn nuôi, một trong những vấn ñề cơ bản ñầu tiên cần giải quyết là nguồn thức ăn gia súc
Theo Phùng Quốc Quảng (2002) chăn nuôi trên thế giới tồn tại hai hệ thống nuôi dưỡng: 1 - Dựa vảo thức ăn tinh (trên 40% dinh dưỡng ñược thỏa mãn bằng thức ăn tinh) 2 - Dựa vào thức ăn thô (trên 60% dinh dưỡng ñược thỏa mãn bằng thức ăn thô)
Hệ thống thứ 2 ñược ñặc biệt chú ý, nhất là ở các nước có khả năng phát triển ñồng cỏ Ở các nước này, việc sử dụng ñồng cỏ không chỉ ñể chăn thả mà còn cung cấp thức ăn xanh và dự trữ thức ăn cho ñàn gia súc nuôi nhốt
Sau cuộc “cách mạng về thức ăn gia súc” ở Tây Âu, ñặc biệt là ở Anh
ñã tạo ñiều kiện cho chăn nuôi phát triển, ñồng cỏ ngày càng ñược chú ý và sử dụng ñúng vai trò của nó Nếu như trước kia, ở Pháp (1942) chỉ có 4 triệu ha ñồng cỏ và 15 triệu ha ngũ cốc thì ñến 1974 thì tỷ số ñó ñã thay ñổi: 12 triệu
ha ñồng cỏ và 8 triệu ha ngũ cốc Ở Anh, các diện tích ngũ cốc giảm ñi và diện tích ñồng cỏ, các loại cây thức ăn gia súc khác tăng lên và ñược thâm canh một cách ñáng kể Ở Liên Xô (cũ) ñã tăng diện tích trồng cỏ từ 7,30 triệu ha (1933) và ñến năm 1961 diện tích này ñã tăng lên 51,90 triệu ha
Trang 2214
Không những diện tích trồng cỏ tăng lên, việc nghiên cứu các giống cỏ
cỏ năng suất và giá trị dinh dưỡng cao ñã ñược chú trọng, nhiều loài cỏ như
cỏ Voi, cỏ Ghinê, cỏ Pangola… ñã ñược sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Lai tạo những giống mới có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao như Coastcross (cỏ Bermuda lai)… là thành tựu khoa học ñáng kể ñể giải quyết thức ăn cho gia súc ngày càng phát triển không chỉ về số lượng mà còn cả chất lượng
Nếu như ở vùng ôn ñới, ñồng cỏ ñược quan tâm từ lâu thì ở vùng nhiệt ñới nhận thức về vấn ñề này còn mới Ở các nước nhiệt ñới, khả năng phát triển ñồng cỏ rất lớn nếu ñược sử dụng một cách hợp lý có thể cung cấp ñược nhu cầu protein ñộng vật không chỉ cho vùng nhiệt ñới mà còn cho cả vùng lân cận Người ta ước tính rằng ở nhiệt ñới chỉ cần cải tiến cách chăn thả trên ñồng cỏ là có thể làm năng suất bò sữa tăng 30% và trâu sữa tăng 15% Trong những năm gần ñây, khi chăn nuôi ở nhiệt ñới ñã ñược coi trọng và phát triển thì ñồng cỏ ñược quan tâm hơn, ñáng chú ý là lần ñầu tiên, ngay từ năm 1965, một hội nghị quốc tế ñã ñược họp ở một nước nhiệt ñới: Brazin [17]
Trong lúc cuộc “cách mạng xanh” ñang phát triển không ngừng ở nhiều nước, thì cũng ở nhiều nước ñồng cỏ không ñược coi trọng Số lượng gia súc tăng nhanh mà diện tích ñồng cỏ quá ít không ñáp ứng ñược nhu cầu Ở Iran năm 1964, nhu cầu về ñồng cỏ ñã vượt quá 12 lần diện tích hiện có Ở Thổ Nhĩ
Kỳ cần giảm số lượng gia súc ñi 92% mới ñảm bảo thức ăn (Pearse, 1971) Ở châu Phi và Trung ñông có tới 21 triệu km2 bãi cỏ có nguy cơ biến thành sa mạc do hai nguyên nhân chính gây nên: Tăng dân số và tăng gia súc [17]
2.3.2 Tình hình trồng cỏ chăn nuôi ở Việt Nam
Từ năm 1960, chúng ta ñã có chủ trương phát triển ñồng cỏ cho trâu bò
ở những vùng gia súc thiếu cỏ Năm 1970, Ủy ban Nông nghiệp Trung ương
ñã ban hành dự thảo “Quy phạm, xây dựng, sử dụng, dự trữ và quản lý ñồng
cỏ” mà bộ nông nghiệp ñã phát hành năm 1976
Trang 2315
Từ ñó ñến nay, nhiều cơ sở như Mộc Châu, Sao ðỏ, ðồng Giao … ñã xây dựng ñược hàng nghìn ha ñồng cỏ chăn thả thâm canh Nhiều khu vực chăn nuôi tập thể ñã tiến hành cải tạo bãi cỏ thiên nhiên, ñồng cỏ cho trâu bò
