Trong quá trình thực hiện đo thời gian có hạn và bước đầu làm quen với những phương pháp nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến c
Trang 1Nội 2; bạn Trần Quang Khải - sinh viên khoa Sinh - KTNN, ĐHSP Hà Nội 2
Trong quá trình thực hiện đo thời gian có hạn và bước đầu làm quen với những phương pháp nghiên cứu khoa học nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các
bạn sinh viên
Em xin chân thành cảm on !
Xuân Hòa, ngày 14 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trang 2LOI CAM DOAN
Tôi xin khẳng định kết quá nghiên cứu trong khóa luận tốt nghiệp này
- Là kêt quả của tôi được thực hiện tại trường ĐHSP Hà Nội 2
- Hoàn toàn không trùng lặp hoặc sao chép kêt quả của người khác
Xuân Hòa, ngày 14 tháng 05 năm 2011
Trang 3DANH MUC CHU VIET TAT
Hoc ché tin chi
Công nghệ thông tin Tín chỉ
Giáo dục đại học Đại học
Học phần Học chế
Trang 4DANH MỤC HÌNH VÀ BANG
¡_ | Bảng l: Kêt quả một số kênh sách liên quan đên học phan sinh 19
lý học thực vật
Bang 2: Kêt quả các kênh phim minh họa cho học phân sinh lý
4_ | Hình 4: Giao diện thư mục video minh họa chương 1 28
7 | Hình 7: Giao diện trang con với kiên thức cơ bản 31
Trang 5
Chuong 1 : Sinh lý tế bào thực vật
Một số từ khóa tìm kiếm tài liệu
Hiện tượng thâm thâu Osmosis phenomenon
Hiện tượng khuêch tán Phenomenon diffusion
Qua trinh nguyén phan The process of mitosis
Qua trinh giam phan The process of miosis
Nitrogen cycle
Trang 6
Chương 4: Quang hợp ở thực vật
Quá trình quang hợp Photosynthesis process
Quá trình tông hợp ATP Synthesis ATP
Trang 7MUC LUC
MO DAU Lo eeccececsssssessssesseesssesesssneceessvecesnseseesunsceesnnecessanscessnseeesuneceasnnseeesens 1
2 Mục đích nghiên cứu - - + St St nh HH nh ngư 2
KNj 0 o8 00910 2
4 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn - 2-22 ©ScSSE EE E121 22122121221 re 2
)i9)8))00 011 3 CHƯƠNG T1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - 2-52-5222 2222252122321 eEEerkerree 3
1.1 Tự học và các giai đoạn của tự học -cs ke 3 1.2 Đổi mới giáo dục và đào tạo theo tín chĩ - 2- 2©cs+cs+ceczecez 6
1.3 Vai trò của các phương tiện trực quan đối với vấn đề tự học 10
1.4 Giới thiệu về Internet và công nghệ thông tỉn ¿52 11 1.5 Môn Sinh lý thực vật theo học chế tin chỉ dành cho sinh viên chuyên
2110 8)0/108 001 15
CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Vật liệu nghiên €Ứu - - - - 5 + 11v 1 nh HH nh tr ri 17 2.2 Phương pháp nghiên cứu 6 5 + xxx 9 ng ng 17
CHUONG 3: HUONG DAN THIET KE CONG CU HO TRO TU HOC CHO SINH VIÊN VÀ KẾT QUÁ 5-2-5 St SE+ESEESEEEEEEEEEEEkrkerxek 18
3.1 Hướng dẫn tìm kiếm tài liệu trên Internet - 2-2 ©s¿++ 18
3.1.1 Cách tìm kiếm tài liệu trên Internet 18
3.1.2 Một số kết quả tìm kiếm tài liệu trên Internet 19
3.2 Thiết kế công cụ hỗ trợ tự học bằng phần mềm Dreamweaver 24
3.3 Kết quả thiết kế công cụ hỗ trợ tự học 22 2<+cczeczczxcez 30
KET LUẬN VÀ KIÊN NGHỊ, - 22-222 2+cEECEEEEEEEEEEEkrrrkrrkerrkee 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 2 ©22©752222£22E£22EEtEEESEEvSrxerrrercrx 34
vii
Trang 8MO DAU
1.Tính cấp thiết của đề tai
Sinh lý học thực vật (plant physiology) là ngành khoa học nghiên cứu
về các hoạt động sinh lý trong thực vật và ảnh hưởng của các điều kiện sinh thái tới các quá trình này, từ đó đưa ra biện pháp nhằm khai thác cây trồng theo hướng có lợi cho con người Các hoạt động sinh lý cơ bản như: quang hợp, hô hấp, dinh dưỡng, các chức năng của hoocmon, quá trình vận chuyên các chất hữu cơ và quan hệ với chế độ nước của cây trồng .[5], [10]
Các quá trình sinh lý trong thực vật, mang bản chất lý sinh, hóa sinh
