1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam

102 545 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tác giả Vũ Diệp Anh
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Tài chính ngân hàng
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 681 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trang 1

Đề tài: Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái

cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam (Lấy Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam làm điểm nghiên cứu)

LỜI MỞ ĐẦU

***

Trong hơn nửa thế kỷ qua, ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống ngân hàng đãthực sự trở thành một ngành công nghiệp quan trọng bậc nhất trong nền kinh tếquốc dân Sự thay đổi của hệ thống ngân hàng luôn phản ánh tình hình tăng trưởnghay suy thoái của nền kinh tế

Qua thực tiễn gần 15 năm hoạt động và đổi mới, hệ thống ngân hàng ViệtNam đã đạt được những thành tựu đáng kể góp phần vào xây dựng và phát triểnkinh tế đất nước Tuy nhiên quá trình vận hành theo cơ chế mới hệ thống ngân hàngngày càng bộc lộ nhiều điểm yếu kém, tồn tại và bất cập Do nhiều nguyên nhânkhác nhau nên hiện nay các ngân hàng thương mại Việt Nam đang nắm giữ mộtkhối lượng lớn các khoản nợ tồn đọng (khoảng 23000 tỷ VNĐ) vượt vốn tự có củangân hàng Tình trạng này làm cho nền kinh tế bị đóng băng một lượng vật chất lớnkhông được khai thác, các ngân hàng sẽ trở lên khó khăn trong việc huy độngnguồn vốn mới và hiệu quả hoạt động sẽ nhanh chóng giảm sút Theo kinh nghiệmquốc tế qua nhiều cuộc khủng hoảng nhất là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khuvực từ năm 1997 cho thấy: Nợ quá hạn tồn đọng nếu không giải quyết một cách cơbản và nhanh chóng sẽ gây tác động tiêu cực cho hệ thống ngân hàng và khó tránhkhỏi nguy cơ đổ vỡ đối với nền kinh tế Việt Nam

Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước, theo chỉ đạo của Thống đốcNgân hàng Nhà nước về chương trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, các Ngânhàng thương mại Việt Nam đã và đang nỗ lực giải quyết vấn đề nợ tồn đọng nhằmlành mạnh hoá hoạt động tài chính Hiện nay các giải pháp của các Ngân hàngthương mại đang tiến hành trong việc xóa các khoản nợ tồn đọng với chi phí rất lớn

Trang 2

nhưng hiệu quả lại chưa cao Nếu không có các giải pháp thúc đẩy thì mục tiêu tái

cơ cấu của ngân hàng khó có thể trở thành hiện thực

Thấy rõ được điều này, trong quá trình tìm hiểu về hệ thống các Ngân hàngthương mại Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệm thị trường tài chính thế giới emthấy có một công cụ tài chính rất hiệu quả trong xử lý nợ tồn đọng của ngân hàng,

đó là chứng khoán hoá các khoản nợ Với mong muốn góp ý kiến vào quá trình tái

cơ cấu và lành mạnh hoá hoạt động tài chính của hệ thống các NHTM thông quahoạt động chứng khoán hóa em xin trình bầy những nhận thức của mình về cácđiều kiện và mô hình vận hành chứng khoán hoá tại Việt nam

Chương III: Giải pháp thực hiện mô hình chứng khoán hoá các khoản nợ

tồn đọng trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hoá tài chính của các NHTM

Trong quá trình hoàn thành khoá luận tốt nghiệp, do còn hạn chế về trình độchuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn, thời gian và tài liệu nên chắc chắn khóa luậncòn nhiều thiếu sót, em mong muốn nhận được ý kiến đóng góp để khóa luận đượchoàn thiện hơn

Trang 3

Mục tiêu của chứng khoán hóa là chuyển các tài sản có tính lỏng thấp thànhtài sản có tính lỏng cao.

