Mối quan hệ khăng khít giữa cải cách hành chính và cải cách tài chính công thể hiện ở các mặt sau: việc thực thi hoạt động của bộ máy nhà nước gắn liền với cơ chếtài chính hỗ trợ cho các
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Cải cách hành chính là một quá trình tiến hành những sửa đổi, cải tiến mangtính cơ bản và có hệ thống đối với hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Tuỳtheo điều kiện cụ thể của mỗi nước và trong từng thời kỳ, nội dung của cải cách hành
chính có phạm vi và mức độ khác nhau Ở nước ta, công cuộc cải cách hành chính bắt đầu được triển khai từ khoảng giữa những năm 90 thế kỷ XX với sự ra đời của Nghị quyết 38/CP ngày 04/5/1994 của Chính phủ Thực tế cho thấy chỉ có thể thực hiện cải cách hành chính thành công khi tiến hành đồng thời với việc cải cách tài chính công
Mối quan hệ khăng khít giữa cải cách hành chính và cải cách tài chính công thể
hiện ở các mặt sau: việc thực thi hoạt động của bộ máy nhà nước gắn liền với cơ chếtài chính hỗ trợ cho các hoạt động đó; việc phân cấp quản lý hành chính phải tươngứng với sự phân cấp quản lý ngân sách nhà nước để đảm bảo kinh phí cho hoạt động
có hiệu quả ở mỗi cấp; các cấp chính quyền trong bộ máy hành chính đều có tráchnhiệm và quyền hạn có ý nghĩa quyết định trong quản lý tài chính công ở phạm viquản lý của mình; các thể chế về tài chính công có tác dụng chi phối hoạt động của các
cơ quan nhà nước chủ trương của Chính phủ; tỷ trọng và cơ chế chi tiêu kinh phí ngânsách để trả lương cho đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước có tác độngquan trọng đến việc phát huy năng lực của cán bộ, công chức trong công tác; thôngqua tài chính công, nhà nước thực hiện giám sát bằng đồng tiền đối với mọi hoạt độngcủa các cơ quan trong bộ máy nhà nước
Với những luận điểm như trên, việc nghiên cứu và tìm hiểu công cuộc cải cáchtài chính công ở nước ta trong thời gian qua thông qua đề tài tiểu luận “ “ nhằm làm rõnhững thành quả đạt được cũng như những mặt tồn tại của đề án Qua đó, chúng em điđến những kết luận và đề xuất dựa trên chiến lược tài chính quốc gia đến năm 2020, đề
ra những giải pháp khắc phục các tồn tại, những kiến nghị đối với các cơ quan hữutrách nhằm góp một phần công sức đưa đề án cải cách hành chính nói chung và đề án
cải cách tài chính công nói riêng được thực hiện một cách thành công nhất
Do thời gian và khả năng nghiên cứu của nhóm còn hạn chế, bài tiểu luận chưathể đề cập hết đến các khía cạnh của vấn đề và còn nhiều sơ sót nhất định, các giảipháp đưa ra chưa đầy đủ và mang tính chủ quan, rất mong được sự đóng góp ý kiếncủa Cô để bài tiểu luận được hoàn thiện và mang tính thực tiễn cao hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT PHẢI CẢI CÁCH TÀI
CHÍNH CÔNG
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về tài chính công
1.1.1 Khái niệm và bản chất của tài chính công
Khái niệm tài chính công
Tài chính công là tổng thể các hoạt động thu chi bằng tiền do nhà nước tiến hành,
nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình tạo lập và sử dụngcác quỹ công,nhằm phục vụ việc thực hiện các chức năng của nhà nước và đáp ứngcác nhu cầu, lợi ích chung của toàn xã hội
1.1.1 Bản chất tài chính công
Bản chất của tài chính công là các hoạt động thu, chi của nhà nước, các chế tàiphân bổ nguồn lực của các chủ thể công quyền thể hiện dưới hình thức tiền tệ và gắnvới các quỹ tiền tệ được hình thành, và sử dụng nhằm đáp ứng yêu cầu chung của nhànước trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội
1.1.2 Vai trò, đặc điểm của tài chính công
Vai trò tài chính công
Là công cụ để chuyển giao hội nhập các nguồn lực tài chính, công nghệ, kỹ thuật, và nguồn nhân lực của các quốc gia trên thế giới
Thiết lập thể chế, hành lang pháp lý để các quốc gia tiến hành các hoạt động trong môi trường bình đẳng hòa nhập vào nền kinh tế toàn cầu