và lợn, nhiều hợp tác xã ñã sử dụng ven bờ sông nhỏ, ven ñê trồng cỏ cung cấp cho gia súc Nông trường Mộc Châu ñã xây dựng thành công hệ thống ñồng cỏ kết hợp chặt chẽ với kết cấu chuồng trại thể hiện rõ một phương thức
chăn nuôi ñồng bộ trên ñồng cỏ thâm canh
Song song với những cố gắng trên, việc nghiên cứu các giống cỏ nhập nội và cỏ ñịa phương có giá trị dinh dưỡng và năng suất cao ñã ñược chú ý, nhiều giống cỏ tốt ñã ñược ñưa vào sử dụng ở các cơ sở nghiên cứu và trung tâm chăn nuôi trên cả nước như: Mộc Châu, Ba Vì, ðồng Giao, Tân Sơn Nhất, Hưng Lộc, Nha Hố, Khánh Dương, Thủ ðức…Tuy nhiên, ñánh giá chung tình hình chăn nuôi trên cả nước ta cho thấy: Hầu như toàn bộ ñàn trâu
bò ñược chăn thả tự do trong lúc các nước tiên tiến hình thức chăn nuôi quảng canh này ñã bị loại trừ vì lạc hậu Diện tích trồng cỏ còn quá ít so với nhu cầu của ñàn gia súc và so với khả năng sẵn có Diện tích trồng cỏ tự nhiên tuy nhiều nhưng còn nhiều thành phần thực vật xấu, chất lượng kém và bị thoái hóa do chưa ñược cải tạo và sử dụng [17]
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 19 của ban chấp hành trung ương ðảng có nhấn mạnh: “thức ăn, cỏ, ñồng cỏ, là không thể thiếu ñược trong chăn nuôi quy mô lớn…” Theo phương hướng kế hoạch ñó thì vùng ñồng bằng phải lấy ñồng cỏ, thâm canh cỏ trồng chính là ñể thu cắt cho trâu bò và dự trữ ñông xuân, còn vùng trung du miền núi thì phải vừa trồng cỏ ñể thu cắt vừa cải tạo bãi chăn ñể nâng cao chất lượng ñồng cỏ Những diện tích trồng cỏ phải ñạt năng suất cao ñể ñảm bảo mỗi ha nuôi ñược nhiều trâu bò, còn ñồng cỏ và bãi chăn thì ñược cải tạo ngày càng tốt hơn
Theo ðoàn Ẩn và Võ Văn Trị thì cải tạo ñồng cỏ và xây dựng bãi chăn
là công tác xây dựng cơ bản, lâu dài Cho nên, ñể nhanh chóng cung cấp ñủ
Trang 24Trong những năm gần ñây, ñể thực hiện mục tiêu ñưa chăn nuôi lên ngành sản xuất chính, nhiều cơ sở sản xuất ñã chú ý ñến việc trồng cỏ, bảo vệ, cải tạo ñồng cỏ, ñưa công tác sản xuất cỏ vào kế hoạch tạo cơ sở thức ăn vững chắc cho trâu bò Một số giống cỏ tốt, năng suất cao ñược du nhập và nhân giống ở nhiều nơi, còn các cơ quan nghiên cứu thì tiến hành ñiều tra khảo sát
về các giống cỏ trong nước và ñã bước ñầu ñề ra các quy trình kỹ thuật và trồng cỏ và cải tạo trồng cỏ
2.4 Nghiên cứu bón phân cho cỏ Voi
2.4.1 ðặc ñiểm chung về cây cỏ Voi
Cỏ voi (Pennisetum purpureum) là loại cỏ thân ñứng, phân lóng, trồng
bằng thân có khả năng tái sinh nhanh, năng suất cao tuỳ theo mức ñộ thâm canh, cỏ phát triển mạnh trên ñất tơi xốp thoát nước giàu dinh dưỡng Năng suất trung bình khoảng 40 tấn/ha/lứa cắt, 6 - 7 lứa cắt/năm Cỏ voi ñược ñưa vào Việt Nam từ rất sớm và ñang là giống cỏ chủ lực ñược trồng ñể nuôi trâu
bò Hiện nay cỏ Voi ñược trồng ở nhiều vùng sinh thái ở nước ta ðây là một loại cỏ lưu niên cho năng suất chất xanh cao nhất trong ñiều kiện thâm canh ở Việt Nam Ngoài giống cỏ Voi thường ñang ñược trồng ở Việt Nam (King grass) thì một số giống Voi lai (Selection 1), Voi lùn (dwarft elephant grass), VA06 ñang phát triển mạnh ở một số nơi Tuy nhiên việc trồng cỏ voi vẫn
Trang 2517
chưa ñược người nông dân quan tâm thoả ñáng, cây cỏ mới chỉ ñược trồng và phát triển một cách tự phát
Giống cỏ Voi lai VA06 (Varisme số 6) ñược lai tạo từ giống cỏ voi và
cỏ ñuôi sói châu Mỹ (cỏ Guatemala), ñược ñánh giá là “vua của các loại cỏ” Giống cỏ này ñược ñưa vào Việt Nam từ năm 2004 và hiện tại ñang ñược trồng phổ biến ở nhiều nơi như Ba Vì - Hà Nội, Tuyên Quang, Yên Bái, TP