Tính lỏng thấp Tính lỏng cao

Hình 1: Minh hoạ mục tiêu của chứng khoán hoá

*Vài nét sơ lược về quá trình phát triển của chứng khoán hóa

+Sự ra đời chứng khoán thế chấp nhà

Vào năm 1970, Hiệp hội cho vay nhà thế chấp liên bang đã phát hành chứngkhoán được bảo đảm bởi khoản thế chấp nhà, viết tăt là MBS đầu tiên tại Mỹ.Ngay năm sau đó, Công ty mua bán nhà thế chấp liên bang đã phát hành MBS.Những chứng khoán đầu tiên của chính phủ phát hành có cấu trúc tương đối đơngiản mà không có sự phân bổ đặc biệt nào về dòng tiền hoặc sự tăng cường tín

Tính

lỏng thấp Tăng cường tí tính lỏng

Tính lỏng cao

hơn

Chứng khoán giao dịch

Phát

h nh ành chứng khoán

Trang 4

dụng Thực chất trong trường hợp này việc tăng cường tín dụng là không cần thiếtbởi các chứng khoán được phát hành với sự bảo lãnh của chính phủ nên có điểmxếp hạng tín dụng rất cao Rủi ro duy nhất gặp phải là rủi ro trả trước vì nhữngngười vay mua nhà thế chấp không chịu bất kỳ khoản phạt nào trong trường hợp họthanh toán trước Hậu quả là khi nào lãi suất trên thị trường có xu hướng giảmngười đi vay thường thanh toán khoản vay trước hạn còn người nắm giữ chứngkhoán buộc phải tái đầu tư vốn gốc với thu nhập không dự tính trước.

+Sự ra đời chứng khoán bảo đảm bằng tài sản cầm cố

Vào năm 1983, Công ty Boston đã phát hành thêm một loại hình công cụ tàichính mới được bảo đảm bằng các tài sản cầm cố CMO Sự khác nhau cơ bản giữaCMO và MBS là CMO giúp ngân hàng chuyển khoản vay có thế chấp bằng bấtđộng sản từ nội bảng ra hạch toán ngoại bảng và sau khi phát hành nó được phânthành nhiều hạng khác nhau để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư

+Sự ra đời chứng khoán bảo đảm bởi tài sản

Sự thành công, những kinh nghiệm mà các ngân hàng đầu tư có được từ thịtrường MBS đã giúp cho thị trường của công cụ tài chính linh hoạt khác ra đời.Chứng khoán được đảm bảo bởi động sản ABS (Asset Backed Security) được rađời với sự ủng hộ mạnh mẽ của chính phủ cũng như các ngân hàng đầu tư hàng đầulúc đó là Solomon Brother, First Boston và Drexel Burhan Lambert

Chứng khoán loại này được phát hành đầu tiên vào tháng 4 năm 1985 khi màFirst Boston bão lãnh phát hành 192 triệu USD chứng khoán trên khoản thuê máytính của tập đoàn Sperry Vào tháng 12 năm 1985 General MotorsAcceptance Corp cộng tác với First Boston phát hành lượng chứng khoán giá trị

500 triệu USD Đồng thời vào năm đó công ty này đã chiếm lĩnh hoàn toàn thịtrường này khi phát hành chứng khoán giá trị 8 tỷ USD Yếu tố tạo nên sự thànhcông là nó đã hạn chế được rủi ro trả trước, một loại rủi ro thường gặp ở vay mua ôtô

Trang 5

Vào năm 1987, những chứng khoán đầu tiên phát hành trên cơ sở khoản phảithu của thẻ tín dụng ra đời dưới sự bảo lãnh của Solomon Brother do Banc Gre pháthành Cũng như các loại chứng khoán khác, chứng khoán hoá thẻ tín dụng đã đạtđược tốc độ tăng trưởng nhanh chóng và ngày nay nó vẫn chiếm một tỷ trọng khálớn, đứng đầu là Citibank.

Vào đầu những năm 1990, nhiều ngân hàng, các công ty tài chính trên thếgiới gặp phải khó khăn về tài chính Họ đã nhanh chóng áp dụng mô hình ABS đểchứng khoán hoá các khoản vay, loại những khoản nợ xấu, lành mạnh hoá hoạtđộng tài chính Công cụ này gọi là CDO (Collateratized Debt Obligation) CDO đãnhanh chóng trở thành một công cụ tài chính quan trọng đối với các tổ chức kinhdoanh, đặc biệt là ngân hàng Và sau này các nhà tài chính trên thế giới còn phátminh ra biến thái của CDO là CLO (Collateratized Debt Obligation) và CBO(Collateratized Bond Obligation) Những công cụ mới như trên trong chứng khoánhoá đã giúp cho giới tài chính trên toàn thế giới có thêm nhiều công cụ cực kỳmạnh mẽ và linh hoạt tham gia thị trường tài chính thế giới