diễn ra trong thời gian dài Hơn nữa, việc bố trí thí nghiệm để chứng minh, minh hoa hay tim hiểu cơ chế các quá trình sinh lý thì phức tạp, đòi hỏi các
phương tiện thiết bị hiện đại và mắt nhiều thời gian Do đó các kiến thức
của môn học vừa mang tính tư duy vừa mang tính cụ thể và đối với sinh viên học theo chế độ tín chỉ lại càng gặp phải nhiều khó khăn hơn nữa Khi mà thầy, cô đóng vai trò là người hướng dẫn còn chính bản thân sinh viên phải tự
tìm tòi, khám phá và lĩnh hội tri thức Hay nói cách khác là đòi hỏi tối đa tính tích cực chủ động sáng tạo của người học Hơn nữa, hình thức đánh giá kiểm
tra phải theo yêu cầu của từng học phần và khối lượng tài liệu quy định, không chỉ dựa vào những điều mà giảng viên vẫn trình bày như lâu nay Ngày nay, công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ đang dần trở thành
công cụ đắc lực cho tất cả các lĩnh vực trong xã hội Trong đó có lĩnh vực dạy
và học Nhờ vào Internet, các phần mềm đồ họa, tạo video, website các nhà sinh học, giáo viên có thể tạo cho mình những phim, ảnh, web dé chia sé va phục vụ cho việc dạy và học một cách hiệu quả hơn
Xuất phát từ những lý do trên nên chúng tôi đã lựa chọn và tiến hành đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin thiết kế công cụ hỗ trợ sinh viên tự học môn Sinh lý học thực vật theo học chế tín chí”
Trang 92 Mục đích nghiên cứu
Khai thác, ứng dụng Internet và phần mém Dreamweaver dé thiét kế
công cụ nhằm hỗ trợ sinh viên tự học môn sinh lý học thực vật
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa kiến thức của một số quá trình sinh lý cơ bản trong học phần sinh lý học thực vật
- Khai thác tìm kiếm nguồn tài liệu sách, viđeo trên Internet về các quá trình sinh lý trong thực vật
- Sử dụng phần mém Dreamweaver dé thiết kế công cụ hỗ trợ việc tự
học của sinh viên dưới giao diện website
4 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
- Ý nghĩa lý luận: cung cấp thêm tài liệu tham khảo nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động tự học của sinh viên đại học chuyên ngành sinh học
Trang 10NOI DUNG
CHUONG 1: CO SO LY LUAN 1.1 Tự hoc va các giai đoạn của tự học
Tự học, trước tiên xuất phát từ chính nhu cầu muốn học hỏi, muốn gia
tăng sự hiểu biết để làm việc và để sống tốt hơn của con người Dù bị động
hay chủ động thì bản thân mỗi con người khi đứng trước vấn đề khó khăn đều
mong muốn hoàn thành nó hoặc giải quyết nó theo các chiều hướng khác
nhau, tích cực hoặc tiêu cực
Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: “Cốt lõi của sự học ở người
học là tự học” Hễ có học là có tự học Khi nói học là hàm ý có xét đến mối quan hệ của người học với ngoại lực, tức là dạy Còn khi nói tự học là chỉ xét riêng nội lực ở người Ngoại lực tác động đến nội lực như thế nào là thước đo chất lượng dạy học và cần tạo nên sự cộng hưởng của nội lực đề đạt kết quả cao trong dạy học Còn nội lực của tự học chính là các yếu tố tâm lí của mỗi
người như: ý thức, động cơ, thái độ, hứng thú, nhu cầu, tình cảm, Hay nói
cách khác, muốn có thê tiến hành tự học được và tự học có kết quả thì trước tiên phải có sự tham gia tích cực của các yếu tố tâm lý trên - đó là nội lực [2], [9]
Như vậy có thể hiểu: Tự học là hình thức tổ chức hoạt động nhận thức
có tính chất cá nhân, là quá trình người học tổ chức hoạt động nhận thức và
được tiến hành ở trên lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã được in ấn Nó diễn ra khi còn ngồi trên ghế nhà trường và khi đã ra trường
Tự học còn là quá trình người học tự giác bằng hành động của chính
mình nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo tương ứng và các
phẩm chất cá nhân Khi người học tự giác phát huy hết phẩm chất và năng lực