Hồ Chí Minh, Vĩnh Long… Cỏ VA06 có tính thích ứng rộng, sức chống chịu rất mạnh, có thể trồng ở hầu hết các loại ñất, kể cả ñất cát sỏi, ñất mặn kiềm nhẹ, chịu ñược ñộ pH xuống tới 4,50, các loại ñất khô hạn, ñất dốc, ñất bằng,
bờ ruộng, ven ñê, ven hồ…ñều có thể trồng loại cỏ này ðây là giống cỏ chịu phân bón, ñặc biệt là phân ñạm
2.4.2 Nghiên cứu về bón phân cho cỏ
a Nghiên cứu chung về bón phân cho cỏ
Nhu cầu bón phân cho cỏ
Trên thế giới nhu cầu trồng cỏ và bón phân cho cỏ tùy theo yêu cầu và ñặc ñiểm của từng quốc gia, từng vùng (có hoặc không có ñồng cỏ, có hay không cần chăn nuôi thâm canh trên một ha trồng cỏ)
Tân Tây Lan có ñiều kiện khí hậu và ñất ñai rất thuận lợi cho phát triển ñồng cỏ nên dùng hình thức quảng canh (bón P, K và bón ít hoặc không bón ñạm cho ñồng cỏ) tuy ñạt năng suất cỏ thấp nhưng ít phải chi phí
Hà Lan có khí hậu kém thuận lợi và diện tích ñất hẹp, phải thâm canh ñồng cỏ ñể ñạt ñược năng suất sữa lớn nhất trên 1 ha nhờ bón những liều lượng phân bón ñặc biệt là phân ñạm rất lớn
Ở Liên Xô (cũ) theo V.G Mineev (1990) trong hệ thống các biện pháp làm tăng hiệu quả sản xuất của ñồng cỏ chăn nuôi, phân bón vai trò rất lớn.
Như vậy, ñể ñảm bảo cho chăn nuôi gia súc ăn cỏ phát triển bền vững, thực tế chăn nuôi ở các nước trên thế giới ñều cho thấy, rất cần thiết phải trồng cỏ và bón phân cho cỏ
Theo Andre Gros (1977), những loài cỏ sinh trưởng, phát triển tốt cho
Trang 2618
năng suất và giá trị dinh dưỡng cao như cỏ Voi, có yêu cầu cao nhất về phân bón Bón phân tốt cho những kết quả rất rõ về năng suất, phẩm chất cỏ, ổn ựịnh sản xuất và giảm giá thành Bón phân ựầy ựủ thường có ảnh hưởng rất rõ ựến năng suất cỏ Người ta dễ dàng làm năng suất của một ựồng cỏ không ựược bón phân tăng gấp ựôi Không thể không bón nhiều phân cho cỏ trồng thâm canh vì ựây là những loài cỏ có yêu cầu cao và năng suất rất cao, ựồng
cỏ sẽ hỏng nếu người ta hà tiện phân bón
Theo J G de Geus (1984), trung bình trên một hecta/năm cỏ Voi có thể sản xuất ựược 200 - 300 tấn thức ăn xanh với phẩm chất tốt, trong ựiều kiện bón phân thắch ựáng và chăm sóc tốt
Ở Việt Nam, người ta chỉ chú trọng việc tận dụng cỏ ựể nuôi gia súc và nghiên cứu những chỉ số liên quan ựến gia súc như tỷ lệ tăng trọng, khả năng cho thịt, sữaẦmà chưa chú trọng ựến thắ nghiệm phân bón ựể khẳng ựịnh mức bón phân phù hợp cho từng loài cỏ trên từng vùng ựất riêng biệt Nếu có thì chỉ là thì nghiệm ựưa kèm theo ựể xác ựịnh các yếu tố khác Vì vậy các khuyến cáo ựưa ra về phân bón cho cỏ hầu như dựa trên các khuyến cáo của các tài liệu nước ngoài, chưa có kiểm nghiệm ở Việt Nam và rất khác nhau
[11] Bên cạnh ựó thời gian qua cũng ựã có những nghiên cứu về các biện
pháp kỹ thuật nhằm phát huy tiềm năng năng suất và hiệu quả của các loại cỏ trồng, trong ựó có nghiên cứu về bón phân cho cỏ chăn nuôi của Lê Bắch đào, Nguyễn Như Hà (2004) Tuy nhiên những nghiên cứu theo hướng này còn nhỏ lẻ và chủ yếu tập trung ở các Viện, Trường mà chưa có ở các ựịa phương trong những ựiều kiện sinh thái cụ thể
Nghiên cứu bón phân lân cho cỏ
đối với phân lân theo J G de Geus (1984) do phần lớn ựất nhiệt ựới nghèo lân vì vậy cần bón một lượng lân cao hơn so với ựồng cỏ ựể chăn thả,
vì cỏ cắt cho năng suất cao, có thể lấy ựi từ 100 - 150 kg P2O5/ha/năm Có thể
Trang 2719
bón làm một lần toàn bộ số lượng lân bón trong năm vì không có sự rửa trôi lân và cây thức ăn gia súc cũng ít khi hút quá nhiều nguyên tố này
Trong khi ñó theo Andre Gros (1977), ñối với ñồng cỏ cắt cần bón: 80 -
