Để có thể góp phần khắc phục các nhược điểm đó thì phương pháp trắc nghiệm khách quan - một phương pháp đã được ứng dụng từ lâu ở các quốc gia có nền giáo dục phát triển đã được đưa ra á
Trang 1NGUYEN THI PHƯỢNG
SOAN THAO CAU HOI TRAC NGHIEM VE CO CHE PHIEN MA, DICH MA VA DIEU HOA BIEU HIEN CUA GEN DUNG CHO KIEM TRA DANH GIÁ SINH VIÊN KHOA SINH - KTNN, TRƯỜNG
ĐHSP HÀ NỘI 2
KHÓA LUẬN TÓT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Di truyền học
Người hướng dẫn khoa học
Ths.NGUYEN VAN LAI
HA NOI - 2011
Trang 2Loi cam on
Đề hoàn thành khoá luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ của các
thày cô giáo, gia đình và bạn bè Với tâm lòng biết ơn sâu sắc, em xin bày tỏ
lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Nguyễn Văn Lại đã tận tình hướng dẫn,
giúp đỡ em thực hiện tốt đề tài này
Xin chân thành cảm ơn các thay cô giáo cùng các ban sinh viên khoa
Sinh-KTNN da tao diều kiện cho em hoàn thành đề tài này
Đồng thời, em xin gửi lời cắm ơn tới gia đình, bạn bè đã úng hộ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2011
Trang 3Lời cam đoan
Dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Nguyễn Văn Lại, em đã hoàn
thành đề tài: “ Soạn (háo cấu hỏi trắc nghiệm về cơ chế phiên mã, dịch mã
và điều hòa biểu hiện của gen dùng cho kiểm tra đánh giá sinh viên khoa Sinh
- KTNN, trường ĐHSP Hà Nội 2”
Em xin cam đoan những kết quả nghiên cứu trong khoá luận
không trùng với những kết quá nghiên cứu cúa các tác giá khác trước đây
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2011
Trang 4DANH MỤC CÁC Ki HIEU VIET TAT
FV: Độ khó của mỗi câu hỏi trắc nghiệm
DI: Độ phân biệt của mỗi câu hỏi trắc nghiệm
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIÊU
Bang 1.1 Sự khác nhau về ưu điểm của tự luận và trắc
2 | Bang 3.1 Két qua xac dinh d6 kho 39
3 | Bang 3.2 Két quả xác định độ phân biệt 40
4 | Bang 3.3 Két quả xác định câu đạt và không đạt 44
(guyễn Thi Dhwong v 3321 đình - Ø4
Trang 6PHỤ LỤC
Đáp án các câu hỏi trắc nghiệm
Trang 7
Danh sách điểm kiếm tra tại lớp K34C - Sinh KTNN
( Từ câu 1 đến câu 45)
v Số câu trả | Sốcâu | Điểm ¡| Ghi
STT Họ và tên lời đúng | trả lời sai | thô uc ~ | Diém | chi
27_| Luyện Thị Thanh Nga 23 22 23 5,1 K
28 _| Nguyễn Hoàng Oanh 42 3 42 9,3 | K-G
29 | Nguyen T.Thanh Tam 22 23 22 4,9 K
Trang 8
23 | Luận Van Minh 23 22 23 5,1
Trang 9
30_| Nguyén Thị Quyên 23 22 23 5,1
31 | Nguyễn Thị Tư 36 9 36 8,0 K-G 32_ | Nguyen Thi Thêm 13 32 13 2,9 K
33 | Vũ Thị Thanh Thu 22 23 22 4,9
34 | Trần Bích Thủy 13 32 13 2,9 K 35_ | Nguyễn Thị Thủy 13 32 13 2,9 K
Trang 12MỤC LỤC
Mé dau
1 Lí đo chon dé tis eeescseeescssssseesessssnnseesssneeecessnnneesesssnmeetecsssneeeesssees 2
2 Mục đích nghiên CỨU 6+5 + +11 ng ng như 3
3 Nhiém vu nghién CU 1 3 4.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của GG ti ec eecccceccceeceseseescscesesecsesecseees 4
Nội dung
Chuong 1 Téng quan cac van dé nghién ciru
L.1 Khai niém vé trac nghi@i 00 ceccccececcessessessessessessessessessesscsesceeeees 5
1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phương pháp trắc nghiệm 5
1.3 Phân loại câu hỏi trắc In) P1 8
1.4 Chức năng của TNKQ đối với quá trình dạy học . 9
