1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính

38 690 16

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 221 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiểm toán viên của từng đơn vị kiểm toánphải có đầy đủ năng lực chuyên môn và tư cách đạo đức nghề nghiệp để thực hiện hoạtđộng xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực, hợp lý của t

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hoạt động kiểm toán là một hoạt động độc lập, trong quá trình kiểm toán, KTVluôn luôn phải tôn trọng nguyên tắc trung thực, khách quan, tuân thủ pháp luật và cácchuẩn mực nghề nghiệp Do vậy, mọi hoạt động của kiểm toán phải được thể chế hóabằng các văn bản pháp luật hoặc được pháp luật thừa nhận Bất kỳ một cuộc kiểm toánnào cũng được thực hiện theo trình tự thống nhất, trong đó kế hoạch kiểm toán là bướcđầu tiên của quy trình kiểm toán Kế hoạch kiểm toán bao gồm các nội dung công việcđược kiểm toán theo phương pháp kiểm toán phù hợp với chi phí về vật chất, thời gian

và số lượng KTV cần thiết

Kế hoạch kiểm toán đúng đắn là cơ sở để KTV thu thập bằng chứng có giá trị,góp phần đưa ra các nhận xét xác đáng về thực trạng hoạt động được kiểm toán, giữvững và nâng cao uy tín hình ảnh Công ty kiểm toán đối với khách hàng Vì vậy, việcnghiên cứu lý luận và tìm hiểu thực tiễn công tác lập kế hoạch kiểm toán để tìm ra cácvấn đề tồn tại và đưa ra hướng khắc phục là một điều cần thiết

Nắm bắt được vấn đề này, em đã chọn đề tài của đề án môn học là: “Lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính”

Ngoài lời mở đầu và kết luận, đề án gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính

Chương 2 : Thực trạng về lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam

Chương 3 : Nhận xét chung và các giải pháp đề xuất nhằm nâng cao chất lượng của lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam

Trang 2

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LẬP KẾ HOẠCH KIỂM

TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1 TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chung và mục tiêu kiểm toán tài chính

Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán và nằm trong hệthống kiểm toán nói chung Các tác giả Alvin A.Arens và James K.Loebbecke trongcuốn sách Auditing An Integrated Approach đã nêu ra định nghĩa chung về kiểm toán

như sau: "Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập thu thập và đánh giá các

bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”.

Theo định nghĩa của Liên đoàn Kế toán quốc tế (IFAC) "Kiểm toán là việc các

kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính".

Và theo quan điểm hiện đại, kiểm toán được mở rộng hơn: “Kiểm toán là xác

minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng hoạt động cần được kiểm toán bằng hệ thống phương pháp kỹ thuật của kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ do các kiểm toán viên có trình độ nghiệp vụ tương xứng thực hiện trên cơ sở hệ thống pháp lý

có hiệu lực”.

Kiểm toán tài chính chứa đựng đầy đủ “sắc thái kiểm toán” ngay từ khi ra đờicũng như trong quá trình phát triển Đặc trưng cơ bản của kiểm toán tài chính bắtnguồn từ chính đối tượng kiểm toán tài chính và từ quan hệ chủ thể - khách thể kiểmtoán Mối quan hệ giữa kiểm toán tài chính với toàn bộ hệ thống kiểm toán là mốiquan hệ giữa cái riêng và cái chung: cái riêng nằm trong cái chung song cái chungkhông bao trùm toàn bộ cái riêng Do vậy, kiểm toán tài chính đã có đặc điểm riêngngay trong đặc điểm chung của kiểm toán như mục tiêu, chức năng, đối tượng, phươngpháp đến tổ chức kiểm toán

Đối tượng cụ thể của kiểm toán tài chính là các Bảng khai tài chính, bộ phậnquan trọng của những bảng khai này là Báo cáo tài chính (BCTC), theo bách khoa toànthư mở Wikipedia “Báo cáo tài chính là các báo cáo kế toán cung cấp các thông tin vềtình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp đáp ứngcác cầu cho những người sử dụng chúng trong việc đưa ra các quyết định về kinh tế”

Trang 3

Ngoài ra, Bảng khai tài chính còn bao gồm những bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng

kê khai tài sản đặc biệt, các bảng kê khai theo yêu cầu của chủ đầu tư, các bảng quyếttoán công trình…

Chủ thể của kiểm toán trong kiểm toán BCTC là kiểm toán nhà nước(KTNN),kiểm toán độc lập hay kiểm toán nội bộ Kiểm toán viên của từng đơn vị kiểm toánphải có đầy đủ năng lực chuyên môn và tư cách đạo đức nghề nghiệp để thực hiện hoạtđộng xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực, hợp lý của thông tin trình bày trêncác bảng khai tài chính xét trên khía cạnh trọng yếu và sự tuân thủ các quy tắc chuẩnmực trong việc lập các BCTC nhằm đạt được mục tiêu kiểm toán Mục tiêu của kiểmtoán tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhậnrằng Báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành

có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnhtrọng yếu hay không Mục tiêu của kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị đượckiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót nhằm khắc phục và nâng cao chất lượng thôngtin tài chính của đơn vị

Mục tiêu của kiểm toán tài chính gồm có 2 loại mục tiêu: mục tiêu chung vàmục tiêu đặc thù Các mục tiêu kiểm toán chung lại được chia thành 2 loại cụ thể là sựhợp lý chung và các mục tiêu khác Mục tiêu đặc thù được xác định trên cơ sở mụctiêu chung và đặc điểm của từng khoản mục hay phần hành cùng cách phản ánh theodõi chúng trong hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) Theo đó mỗimục tiêu chung lại có ít nhất một mục tiêu kiểm toán đặc thù

1.1.2 Phương pháp kiểm toán trong kiểm toán tài chính

Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiểm toán bởi nó chứa đựngđầy đủ sắc thái “kiểm toán” ngay từ khi ra đời cũng như trong quá trình phát triển Đặctrưng cơ bản đó của kiểm toán tài chính bắt nguồn từ chính đối tượng kiểm toán tàichính và từ quan hệ chủ thể - khách thể kiểm toán Cũng như mọi loại hình kiểm toánkhác, để thực hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sửdụng các phương pháp kiểm toán chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đốichiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, điều tra, trắc nghiệm) Tuy nhiên, domỗi loại kiểm toán có chức năng cụ thể khác nhau, đối tượng cụ thể khác nhau và quan

hệ chủ thể khách thể kiểm toán khác nhau nên trong kiểm toán tài chính cách thức kếthợp các phương pháp cơ bản trên cũng có những điểm đặc thù Xét theo chức năngchung của kiểm toán, kiểm toán tài chính hướng tới việc bày tỏ các ý kiến trên cơ sở các