của mình để chiếm lĩnh tri thức có nghĩa là tự học
Trang 11* Vai trò của tự học
- Tự học giúp sinh viên tự nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo về nghề nghiệp tương lai Ở đây, sinh viên đã thể hiện ở mức độ cao vai trò chủ thể nhận thức của mình, kết hợp và thống nhất một cách hài hòa vai trò chủ thể
nhận thức với vai trò đối tượng điều khiển trong hoạt động dạy học
- Tự học không những giúp sinh viên không ngừng năng cao chất lượng học tập khi ngồi trên ghế trường đại học mà trong tương lai còn trở thành người cán bộ khoa học kỹ thuật có năng lực, hứng thú, thói quen, có phương pháp tự học thường xuyên, suốt đời
- Tự học còn giúp sinh viên hình thành niềm tin khoa học, rèn luyện ý
chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán, bồi dưỡng hứng thú học tập, lòng say
mê nghiên cứu khoa học [2]
* Hoạt động tự học có thể chia làm 4 giai đoạn sau
Thu thập thông tin: hiện nay lượng thông tin rất đa dạng và phong phú
cả về thé loại và chủng loại, được thể hiện dưới nhiều loại văn bản, hình ảnh,
âm thanh, Đề tự học có hiệu quả, người học cần phải rèn luyện cho mình kỹ
năng lựa chọn các tài liệu sao cho đúng, đủ, hợp lý, để nâng cao chất lượng tự học, tự nghiên cứu của bản thân [4]
Xử lí thông tin: dé kién thức tự học có được một cách bền vững và có
thể vận dụng được vào trong thực tiễn, người học cần phải sắp xếp chúng một
cách có hệ thống Muốn vậy, người học phải thực hiện một loạt các thao tác khác nhau như tóm tắt, phân loại, xác lập các mối liên hệ, biểu diễn bằng SƠ
đồ logic, kiến thức được sắp xếp trong vỏ não một cách có hệ thống Có cấu trúc sẽ giúp người học dễ nhớ, dễ sử dụng khi cần thiết Do vậy, kỹ năng
hệ thống hóa tri thức có vị trí quan trọng trong việc lưu giữ thông tin Đây là giai đoạn quan trọng quyết định đến khối lượng kiến thức tiếp thu được [4]
Trang 12Vận dụng: việc vận dụng tri thức vào thực tiễn vừa là mục đích tự thân
của việc học, vừa là quá trình bổ sung, mở rộng, đào sâu, làm giàu tri thức cá nhân Vận dụng tri thức vào thực tiễn bao gồm cả việc vận dụng kiến thức đã
có để giải quyết các vấn đề thuộc về nhận thức và việc vận dụng kiến thức
vào thực tiễn sản xuất đời sống, sinh hoạt hằng ngày như làm bài tập, bài thực
hành, làm thí nghiệm, [4]
Tự kiểm tra đánh giá: tự kiêm tra, đánh giá là một kỹ năng quan trọng
trong tự học bởi vì chỉ khi qua tự kiểm tra, đánh giá thì người học mới biết được trình độ tự học của mình đạt đến mức độ nào và có biện pháp điều chỉnh
phương pháp tự học để đạt hiệu quả cao hơn Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên trong quá trình tự học bằng nhiều hình thức khác nhau
qua hệ thống các câu hỏi và bài tập nhận thức cụ thé [4]
Bản chất của quá trình tự học là không có sự hướng dẫn của giáo viên
nên đòi hỏi nỗ lực, tích cực hóa hoạt động nhận thức của SV Sự tự kiềm chế
đối với những ảnh hưởng ngoại cảnh hay ước muốn không hợp lẽ trong tư tưởng là điều kiện cần thiết đối với quá trình tự học Đây cũng là điều kiện giúp SV nâng cao chất lượng học tập của bản thân và các trường đại học cũng
sẽ nâng cao được chất lượng đào tạo, hoàn thành mục tiêu giáo dục
* Thực trạng tự học hiện nay của sinh viên
Tự học là yếu tố quyết định đến kết quả học tập của SV trong đảo tạo
theo học chế tín chỉ (HCTC) Đề nắm bắt một cách toàn diện những kiến thức
chuyên môn ở bậc đại học đòi hỏi SV phải có nhiều nỗ lực trong hoạt động học tập đặc biệt phải dành nhiều thời gian cho tự học và tự nghiên cứu dưới
sự hướng dẫn của giảng viên [1 I]
Trên thực tế hiện nay, hoạt động tự học của SV ở mỗi trường là khác
nhau Nhưng nói chung còn nhiều hạn chế, trong đó SV chưa dành nhiều thời