Là động lực thúc đẩy sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia, góp phần hạn chếrủi ro về chính trị trong các mối quan hệ tài chính quốc tế và đầu tư quốc tế ngày càng tăng trưởng
Trang 3Đặc điểm tài chính công
Phạm vi của hoạt động tài chính công rộng lớn trong nền kinh tế hội nhập Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước, có thể nói, đã phát huy đến mức độ cao
Thu chi của tài chính công chủ yếu là thông qua các đạo luật về ngân sách quốc gia, đạo luật thuế, đạo luật hiệp ước tài chính tiền tệ vừa mang tính chất cưỡng chế vừamang tính chất tự nguyện
Tài chính công mang tính chất hiệu quả và công bằng nhằm bù đắp tổn thất và sửa chửa khuyết tật của kinh tế thị trường
1.2
1 Giới thiệu về đề án cải cách tài chính công ở nước ta
1.2.1 Sự cần thiết phải cải cách Tài chính công
Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, cải cách tài chính công là một đòi hỏi kháchquan và phù hợp với các điều kiện đảm bảo tính khả thi của cải cách
Đối với thực trạng tài chính công hiện nay, bên cạnh một số kết quả bước đầu đạtđược, tài chính công vẫn còn những hạn chế cần sớm khắc phục, đó là:
Đối với lĩnh vực NSNN: bố trí ngân sách còn bị động, co kéo với các mục tiêungắn hạn, cơ cấu chi ngân sách còn bất hợp lý Việc phân bổ, quản lý và sử dụng ngânsách còn kém hiệu quả, sử dụng lãng phí
Đối với tài chính của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp: định mức, chế
độ chi tiêu lạc hậu, thiếu cụ thể, không đồng bộ Chưa tạo động lực khuyến khích sửdụng kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, dẫn đến tình trạng lãng phí khá phổ biến
Xuất phát từ yêu cầu cải cách hành chính Nhà Nước và những thể chế mới vềNSNN cũng đặt ra yêu cầu cải cách tài chính công một cách cấp thiết
1.2.2 Mục tiêu cải cách tài chính công
Với tư cách là một công cụ của chính sách tài chính quốc gia, liên quan đến việcthực hiện phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính công, nên vấn đề xuyên suốt của
đề án cải cách tài chính công phải thực hiện 3 mục tiêu chiến lược:
Trang 4 Thứ nhất, tăng cường tiềm lực tài chính công; đồng thời tôn trọng kỳ luật tàichính tổng thể trong chi tiêu công để ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế bền vững và đẩy mạnh tốc độ giảm nghèo Theo chiến lược phát triển tài chính giaiđoạn 2001 – 2020, trong sự cân đối với các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội thì quy
mô tổng thể chi tiêu công của Việt Nam phải ở mức 24 – 25% GDP, trong đó chi đầu
tư phát triển chiếm 25 đến 28%, chi trả nợ 17 – 18%, khống chế mức bội chi NSNN ởmức 4-5% GDP, bù đắp bội chi NSNN bằng nguồn vốn trong nước khoảng 3-5% GDP
và vay nước ngoài khoảng 1-1,5% GDP
Thứ hai, thiết lập cơ chế phân phối nguồn lực tài chính phù hợp các mục tiêu ưutiên của chiến lược tăng trưởng và giảm nghèo, ổn định môi trường bền vững và đảmbảo công bằng xã hội, phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa
Thứ ba, nâng cao tính trách nhiệm, minh bạch trong quản lý chi tiêu công, đảmbảo tính hiệu quả và hiệu lức của những chương trình cung cấp hàng hóa công cho xãhội, chi tiêu công thực sự trở thành thước đo năng lực, hiệu quả quản lý kinh tế xã hộicủa Nhà nước
1.2.3 Quan điểm cải cách tài chính công
Để phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính công có hiệu quả, cung cấp cho xãhội các loại hàng hóa công thiết yếu và đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu ưu tiêncủa chiến lược về kinh tế, chính trị của nhà nước, Nhà nước nhất thiết phải tiến hànhchiến lược cải cách quản lý tài chính công một cách toàn diện dựa trên các quan điểmsau:
Đổi mới chính sách tài chính công phải đặt trong bối cảnh cách cách hành chínhtổng thể và nâng cao năng lực quản lý của Chính phủ