1.5 Ưu điểm và nhược điểm của câu hỏi trắc nghiệm khách quan 10 1.6 Một số điều cần lưu ý khi soạn thảo câu hỏi TNKQ 12
Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu - -2-<+S+<+EE£+ESEESEE2211121211 221211 14 2.2 Phương pháp nghiên CỨU .- <6 5+ E4 1E vn ren 14 Chương 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Kết quả nghiên cứu soạn thảo câu hỏi trắc nghiệm
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chúng ta đã biết công nghệ sinh học và công nghệ thông tin được coi là
làn sóng thứ 5 trong lịch sử phát triển của khoa học và công nghệ Công nghệ
sinh học ngày càng phát triển, nó liên kết chặt chế và mạnh mẽ với các ngành
khoa học khác Từ đó, công nghệ sinh học góp phần tích cực vào diện mạo
thế kỉ mới Nó có vai trò rất quan trọng và cần thiết đối với cuộc sống con
người, tác động vào mọi mặt đời sống con người, như tạo môi trường sống,
duy trì sự sống, cung cấp phương tiện sống
Di truyền học ra đời và tồn tại như một ngành khoa học trung tâm của sinh
học Ngày nay, di truyền học phát triển cực nhanh cả trong lĩnh vực lý thuyết
và thực nghiệm Muốn ứng dụng di truyền học, ví dụ trong công tác chọn tạo
giống vật nuôi cây trồng, cần phải hiểu được các nguyên lý cơ bản của di
truyền học ở các cấp độ, đặc biệt là lĩnh vực di truyền phân tử Chính vì vậy,
cần phải hiểu biết sâu sắc và rộng hơn nữa về cơ chế di truyền từ gen đến hệ
gen
Điều kiện cần đề trở thành một giáo viên giỏi là cần phải có chuyên môn
vững và luôn cập nhật kiến thức Di truyền học là một phân môn quan trọng đối với sinh viên khoa Sinh trong các trường sư phạm, là công cụ phục vụ đắc
lực cho việc giảng dạy sau này Vì vậy, cần phải trang bị cho họ những kiến thức đi truyền nói chung và những kiến thức về di truyền học phân tử nói
riêng như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, đào tạo được những con
người đáp ứng nhu cầu xã hội? Đề đạt được điều đó, trong quá trình giảng dạy cần phải thường xuyên kiểm tra đánh giá việc học tập của sinh viên đề luôn
Trang 14khâu kiểm tra, đánh giá học sinh cũng được coi trọng Có nhiều phương pháp
kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh, như kiểm tra vấn đáp, tự luận Tuy nhiên, nhược điểm của các phương pháp này là học sinh có thể học vẹt, học
đối phó, không hiểu bản chất Để có thể góp phần khắc phục các nhược điểm
đó thì phương pháp trắc nghiệm khách quan - một phương pháp đã được ứng dụng từ lâu ở các quốc gia có nền giáo dục phát triển đã được đưa ra áp dụng, góp phần thực hiện một cách có hiệu quả nhất trong khâu kiểm tra, đánh giá
kiến thức của học sinh, sinh viên
Có nhiều dạng trắc nghiệm khách quan như câu hỏi nhiều lựa chọn, điền
khuyết, trả lời ngắn, câu hỏi ghép nồi Trong đó, dạng câu hỏi nhiều lựa chọn
được áp dụng rộng rãi hơn cả
Phương pháp trắc nghiệm khách quan đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, còn ở Việt Nam thì mới chỉ bước đầu áp dụng chủ yếu ở
các kỳ thi lớn (tốt nghiệp THPT và tuyến sinh ĐH,CĐ) và chưa phố biến
trong các giờ kiểm tra ở trường học
Xuất phát từ những suy nghĩ trên, tôi đã chọn đề tài:
* Soạn thảo câu hói trắc nghiệm về cơ chế phiên mã, dịch mã và điều