100 kg P2O5 ở dạng phân ñơn hoặc phân phức tạp, bón lót trước cày ñể cho phân phân bố ñều tầng ñất mặt
Theo hướng dẫn của Hiệp hội Phân bón Quốc tế thì mức bón lân tùy theo tình trạng lân có trong ñất có thể bón từ 50 - 150 kg P2O5/ha
Trong các tài liệu hướng dẫn trồng cỏ Voi ở Việt Nam, hướng dẫn bón tổng lượng P rất khác nhau: 40 - 48 kg P2O5/ha (Nguyễn Văn Thưởng, Phùng Quốc Quảng, Phùng Vũ, Nguyễn Văn Thiện), 50 - 100 kg P2O5/ha (Lê Hoa, BuOi Quang Tuấn, Viện Nông hoá thổ nhưỡng), tuy ñều thống nhất về thời kỳ bón là bón lót
Nghiên cứu bón phân kali cho cỏ
ðối với phân kali theo J G de Geus (1984), trong ñiều kiện bón nhiều ñạm ñể ñạt năng suất cỏ cao thì ñất bị lấy ñi lượng lớn kali (400 - 600 kg
K2O/ha/năm) nên cần bón nhiều kali ñể bù lại lượng mất Việc bón phân chuồng có tác dụng làm tích lũy lượng kali lớn Tuy nhiên cần bón phân kali hợp lý ñể vừa ñảm bảo cỏ sinh trưởng tối ưu vừa tránh thừa, vì thừa kali có thể làm giảm sự hấp thu magie mà dẫn ñến sự rối loạn dinh dưỡng Ngoài việc không bón nhiều kali hơn mức cần, còn ñề phòng sự thiếu hụt kali bằng cách bón phân làm nhiều lần (bón kali cùng với ñạm sau mỗi lần cắt cỏ)
Theo hướng dẫn của Hiệp hội Phân bón Quốc tế thì mức bón kali tùy theo tình trạng kali có trong ñất, có thể bón từ 60 - 250 kg K2O/ha
Trong các tài liệu hướng dẫn trồng cỏ Voi ở Việt Nam, hướng dẫn bón tổng lượng kali rất khác nhau: 60 - 100 kg K2O/ha (Lê Hoa, BuOi Quang Tuấn, Phùng Quốc Quảng, PhuOng Vũ), 90 - 240 kg K2O/ha (Nguyễn Văn Thưởng, Viện Nông hoá thổ nhưỡng)
Trang 2820
Nghiên cứu về tỷ lệ N : P 2 O 5 : K 2 O trong bón phân cho cỏ
ðối với tỷ lệ N : P : K trong bón phân cho cỏ, theo R.Cundlơ (1970) ở CHLB ðức bón phân cho cỏ lưu niên thông thường theo tỷ lệ: N : P : K = 1 : 0,40 : 0,90; Còn trong thâm canh tỷ lệ này là 1 : 0,20 : 0,60 Lượng phân lân
và kali cần bón cho cỏ tăng theo mức bón phân ñạm nhưng tỷ lệ giữa các phân này so với ñạm có xu hướng giảm
Theo R.Cundlơ (1970), V.G.Minhep (1990), tỷ lệ N : P : K trong bón phân cho cỏ không chỉ ảnh hưởng lớn tới hiệu quả phân bón mà còn ảnh hưởng rõ tới chất lượng cỏ trồng
Nghiên cứu về bón phân chuồng cho cỏ
Theo A Gros (1977) phân chuồng cần bón với lượng 10 - 15 tấn/ha (phân hoai mục) cách 3 năm một lần Các hướng dẫn bón phân cho cỏ Voi ở Việt Nam dao ñộng từ 15 - 30 tấn/ha, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào
về cơ sở cho những hướng dẫn này Nhưng thực tế cho thấy kết hợp nuôi bò
và trồng cỏ, lấy phân bò bón cho cỏ, lấy nước rửa chuồng tưới cỏ, sẽ giảm rất nhiều chi phí sản xuất cỏ
b Nghiên cứu về bón phân ñạm cho cỏ
Vai trò của dinh dưỡng ñạm
ðạm là là thành phần cơ bản của các protein - chất biểu hiện cho sự sống ðạm nằm trong nhiểu hợp chất quan trọng cần thiết cho sự phát triển của cây như: diệp lục, các axit nucleic, các chất mem, các bazơ có ñạm
ðạm là yếu tố cơ bản của quá trình ñồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc thu hút các yếu tố dinh dưỡng khác
ðối với cây trồng ñạm là yếu tố chính, yếu tố quyết ñinh sự sinh trưởng phát triển và năng suất của cây
Theo J.D de Geus thí nghiệm ở Georgia cho thấy khi bón 56 kg N/ha cho cỏ gà lai tạo khả năng chăn thả là 2,50 con bò sữa/ha còn khi bón 336 kg
Trang 29Cỏ là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón ñạm Nếu bón không ñủ ñạm cây sinh trưởng chậm, thấp cây, ñẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ, lá sớm chuyển thành màu vàng, từ ñó làm cho năng suất giảm Nếu bón thừa ñạm lại làm cho cây cỏ có lá to, dài, phiến lá mỏng, dễ bị sâu bệnh, giảm hiệu quả kinh tế Cây