Tính hiệu quả của quản lý tài chính công phụ thuộc nhiều vào năng lực quản lý củanhà nước và hoạt động của khu vực công Trong từng công đoạn của quy trình quản lýchi tiêu công đều thể hiện năng lực quản lý của Nhà nước Ở nhiều nước đang pháttriển, do năng lực quản lý của nhà nước yếu kém và khu vực công không năng động đãdẫn đến sự thất bại trong việc gắn kết chính sách, lập kế hoạch và lập ngân sách nhànước Hậu quả là, nguồn lực tài chính công bị phân phối sai lệch, sử dụng không hiệuquả
Trang 5Với quan điểm này, yêu cầu nhà nước phải làm rõ vai trò quản lý của mình phùhợp với năng lực đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế cụ thể là phải xây dựng các thểchế nhằm tạo ra một khu vực công năng động, bao gồm tăng cường xây dựng các thểchế về chính sách, chính quyền có khả năng xây dựng và phối hợp chính sách trongviệc lựa chọn mục tiêu chiến lược; phân bổ nguồn lực gắn kết với kế hoạch và chínhsách; thực hiện kiểm soát và đánh giá các kết quả hoạt động; công chức phải có động
cơ và năng lực quản lý tốt; ngắn chặn nạn tham nhũng…
Có thể mô tả mối quan hệ giữa quản lý chi tiêu công và quản lý của nhà nước qua
Thiết lập chính sách (1)
Đánh giá chính
sách (6)
ánh giá k t Đánh giá kết ết quả (5)
Kiểm soát sự tiến triển (4)
Phân bổ nguồn lực (2)
Đánh giá kết
Trang 6công cụ thích hợp nhất để phân bổ nguồn lực nhằm đạt mục tiêu đã lựa chọn Điều nàycũng có nghĩa là để quản lý chi tiêu công tốt, các quyết định đầu tư và chi thườngxuyên cần phải được gắn kết Tính kỷ luật tài chính tổng thể đi đôi với nó là tính tiếtkiệm và hàm ý rằng ngân sách Nhà nước chỉ nên tập trung những nguồn lực vừa đủ ởmức cần thiết để thực hiện tốt các ưu tiên chiến lược của Chính phủ.
- Tính linh hoạt, tính tiên liệu và tính trung thực.
Tính linh hoạt yêu cầu phải trao quyền cho người quản lý trung việc ra quyết địnhphân bổ nguồn lực Tính tiên liệu đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chínhsách và chương trình có hiệu quả và hiệu lực Kinh tế vĩ mô càng ổn định và mọi hoạtđộng của Chính phủ được thể chế hóa dựa theo chiến lược minh bạch có sự cân đốigiữa ngắn hạn và dài hạn, thì khu vực công càng thực hịên tốt hơn chức năng cung cấphàng hóa công cho xã hội
1.3 Nội dung cải cách tài chính công
Điểm quan trọng trong của đề án là tái cấu trúc khu vực công thông qua đẩy mạnhthực hiện các chính sách cổ phần hóa DNNN, tự do hóa kinh tế, xã hội hóa các họatđộng cung cấp hàng hóa công Mục đích của biện pháp này là nhằm hướng vào xác lậplại quy mô khu vực công, phạm vi can thiệp của nhà nước vào nền kinh te cho phù hợpvới năng lực quản lý và mức độ chi tiêu công tương ứng với từng hòan cảnh kinh tế cụthể Hiện tại sự cung cấp hàng hóa công đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn:
Mâu thuẫn giữa phạm vi cung cấp hàng hóa công quá rộng lớn trong khi nguồnlực tài chính công thì còn hạn hẹp
Mâu thuẫn giữa đơn vị cung cấp hàng hóa công còn nhỏ bé, chất lượng hànghóa kém, với nhu cầu ngày càng tăng về số lượng, chất luợng, chủng loại đa dạng vềhàng hóa công của xã hội
Trong khi đó, các đơn vị cung cấp hàng hóa công ở khu vực tư nhân còn nhỏ bé,non kém, chưa tương xứng với tiềm lực to lớn của xã hội, các tổ chức kinh tế trong vàngoài nước Như vậy, nếu không đẩy mạnh cải cách khu vực công một cách kiênquyết, sẽ làm suy yếu vai trò của nhà nước, không khơi dậy đuơc nguồn lực của khuvực tư nhân phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế
Trang 7CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CẢI CÁCH TÀI CHÍNH
CÔNG Ở VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2011
2.1 Lộ trình cải cách Thuế
Cải cách Thuế bước 1 (giai đoạn 1990-1995).
Cải cách thuế bước 1 của Việt Nam có thể được coi là bắt đầu kể từ năm 1989cùng với cuộc cải cách giá cả nhưng trên thực tế nhiều công trình nghiên cứu đồng ýlấy thời điểm năm 1990 làm năm bắt đầu cải cách Điều này do những chuyển biếnthực về mặt tư duy thực hiện trong việc thay thế những sắc thuế không còn phù hợpbằng các sắc thuế mới, chỉ được tiến hành từ năm 1990 trở đi
Sự cần thiết phải cải cách thuế.