hòa biểu hiện của gen dùng cho kiểm tra đánh giá sinh viên khoa Sinh -
KTNN, trường ĐHSP Hà Nội 2”
2 Mục đích nghiên cứu
Soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn, đánh giá chất lượng câu hỏi, tìm ra câu hỏi đủ tiêu chuẩn để ứng dụng trong việc kiểm
tra kiến thức sinh viên Đại học sư phạm
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Soạn thảo các câu hỏi trắc nghiệm khách quan về cơ chế phiên mã, dịch
mã và điều hoà biểu hiện của gen
- Thực nghiệm kiểm tra sinh viên Đại học sư phạm
Trang 15- Xử lí số liệu, đánh giá câu hỏi, tìm ra những câu đạt yêu cầu sử dụng
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Dùng câu hỏi trắc nghiệm khách quan để kiểm tra kiến thức sinh viên là điều cần thiết Bởi lẽ, việc này giúp cho giảng viên có thể kiểm tra được
những kiến thức sâu và rộng, đòi hỏi sinh viên phải đọc nhiều sách, tài liệu,
nắm sâu kiến thức mới có thể làm tốt bài thi Từ đó, sinh viên có thể bộc lộ
tiềm năng và trình độ thực chất về kiến thức, kỹ năng, tư duy của mình Đồng thời, khâu chấm bài của giảng viên cũng được đơn giản hóa và có thê áp dụng
các phương tiện kỹ thuật hiện đại
Trang 16CHƯƠNG 1
TONG QUAN CAC VAN DE NGHIEN CUU
1.1 Khai niém về trắc nghiệm
Trắc nghiệm theo nghĩa rộng là một hoạt động để đo lường năng lực của các đối tượng nào đó nhằm xác định những mục đích xác định
Theo tác giả Trần Bá Hoành: "Test có thể tạm dịch là phương pháp trắc
nghiệm, là hình thức đặc biệt để thăm dò một số đặc điểm về năng lực, trí tuệ của học sinh hoặc để kiểm tra một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh
thuộc một chương trình nhất định"[6]
Tới nay người ta hiểu trắc nghiệm là một bài tập nhỏ hoặc câu hỏi kèm
theo câu trả lời sẵn, yêu cầu học sinh suy nghĩ rồi dùng một ký hiệu đơn gián
đã quy ước để trả lời
1.2 Tình hình nghiên cứu và sứ dụng phương pháp trắc nghiệm
1.2.1 Trên thế giới
Các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đầu tiên được
tiến hành vào thế kỷ XVII-XVIII tại châu Âu Sang thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX, các phương pháp trắc nghiệm đo lường thành quả học tập đã được chú ý
[7]
Năm 1904, Alfred Binet - nhà tâm lý học người Pháp - được giới lãnh dao
nhà trường ở Paris yêu cầu xây dựng một phương pháp đề xác định những trẻ
em bị tàn tật về mặt tâm thần mà không thể tiếp thu gì theo cách dạy bình thường của nhà trường Ông đã xây dựng các câu hỏi trắc nghiệm với những yêu cầu về kỹ năng tổng quát, cách lập luận thông thường và một kho những
thông tin chung cho câu trả lời Vào năm 1910, trắc nghiệm của Binet được
dịch ra để dùng ở Mỹ Đến năm 1916, Lewis Terman (Đại học Stanford) đã
dịch và soạn các bài trắc nghiệm của Binet sang tiếng Anh, từ đó trắc nghiệm
trí thông minh được gọi là trắc nghiệm Stanford — Binet
Trang 17Trong những năm 1919 — 1920, các trắc nghiệm thành quả học tập phát
triển rất nhanh chóng Năm 1935, khoa học đo lường trắc nghiệm đã bước
thêm một bước dài trong lịch sử phát triển của mình khi việc chấm bài trắc nghiệm được thực hiện bằng máy tính IBM Đến năm 1940, ở Mỹ đã có nhiều
hệ thống trắc nghiệm dùng đề đánh giá thành quả học tập của học sinh
Ở Liên Xô (cũ), từ năm 1926 đến năm 1931, một số nhà sư phạm tại