Trang 4

bằng chứng kiểm toán, để có được các bằng chứng này, kiểm toán tài chính cần triểnkhai các phương pháp cơ bản trong từng tình huống cụ thể, được gọi là phương pháp thuthập bằng chứng kiểm toán Xét trên góc độ quá trình ghi chép xử lý, kiểm soát cácnghiệp vụ kinh tế phát sinh để phản ánh vào BCTC, chia ra hai loại phương pháp kiểmtoán đó là phương pháp kiểm toán cơ bản và phương pháp kiểm toán tuân thủ.

Phương pháp kiểm toán cơ bản (thử nghiệm cơ bản)

Thử nghiệm cơ bản là thử nghiệm then chốt và có trong mọi cuộc kiểm toán tàichính song không phải chúng được thực hiện với mọi khoản mục trong mọi mối quan

hệ Thực tế, mối quan hệ tạo khả năng cho việc giảm tối đa các thử nghiệm cơ bản.Hơn nữa, nếu nghiệm thấy các thông tin trên bảng khai tài chính đáng tin cậy thìkhông đòi hỏi phải thực hiện số lớn các thử nghiệm cơ bản

Phương pháp kiểm toán tuân thủ (thử nghiệm kiểm soát)

Thử nghiệm kiểm soát là phương pháp kiểm toán được thiết kế và sử dụng để thuthập các bằng chứng về tính thích hợp và hiệu quả của hệ thống KSNB Đặc trưng cơbản của phương pháp này là mọi thử nghiệm phân tích, đánh giá và kiểm tra đều dựavào quy chế KSNB của doanh nghiệp Do đó, điều kiện áp dụng đối với phương phápnày là hệ thống KSNB phải tồn tại và được đánh giá là hoạt động có hiệu lực Phươngpháp kiểm toán tuân thủ gồm kỹ thuật kiểm tra hệ thống và thử nghiệm chi tiết vềkiểm soát Trong quá trình thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên (KTV) luôn phải kếthợp chặt chẽ hai phương pháp này Khi hệ thống KSNB tồn tại và được đánh giá làhoạt động có hiệu lực, thử nghiệm cơ bản với số lượng ít vẫn cần được thực hiện.Trong trường hợp ngược lại, hệ thống KSNB của khách thể kiểm toán không tồn tạihoặc được đánh giá là hoạt động không có hiệu lực thì kiểm toán tài chính không thựchiện kiểm toán tuân thủ Khi đó, các thử nghiệm cơ bản sẽ được tăng cường với quy

mô đủ lớn để đảm bảo độ tin cậy vào các kết luận kiểm toán

1.1.3 Trình tự kiểm toán tài chính

Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm toáncũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ và có giá trị làm căn cứ cho kếtluận của KTV về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên BCTC, cuộc kiểm toánđược tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn

- Giai đoạn 1 : Lập kế hoạch kiểm toán và thiết kế phương pháp kiểm toán

- Giai đoạn 2 : Thực hiện kế hoạch kiểm toán

- Giai đoạn 3 : Hoàn thành kiểm toán và công bố Báo cáo kiểm toán

Trang 5

Giai đoạn 1: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán

Từ thư mời kiểm toán, KTV tìm hiểu khách hàng với mục đích hình thành hợpđồng hoặc kế hoạch chung cho cuộc kiểm toán Tiếp đó, KTV cần thu thập thông tin

về khách hàng, tìm hiểu và đánh giá hệ thống KSNB của khách thể kiểm toán để xâydựng kế hoạch cụ thể và chương trình kiểm toán cho từng phần hành, đồng thời chuẩn

bị các phương tiện cùng lực lượng giúp việc cho việc triển khai kế hoạch và chươngtrình kiểm toán đã xây dựng

Giai đoạn 2: Thực hiện kế hoạch kiểm toán

Đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm vào việc xác minh các thông tin hìnhthành và phản ánh trên bảng khai tài chính Trình tự kết hợp các trắc nghiệm này trướchết tùy thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống KSNB ở bước 1 Nếu hệ thống KSNBđược đánh giá là không có hiệu lực thì các trắc nghiệm vững chãi sẽ được thực hiệnvới số lượng lớn Ngược lại, nếu hệ thống KSNB được đánh giá là có hiệu lực thìtrước hết trắc nghiệm đạt yêu cầu sẽ được sử dụng để xác định khả năng sai phạm vàtiếp đó các trắc nghiệm vững chãi được áp dụng để xác minh những sai sót có thể có.Nếu trắc nghiệm đạt yêu cầu lại cho kết quả là hệ thống KSNB không có hiệu lực thìtrắc nghiệm vững chãi sẽ lại thực hiện với số lượng lớn

Giai đoạn 3: Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán

Kết quả các trắc nghiệm trên phải được xem xét trong quan hệ hợp lý chung vàkiểm nghiệm trong quan hệ với sự việc bất thường, những nghiệp vụ phát sinh saungày lập bảng khai tài chính Chỉ trên cơ sở đó mới đưa ra được kết luận cuối cùng vàlập báo cáo kiểm toán

1.2 LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN TRONG CHU TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.2.1 Vai trò và trình tự lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

1.2.1.1.Khái niệm

Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các KTV cần thực hiện trongmỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng như những điều kiện cầnthiết khác cho kiểm toán Lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầuchính của cuộc kiểm toán để chuẩn bị các điều kiện cơ bản cho cuộc kiểm toán mà còn

là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã được quy định thành chuẩn mực cóvai trò quan trọng chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm

Trang 6

1.2.1.2 Vai trò của lập kế hoạch kiểm toán

Xem xét tầm quan trọng của một cuộc kiểm toán trong nền kinh tế có thể nhậnthấy vai trò lớn nhất của việc lập kế hoạch kiểm toán là giúp cho KTV thu thập bằngchứng kiểm toán đầy đủ, hiệu lực để đưa ra kết luận về báo cáo tài chính, từ đó giúpKTV có thể hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách nhiệm pháp lý, đồng thời cũngnâng cao hiệu quả công việc và giữ uy tín nghề nghiệp đối với khách hàng

Có thể nhận thấy, kế hoạch kiểm toán cũng giúp cho KTV phối hợp hiệu quảvới nhau và các bộ phận liên quan như: KTV nội bộ, và các chuyên gia bên ngoài…Đồng thời qua đó KTV có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lậpvới các chi phí và thời gian ở mức hợp lý, tăng cường sức cạnh tranh cho Công tykiểm toán và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài nhất là tronggiai đoạn nền kinh tế cạnh tranh gay gắt, các công ty kiểm toán ngày càng nhiều và uytín là then chốt để tăng cường sức mạnh của công ty kiểm toan

Hơn thế nữa, khi xem xét kỹ, kế hoạch kiểm toán thích hợp sẽ là căn cứ đểCông ty kiểm toán tránh xảy ra những bất đồng với khách hàng và là minh chứng rõràng để khẳng định cuộc kiểm toán đã được tiến hành hợp lý và hiệu quả trên cơ sở kếhoạch kiểm toán đã lập KTV thống nhất với khách hàng về nội dung công việc đã thựchiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như trách nhiệm của mỗi bên

Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập KTV có thể kiểm soát vàđánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện góp phần nâng cao chấtlượng và hiệu quả của các cuộc kiểm toán Mặt khác, phạm vi kế hoạch kiểm toán cóthể thay đổi tùy theo quy mô khách hàng, tính chất phức tạp của công việc kiểm toán,kinh nghiệm và những hiểu biết của KTV về đơn vị và hoạt động của đơn vị đượckiểm toán.

1.2.1.3 Các loại kế hoạch trong kiểm toán tài chính

Kế hoạch kiểm toán gồm ba bộ phận: Kế hoạch chiến lược, kế hoạch kiểm toántổng thể, chương trình kiểm toán

Lập kế hoạch chiến lược

Kế hoạch chiến lược phải được lập cho các cuộc kiểm toán lớn về quy mô, tínhchất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán BCTC của nhiều năm Tuy nhiên, theo yêucầu quản lý của mình, Công ty kiểm toán có thể lập kế hoạch chiến lược cho các cuộckiểm toán không có những đặc điểm nêu trên.Kế hoạch chiến lược phải do người phụ

Trang 7

trách cuộc kiểm toán lập và được Giám đốc hoặc người đứng đầu Công ty kiểm toánphê duyệt

Lập kế hoạch tổng thể

Kế hoạch kiểm toán tổng thể phải được lập cho mọi cuộc kiểm toán, trong đó mô

tả phạm vi dự kiến và cách thức tiến hành công việc kiểm toán Kế hoạch kiểm toántổng thể phải đầy đủ, chi tiết làm cơ sở để lập chương trình kiểm toán Hình thức vànội dung của kế hoạch kiểm toán tổng thể thay đổi tuỳ theo qui mô của khách hàng,tính chất phức tạp của công việc kiểm toán, phương pháp và kỹ thuật kiểm toán đặcthù do kiểm toán viên sử dụng

Thiết kế chương trình kiểm toán:

Do mỗi phần hành kiểm toán có vị trí, đặc điểm khác nhau nên phạm vi, loại hìnhkiểm toán cũng khác nhau dẫn đến số lượng và thứ tự các bước kể từ điểm bắt đầu đếnđiểm kết thúc công việc kiểm toán và xây dựng qui trình kiểm toán riêng cho từngnghiệp vụ.Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểmtoán cần thực hiện, thời gian hoàn thành, sự phân công lao động giữa các KTV cũngnhư dự kiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu thập Trọng tâmcủa chương trình kiểm toán là các thủ tục kiểm toán cần thực hiện đối với từng khoảnmục hay bộ phận được kiểm toán

1.2.2 Lập kế hoạch chiến lược

1.2.2.1.Vai trò của lập kế hoạch chiến lược

Lập kế hoạch chiến lược là bước đầu tiên mà KTV và Công ty kiểm toán cầnthực hiện trong các cuộc kiểm toán kế hoạch chiến lược bao gồm những định hướng

cơ bản, nội dung trọng tâm và phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấpchỉ đạo vạch ra dựa trên hiểu biết về tình hình kinh doanh hoạt động và môi trườngkinh doanh của đơn vị được kiểm toán Nó phải được lập cho các cuộc kiểm toán lớn

về quy mô, tính chất phức tạp, địa bàn rộng hoặc kiểm toán BCTC của nhiều năm Lập

kế hoạch chiến lược đóng vai trò cơ bản trong quy trình lập kế hoạch kiểm toán

Kế hoạch chiến lược có được sử hiểu biết một cách tổng quát về đơn vị đượckiểm toán, là cơ sở để ra quyết định kiểm toán, từ đó trưởng nhóm kiểm toán có kếhoạch cụ thể thực hiện cuộc kiểm toán, việc phân bổ tổ, nhóm kiểm toán một cách rõràng thuận tiện cho việc kiểm toán cũng như chỉ đạo kiểm toán của trưởng nhóm

Thông qua đó, quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm toán sẽ được tiến hành đúng dựkiến theo một trật tự và phạm vi được xác định, tiết kiệm thời gian

Trang 8

Hơn nữa, kế hoạch chiến lược có phương pháp, kỹ thuật kiểm toán phù hợp vớitừng loại công việc đã được dự tính từ trước.