Những sắc thuế cũ không còn phù hợp, tồn tại một số cơ chế mang tính phânbiệt đối xử Những tồn tại này của hệ thống thuế ngày càng ảnh hưởng đến sự pháttriển của nền kinh tế đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa, sang nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Do đó cần thiết phải thay đổi hệ thốngsắc thuế cũ nhằm phù hợp với nền kinh tế đa thành phần bằng việc thiết lập nền tảng
cơ bản cho khối kinh tế ngoài quốc doanh, đặc biệt là khuyến khích cá nhân bỏ vốnkinh doanh
Mục tiêu cải cách thuế.
- Phải làm cho thuế trở thành công cụ chủ yếu của Nhà nước trong quản lý vàđiều tiết vĩ mô nền kinh tế
- Thuế phải là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước
- Thuế phải đảm bảo sự bình đẳng giữa kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanhcũng như các thành phần kinh tế khác, điều tiết thu nhập, góp phần thực hiện côngbằng xã hội giữa các tầng lớp dân cư
- Thuế phải có tính pháp lý cao
Lộ trình cải cách thuế.
Trang 8Cụ thể hóa các tư tưởng chỉ đạo cải cách thuế như đã nêu, Việt Nam đã có những
nỗ lực đổi mới nhất định Lộ trình cải cách thuế Việt Nam bước 1 được thể hiện nhưsau:
Tháng 10/1990, Luật thuế tiêu thụ đặc biệt ra đời thay cho thuế hàng hóa Cùngtrong tháng này, Việt Nam bắt đầu áp dụng thuế doanh thu thay cho thuế kinh doanhkiểu cũ
Đối với khu vực kinh tế phi Nhà nước, từ tháng 10/1990 đã chuyển sang áp dụngthuế lợi tức kinh doanh Loại thuế này được áp dụng cho khu vực kinh tế Nhà nước bắtđầu từ tháng 1/1991
Tháng 4/1991, Pháp lệnh về thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được banhành
Tháng 3/1992, Việt Nam cho sửa đổi, bổ sung một cách đáng kể các loại thuế kinhdoanh và ban hành Pháp lệnh thuế tài nguyên
Những thay đổi trong luật thuế sử dụng đất nộng nghiệp được chính thức hóa vàonăm 1993 và được triển khai áp dụng rộng rãi
Những thay đổi nói trên không nằm ngoài các mục tiêu cải cách đã đề ra Kết quảcải cách thuế bước 1 cho thấy rằng đây là một hướng đi đúng, phù hợp với xu thế pháttriển, tuy gặp không ít khó khăn và kết quả đạt được còn có những hạn chế nhất định.Kết thức cải cách thuế bước thứ nhất, hệ thống thuế Việt Nam về cơ bản bao gồm
12 sắc thuế lớn và một số loại phí, lệ phí được trình bày trong bảng dưới đây, trong đómột số loại thuế trở thành nguồn thu chủ lực lúc bấy giờ là thuế doanh thu, thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế lợi tức Một số loại thuế mới hìnhthành trong kỳ cùng với sự xuất hiện của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoàiđược coi là tiến bộ vào đời điểm ấy nhưng trên thực tế ít phát huy tác dụng, điển hình
là thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài Thuế lợi tức tuy được coi là nguồn thu chủyếu nhưng đối với khu vực kinh tế nước ngoài vẫn chưa thể thu được như mong đợi,
do phần lớn các dự án đầu tư đều dang nằm trong thời kỳ ưu đãi về thuế
B ng: K t c u h th ng thu trong c i cách b c 1ảng: Kết cấu hệ thống thuế trong cải cách bước 1 ết cấu hệ thống thuế trong cải cách bước 1 ấu hệ thống thuế trong cải cách bước 1 ệ thống thuế trong cải cách bước 1 ống thuế trong cải cách bước 1 ết cấu hệ thống thuế trong cải cách bước 1 ảng: Kết cấu hệ thống thuế trong cải cách bước 1 ước 1
Thuế thu nhập đối với người có thu nhập caoThuế sử dụng đất nông nghiệp
199019901991199019901993
Trang 9Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoàiThuế môn bài
Thuế sát sinh
199219941990198719911991
Ngày nay, khi nhìn nhận kết quả cải cách thuế bước 1, hầu hết mọi người đềukhông phủ nhận kết quả tiến bộ của những nỗ lực này Đánh giá kết quả về cải cáchthuế bước 1, công trình nghiên cứu về lịch sử tài chính Việt Nam do viện Nghiên cứuTài chính (Bộ Tài chính)
Tuy mức độ đạt được của từng mục tiêu cải cách khác nhau nhưng về cơ bản việccải cách thuế bước 1 đã mang lại kết quả nhất định: Thuế bước đầu đã phát huy vai tròđiều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nguồn thu ngày càng to lớn cho ngân sách Nhà nước.Cải cách thuế bước 1 đã làm cho thuế có cơ sở Pháp luật vững chắc, áp dụng bìnhđẳng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, thay thế hẳn hệ thống thu
cũ, chủ yếu là thu quốc doanh, dựa chủ yếu trên những văn bản dưới luật và các pháplệnh (Hồ Xuân Hương và Nguyễn Công Nghiệp, 2001)
Cải cách Thuế bước 2 (giai đoạn 1996-2004).