cỏ thừa ñạm còn làm giảm tỷ lệ Cu trong chất khô, có thể gây bệnh vô sinh cho bò sinh sản ðạm là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng ñến năng suất cỏ, có ñủ ñạm thì các yếu tố khác mới phát huy hết ñược tác dụng ðạm còn làm tăng hàm lượng protein nên làm tăng chất lượng cỏ [28]
Cỏ voi lai phản ứng rất tốt với tỷ lệ N cao ñặc biệt năm thứ 3 và năm thứ 4 khi mà hàm lượng nitơ trong ñất trồng bị cỏ Voi lai hút cạn kiệt
Nghiên cứu về lượng phân ñạm bón cho cỏ
Theo J G de Geus (1984), phân bón ñặc biệt là phân ñạm là nền tảng của việc quản lý ñồng cỏ hiện ñại Cỏ trồng ở vùng nhiệt ñới có phản ứng với ñạm theo quan hệ ñường thẳng ðặc biệt, những mức ñạm cao có thể làm tăng mạnh tỷ lệ protein thô trong cỏ Mức bón ñạm thích hợp ñối với cỏ sau mỗi lần cắt là 100 kg N/ha
Nhiếu thí nghiệm ở trang trại nông nghiệp ở Columbia ñã cung cấp những thông tin có ích về việc sử dụng phân bón có hiệu quả Theo các tác giả này, trong ñiều kiện mưa thuận gió hòa và bằng những kỹ thuật sử dụng hiện nay ñối với phần lớn các loài cỏ nhiệt ñới mức bón là 25 - 100 kg N/ha [8]; cỏ Napier là 100 kg N/ha; cỏ Ghine, cỏ Para và cỏ Pangola là 50 - 100 kg N/ha
Theo J.D de Geus ở trại thí nghiệm ñồng bằng ven biển Georgia khi ñược bón 56 kg N/ha, cỏ gà lai có khả năng chăn thả là 2,50 con bò sữa/ha và
Trang 3022
khi ựược bón 336 kg N/ha là 7,50 con/ha Như vậy, năng suất sữa trên một ha ựã tăng ba lần khi tăng mức ựạm bón cho cỏ 56 lên 336 kg N/ha Những kết quả thắ nghiệm khác cho thấy, khi bón ựạm ựến mức 224 kg N/ha có thể hi vọng ựạt hiệu suất trên 2 kg thịt bò/1 kg N ngay cả trong những năm khô hạn [8]
Vấn ựề bón phân ựạm cho cây phụ thuộc hiệu suất kinh tế của phân Horrel và cộng sự (1965) ở Uganda thấy: Có thể sản xuất ựược từ 25 ựến 30
kg cỏ khô trên một kg N, khi trồng cỏ trên ựất nghèo màu (trước ựó năng suất rất thấp), với mức bón ựạm từ 100 ựến 150 kg N/ha Những kết quả nghiên cứu bón N ở Goa - ựơlup (1965) cho cỏ Pangola cũng thu ựược từ 16 ựến 35
kg chất khô khi bón một kg N, nhưng lượng ựạm bón cao hơn [21]
Trong thắ nghiệm với cỏ Voi ở Venezuela, Garrido O (1965) dùng 240
kg N/ha/năm Nhưng trong thực tiễn, lượng bón thấp hơn: ở Jamaica trên cỏ Ghine bón lượng ựạm cao nhất là 160 kg N/ha/năm; ở đài Loan bón 60 kg N/ha/năm cho cỏ Pangola; ở Hawai bón 150 kg N/ha/năm và ở Uganda bón
Theo Salette (1967) cỏ voi phản ứng rất cao với lượng N sử dụng ở Venezuela có thể bón tới 830 kgN/ha nhưng phải chia ra làm nhiều lần sau mỗi ựợt thu hoạch
Theo hướng dẫn của Hiệp hội Phân bón Quốc tế, mức bón N tùy theo ựiều kiện sinh trưởng, có tổng lượng bón 210 - 280 kgN/ha/năm và chia ra làm 3 lần bón, cụ thể cho mỗi lần như sau:
Trang 3123
Bảng 2.4 Liều lượng ựạm bón cho cỏ phụ thuộc vào ựiều kiện sinh trưởng
Số kg N/ha điều kiện tăng
trưởng Lần cắt 1 Lần cắt 2 Lần cắt cuối Tổng cộng
Nguồn: Hiệp hội Phân bón quốc tế [14]
Theo Andre Gros (1977), trong bón phân cho cỏ phân ựạm cần bón cân ựối với lân - kali ựể bảo ựảm năng suất Cần bón từ 150 - 250 kgN/ha/năm và chia ra làm 3 hoặc 4 lần
Theo R.Cundlơ (1970) ở phần đông của CHLB đức có diện tắch ựồng
cỏ chăn thả và ựồng cỏ trồng chiếm tới 22% ựất nông nghiệp, kết quả sử dụng phân bón ở ựây cho thấy năng suất cỏ bình quân ựạt cao nhất khi bón phân ựạm ựạt tới 480 kg N/ha/năm, thậm chắ còn bón cao hơn trong những năm có ựiều kiện thuận lợi, tuy nhiên ở những lượng phân bón cao thường làm tăng mạnh hàm lượng nitrat trong cỏ