Matxơcova, Kiep, Lêningrat đã dùng trắc nghiệm để chân đoán đặc điểm tâm
lý cá nhân và kiểm tra kiến thức học sinh
Không chỉ phát triển ở các nước Âu, Mỹ, trắc nghiệm khách quan (TNKQ) cũng đang trở nên chiếm ưu thế ở các nước châu Á Các nước Hàn Quốc,
Trung Quốc, Thái Lan từ những năm 1970 đã dùng đề thi TNKQ trong kỳ thi
tuyển sinh vào Đại học Nhật Bản thì dùng TNKQ từ những năm 1990 và cho đến nay, đề thi chung cho tất cả các trường được soạn hoàn toàn theo hình thức TNKQ (theo "trung tâm quốc gia tuyển sinh Đại học")
Tại các kỳ thi Olympic Sinh học quốc tế, câu hỏi TNKQ được sử dụng ở
cả nội dung lý thuyết và thực hành Trên thế giới hiện nay nhiều nước như
Anh, Uc, Bi da cải tiến việc thực hiện TNKQ bắng cách gắn với công nghệ
Tin học, cài đặt chương trình chấm điểm, xử lý kết quả Vì vậy, phương
pháp TNKQ càng có nhiều ưu thế hơn
1.2.2 Ở Việt Nam
Phương pháp TNKQ phát triển trước tiên ở miền Nam Từ những năm
1950, TNKQ đã rải rác áp dụng trong các trường học Học sinh đã được tiếp xúc với TNKQ qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các tô chức quốc
tế tài trợ Từ năm 1956 — 1960, trong các trường học đã sử dụng rộng rãi hình
thức thi TNKQ ở bậc THPT Nhiều tài liệu đề cập đến phương pháp TNKQ
đã được xuất bản, trong đó có thể kế đến một số tác giả tiêu biểu như: Lê
Quang Nghĩa (1963) với "Trắc nghiệm vạn vật lớp 12", Phùng Văn Hướng
Trang 18(1964) với "Phương pháp học và thi vạn vật lớp 12", Dương Thiệu Tống với
"Trắc nghiệm thành quả học tập" Giáo sư Dương Thiệu Tống là người đầu tiên đưa trắc nghiệm và thống kê vào giảng dạy cho các lớp Cao học, Tiến sĩ giáo dục ở Sài Gòn
Ở miền Bắc, TNKQ được nghiên cứu và triển khai muộn hơn so với miền
Nam Trong dạy học Sinh học, Giáo sư Trần Bá Hoành là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "test" để nói đến TNKQ Năm 1971, ông đã biên soạn các câu
hỏi và áp dụng trắc nghiệm vào việc kiểm tra đánh giá học sinh và thu được
kết quả đáng kể Năm 1991 - 1995, ông chính thức đưa bộ câu hỏi TNKQ về
Di truyền và Tiến hoá vào sách giáo khoa lớp 12 chương trình chuyên ban của
Ban khoa học tự nhiên
Theo xu hướng đổi mới của việc kiểm tra đánh giá, Bộ giáo duc va dao
tạo đã giới thiệu phương pháp TNKQ trong các trường Đại học và bắt đầu những công trình nghiên cứu thử nghiệm Các cuộc hội thảo, các lớp huấn
luyện đã được tô chức ở các trường [7]
Tháng 4 năm 1998, trường Đại học sư phạm Hà Nội - Đại học quốc gia Hà
Nội có tổ chức cuộc hội thảo khoa học về việc sử dung TNKQ trong day hoc
va tiến hành xây dựng ngân hàng TNKQ để kiểm tra, đánh giá một số học phần của các khoa trong trường Hiện nay, một số khoa trong trường đã bắt
đầu sử dụng TNKQ trong quá trình dạy học như Toán, Lý và một số bộ môn
đã có học phần thi bằng phương pháp TNKQ như môn tiếng Anh
Ở nước ta, thí điểm thi tuyên sinh Đại học bằng phương pháp TNKQ được
tổ chức đầu tiên tại trường Đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 và đã thành
công
Sử dụng phương pháp TNKQ để làm đề thi tốt nghiệp THPT và làm đề
thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng sẽ đảm bảo được tính công bằng và độ chính xác trong thi cử Vì vậy, bắt đầu từ năm học 2006 — 2007 Bộ giáo dục và đảo