Sự cần thiết phải cải cách thuế
Tuy được coi là tiến bộ, nhưng kết quả của cải cách bước 1 cho thấy vẫn cònnhững bất cập nhất định Các sắc thuế, dù đã được sửa đổi, bổ sung, vẫn chưa đạt đượcmục tiêu đơn giản và rõ ràng Hệ thống chính sách thuế còn chưa phù hợp với thông lệquốc tế, và chưa đảm bảo được tính tương thích với các nền kinh tế thị trường trongkhu vực Tình hình nền kinh tế Việt Nam đã thay đổi đáng kể và đang tăng trưởngnhanh chóng khi Việt Nam bước đầu tham gia vào các hiệp định thương mại Quốc tế
và song phương, và đang nỗ lực đàm phán gia nhập vào tổ chức Thương mại thế giớiWTO Chính điều này đã trở thành những tiền đề quan trọng đưa hệ thống thuế ViệtNam vào bước cải cách thuế thứ hai
Mục tiêu cải cách thuế.
Một là, cải cách thuế phải nhằm mục tiêu tiếp tục khắc phục cho được những
khiếm khuyết hiện hành, và đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ Công nghiệp hiện đại hóa theo chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đến năm 2010
Trang 10hóa-Hai là, về mục tiêu ngân sách, cải cách thuế không được làm giảm thu ngân sách
hang năm Điều này đòi hỏi ở một số loại thuế cần có thuế suất hợp lý và diện thuđược mở rộng theo hướng bồi dưỡng nguồn thu, tạo nguồn thu
Ba là, về mục tiêu chính sách, chính sách thuế mới phải góp phần quan trọng vào
việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, đảm bảo
sự bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các loại hình doanh nghiệp, các thành phần kinh tế
Bốn là, về mục tiêu hội nhập, hệ thống thuế Việt Nam phải đảm bảo từng bước phù
hợp với thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng quan hệ hợp tácgiữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới
Năm là, về mặt kỹ thuật, tính đơn giản và rõ rang của hệ thống thuế tiếp tục được
đề cao, đã có sự nhấn mạnh đến vấn đề khả thi của hệ thống thuế: “Chính sách thuếban hành là để người dân thực hiện, do vậy phải làm sao để giúp cho các đối tượngnộp thuế và người thu thuế có thể hiểu được thấu đáo chính sách thuế, từ đó mới gópphần làm cho họ tuân thủ, thực hiện chính sách thuế một cách đúng đắn và nghiêmchỉnh Hệ thống thuế đơn giản sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện dễ dàng, tinh giảnđược bộ máy quản lý và tiết kiệm được chi phí quản lý thuế”
Lộ trình cải cách thuế.
Thực hiện theo tinh thần chỉ đạo đã nêu, cải cách thuế bước 2 đã tiến hành một sốbước đi mang tính đột phá Đáng chú ý là đã xây dựng được một hệ thống luật tươngđối mới mẻ và hoàn thiện, tiến bộ hơn, trình Quốc hội thông qua và Chính phủ banhành trong đợt tháng 5/1997, bao gồm:
- Luật thuế giá trị gia tăng, có hiệu lực từ ngày 1/1/1999 thay cho luật thuế doanhthu
- Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho luật thuế lợi tức
- Luật thuế tiêu thụ đặc biệt
- Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thuấ xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Ngoài ra, trong đợt cải cách này cũng đã tiếp tục bãi bỏ một số sắc thuế, phí và lệphí không còn phù hợp như thuế sát sinh, thuế buôn chuyến…và sửa đổi, bổ sung hayban hành một số loại thuế và phí có tác kích thích mạnh mẽ đến các hoạt động kinh tếnhư thuế TNCN, thuế tài nguyên, thuế đất, thuế tài sản…
Điểm nhấn của cải cách thuế bước 2 là sự ra đời của thuế GTGT và thuế TNDNvới những ưu điểm hơn hẳn so với hai loại thuế mà chúng thay thế
Trang 11Thuế GTGT do Quốc hội ban hành năm 2008 là một loại thuế gián thu, chỉ đánhtrên phần giá trị tăng thêm của sản phẩm ở từng khâu sản xuất và luân chuyể Do vẩyviệc sử dụng sắc thuế này dể thay thế thuế doanh thu sé loại vỏ hoàn toàn tính chấttrùng lặp và chồng chéo của chính bản thân thuế doanh thu: vả lại trong điều kiệnkhuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu thì sử dụng thuế GTGT chính là mộtbiện pháp tốt Hơn nữa, cơ chế thu về lý thuyết cũng thể hiện biện pháp ngăn ngừa thấtthu thuế một cách hiệu quả.