gian cho việc tự học, chưa xây dựng và rèn luyện kỹ năng tự học cho bản
thân, hình thức tự học chưa hợp lý Ngoài ra thì nhà trường vẫn chưa đáp
Trang 13ứng được nhu cầu về cơ sở vật chất cho quá trình tự học như là phòng học,
thư viện, phòng thí nghiệm Đặc biệt là thiếu nguồn tư liệu học tập như giáo trình, tài liệu tham khảo Chính vì vậy cần nghiên cứu vấn đề tự học của SV
hiện nay để đề xuất các giải pháp nhằm đây mạnh hoạt động tự học của SV góp phần năng cao chất lượng học tập và kết quả đào tạo
Trong HCTC, SV tự nghiên cứu, tự tìm hiểu tài liệu để có kiến thức
Giảng viên chỉ là người cung cấp những nguồn tài liệu phù hợp và định
hướng để cách tiếp cận của SV dễ dàng và đúng đắn hơn Để có được khối
lượng kiến thức đáp ứng yêu cầu cũng như hình thành các kỹ năng khác thì mỗi SV cần bỏ ra rất nhiều thời gian tự học Nếu SV không tự học mà chỉ học
máy móc câu chữ của giảng viên thì những gì tiếp thu được chỉ là định hướng
rất chung chung và không có hiểu biết sâu sắc vấn đề Từ đó dẫn đến kết quả học tập không như mong muốn và không đạt yêu cầu đề ra đối với môn học
Có thể nói, đa số SV hiện nay nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của tự học đối với bản thân Tuy nhiên, trên thực tế chỉ mới dừng lại ở mặt
nhận thức Do đó, muốn thúc đây tự học SV cần đầu tư về cơ sở vật chất còn giảng viên phải là người hướng dẫn SV tự học
1.2 Đối mới giáo dục và đào tạo theo tín chỉ
Trong thời đại bùng nỗ thông tin và kinh tế tri thức, đòi hỏi sản phẩm
đào tạo cần có trình độ học vấn và chuyên môn cao, có năng lực sáng tạo,
dùng tri thức để tạo ra san pham tri tuệ, có khả năng cập nhật tri thức mới và
tự học suốt đời Vì vay, co so dao tạo không chỉ cung cấp kiến thức mà còn
giúp người học có phương tiện và kỹ năng tự đào tạo [7] Nâng cao chất lượng giáo dục và đảo tạo là yêu cầu sống còn của các trường đại học trong
giai đoạn mở rộng giáo dục hiện nay Công cuộc đổi mới và cải cách giáo dục
có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của đất nước Đáng và nhà nước ta
Trang 14luôn có những chính sách phù hợp nhằm thúc đây cho sự phát triển của nền giáo dục
Trên thế giới học chế tín chỉ đã được áp dụng rộng rãi trong tất cả các
trường đại học Vào đầu thế kỷ XX, HCTC được áp dụng ở hầu hết các trường đại học ở Hoa Kỳ Tiếp đó nó được lan tỏa ra nhiều nước như Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin, Malaixia, Indônêxia, An D6, tai Trung
Quốc từ cuối thập niên 80 (thế kỷ XX) đến nay, HCTC cũng lần lượt được áp
dụng ở nhiều trường đại học
Ở Việt Nam, trước năm 1975 một số trường đại học ở Miền nam đã áp dụng HCTC như Viện Đại học Cần Thơ (nay là Đại học Cần Thơ), Viện Đại học Thủ Đức, Vào năm 1987, Bộ giáo dục và Đào tạo chủ trương triển khai
trong các trường đại học theo quy trình đảo tạo 2 giai đoạn và mô đun hóa
kiến thức Theo đó học chế học phần được ra đời và chính thức được triển
khai trong toàn bộ hệ thống các trường đại học và cao đẳng nước ta từ năm
1988 đến nay Việc chuyển đối sang HCTC nhằm tạo một HC mềm đẻo hướng về người học Song song với quá trình đó có những quyết định và nghị
định của chính phủ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được ban hành như sau:
- Quyét định của bộ trưởng Bộ Giáo duc va Dao tạo về việc thí điểm tổ
chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng chính qui theo học chế tín chỉ [20]
- Căn cứ nghị định số 15/CP ngày 02/3/1993 của chính phủ về nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm quản lý Nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ
[201
- Căn cứ nghị định số 29/CP ngày 30/31994 của chính phủ về nhiệm
vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Bộ giáo dục và Đào tạo [20]