Nghiên cứu về thời kỳ bón ựạm
Theo J G de Geus (1984) quy trình bón phân hiệu quả cho cỏ, dựa trên
cơ sở bón ựạm làm nhiều lần, rải ựều suốt thời kỳ sinh trưởng kết hợp bón
phân lân và kali
Theo Andre Gros (1977), trong bón phân cho cỏ phân ựạm cần chia làm
3 hoặc 4 lần, trong ựó ựợt 1 là lần bón quan trọng nhất: Vào cuối mùa ựông, bón từ 50 - 80 kg N; đợt 2 vào tháng 4 - 5, bón 40 - 60 kg N/ha; đợt 3 trong tháng 6, bón 40 - 50 kg N/ha; đợt 4 vào tháng 8 - 9, bón 40 - 50 kg N/ha
Theo R.Cundlơ (1970) trong việc chọn thời kỳ bón N, tốt nhất bón ngay từ ựầu hay sau khi cỏ bắt ựầu mọc ở vụ xuân Tốc ựộ phát triển cỏ ở vụ xuân phụ thuộc vào lượng phân bón và việc lựa chọn thời ựiểm bón để tăng
Trang 3224
tốc ựộ mọc của cỏ cần bón ở thời kỳ ựầu sinh trưởng 100 - 120 kgN/ha để thu ựược nhiều lứa cắt và có năng suất cỏ cao ở 2 lần cắt ựầu bón lượng lớn phân ựạm trong 1 lần bón ở vụ xuân có thể ựem lại nhiều lợi ắch hơn là chia ra bón làm nhiều lần Trong ựiều kiện có mưa nhiều việc chia lượng N bón nhiều lần theo các ựợt cắt sẽ cho hiệu quả cao hơn Tuy nhiên với lượng bón dưới
100 kg N/ha/ựợt bón thì việc chia ra bón làm nhiều lần thường dẫn tới không ựạt hết năng suất cỏ hay không tốt hơn bón một lượng lớn ở vụ xuân trong ựiều kiện nhiều mưa Khi thời gian cho thu hoạch dưới 30 ngày cần bón phân ngay sau khi thu còn khi thời gian cho thu hoạch từ 30 - 40 ngày có thể bón muộn hơn trong 10 ngày ựầu sau khi cắt
Theo V.G Mineev (1990) trong bón phân cho cỏ với lượng 30 - 50 kg N/ha bón vào một lần còn với lượng bón từ 60 - 120 kg N/ha nên chia ra làm nhiều lần bón Trên ựất phù sa trồng cỏ thâm canh lượng bón hợp lý 60 kg N/ha cho một lần bón (ứng với 300 kg N/ha cả năm) thu ựược 7000 - 12000 ựvta; lượng bón 90 - 120 kgN/ha (ứng với 450 - 600 kg N/ha/năm) không làm tăng năng suất có ý nghĩa mà còn làm tăng hàm lượng nitrat trong cỏ Thường lượng bón ựạm 60 - 90 kg N/ha/ựợt bón không làm tăng hàm lượng nitrat trong cỏ
Trong các tài liệu hướng dẫn trồng cỏ Voi ở Việt Nam, hướng dẫn bón tổng lượng N rất khác nhau: 138 - 174 kg N/ha (Phùng Quốc Quảng, Phùng Vũ) hay 174 - 230 kg N/ha (Nguyễn Văn Thưởng, Nguyễn Thiện) hay 180 -
360 kg N/ha (Viện Nông hóa Thổ nhưỡng) Tuy nhiên phương pháp bón N khá thống nhất là: được bón thúc sau mỗi lần cắt, mặc dù lượng bón còn không thống nhất: 25 - 60 kg N/ha/lần
Theo Thái đình Dũng, đặng đình Diệu, vì cỏ voi phát triển rễ nhiều nên cần bón 30 - 40 tấn phân hữu cơ, 24 - 32 kg P2O5, 1 - 1,50 tấn vôi (tùy thuộc ựộ pH)
Trang 33Phùng Quốc Quảng và cộng sự (2002, 2003) cho rằng bón phân cho cỏ voi với lượng khác nhau tùy thuộc vào chân ruộng tốt hay xấu, trong ñó bón cho 1 ha là: 15 - 20 tấn phân chuồng, 138 - 174 kg N (bón thúc sau mỗi lần cắt), 40 - 48 kg P2O5 (bón lót toàn bộ), 75 - 100 kg K2O (bón lót toàn bộ), pH
48 kg P2O5/ha, phân kali: 60 - 120 kg K2O/ha Vôi: 500 - 1000 kg/ha và phụ thuộc vào pH ñất
Theo Bùi Quang Tuấn, Lê Hoà Bình (2004), lượng phân bón cho giống
cỏ voi và một số giống cỏ khác là: 15 tấn phân chuồng/ha; 90 kg P2O5, 90 kg
K2O cho 1 ha và phân ñạm ñược bón thúc sau mỗi lần cắt là 35 kg/ha/lứa cắt
Nguyễn Thiện (2006), cho rằng trồng cỏ voi nuôi bò sữa cần bón cho 1 ha
là: 15 - 20 tấn phân chuồng, 174 - 230 kg N, 40 - 48 kg P2O5, 90 - 120 kg K2O