Tại thời điểm được ban hành, thuế GTGT của Việt Nam có bốn mức thuế suất (sovới 11 mức thuế của thuế doanh thu thì đây cũng là một điểm tiến bộ), trong đó mứcthuế suất phổ biến là 10% bên cạnh mức 0% dành cho sản phẩm xuất khẩu và mức5%, 20%
Thuế TNDN: tuy thay thế cho thuế lợi tức nhưng về cơ bản cơ chế áp dụng cũngtương tự như thuế lợi tức, có điều phạm vi áp dụng của thuế này rộng hơn và bao quáthơn với mức thuế suất dành cho doanh nghiệp là 25% bên cạnh thuế suất ưu đãi
Đánh giá về cải cách thuế bước 2, cũng như các ý kiến nhận định trong tổng kết cảicách thuế bước 1, mọi người không thể phủ nhận thành quả đạt được Cải cách thuếbước 2 về cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu và hệ thống thuế góp phần to lớnvào việc gia tăng tiềm lực tài chính nhà nước
Tuy nhiên, có những nhược điểm cả hệ thống thuế được tổng kết khi kết thúc bướcthứ nhất còn chưa khắc phục được Do vậy, hệ thông thuế chưa thực sự phát huy đượcsức mạnh của một công cụ quản lý điều tiết chủ đạo của Nhà nước đối với nền kinh tế
Cải cách Thuế bước 3 (giai đoạn 2005-2010).
Sự cần thiết phải cải cách thuế.
Trước hết, do đất nước đang đẩy mạnh CNH-HĐH, nền kinh tế sẽ được xây dựng
trên nền tảng sản xuất công nghiệp hiện đại, quản lý theo yêu cầu hiện đại hoá: tin họchoá, tự động hoá Quản lý hoạt động của các doanh nghiệp, cũng như quản lý củaChính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ cũng phải sử dụng các công cụ hiện đại vàphương pháp quản lý hiện đại
Thứ hai, trong giai đoạn tới, yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng cao đòi hỏi chính
sách thuế phải tương đồng với quốc tế, cách thức quản lý phù hợp với các chuẩn mựcquản lý thuế quốc tế nhằm tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Trang 12và các nhà đầu tư trong nước ra nước ngoài Sự khác biệt giữa Việt Nam và các nướctiên tiến cả về chính sách thuế và nhất là cách quản lý thuế hiện nay còn có khoảngcách rất xa, bắt buộc ngành Thuế phải cải cách để tránh tụt hậu so với các nước trongkhu vực và nhằm nâng cao vị thế công tác quản lý thuế Việt Nam trên trường quốc tế.