- Căn cứ Quyết định số 04/1999/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/02/1999 của
Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo về việc ban hành qui chế tổ chức đào tạo,
Trang 15danh gia két quả học tập, xét và công nhận tốt nghiệp đại học và cao đẳng
chính qui (hay còn gọi là qui chế 04) [20]
- Chỉ thị số 55/CT-BGD&ĐT ngày 30/09/2008 về tăng cường giảng
dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục giai đoạn
2008-2012 [20]
- Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/04/2007 của chính phủ về ứng
dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước [20]
- Công văn số 10/TB-VPCP ngày 21/01/2008 về kết luận của Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp về đào tạo theo nhu cầu xã hội và thực
hiện cho vay đề học đại học, cao đẳng và dạy nghề [20]
- Công văn số 9772/BGD&ĐT- CNTT ngày 23/10/2008 về việc hướng
dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2008 - 2009 [20]
- Quy định đào tạo hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ (Ban hành kèm
theo quyết định số 376/QĐÐ-ĐHSPHN 2 ngày 06/09/2010 của Hiệu trưởng
Trường ĐHSP Hà Nội 2) [16]
a Vài nét về học chế tín chỉ
Hiện nay có khá nhiều định nghĩa về tín chỉ, ở đây tôi xin nêu cách
hiểu trong “ Qui chế Đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính qui theo hệ thống
tín chỉ” (thường gọi là Qui chế 43) Nghị quyết 14/2005/NQ-CP của chính
phủ ban hành ngày 2/11/2005 về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại
học (GDĐH) Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020: xây dựng và thực hiện lộ trình chuyển sang chế độ đảo tạo theo hệ thống tín chỉ (TC) tạo điều kiện thuận lợi
để người học tích lũy kiến thức, chuyển đối ngành nghề, liên thông, chuyển tiếp tới các cấp học tiếp theo ở trong nước và ở nước ngoài [12]
b Đặc điểm của học chế tín chỉ
Tín chỉ là khối lượng học tập gồm một tiết học lý thuyết (50 phút) trong một tuần và kéo đài một học kỳ (15 tuần — 18 tuần) Thông thường, các tiết
Trang 16học loại khác nhau: thực tập thí nghiệm, vẽ, nhạc, đi thực địa, thực hành nghệ
thuật, thê dục, cứ 3 tiết một (kéo dài một học kỳ) được tính một TC Ngoài
ra, còn có quy định: để chuẩn bị cho một tiết lên lớp, SV phải bỏ ra ít nhất 2
tiết làm việc ở ngoài lớp Như vậy lao động học tập của SV có một phần “nổi”
tính theo tiết học ở lớp và một phần “chìm” là thời gian tự học
Dé dat được bằng cử nhân mỗi SV phải tích lũy 120-136 TC (Hoa Kỳ), 120-135 TC (Nhật Bản), 120-150 TC (Thái Lan) đối với bằng thạc sĩ, học viên phải tích lũy 30-36 TC (Hoa Kỳ), 30 TC (Nhật Bản), 36 TC (Thái Lan)
Theo quy ước của hệ thống tín chỉ Châu Âu, khối lượng lao động của một SV
chính quy trung bình được tính bằng 60 TC/ một năm học Khi tổ chức giảng
day theo TC, đầu mỗi học kỳ SV được đăng ký các môn học thích hợp với năng lực và hoàn cảnh của họ, đồng thời phù hợp với quy định chung nhằm
đạt được kiến thức theo một ngành đảo tạo nào đó Sự lựa chọn các môn học
rat rong rai, SV có thé ghi tên các môn học liên ngành nếu họ thích SV không
chỉ giới hạn học các môn chuyên môn mà còn cần học các môn học khác lĩnh vực Ví dụ: SV ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật cần phải học một số môn
khoa học xã hội, nhân văn và ngược lại Về kết quả ĐH, hệ thống TC dùng
cách đánh giá thường xuyên và đối với các chương trình đào tạo sau ĐH còn
có thêm các kỳ thi tổng hợp và các luận văn
c Các ưu điểm của học chế tín chỉ
- Có hiệu quả đào tạo cao: học chễ TC cho phép ghi nhận tiến trình tích lũy kiến thức và kỹ năng của SV để kịp thời nhận được văn bằng SV
được chủ động lên kế hoạch học tập cho mình và được quyền lựa chọn tiến độ