Trang 19tạo có chủ trương tô chức thi tốt nghiệp THPT và thi tuyển sinh Đại học, Cao đẳng bằng phương pháp TNKQ đối với các môn Lý, Hoá, Sinh, tiếng Anh
1.3 Phân loại câu hỏi trắc nghiệm
Có rất nhiều dạng câu hỏi trắc nghiệm tương ứng với các cách phân loại
khác nhau Sơ đồ dưới đây là một ví dụ
Các loại trắc nghiệm
Trac nghiém khach quan Trac nghiệm tự luận
Nhiều lựa Ghép Điền Đúng || Trả lời Tiểu Giải đáp
Hình 1.1 So dé phan loại trắc nghiệm trong giáo duc [5]
Qua sơ đồ trên ta thấy các dạng câu hỏi trắc nghiệm rất đa dạng Trong
đó, TNKQ là dạng câu trắc nghiệm mà trong đề thi thường gồm rất nhiều câu hỏi, mỗi câu nêu ra một vấn đề cùng với những thông tin cần thiết sao cho thí sinh chỉ phải trả lời vắn tắt cho từng câu
Trang 20b) Câu điền khuyết (supply items): Néu mét ménh đề bị khuyết một bộ phận thí sinh phải nghĩ ra nội dung thích hợp đề điền vào chỗ trống
c) Cau dung sai (yes/no question): Dua ra mot nhan định, thí sinh phải lựa chọn một phương án trả lời khẳng định nhận định đó đúng hay sai
đ) Câu trả lời ngắn
e) Câu nhiều lựa chọn (multiple choise question — MCQ): Đưa ra một nhận định và 4-5 phương án trả lời, thí sinh phải chọn đề đánh dấu một phương án
đúng duy nhất hoặc phương án đúng nhất
Trong phạm vi của đề tài, tôi chỉ nghiên cứu loại câu trắc nghiệm nhiều lựa
chọn (MCQ) về cơ chế phiên mã, dịch mã và điều hoà biểu hiện của gen Mỗi
câu có hai phần: phần đầu là phần dẫn, nêu ra vấn đề, cung cấp thông tin hoặc
nêu một câu hỏi; phần sau là phương án chọn, có 4 phương án dé chon, duoc
đánh dấu bằng các chữ cái A, B, C, D và chỉ có một phương án đúng nhất, các phương án còn lại được đưa vào có tác dụng gây nhiễu đối với sinh viên Do
đó, sinh viên cần phải có kiến thức sâu, vững thì mới lựa chọn được phương
án đúng nhất
1.4 Chức năng của TNKQ đối với quá trình dạy hoc [6]
Với người dạy, sử dụng TNKQ nhằm cung cấp thông tin ngược chiều để điều chỉnh phương pháp nội dung cho phù hợp, nắm bắt được trình độ người học và quyết định nên bắt đầu từ đâu, tìm ra khó khan dé giúp đỡ người học,
tong kết để thấy đạt mục tiêu chưa, có nên cái tiến phương pháp hay không và
cải tiến theo hướng nào TNKQ nâng cao được hiệu quả giảng dạy
Với người học, sử đụng TNKQ có thê giúp tự kiểm tra, đánh giá kiến thức,
kỹ năng, phát hiện năng lực tiềm ân của mình (bằng hệ thống TNKQ trên máy tính, nhiều chương trình kiểm tra và động viên khuyến khích người sử dụng
tự phát hiện khả năng của mình về một lĩnh vực nào đó) Sử dụng TNKQ giúp
cho quá trình tự học có hiệu quả hơn Mặt khác, sử dụng TNKQ phát triển
Trang 21năng lực tư duy sáng tạo, linh hoạt vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn
1.5 Ưu điểm và nhược điểm của câu hói trắc nghiệm khách quan
Trong khâu giảng dạy cũng như khâu kiểm tra, đánh giá, không có một phương pháp nào là hoàn mỹ, bên cạnh những ưu điểm của nó luôn có những
nhược điểm nhất định Tuỳ từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà phương pháp
nào sẽ có nhiêu ưu điềm hơn Dưới đây là một ví dụ
biệt là diễn đạt tư duy hình tượng
Bang 1.1 Sự khác nhau về ru điểm của tự luận và trắc nghiệm
Vậy TNKQ có ưu điểm và nhược điểm gì?