Thứ ba, mặc dù đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong thời kỳ đổi mới, nhưng
công tác quản lý thuế vẫn còn nhiều bất cập trên tất cả các lĩnh vực từ thể chế đến cáchthức quản lý; quản lý thuế hầu hết dựa trên kinh nghiệm, chưa khoa học, chưa hợp lí
Mục tiêu cải cách thuế
Mục tiêu tổng quát
Xây dựng hệ thống chính sách thuế đồng bộ, có cơ cấu hợp lý phù hợp với nềnkinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, gắn với hiện đại hoá công tác quản lýthuế nhằm đảm bảo chính sách động viên thu nhập quốc dân, đảm bảo nguồn lực tàichính phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; góp phần thực hiệnbình đẳng, công bằng xã hội và chủ động trong hội nhập kinh tế quốc tế
Cơ cấu hệ thống thuế:
Cơ cấu hệ thống thuế trực thu-gián thu: xu hướng tăng tỉ lệ trực thu đồng thời giảm
tỉ lệ gián thu, nhưng do lựa chọn giữa 2 mục tiêu tăng NSNN và thực hiện công bằng
xã hội nên trước mắt cần hoàn thiện hệ thống thuế gián thu trước khi hoàn thiện hệthống thuế trực thu
Về cơ cấu định tính của hệ thống thuế, chú trọng thực hiện:
-Xây dựng luật thuế chống ô nhiễm môi trường, sắc thuế được coi là tiến bộ và phùhợp xu thế thời đại
-Sửa đổi, hoàn thiện thuế GTGT và bổ sung một số sắc thuế mới nhằm hỗ trợ nhưthuế doanh thu đối với các doanh nghiệp nhỏ, thuế kinh doanh đặc thù…
-Thống nhất thuế suất thuế TNDN, bỏ thuế chuyển lợi nhuận và thu nhập ra nướcngoài, sửa đổi toàn diện thuế TNCN
Trang 13-Điều chỉnh khác với chế độ thu sử dụng vốn nhà nước đã được bãi bỏ, nhằm đóntrước những diễn biến mới trong quá trình chuyển đổi cơ chế quản lý tài chính đối vớidoanh nghiệp nhà nước
-Ban hành sắc thuế mới với dầu khí và sản phẩm dầu khí
-Bỏ thuế sử dụng đất nông nghiệp, áp dụng đồng bộ thống nhất việc quản lý đấtnông nghiệp bằng các sắc thuế tài sản
-Chuyển lệ phí xăng dầu thành thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế chống ô nhiễm môitrường hay một sắc thuế độc lập
-Đổi mới công tác tổ chức thu, cách thức thu theo hướng thống nhất, liên thong trêntoàn quốc và bình đẳng đối với người sử dụng phương tiện giao thông
Mục tiêu, yêu cầu cụ thể
Chính sách thuế, phí và lệ phí phải được kiện toàn, đảm bảo các vai trò sau:
- Công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, động viênđược các nguồn lực, thúc đẩy phát triển nhanh sản xuất; khuyến khích xuất khẩu, đầu
tư đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đảm bảo cho nền kinh tế tăngtrưởng cao, bền vững, góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân
- Huy động đầy đủ các nguồn thu vào Ngân sách Nhà nước, đảm bảo nhu cầu chitiêu thường xuyên của Nhà nước và dành một phần cho tích luỹ phục vụ sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đảm bảo tỷ lệ động viên về thuế vào Ngânsách Nhà nước bình quân hàng năm đạt từ 20% - 21% GDP
- Thể hiện và tạo ra những nội dung cụ thể phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tếquốc tế, đồng thời bảo đảm được yêu cầu về bảo hộ có chọn lọc, có thời hạn, có điềukiện một cách hợp lý, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển,bảo đảm lợi ích quốc gia
- Tạo môi trường pháp lý bình đẳng, công bằng Áp dụng hệ thống thuế thống nhấtkhông phân biệt giữa các thành phần kinh tế cũng như giữa các doanh nghiệp trongnước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
- Đẩy mạnh cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai;tách chính sách xã hội ra khỏi chính sách thuế
Trang 14- Nhanh chóng hiện đại hoá và nâng cao năng lực của bộ máy quản lý thuế; khắcphục các hiện tượng tiêu cực, yếu kém làm cho bộ máy quản lý thuế trong sạch, vữngmạnh.
Lộ trình cải cách một số sắc thuế chủ yếu.