Và cuối cùng, kê hoạch chiến lược giúp xác định thời gian và số lượng KTV cầnthực hiện cho toàn bộ cuộc kiểm toán

1.2.2.2 Nội dung của lập kế hoạch chiến lược

Qua tổng hợp nhiều tài liệu có thể tạm chia nội dung và các bước công việc của

kế hoạch chiến lược bao gồm:

Bước 1: Tìm hiểu tình hình kinh doanh của khách hàng (tổng hợp thông tin về

lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổchức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị) đặc biệt lưu ý tới những nộidung chủ yếu như: Động lực cạnh tranh, phân tích thái cực kinh doanh của doanhnghiệp cũng như các yếu tố về sản phẩm, thị trường tiêu thụ, giá cả và các hoạt động

hỗ trợ sau bán hàng…

Bước 2: Xác định những vấn đề liên quan đến BCTC như chế độ kế toán, chuẩn

mực kế toán áp dụng, yêu cầu về lập BCTC và quyền hạn của Công ty

Bước 3: Xác định vùng rủi ro trọng yếu của doanh nghiệp và ảnh hưởng của nó

tới BCTC

Bước 4: Đánh giá hệ thống KSNB

Bước 5: Xác định các mục tiêu kiểm toán trọng tâm và phương pháp tiếp cận

kiểm toán

Bước 6: Xác định nhu cầu về sự hỗ trợ của các chuyên gia: Chuyên gia tư vấn

pháp luật, KTV nội bộ, KTV khác và các chuyên gia khác như kỹ sư xây dựng, kỹ sưnông nghiệp…

Bước 7: Dự kiến nhóm trưởng và thời gian thực hiện

Bước 8: Giám đốc duyệt và thông báo kế hoạch chiến lược cho nhóm kiểm toán.

Căn cứ kế hoạch chiến lược đã được duyệt, trưởng nhóm kiểm toán lập kế hoạch kiểmtoán tổng thể và chương trình kiểm toán

1.2.3 Lập kế hoạch tổng thể

Kế hoạch kiểm toán tổng thể thực tế là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược vàphương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của các thủtục kiểm toán Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là để có thể thực

hiện công việc kiểm toán một cách có hiệu quả và theo đúng thời gian dự kiến”.

Trang 9

Việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể thường được triển khai qua các bước chitiết sau:

Sơ đồ 1: các bước của quá trình lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính

(nguồn : giáo trình kiểm toán tài chính – trường ĐHKTQD)

1.2.3.1 Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán

Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán là bước công việc đầu tiên của một quy trình kiểmtoán nhằm tạo ra các điều kiện cơ bản khác để tiến hành một cuộc kiểm toán Do đóchuẩn bị là hết sức quan trọng và là bước quyết định hiệu quả, hiệu năng và chất lượngcủa một cuộc kiểm toán

Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán

Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận hay tiếp tục một khách hàng cólàm tăng rủi ro cho hoạt động của KTV hay làm hại đến uy tín và hình ảnh của công tykiểm toán hay không? Để làm rõ điều đó, KTV cần tiến hành các công việc như sau:Đầu tiên, KTV tiến hành xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng khi đánh giá khảnăng chấp nhận kiểm toán Một trong 5 bộ phận của hệ thống kiểm soát chất lượngđược xác định là việc thiết lập các chính sách và thủ tục về khả năng chấp nhận và tiếp

Thu thập thông tin cơ sở

Thu thập thông tin pháp lý của khách hàng và thực hiện thủ tục phân tích

Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Tìm hiểu hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm toán

Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán

Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình kiểm toán

Trang 10

tục khách hàng cũng như chấp nhận và tiếp tục hợp đồng kiểm toán Và các chính sáchthủ tục đó phải đảm bảo thích đáng rằng khả năng chấp nhận một khách hàng có banquản lý thiếu liêm chính là nhỏ nhất.

Kế đến, KTV cũng nên tiến hành xem xét tính liêm chính của Ban Giám đốccông ty khách hàng: trong nhiều trường hợp, tính liêm chính của ban quản trị là bộphận cấu thành then chốt của môi trường kiểm soát, đây là nền tảng cho tất cả các bộphận khác của hệ thống kiểm soát nội bộ Vì vậy, tính liêm chính của ban quản trịquan trọng đối với quy trình kiểm toán bởi lẽ Ban quản trị có thể phản ánh sai cácnghiệp vụ hoặc dấu diếm các thông tin dẫn tới các sai sót trọng yếu trên BCTC

Cuối cùng, KTV nên liên lạc với KTV tiền nhiệm Đối với các khách hàng tiềmnăng nếu khách hàng này trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toánkhác thì KTV mới phải chủ động liên lạc với KTV cũ Đây là nguồn thông tin đầu tiên

để đánh giá khách hàng Chuẩn mực kiểm toán yêu cầu KTV kế tục phải liên lạc vớiKTV tiền nhiệm về những vấn đề lien quan đến việc KTV kế tục có chấp nhận hợpđồng kiểm toán hay không (gồm các thông tin về tính liêm chính của ban quản trị,những bất đồng giữa ban quản trị với KTV) Ngoài ra, KTV có thể xem xét hồ sơ kiểmtoán của KTV tiền nhiệm để hỗ trợ cho KTV kế tục trong việc lập kế hoạch kiểm toán.Đối với những khách hàng mà trước đây chưa từn được công ty kiểm toán nào kiểmtoán thì để có thông tin về khách hàng, KTV có thể thu thập các thông tin này qua việcnghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, thẩm tra các bên thông tin về khách hàngsắp tới như ngân hàng, cố vấn pháp lý thậm chí có thể thuê các nhà điều tra chuyênnghiệp để điều tra về vấn đề cần thiết khác Đối với khách hàng cũ, hàng năm KTVcập nhật thông tin về khách hàng và đánh giá xem liệu có rủi ro nào khiến KTV phảingừng cung cấp các dịch vụ kiểm toán cho họ hay không

Nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng

Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việcxác định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ Để biết được điều

đó, KTV có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoăc dựa vào kinhnghiệm của cuộc kiểm toán đã được thực hiện trước đó Việc xác định ngưới sử dụngBCTC và mục đích sử dụng báo cáo của họ là hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sốlượng bằng chứng phải thu thập và mức độ chính xác của các ý kiến mà KTV đưa ratrong báo cáo kiểm toán Cụ thê, nếu các BCTC cần được sử dụng rộng rãi thì mức độtrung thực, hợp lý của các thông tin trên BCTC được đòi hỏi càng cao và do đó sốlượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập cũng như quy mô và độ phức tạp của cuộckiểm toán sẽ tăng lên