1.5.1 Uu diém [6]
- Trong một thời gian ngắn, cho phép kiểm tra được nhiều kiến thức cụ
thể, đi sâu vào những khía cạnh khác nhau của một kiến thức
Trang 22- Nội dung kiến thức kiểm tra rộng, có tác dụng chống lại khuynh hướng
học tủ, học lệch của người học Hơn nữa, người học không thể chuẩn bị tải
liệu để quay cop, việc áp dụng công nghệ mới vào việc soạn thảo đề thi cũng hạn chế tới mức thấp nhất hiện tượng nhìn bài hay trao đổi bài
- Có thế kiểm tra số lượng lớn sinh viên, đặc biệt khâu chấm bài nhanh
chóng và chính xác Ngoài ra, có thể sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, thuận lợi cho việc chấm bài và xử ly két qua
- Trắc nghiệm khách quan còn gây hứng thú và thái độ tích cực học tập cho người học Đồng thời, giúp người học phát triển kỹ năng nhận biết, hiểu, ứng dụng và phân tích vấn đẻ
1.5.2 Nhược điểm J6
- Phương pháp TNKQ hạn chế việc đánh giá năng lực lập luận, không luyện tập cho người học cách hành văn, cách trình bày Do đó, người giáo
viên không đánh giá được tư tưởng, thái độ và tính sáng tạo của người học
- Phương pháp TNKQ có yếu tố ngẫu nhiên may rủi, thí sinh có thé khong suy nghĩ mà lựa chọn bất kỳ một phương án nhưng vẫn có xác suất đúng Do
đó, đôi khi khuyến khích sự phỏng đoán của thí sinh
- Người ra đề phải tốn nhiều công sức và thời gian Đồng thời, chất lượng của bài trắc nghiệm được xác định phần lớn dựa vào kỹ năng, kiến thức của người soạn thảo
- Tốn giấy mực để in đề, học sinh cần nhiều thời gian dé đọc câu hỏi
Sự tồn tại những nhược điểm trên cho thấy TNKQ không phải là một phương pháp tối ưu, không thay thế được tất cả các phương pháp kiểm tra, đánh giá khác Tuy nhiên, TNKQ ngày càng được áp dụng rộng rãi, đặc biệt
trong giai đoạn thực hiện cuộc vận động "hai không" và "ba không" do ngành Giáo dục phát động, do những tính ưu việt của nó Nó là sự lựa chọn cần thiết
và đang được khuyến khích trong các kỳ thi, kiểm tra, đánh giá
Trang 231.6 Một số điều cần lưu ý khi soạn thảo câu hỏi TNKQ
Khi soạn thảo câu hỏi, bài tập TNKQ nhiều lựa chọn cần phải đảm bảo một số tiêu chuẩn nhất định Do đó, cần lưu ý:
a) Đối với phần dẫn
- Câu dẫn phải có nội dung ngắn gọn, diễn đạt rõ ràng một vấn đề
- Tránh dùng các từ phủ định, nếu không tránh được thì cần nhắn mạnh (in
đậm) để thí sinh không nhằm
- Khi câu dẫn là câu hỏi thì phải là một câu hỏi trọn vẹn để học sinh hiểu
được mình đang được hỏi van dé gi
b) Doi voi phan tựa chon
- Phương án tra lời phải rõ rang, dé hiéu, phải có cùng loại quan hệ với câu
dẫn và phù hợp về mặt ngữ pháp với câu dẫn
- Nên có 4-5 phương án lựa chọn cho mỗi câu hỏi và trong đó có một
phương án đúng nhất
- Các phương án lựa chọn đều phải có vẻ hợp lý, nếu một phương án sai
hiển nhiên thì thí sinh sẽ loại đễ dàng
- Hạn chế dùng phương án "Các câu trên đều đúng." hoặc "Các câu trên đều sai."