- Thuế giá trị gia tăng: Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng giảm bớt số lượngnhóm hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế tạo điều kiện cho việc tính thuế, khấu trừthuế được liên hoàn giữa các khâu trong quá trình sản xuất kinh doanh; áp dụng mộtmức thuế suất để đảm bảo công bằng về nghĩa vụ thuế và đơn giản trong việc tính thuếgiá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ; hoàn thiện phương pháp tính thuế, tiến tới xácđịnh ngưỡng doanh thu chịu thuế giá trị gia tăng để thực hiện một phương pháp tínhthuế khấu trừ, phù hợp với thông lệ quốc tế
- Thuế tiêu thụ đặc biệt: Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng mở rộng đốitượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, điều chỉnh thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt cho phùhợp với mục tiêu điều tiết thu nhập và hướng dẫn tiêu dùng Tiến tới xoá bỏ miễn,giảm thuế tiêu thụ đặc biệt để đảm bảo công bằng, bình đẳng về nghĩa vụ thuế vànguyên tắc không phân biệt đối xử giữa hàng hoá sản xuất trong nước và nhập khẩu
- Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu: Trong năm 2005 sẽ trình Quốc hội hoàn thiệnLuật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu theo hướng khuyến khích tối đa xuất khẩu; sửađổi các quy định về thuế suất, giá tính thuế, thời hạn nộp thuế để thực hiện cam kết vàthông lệ quốc tế; sửa đổi quy trình, thủ tục thu nộp thuế cho phù hợp với Luật hảiquan, góp phần tăng cường quản lý hoạt động xuất, nhập khẩu theo cam kết quốc tế
- Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế chống phân biệt đối xử: Dựkiến sẽ trình Quốc hội ban hành vào cuối năm 2005
- Thuế thu nhập doanh nghiệp: Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng giảm mứcthuế suất, giảm diện miễn, giảm thuế; thống nhất mức thuế suất và ưu đãi thuế giữacác thành phần kinh tế để khuyến khích đầu tư và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh
- Thuế thu nhập cá nhân: Đến năm 2007 sẽ trình Quốc hội ban hành Luật thuế thunhập cá nhân thay thế cho Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiệnhành theo hướng mở rộng đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, thu hẹp sự khácbiệt giữa đối tượng nộp thuế là người Việt Nam và người nước ngoài
Trang 15- Thuế sử dụng đất, thuế tài nguyên: Đến năm 2008 sẽ hoàn thiện theo hướng mởrộng đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế.
- Thuế bảo vệ môi trường: Đến năm 2008 sẽ trình Quốc hội ban hành Luật thuế bảo
vệ môi trường theo hướng đối tượng chịu thuế là các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ gây
ô nhiễm môi trường; căn cứ tính thuế được xác định phù hợp với từng loại hàng hoá,dịch vụ gây ô nhiễm môi trường Nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường chỉ dành đểdùng cho bảo vệ môi trường, không dùng cho việc khác
- Thuế tài sản: Đến năm 2008 sẽ trình Quốc hội ban hành Luật thuế tài sản theohướng mở rộng đối tượng tài sản chịu thuế để bảo đảm công bằng giữa các tổ chức, cánhân có quyền sở hữu, sử dụng tài sản
- Về phí, lệ phí được sắp xếp lại theo hướng: Tiếp tục rà soát, bãi bỏ hoặc sửa đổicác loại phí, lệ phí không hợp lý, gây phiền hà cho sản xuất và đời sống Các loại phíthu do cung cấp dịch vụ công sẽ chuyển dần sang giá dịch vụ, các loại phí mang tínhchất thuế chuyển thành thuế Thống nhất mức thu phí, lệ phí đối với tổ chức, cá nhântrong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài để thực hiện công bằng xã hội
Cải cách chi tiêu công và hệ thống định mức chi tiêu công
Hoàn thiện cơ chế quản lý, cấp phát, thanh toán chi NSNN
Hoàn thiện hệ thống định mức chi tiêu công
Hoàn thiện môi trường pháp lý về tài chính công
2.2 Đánh giá tình hình thực hiện cải cách Thuế
2.2.1 Thành tựu đạt được trong việc cải cách thuế
Có thể nói từ năm 1990 đến nay, khi điều hành cải cách hệ thống thuế, tình hìnhtrong nước và thế giới có nhiều yếu tố không thuận lợi Nhằm bảo đảm được nhữngmục tiêu lớn đặt ra trong quá trình cải cách, toàn ngành thuế đã nỗ lực xây dựng một
hệ thống chính sách, một cơ chế quản lý phù hợp yêu cầu thời kỳ mới
Ðến nay, đã xây dựng một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết cácnguồn thu, áp dụng thống nhất đối với mọi thành phần kinh tế, từng bước thích ứngyêu cầu chuyển đổi nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng XHCN Hệ thốngchính sách thuế mới gồm chín sắc thuế cơ bản và một số loại thu dưới hình thức phí và
Trang 16thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, bảo hộsản xuất trong nước, từ đó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm và tăngthu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo.
Tổng thu thuế và phí luôn hoàn thành vượt mức dự toán thu hằng năm được Quốchội thông qua, đạt tốc độ tăng trưởng cao Năm 2000 tăng 13,7 lần so với năm 1990
Số thu về thuế và phí trong tổng thu NSNN năm 1990 chỉ chiếm 76,78%, đến năm
2003 đã chiếm 92,9% Tỷ lệ động viên qua thuế và phí/GDP đã đạt và vượt mục tiêu
đề ra, đến năm 2003 đạt 21,8% GDP Hệ thống chính sách thuế mới cũng đã xóa bỏ sựchênh lệch về nghĩa vụ thuế giữa các thành phần kinh tế, tạo môi trường cạnh tranhbình đẳng trong cơ chế thị trường