Trang 11

Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán

Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho cuộc kiểm toán không chỉhướng tới hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các chuẩn mực kiểm toánchung được thừa nhận (GAAS) Do đó, khi phân công KTV, Công ty kiểm toán cầntuân thủ yêu cầu trên Ngoài ra, đối với khách hàng lâu năm, Công ty kiểm toán nênhạn chế việc thường xuyên thay đổi KTV nhằm giúp cho họ nắm vững được những nétđặc thù trong kinh doanh, duy trì mối liên hệ giữa hai bên Mặt khác, Công ty kiểmtoán phải có chính sách luân chuyển KTV để tránh việc quá quen thuộc với kháchhàng dễ dẫn tới sự nhàm chán và kiểm tra theo lối mòn, hoặc mất đi tính khách quan,độc lập…

Hợp đồng kiểm toán

Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và kháchhàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác Thực tế, hợp đồngkiểm toán bao gồm một số nội dung chủ yếu :

Đầu tiên là mục đích và phạm vi kiểm toán: Mục tiêu của cuộc kiểm toán là cáiđích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả của mỗi cuộc kiểm toán cụ thể Thêmvào đó, phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượngkiểm toán, thường được xác định cùng với việc xác định mục tiêu của cuộc kiêm toán.Thứ hai là trách nhiêm Ban giám đốc công ty khách hàng và KTV; Ban giám đốc cótrách nhiệm trong việc lập và trình bày trung thực thông tin trên BCTC, KTV có tráchnhiệm đưa ra ý kiến độc lập về báo cáo tài chính dựa trên kết quả của cuộc kiểm toán Thứ ba là hình thức thông báo kết quả kiểm toán: kết quả kiểm toán thường đượcbiểu hiện cụ thể dưới một báo cáo kiểm toán

Thứ tư, thời gian tiến hành cuộc kiểm toán (thời gian thực hiện kiểm toán sơ bộ,kiểm toán chính thức, thời điểm kết thúc kiểm toán và phát hành báo cáo)

Thứ năm, căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán phí kiểmtoán thường được BCTC xác định căn cứ vài thời gian làm việc của các cấp bậc KTVkhác nhau trong cuộc kiểm toán

Cuối cùng, xác định rằng KTV không chịu trách nhiệm những sai sót do bản chất

và hạn chế vốn có của hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và kiểm toán

1.2.3.2 Thu thập thông tin cơ sở

Tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng

Để thực hiện được kiểm toán BCTC, KTV phải có hiêu biết về tình hình kinhdoanh đủ để nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của

Trang 12

đơn vị được kiểm toán mà đánh giá của kiểm toán viên có thể ảnh hưởng trọng yếuđến BCTC, đến việc kiểm tra của KTV hoặc đến báo cáo kiểm toán Điều này rất cầnthiết khi kiểm toán viên thực hiện kiểm toán với tính thận trọng nghề nghiệp đúngmức Mỗi ngành có những hệ thống kế toán riêng và áp dụng những nguyên tắc kếtoán đặc thù Thêm vào đó, tầm quan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng thay đổitheo ngành kinh doanh của khách hàng Những hiểu biết về ngành nghề kinh doanhbao gồm những hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị kiểmtoán KTV còn phải hiểu cả những khía cạnh đặc thù của một tổ chưc cụ thể như; cơcấu tổ chức, dây chuyền và các dịch vụ sản xuất KTV có thể có được hiểu biết nàybằng nhiều cách nhưng phương pháp thường được sử dụng nhiều nhất là trao đổi vớicác KTV, những người đã tiến hành kiểm toán cho khách hàng những năm trước hoặc

đã kiêm toán cho khách hàng khác trong cùng ngành

Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung

Các hồ sơ năm trước thường chứa đựng rất nhiều thông tin khách hàng, về côngviệc kinh doanh, cơ cấu tổ chức, điều lệ Công ty, chính sách tài chính kế toán…Ngoài

ra, đa phần các Công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối vớimỗi khách hàng Qua đó KTV sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về công việc kinhdoanh của khách hàng Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của Công ty là rất cầnthiết nhằm xác định các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp, với cácchính sách hiện hành của Công ty hay không mà còn giúp KTV hiểu được bản chấtcủa các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên BCTC được kiểm toán

Tham quan nhà xưởng

Việc tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp các hoạt động sản xuất kinh doanh(SXKD) của khách hàng sẽ cung cấp cho KTV những nhận định trực tiếp về quy trìnhSXKD của khách hàng và qua đó cho KTV một cái nhìn tổng thể về công việc kinhdoanh của khách hàng Cách nhìn thực tế về các phương tiện vật chất giúp cho việchiểu được công tác bảo vệ tài sản và tạo điều kiện cho việc thuyết minh số liệu kếtoán, phát hiện những vấn đề cần quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ đọng, máymóc lạc hậu hay không được phát huy hết công suất…Ngoài ra, KTV cũng có đượcnhận định ban đầu về phong cách quản lý của ban giám đốc, tính hệ thống trong sắpđặt, tổ chức công việc…

Nhận diện các bên liên quan

Các bên được coi là liên quan nếu một bên có khả năng kiểm soát hoặc có ảnhhưởng đáng kể đối với bên kia trong việc ra quyết định tài chính và hoạt động Theonguyên tắc kế toán đã được thừa nhận bản chất mối quan hệ giữa các bên hữu quan

Trang 13

phải được tiết lộ trên sổ sách, báo cáo và qua mô tả các nghiệp vụ kinh tế gồm cả sốtiền và số tiền nợ hoặc bị nợ của các bên đối tác có liên quan Do vậy, KTV phải xácđịnh các bên hữu quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này ngay trong giai đoạnlập kế hoạch thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông sổ theo dõikhách hàng…từ đó bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên hữuquan để có thể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp.