học tập phù hợp với khả năng, sở trường và hoàn cảnh của riêng mình Điều
đó đảm bảo cho việc đảo tạo ở các trường đại học trở nên mềm dẻo hơn đồng thời cũng tạo khả năng cho việc thiết kế chương trình liên thông giữa các cấp
đào tạo đại học và giữa các ngành đào tạo khác nhau
Trang 17- Có tính mêm dẻo và khả năng thích ứng cao: với học chễ TC, SV có
thể chủ động ghi tên các học phần (HP) khác nhau dựa trên những quy định chung về cơ cấu và khối lượng của từng lĩnh vực kiến thức Nó cho phép SV
dé dàng thay đối chuyên ngành trong tiến trình học tập khi cần thiết mà không
phải học lại từ đầu Cũng do vậy, với học chế TC, các trường đại học có thể
mở thêm ngành học mới một cách đễ dàng khi nhận được tín hiệu về nhu cầu
của thị trường lao động và tình hình lựa chọn ngành nghề của SV
- Đạt hiệu quả cao về mặt quản lý và giảm giá thành đào tạo: với học
chế TC, kết quả học tập của sinh viên được tính theo từng học phần chứ
không phải năm học do đó, việc hỏng một học phần nào đó không cản trở quá
trình học tiếp tục, SV không bị quay lại học từ đầu Chính vì vậy, giá thành
đào tạo theo học chế TC thấp hơn so với đào tạo theo niên chế
d Nhược điểm và cách khắc phục
Học chế tín chỉ cắt vụn kiến thức: phần lớn các mô đun trong học chế
tín chỉ được quy định tương đối nhỏ, 3 hoặc 4 TC Do vậy sẽ không đủ thời
gian để trình bày kiến thức thực sự có đầu đuôi theo một trình tự diễn biến
liên tục Người ta khắc phục nhược điểm này bằng cách không cắt vụn kiến thức quá nhỏ đưới 3 TC và trong những năm cuối thường thiết kế các môn
học, tô chức các kỳ thi có tính tổng hợp để SV có cơ hội liên kết tống hợp các
kiến thức
1.3 Vai trò của các phương tiện trực quan đối với vấn đề tự học
Phương tiện trực quan có ý nghĩa quan trọng đối với nhu cầu tự học của
SV Đặc biệt là môn Sinh học nói chung và môn Sinh lý thực vật nói riêng
Các kênh phim, kênh hình, có vai trò quan trọng, cho phép giới thiệu các cơ chế sinh lí, sinh hóa, các quá trình sinh học, các quy trình công nghệ, kỹ thuật, Với sự xâm nhập kỹ thuật của các phương tiện nghe nhìn và qua Internet thì mọi người có thể trao đổi những tài liệu học tập Giúp cho quá
trình nhận thức được tốt hơn và luôn luôn thực hiện được trong các điều kiện
10
Trang 18khác nhau Có thể nói phương tiện trực quan được sử dụng để minh họa, bố
sung lời giảng của thầy trong các phương pháp dùng lời làm nguồn phát thông tin đạy học, nó còn được sử dụng là phương tiện thông tin chủ yếu đề qua đó
SV tự lĩnh hội tri thức mới Không những thế các bạn SV có thể đễ dàng trao
đổi và chia sẻ những tài liệu học tập với nhau Đây mạnh và nâng cao việc sử
dụng các phương tiện vào quá trình dạy và học Góp phần tích cực vào sự phát triển của nền giáo dục, thường những phương tiện trực quan có nội dung phán ánh những yếu tố rồi phân tích, so sánh có thé rat ra sự giống nhau, khác nhau, những kết luận khái quát, qua đó giúp người học tìm ra các đặc điểm cấu tạo phủ hợp với chức năng sinh lý của chúng [3]
1.4 Giới thiệu về Internet và công nghệ thông tin
Ngày nay, Internet trở nên rất thông dụng và gắn với cuộc sống của con
người Nhưng không phải người dùng Internet nào cũng biết nguồn gốc và sự
phát triển của nó Tiền thân của mạng Internet hiện nay là mạng ARPANET
Cơ quan quản lý dự án nghiên cứu phát trién ARPA thuộc bộ quốc phòng Mỹ liên kết 4 địa điểm đầu tiên vào tháng 7 năm 1968 bao gồm: Viện nghiên cứu
Stanford, Đại học California, Los Angeles, Đại học tong hop Utah va Dai hoc
California, Santa Barbara Do chinh la mang lién khu vue (Wide Area Network-WAN) đầu tiên được xây dựng [15], [23]