Theo Phùng Thị Thanh, ñối với cỏ VA06 bón lót 500 - 700 kg phân chuồng và 50 - 100 kg lân/sào hoặc mỗi hốc bón 100 kg phân hỗn hợp + 100g phân lân, sau khi trồng nên dùng nước phân chuồng loãng tưới giúp cây ra rễ
Trang 3426
nhanh, chú ý tưới nước giữ ẩm Trong thời gian ñầu cần làm cỏ 1- 2 lần, lần 1 sau trồng một tháng kết hợp bón mỗi hốc 10 g ñạm urê, lần hai sau lần 1 khoảng 1 - 1,50 tháng, bón mỗi hốc 25 g urê và vun gốc ñể tránh ñổ vì ñây là thời ký phát triển nhanh nhất
Nguyễn Thị Nhàn, cho biết ñối với cỏ VA06 lượng phân bón lót/1ha như sau: phân chuồng hoai 30 tấn, supe lân 3 tấn (bón lót toàn bộ) Nếu không
có phân chuồng thì mỗi hốc bón 100 g NPK, phân bón phải ñược trộn ñều dưới ñáy hốc ñể tránh khả năng ñẻ nhánh Bón thúc: Dùng phân urê lượng
500 - 600 kg/ha (chia ñều ñể bón sau mỗi lần thu hoạch)
Theo tài liệu của Viện Nông hóa - Thổ nhưỡng thì tùy loại ñất và phương thức trồng thâm canh mà số lượng phân bón cho cỏ voi khác nhau, cụ thể lượng bón và phương pháp bón phân cho cỏ voi như sau:
Bảng 2.5 Liều lượng và thời kỳ bón phân cho cỏ voi
Bón thúc giai ñoạn thu hoạch Loại phân Tổng lượng
bón, kg/ha
Bón lót,
% của tổng số
Bón thúc sau trồng
10 - 12 ngày, kg
Số lần bón/năm
Kg/ha/ lần Phân chuồng 15000 - 30000 100
Trang 3527
ựất canh tác của tỉnh Vĩnh Phúc nằm trên vùng ựất xám Bạc màu
đất xám bạc màu có ựặc ựiểm chung sau: có thành phần cơ giới nhẹ; thường có pH chua; ựộ no bazơ và dung tắch hấp thu thấp; hàm lượng mùn tầng ựất mặt nghèo ựến rất nghèo (0,10 - 1,50%); mức phân giải chất hữu cơ mạnh (C/N < 10); các chất dinh dưỡng tổng số và dễ tiêu ựều nghèo
Như vậy, ựất xám bạc màu có nhược ựiểm lớn là chua, nghèo dinh dưỡng, thường dễ bị khô hạn và xói mòn, rửa trôi Tuy nhiên do ở ựịa hình bằng, thoáng khắ, thoát nước, ựất nhẹ dễ canh tác nên loại ựất này thắch hợp với nhiều cây trồng khác nhau [15]
Từ kết quả tổng quan nghiên cứu trên cho thấy: để ựảm bảo cho chăn nuôi gia súc ăn cỏ phát triển bền vững, thực tế chăn nuôi ở các nước trên thế giới ựều cho thấy, rất cần thiết phải trồng cỏ và bón phân cho cỏ Nhóm cỏ Voi có nhu cầu bón phân ựặc biệt là phân ựạm rất cao ựể có thể cho năng suất cao, chất lượng tốt; đã có nhiều hướng dẫn bón phân ựạm cho cỏ Voi lai nhưng còn rất nhiều ựiểm chưa thống nhất; đặc biệt vẫn chưa có một nghiên cứu xác ựịnh lượng thắch N hợp cho từng mùa (xuân, hè, ựông) trong một năm và thời kỳ bón ựạm ảnh hưởng ựến năng suất, chất lượng cỏ Voi lai trong ựiều kiện cụ thể của Việt Nam
Vì vậy rất cần thiết phải có nghiên cứu xác ựịnh lượng phân ựạm và thời kỳ bón phân ựạm cho cỏ Voi lai trong ựiều kiện ựất ựai, khắ hậu, kỹ thuật canh tác cụ thể ở Việt Nam, tạo cơ sở khoa học cho việc bón phân ựạm hợp lý
cho loại cây trồng có nhiều triển vọng này
Trang 3628
Phần III đỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Giống cỏ Voi lai VA06 là kết quả lai tạo từ cỏ Voi và cỏ ựuôi Sói
Châu Mỹ đây là loại cỏ lưu niên thân thảo, cao lớn, có sức chống chịu tốt, có
khả năng thâm canh cao nhất trong các loại cỏ, thu nhiều ựợt trong năm
- đất xám bạc màu trồng cỏ tại xã Trung Nguyên huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc
- Lượng phân N bón cho các ựợt cắt trong một năm
- Thời gian nghiên cứu: 02/2011 ựến 12/2011 trên ruộng cỏ thắ nghiệm
ở năm thứ 2 sau trồng
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 đánh giá ảnh hưởng của lượng phân ựạm ựến quá trình sinh trưởng
và năng suất cỏ VA06 theo các ựợt cắt