- Độ đài của câu trả lời trong các phương án phải gần bằng nhau, không
nên để các câu trả lời đúng có khuynh hướng ngắn hơn hoặc dài hơn các
phương án trả lời khác
e) Đối với ca hai phan
Đảm bảo để phần dẫn và phần lựa chọn khi ghép lại phải thành một cấu
trúc ngữ pháp và chính tả
Mặt khác, để nâng cao chất lượng của các câu hỏi TNKQ cần phải làm
mềm hoá câu hỏi, đa dạng hoá các câu hỏi TNKQ Sự đa dạng thể hiện ở độ khó của câu hỏi, lượng thông tin cần hỏi, cách diễn đạt các vấn dé cần hỏi và
Trang 24đa dạng về cách hỏi Điều này có nghĩa là phải có các biện pháp nâng cao chất lượng câu hỏi TNKQ
Trang 25CHƯƠNG 2
ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Phương pháp soạn thảo câu hỏi TNKQ nhiều lựa chọn
- Các sách, tài liệu Di truyền liên quan tới cơ chế phiên mã, dịch mã và
điều hoà biểu hiện của gen
- Sinh viên K34 (năm thứ 3), khoa Sinh — KTNN, trường ĐHSP Hà Nội 2
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu lý thuyết
Dựa trên nội dung kiến thức Di truyền học về cơ chế phiên mã, dịch mã và
điều hoà biểu hiện của gen trong các tài liệu Đại học, Cao đẳng và THPT dé soạn thảo 90 câu hỏi TNKQ, chia thành 3 phần tương ứng với các nội dung kiến thức trên
Phần 1: Cơ chế phiên mã
Phần 2: Cơ chế dịch mã
Phần 3: Điều hoà biểu hiện của gen
2.2.2 Thực nghiệm sư phạm
2.2.2.1 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm đối với sinh viên lớp K34C và K34E (năm thứ 3),
khoa Sinh — KTNN trường Đại học sư phạm Hà Nội 2
Trong tống số 90 câu hỏi được chia thành 2 bài kiểm tra nhỏ, mỗi bài gồm
45 câu, sau đó phân phối cho học sinh
Bài I (từ câu 1 đến câu 45) kiểm tra tại lớp K34C với số sinh viên tham
Trang 262.2.2.2 Phương pháp chấm bài và cho điểm
Tôi chấm theo phương pháp thủ công Với mỗi câu trả lời đúng được |
điểm và mỗi câu trả lời sai được 0 điểm, điểm thô tối đa là 45 điểm
2.2.3 Kiểm định độ khó và độ phân biệt cúa câu hói TNKQ
Sau khi chấm bài xong, tôi sẽ tiến hành kiểm định chất lượng câu hỏi thông qua việc xác định độ khó và độ phân biệt của mỗi câu hỏi Nếu phổ
điểm càng rộng thì sự khác biệt giữa các sinh viên càng lớn và có thể khẳng
định câu hỏi có khả năng phân biệt Vì thế, vấn đề đặt ra là khi xây dựng bài
trắc nghiệm làm thế nào để điểm số phân tán ra? Một sự phân tán hoặc sự trải rộng điểm số phù hợp sẽ đạt được khi các câu hỏi có độ khó thích hợp và khả năng phân biệt cao
2.2.3.1 Xác định độ khó của mỗi câu hỏi trac nghiém (FV)
Độ khó của mỗi câu hỏi trắc nghiệm được tính bằng phần trăm tổng số học
sinh trả lời đúng trên tổng số học sinh dự thi Câu hỏi càng dễ số học sinh trả lời đúng càng nhiều, độ khó càng cao và ngược lại
Công thức tính độ khó của một câu hỏi:
Số học sinh trả lời đúng FVE= ————————————X]00%