Thuật ngữ Internet xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974 Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cá các máy tính nối
với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này Giao thức TCP/IP ngày càng thể
hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọng nhất là khá năng liên kết các mạng
khác với nhau một cách dễ dàng Chính điều này cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu và thương mại kết nối với
ARPANET, thúc đây việc tạo ra một siêu mạng Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của Internet
11
Trang 19Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập kỷ
1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ NSF thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET Nhiều doanh nghiệp đã
chuyển từ ARPANET sang NSENET và đo đó sau gần 20 năm hoạt động,
ARPANET không còn hiệu quả đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990
Sự hình thành mạng xương sống của NSENET và những mạng vùng khác đã
tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet Tới năm 1995,
NSENET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành mạng lớn nhất
trên thé giới xuất hiện trong mọi lĩnh vực như thương mại, chính trị, quân sự,
giáo dục, văn hóa, [22]
Công nghệ thông tin - CNTT (tiéng Anh: Information Technology - IT)
là ngành ứng dụng công nghệ và xử lý thông tin CNTT là ngành sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyền đối, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền và thu thập thông tin
Ở Việt Nam: khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại -
chủ yếu là kỹ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử
dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng
trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội
Trong Hệ thống giáo dục nước ngoài, CNTT đã được chính thức tích hợp vào chương trình học phố thông Người ta đã nhanh chóng nhận ra rằng
nội dung về CNTT đã có ích cho tất cả các môn học khác Với sự ra đời của
Internet mà các kết nối băng tần rộng tới tất cả các trường học, áp dụng kiến
thức, kỹ năng và hiểu biết về CNTT trong các môn học đã trở thành hiện thực
Có thể nói CNTT và Internet đang dần dần trở thành một cánh cửa góp phần
12
Trang 20nhanh chóng rút ngắn khoảng cách trong giáo dục Khi mà đổi mới phương pháp dạy và học đang được áp dụng trong tất cả các trường đại học Lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của người
học, có sự trao đổi tích cực giữa thầy và trò, biến quá trình đào tạo thành tự
đào tạo, giúp cho người học có thé ty học tập suốt đời để cập nhật kiến thức
và kỹ năng mới
Có thê liệt kê một số công dụng của Internet trong giảng dạy và học tập
đại học như sau:
1 Giảng viên có thê giao tiếp với tất cả các đối tượng: đồng nghiệp, sinh viên, cấp trên và các đối tượng với nhau bằng email;
Việc giáng dạy không những có thể diễn ra trên lớp mà có thê diễn
ra ở bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu;
Việc học của sinh viên có thể được cá nhân hóa với sự giúp đỡ của
giảng viên bằng cách trao đổi trực tiếp với giảng viên mà không
ngại bị đánh giá;
Việc truy cập Internet thường xuyên có thé trang bị thêm cho sinh viên các kỹ năng khác như tiếp cận và xử lý thông tin, giải quyết vấn đề, hợp tác, sáng tạo, các kỹ năng về công nghệ và ngoại ngữ nói chung;
Việc truy cập Internet cũng tạo cho giảng viên và sinh viên niềm say mê, hứng thú trong học tập và giảng dạy, giúp cho họ có thêm
động cơ học tập;
Sinh viên có thế chủ động trong việc xây dựng lộ trình học tập của
mình và có thể mở rộng hoặc giới hạn mối quan tâm của mình;
Internet là công cụ tuyệt vời trong việc giúp sinh viên thực hành
khả năng làm việc và nghiên cứu độc lập;
13