Dự đoán nhu cầu chuyên gia bên ngoài

Thuật ngữ “chuyên gia” chỉ một người hoặc một văn phòng có năng lực hiểu biếttrong một lĩnh vực riêng ngoài lĩnh vực kế toán và kiểm toán Nếu Công ty kiểm toáncho rằng không ai trong nhóm kiểm toán có chuyên môn hay có khả năng về lĩnh vựcnào đó để thực hiện những thủ tục kiểm toán cần thiết nhất định thì công ty kiểm toán

có thể quyết định sử dụng chuyên gia bên ngoài, KTV nên xem xét mối quan hệ giữachuyên gia với khách hàng, những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan củachuyên gia đó

1.2.3.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng

Nếu các thông tin cơ sở thu thập ở trên giúp KTV hiểu được về các hoạt độngkinh doanh của khách hàng thì việc thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của kháchhàng giúp cho KTV nắm được các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến cáchoạt động kinh doanh này Có 3 loại thông tin có liên quan đến trách nhiệm pháp lýcủa đơn vị được kiểm toán:

Thông tin thứ nhất là các thông tin về sự hiện diện hợp pháp và quy định cho hoạtđộng kinh doanh của đơn vị được kiểm toán

Thứ hai là các quy định về điều lệ quy chế hoạt động của đơn vị không được tráivới các văn bản pháp luật hiện hành

Và cuối cùng là các tuyên bố liên quan đến sáp nhập các đơn vị thành viên củađơn vị được kiểm toán

Thông thường các văn bản trên được thu thập trong quá trình tiếp xúc với bangiám đốc công ty khách hàng cụ thể bao gồm các loại sau:Giấy phép thành lập và điều

lệ Công ty; Biên bản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc; CácBCTC, báo cáo kế toán, các biên bản thanh tra của năm hiện hành hay trong vài nămtrước; Các hợp đồng và cam kết quan trọng

1.2.3.4 Thực hiện các thủ tục phân tích

Thủ tục phân tích là việc phân tích số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng qua

đó tìm ra xu hướng biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các

Trang 14

thông tin liên quan hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến KTV phải ápdụng quy trình phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm toán để tìm hiểu tình hình

kinh doanh của đơn vị và xác định những vùng có thể có rủi ro Các thủ tục phân tích

được KTV sử dụng gồm hai loại cơ bản:

Đầu tiên là phân tích ngang (Phân tích xu hướng) là việc phân tích trên cơ sở sosánh trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC Các chỉ tiêu phân tích ngang được sửdụng bao gồm: so sánh số liệu kỳ này với số liệu kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau,

so sánh số liệu thực tế với số liệu dự toán hoặc số liệu ước tính của KTV, so sánh dữkiện của Công ty khách hàng với dữ liệu của ngành…

Tiếp theo là phân tích dọc (Phân tích tỷ suất) là việc phân tích dựa trên cơ sở sosánh các tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC Các tỷsuất thường được sử dụng trong phân tích dọc là: tỷ suất về khả năng thanh toán nợngắn hạn, tỷ suất về khả năng sinh lời…

1.2.3.5 Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Đánh giá tính trọng yếu

Trọng yếu là thuật ngữ thể hiện tầm quan trọng của thông tin trong báo cáo tàichính Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếutính chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến các quyết định của người sử dụngBCTC Chính vì thế, trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV cần đánh giá mức độ trọngyếu để ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được, xác định phạm vicủa cuộc kiểm toán và đánh giá các ảnh hưởng của sai sót lên BCTC để từ đó xác địnhbản chất, thời gian và phạm vi các thử nghiệm kiểm toán Ở đây, KTV cần đánh giámức trọng yếu cho toàn bộ BCTC và phân bổ mức đánh giá đó cho từng khoản mụctrên BCTC

Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ BCTC

Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu và lượng tối đa mà KTV tin rằng ởmức đó các BCTC có thể bị sai lệch nhưng vẫn chưa ảnh hưởng đến các quyết địnhcủa người sử dụng thông tin tài chính Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúpKTV thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp Cụ thể là nếu các KTV ước lượng mứctrọng yếu càng thấp, thì số lượng bằng chứng thu thập càng nhiều và ngược lại Ướclượng ban đầu về tính trọng yếu không cố định mà có thể thay đổi trong quá trình thựchiện kiểm toán nếu KTV thấy rằng mức ước lượng ban đầu là quá cao hay quá thấphoặc một trong các nhân tố dùng để xác định mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu

bị thay đổi Khi xây dựng ước lượng ban đầu về tính trọng yếu, KTV cần lưu ý những

Trang 15

yếu tố ảnh hưởng tới yếu tố này Đầu tiên, tính trọng yếu là một khái niệm tương đốihơn là một đối tượng tuyệt đối, gắn liền với quy mô của Công ty khách hàng Một saiphạm với quy mô nhất định có thể trọng yếu với Công ty nhỏ nhưng lại không trọngyếu đối với một Công ty lớn Vì vậy, việc xác định và chỉ dẫn một mức giá trị cụ thểbằng tiền cho sự ước lượng ban đầu về tính trọng yếu áp dụng cho tất cả khách hàng làđiều không thể làm được Tiếp theo phải tính đến yếu tố định lượng của tính trọng yếu:Quy mô sai phạm là một yếu tố quan trọng để xem xét liệu các sai phạm có trọng yếuhay không Tuy nhiên, trọng yếu mang tính chất tương đối nên việc có được các cơ sởquyết định xem một quy mô của một sai phạm nào có trọng yếu hay không là điều rấtcần thiết Thêm vào đó cũng cần xem xét yếu tố định hình của trọng yếu: Trong thực

tế để xác định một sai phạm là trọng yếu hay không KTV phải xem xét, đánh giá cả vềmặt quy mô và bản chất của sai sót đó Một hành vi gian lận luôn được coi là trọng yếubất kể quy mô của nó là bao nhiêu

Tuy nhiên, KTV cần xem xét những yếu tố liên quan đến bản chất của sai phạmcần được xem xét khi tiến hành ước lượng ban đầu về tính trọng yếu

Đầu tiên là các gian lận thường được xem là quan trọng hơn các sai sót với cùngmột quy mô tiền tệ bởi các gian lận thường làm người ta nghĩ đến tính trung thực và

độ tin cậy của ban giám đốc hay những người có liên quan

Thứ hai là các sai sót với quy mô nhỏ nhưng lặp đi lặp lại hoặc gây ra tác độngdây chuyền làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến thông tin trên BCTC thì luôn được xem

là sai phạm trọng yếu vì đây là sai phạm có tính hệ thống

Và cuối cùng các sai phạm làm ảnh hưởng đến thu nhập thì luôn là sai phạmtrọng yếu

Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục trên BCTC

Sau khi KTV đã có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho toàn bộ

BCTC, KTV cần phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục trên BCTC