Sô học sinh dự thi
Khi chọn lựa các câu trắc nghiệm theo độ khó người ta thường phải loại
những câu quá khó (không ai làm đúng) hoặc những câu quá dễ (ai cũng làm đúng) Một bài trắc nghiệm tốt khi nó có nhiều câu hỏi có độ khó trung bình Thang phân loại độ khó được quy ước như sau:
+ Cau dé: 75% <FV < 100%
Trang 27+ Câu trung bình: 30% < FV < 75%
+ Câu khó: FV < 30%
Câu hỏi trắc nghiệm có 30% < EV < 75% là đạt yêu cầu sử dụng Ngoài
khoảng này, câu hỏi quá khó hoặc quá đễ sẽ cần chỉnh lại phương án trả lời và
sử dụng một cách chọn lọc
2.2.3.2 Xác định độ phân biệt của mỗi câu trắc nghiệm (DJ)
Độ phân biệt là khả năng phân biệt được năng lực của học sinh khá giỏi,
trung bình và học sinh yếu kém thông qua câu hỏi TNKQ Mỗi câu hỏi gọi là phân biệt được có nghĩa là các học sinh đạt điểm cao sẽ có xu hướng làm tốt
câu hỏi đó hơn so với học sinh có điểm thấp
Muốn cho câu hỏi có độ phân biệt thích hợp, phản ứng của nhóm thí sinh giỏi và nhóm thí sinh kém đối với câu hỏi đó hiển nhiên là phải khác nhau
Độ phân biệt có thể xác định dựa trên sự phân tích câu hỏi, trong đó các câu trả lời của học sinh đều thuộc hai nhóm là nhóm học sinh đạt điểm cao nhất
và nhóm học sinh đạt điểm thấp nhất (dựa trên điểm tổng kết của bài trắc
nghiệm)
Công thức được áp dụng đề tính độ phân biệt là:
Số thí sinh nhóm khá giỏi trả lời đúng(27%) - Số thí sinh nhóm kém trả lời đúng (27%)
DI=
Tổng số thí sinh của một nhóm
Thang phân loại độ phân biệt được quy ước như sau:
DI = 0: Tỉ lệ nhóm học sinh khá giỏi và nhóm học sinh kém trả lời
đúng câu hỏi như nhau —> không có độ phân biệt
DI > 0: Số học sinh nhóm khá giỏi trả lời đúng nhiều hơn số học sinh
nhóm kém -> độ phân biệt có giá trị tr 0 > 1
Trang 28DI <0: Tỉ lệ nhóm học sinh kém trả lời đúng nhiều hơn nhóm học sinh khá giỏi —> câu hỏi không đạt yêu cầu sử đụng
* Nếu chỉ số DI > 0,2 là đạt yêu cầu sử dụng
* Nếu chỉ số 0 < DI < 0,2 thì việc sử dụng cần có lựa chọn
* Nếu chỉ số DI < 0 thì không đạt yêu cầu sử dụng
Một câu hỏi được xem là có độ phân biệt hoàn hảo nếu nói chung những học sinh đạt điểm cao của bài trắc nghiệm sẽ trả lời đúng, những học sinh đạt
điểm thấp sẽ trả lời sai
Hai đặc trưng độ khó và độ phân biệt có mối quan hệ qua lại với nhau Nếu
xét một câu hỏi mà mọi học sinh đều làm đúng (độ khó là 100%) thì không
thể phân biệt được học sinh khá, giỏi hay trung bình, tức là độ phân biệt DI =
0 Tương tự, nếu tất cả học sinh đều trả lời sai (độ khó của câu hỏi là 0%) thì
độ phân biệt vẫn bằng không
Như vậy, dựa vào độ khó và độ phân biệt của từng câu hỏi của toàn bài trắc nghiệm để xác định được câu nào có thể sử dụng được Một câu trắc nghiệm dùng được cần thoả mãn điều kiện:
30% < FV < 75% và DI>0,2