- đánh giá ảnh hưởng của các lượng phân ựạm bón tới quá trình sinh trưởng, phát triển của cỏ VA06 vào các thời kỳ: 15, 30 ngày sau nảy mầm và khi thu hoạch
- đánh giá ảnh hưởng của các lượng phân ựạm bón tới tình hình sâu bệnh hại của cỏ VA06
- đánh giá ảnh hưởng của các lượng phân ựạm tới năng suất trung bình của 1 khóm cỏ, năng suất cỏ
- đánh giá ảnh hưởng của các lượng phân ựạm bón tới chất lượng cỏ
3.2.2 Xác ựịnh lượng bón phân ựạm thắch hợp cho cỏ Voi lai trên ựất xám bạc màu tại tỉnh Vĩnh Phúc
- đánh giá ảnh hưởng của việc bón N tới hiệu quả của việc bón phân cho cỏ Voi lai: Lãi thuần của việc bón phân cho cỏ Voi lai, tỷ lệ lãi trên chi phắ mua phân bón
Trang 3729
- đánh giá tắnh chất nông hóa của ựất trước và sau thắ nghiệm
- Xác ựịnh lượng phân N bón vừa cho năng suất, chất lượng cỏ cao vừa ựem lại hiệu quả kinh tế cao
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp bón phân
Toàn bộ phân chuồng
và phân lân, 1/3 phân kali(cách 1 lứa cắt bón
Kỹ thuật trồng (ựã thực hiện ở năm thứ nhất):
Trước khi trồng phải cày bừa kỹ, nhặt hết cỏ dại và san bằng ựất trồng Chọn hom bánh tẻ ở lứa cỏ voi có ựộ tuổi trên 80 ngày, hom có ựường kắnh từ 1cm trở lên, mỗi hom dài khoảng 20 - 25 cm có từ 3 - 4 ựốt, chặt vát 2 ựầu,
Trang 38Sau mỗi lứa cắt, làm sạch cỏ dại; khi cỏ có lá non (sau thu hoạch khoảng 10 ngày) bón thúc phân khoáng
Từ năm thứ 2 trở ñi: phân chuồng, phân lân và phân kali (dùng như bón lót lúc trồng) bón 1 lần vào tháng 1 - 2, trộn ñều phân, dùng cuốc rạch sâu 15
- 20 cm giữa hai hàng cỏ, rắc phân lấp ñất kín Phân khoáng bón thúc như năm thứ nhất Cách bón: Dùng cuốc rạch giữa hai hàng cỏ ở ñộ sâu 5 - 7 cm, rắc phân, lấp ñất kín Không bón ñạm khi thời tiết khô hạn hoặc nắng to
Thu hoạch:
Thu hoạch khi thảm cỏ có ñộ cao từ 80 - 120cm (lứa cỏ ñược 45 - 50 ngày tuổi, mùa ñông từ 55 - 60 ngày tuổi), cắt cỏ ở ñộ cao 5 cm bằng liềm hoặc dao sắc, cắt toàn bộ không ñể sót cây mầm, ñể thảm cỏ mọc lại nhanh, ñều
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi
a) Sinh trưởng phát triển của cỏ Voi lai
- Các chỉ tiêu theo dõi: Chiều cao cây; ñẻ nhánh; số lá Theo dõi các chỉ
tiêu này từ vào các thời kỳ 15, 30 ngày sau nảy mầm và khi thu hoạch
- Cách theo dõi:
+ Trên 10 khóm liên tục của mỗi ô thí nghiệm có ñánh dấu
+ ðẻ nhánh: ðếm số nhánh của từng khóm theo dõi
Trang 39Phương pháp xác ñịnh sâu bệnh hại theo Hà Quang Hùng (1998)
• Mật ñộ sâu (con/m2): ðiều tra theo phương pháp 5 ñiểm ñường chéo góc, mỗi ñiểm 10 cây, theo dõi vào các thời kỳ theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng của cỏ:
Tổng số sâu ñiều tra Mật ñộ sâu hại =
Tổng số m2 ñiều tra
• Tỷ lệ cây bệnh theo dõi theo phương pháp và thời ñiểm nêu trên
- Tỷ lệ bệnh (%) = (tổng số cây bị bệnh trong ô/tổng số cây trong ô) x 100
Mức ñộ bệnh hại theo Cục Bảo vệ thực vật (1997)
+: Tỷ lệ bệnh < 10%
++: Tỷ lệ bệnh > 10%; <25%
+++: Tỷ lệ bệnh >25%; <50%
++++: Tỷ lệ bệnh >50%
c) Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất cỏ (tươi, khô)
- Xác ñịnh năng suất trung bình của 1 khóm cỏ bằng cách: Cân khối lượng của mỗi khóm cỏ sau thu hoạch (cân tươi và sau khi sấy khô), theo dõi
trên 10 khóm liên tục của mỗi ô thí nghiệm
- Xác ñịnh năng suất cỏ thực thu bằng thu hoạch cỏ trên 3 m2 của mỗi ô thí nghiệm (ñảm bảo mật ñộ và không bị ảnh hưởng của các yếu tố phi thí
nghiệm)
d) Công lao ñộng trong sản xuất cỏ
- Các loại công: bón phân, chăm sóc, thu hoạch
- Tính theo giờ công thực làm trên 3 CTTN (với các lần nhắc lại)