Đó cũng là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục Mục đích của việcphân bổ này là để giúp KTV xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán thích hợpphải thu thập với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổnghợp các sai sót trên BCTC không vượt quá mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu

Do hầu hết các thủ tục kiểm toán tập trung vào các tài khoản trên Bảng cân đối kế toánnên KTV thường phân bổ mức ước lượng cho các tài khoản trên Bảng cân đối kế toánthay vì cho các tài khoản trên Báo cáo kết quả kinh doanh Việc phân bổ được thựchiện theo cả hai chiều hướng mà các sai phạm có thể diễn ra: đó là tình trạng khai

Trang 16

hơn trên thực tế).Cơ sở để tiến hành phân bổ là: Bản chất của các khoản mục, rủi rotiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh giá sơ bộ đối với các khoản mục kinhnghiệm của KTV và chi phí kiểm toán đối với từng khoản mục Trong thực tế, rất khó

dự đoán về khả năng xảy ra sai sót cũng như chi phí kiểm toán cho từng khoản mụcnên công việc này mang tính chủ quan và đòi hỏi sự xét đoán mang tính nghề nghiệpcủa KTV Vì vậy, Công ty kiểm toán thường phân công các KTV có trình độ chuyênmôn cao nhiều kinh nghiệm để thực hiện công việc này

Sau khi phân bổ ước lượng về tính trọng yếu, bước tiếp theo trong lập kế hoạchkiểm toán BCTC, KTV cần đánh giá rủi ro kiểm toán Đây là một bước công việc rấtquan trọng và đòi hỏi ở KTV không chỉ về trình độ kinh nghiệm mà còn phải có khảnăng nhìn bao quát toàn bộ cuộc kiểm toán để từ đó có thể đưa ra được một đánh giáhợp lý về rủi ro kiểm toán

Đánh giá rủi ro

Rủi ro kiểm toán bao gồm ba bộ phận: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm toán và rủi rophát hiện

 Rủi ro kiểm toán (AR – Audit Risk)

Rủi ro kiểm toán là rủi ro do kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiếnnhận xét không thích hợp khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán còn có những saisót trọng yếu Rủi ro này luôn luôn có thể tồn tại ngay cả khi cuộc kiểm toán được lập

kế hoạch chu đáo và thực hiện một cách thận trọng Rủi ro này sẽ tăng lên nếu việc lập

kế hoạch kiểm toán kém và thiếu thận trọng Mức rủi ro này được xác định phụ thuộcvào hai yếu tố:

Đầu tiên là mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào BCTC.Khi người sử dụng bên ngoai đặt nhiều niềm tin vài các BCTC lớn thì mức độ tác hạitrên phạm vi toàn xã hội sẽ càng lớn nếu có một sia sót không được phát hiện trênBCTC

Thứ hai là khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tại chính sau khi báo cáokiểm toán công bố

Đánh giá rủi ro tiềm tàng ( IR – Inherent Risk )

Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ, từngkhoản mục trong BCTC chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp

mặc dù có hay không có hệ thống KSNB Rủi ro tiềm tàng nằm trong chức năng hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường kinh doanh cũng như bản chất số

dư của các tài khoản hoặc các loại nghiệp vụ kinh tế Vì vậy, khi đánh giá rủi ro cốhữu KTV phải dựa vào các yếu tố ảnh hưởng sau: bản chất kinh doanh của khách

Trang 17

hàng, đặc điểm hoạt động của đơn vị, tính chính trực của ban giám đốc, kết quả lầnkiểm toán trước, hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn, cácnghiệp vụ kinh tế không thường xuyên, các ước tính kế toán, quy mô của các số dư tàikhoản, các nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của khách hàng.KTV cần cân nhắc lần lượt các yếu tố trên và quyết định mức rủi ro tiềm tàngthích hợp đối với từng khoản mục trên BCTC Rủi ro tiềm tàng có quan hệ tỷ lệ thuậnvới bằng chứng kiểm toán.

 Đánh giá rủi ro kiểm soát ( CR – Control Risk )

Rủi ro kiểm soát là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trên BCTC khi tính riêng rẽhoặc tính gộp mà hệ thống kế toán và hệ thống KSNB không ngăn ngừa hết được hoặckhông phát hiện và sửa chữa kịp thời Rủi ro kiểm soát sẽ luôn xuất hiện và khó tránhkhỏi do những hạn chế có tính bản chất của bất cứ hệ thống KSNB nào Để có thểđánh giá được rủi ro kiểm soát KTV cần xem xét tính hợp lý của các quy chế kiểmsoát cũng như kiểm tra việc tôn trọng các biện pháp kiểm soát Khi không đánh giá vàkiểm tra được như trên thì KTV nên giả định rằng rủi ro kiểm soát là cao

Thu thập hiểu biết về hệ thống KSNB và mô tả chi tiết trên giấy tờ làm việc

Về phương pháp tiếp cận: Có nhiều phương pháp để tiếp cận thu thập hiểu biết

về hệ thống KSNB và đánh giá rủi ro kiểm soát trong đó có hai cách phổ biến: Tiếpcận theo khoản mục và tiếp cận theo chu trình Về thể thức để đạt được sự hiểu biết về

hệ thống KSNB: Dựa vào kinh nghiệm trước đây của KTV với khách hàng, thẩm vấnnhân viên công ty khách hàng, xem xét các sổ tay về thủ tục và chế độ của công tykhách hàng, kiểm tra các chứng từ và sổ sách đã hoàn tất quan sát các mặt hoạt động

và quá trình hoạt động của công ty khách hàng

Về việc mô tả hệ thống KSNB: để mô tả hệ thống KSNB, KTV sử dụng mộttrong ba phương pháp hoặc kết hợp cả ba phương pháp sau tùy thuộc vào đặc điểmđơn vị được kiểm toán và quy mô kiểm toán: Bảng câu hỏi về hệ thống KSNB, Bảngtường thuật, Lưu đồ

Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát để lập kế hoạch cho từng khoản mục

Sau khi thu thập được một sự hiểu biết về cách thiết kế và sự vận hành của hệthống KSNB, KTV sẽ đưa ra đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát cho từng mục tiêukiểm soát chi tiết Công việc này được làm riêng rẽ cho từng loại nghiệp vụ kinh tếchủ yếu trong từng chu trình nghiệp vụ theo các bước:

Bước 1: Nhận diện các mục tiêu kiểm soát mà theo đó quá trình đánh giá vận

dụng, trong bước này KTV sẽ vận dụng các mục tiêu KSNB cụ thể cho từng loại

Trang 18

từng khoản mục

Bước 2: Nhận diện các quá trình kiểm soát đặc thù Ở bước này KTV không nhất

thiết phải xem xét mọi quá trình kiểm soát mà chỉ phải nhận diện và phân tích các quátrình kiểm soát chủ yếu, đảm bảo tính hiệu quả cho cuộc kiểm toán

Bước 3: Nhận diện và đánh giá các nhược điểm của hệ thống KSNB Nhược

điểm của hệ thống KSNB là sự vắng mặt của các quá trình kiểm soát thích đáng màđiều này sẽ làm tăng khả năng rủi ro của việc tồn tại các sai phạm trên BCTC

Bước 4: Đánh giá rủi ro kiểm soát Khi đã nhận diện được quá trình kiểm soát và

các nhược điểm của hệ thống KSNB, KTV tiến hành đánh giá rủi ro kiểm soát ban đầuđối với từng mục tiêu kiểm soát từng nghiệp vụ kinh tế KTV có thể đánh giá rủi rotheo yếu tố định tính thấp, trung bình hoặc cao hoặc theo tỷ lệ phần trăm

KTV thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức cao đối với cơ sở dẫn liệu củaBCTC trong trường hợp: Hệ thống kế toán và hệ thống KSNB không đầy đủ hoặc hệthống kế toán và hệ thống KSNB không hiệu quả hoặc KTV không được cung cấp đầy

đủ cơ sở để đánh giá sự đầy đủ và hiệu quả của hệ thống kế toán và hệ thống KSNBcủa khách hàng

KTV thường đánh giá rủi ro kiểm soát ở mức độ không cao đối với cơ sở dẫnliệu trên BCTC trong các trường hợp:

Thứ nhất KTV có đầy đủ cơ sở để kết luận hệ thống kế toán và hệ thống KSNBđược thiết kế có thể ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu

Thứ hai KTV có kế hoạch thực hiện thử nghiệm kiểm soát làm cơ sở cho việcđánh giá mức độ rủi ro kiểm soát

 Rủi ro phát hiện ( DR – Detection Risk )

Rủi ro phát hiện là khả năng xảy ra các sai sót hoặc gian lận trên BCTC màkhông được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống KSNB và cũng không được KTVphát hiện trong quá trình kiểm toán Mức độ rủi ro phát hiện có quan hệ trực tiếp vớiphương pháp kiểm toán của KTV Một số rủi ro phát hiện thường xảy ra cho dù cókiểm tra 100% số dư các tài khoản và các nghiệp vụ do: Đầu tiên KTV có thể lựachọn và áp dụng phương pháp kiểm toán không phù hợp Hoặc có thể do KTV pháthiện ra bằng chứng nhưng không nhận thức được sai sót nên thường đưa ra kết luận sai

về phần đó cũng như BCTC Hoặc KTV hoàn toàn không phát hiện ra sai sót do có sựthông đồng, nhất trí bên trong doanh nghiệp làm sai các chính sách và chế độ do Bangiám đốc đề ra

Mối quan hệ giữa các loại rủi ro

Do tồn tại độc lập với các thử nghiệm cơ bản của KTV nên rủi ro tiềm tàng và rủi

Trang 19

ro kiểm soát khác biệt với rủi ro phát hiện Nói cách khác dù có tiến hành kiểm toánhay không, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát vẫn tồn tại trong hoạt động và môitrường kinh doanh của đơn vị cũng như nằm trong bản chất của những số dư tài khoản,

các loại nghiệp vụ Mức độ rủi ro phát hiện tỷ lệ nghịch với mức độ rủi ro tiềm tàng và

rủi ro kiểm soát Trong trường hợp mức độ rủi ro tiềm tàng được KTV đánh giá cao vàmức độ rủi ro kiểm soát được KTV đánh giá thấp thì mức độ rủi ro phát hiện có thểđánh giá là trung bình để nhằm giảm rủi ro kiểm toán xuống thấp đến mức có thể chấpnhận được Ngược lại, nếu rủi ro tiềm tàng được đánh giá thấp và rủi ro kiểm soátđược đánh giá là trung bình thì có thể xác định mức rủi ro phát hiện là cao nhưng vẫnphải đảm bảo rủi ro kiểm toán là thấp có thể chấp nhận được

Sơ đồ 2: mối quan hệ giữa các rủi ro kiểm toán)

( Nguồn: Tạp chí kinh tế phát triển – trường ĐHKTQD số 11/2009)

Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mức sai sót

có thể chấp nhận được tăng lên, rõ ràng rủi ro kiểm toán sẽ giảm xuống Trong quátrình kiểm toán, KTV luôn phải xem xét đồng thời tính trọng yếu sẽ được giảm xuống

ở mức chấp nhận được

1.2.4.Thiết lập chương trình kiểm toán

1.2.4.1 Khái niệm và ý nghĩa của chương trình kiểm toán

Khái niệm:

Chương trình kiểm toán là những dự kiến chi tiết về các công việc kiểm toán cầnthực hiện, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động giữa các KTV cũng như dựkiến về những tư liệu, thông tin liên quan cần sử dụng và thu nhập

Rủi ro kiểm soát

Rủi ro phát hiện

Rủi ro sai sóttrọng yếu trên báo cáo tài chính

Rủi ro kiểm toánRủi ro

tiềm tàng

Ngày đăng: 31/10/2014, 13:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: các bước của quá trình lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính - lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
Sơ đồ 1 các bước của quá trình lập kế hoạch kiểm toán Báo cáo tài chính (Trang 9)
Sơ đồ 2: mối quan hệ giữa các rủi ro kiểm toán) ( Nguồn: Tạp chí kinh tế phát triển – trường ĐHKTQD số 11/2009) - lập kế hoạch kiểm toán báo cáo tài chính
Sơ đồ 2 mối quan hệ giữa các rủi ro kiểm toán) ( Nguồn: Tạp chí kinh tế phát triển – trường ĐHKTQD số 11/2009) (Trang 19)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w