Việc nghiên cứu sự phát triển của thị trường chứng khoán hoá cho thấy có rấtnhiều cách phân loại các sản phẩm của chứng khoán hoá như chứng khoán trên cơ

sở vay nhà thế chấp, trên cơ sở vay tiêu dùng (mua ô tô, phải thu thẻ tín dụng )hoặc trên cơ sở thương mại (thuê tài chính, giấy tờ thương mại) Nhưng trongkhuôn khổ hạn hẹp của đề tài và để tiện nghiên cứu ta sẽ tập trung vào nghiên cứuvào CDO và các biến thái của nó để thấy được vai trò vô cùng to lớn của CDO đốivới quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nói riêng cũng như thị trường tài chínhhiện đại nói chung

2.Đặc tính các loại tài sản có thể được chứng khoán hoá

Như ta biết bất cứ doanh nghiệp nào từ doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ chotới nhưng doanh nghiệp đặc biệt như ngân hàng đều nắm giữ rất nhiều các loại tàisản khác nhau Tuy nhiên, cũng cần phải khẳng định rằng không phải bất cứ cácloại tài sản nào cũng có thể được chứng khoán hoá Muốn được chứng khoán hoátài sản phải có những đặc điểm sau

Trang 6

2.1.Tài sản phải được quy về dòng tiền

Một yếu tố cơ bản của loại tài sản đem chứng khoán hoá là phải phát sinhmột dòng tiền từ con nợ Giá trị của mỗi dòng tiền lại phụ thuộc vào phương thứcthanh toán như đã thoả thuận giữa các bên ban đầu, có thể theo phương thức thanhtoán gốc đều, niên kim .Trong thực tế ta thấy các khoản vay có tài sản bảo đảmđược thực hiện bằng cách người đi vay sẽ đứng ra đem tài sản của mình làm vật thếchấp rồi sẽ vay tiền theo một tỷ lệ phần trăm nhất định trên tài sản thế chấp Sau đótheo kỳ hạn người đó sẽ thanh toán gốc và lãi Và nguyên tắc cơ bản của chứngkhoán hoá là phải luôn có một dòng tiền chảy qua giữa con nợ, chủ nợ, trung gianđặc biệt rồi tới nhà đầu tư Nếu trong điều kiện bình thường, hoạt động diễn ra suôn

sẻ thì chứng khoán hoá sẽ hoạt động về cơ bản là như vậy Tuy nhiên trong trườnghợp lãi suất trên thị trường thấp, con nợ sẽ tìm cách vay tiền để thanh toán chongân hàng và ngân hàng chịu rủi ro trả trước (Prepayment risk) Người ta cũng cóthể chứng khoán hoá khoản phải thu trên thẻ tín dụng vì nó hàm chứa một dòngtiền Nhưng điều đáng lưu ý ở đây là dòng tiền của thanh toán thẻ tín dụng sẽ rấtbất thường, khó dự đoán được tâm lý của người tiêu dùng Việc nhận được cáckhoản phải thu của chủ nợ sẽ phụ thuộc vào nhu cầu cũng như mức thu nhập củangười sử dụng thẻ

2.2.Tính hợp pháp

Để đảm bảo cho các giao dịch chuyển nhượng, điều quan trọng và cần thiết

là các loại tài sản có liên quan tới giao dịch chứng khoán hoá phải hợp pháp Tínhhợp pháp ở đây có nghĩa tài sản phải được chứng nhận quyền sở hữu hợp pháp củachủ sở hữu và không có bất cứ sự tranh chấp nào xảy ra khi nhượng bán Và đặcbiệt là tài sản phải không nằm trong danh mục hàng cấm của nhà nước

2.3.Tính nhượng bán

Những tài sản đem thế chấp phải là những tài sản có tính nhượng bán tươngđối cao trên thị trường Những tài sản đảm bảo thường là nhà cửa, ô tô, máy tính

Trang 7

Đặc tính này nhằm đảm bảo cho các nhà đầu tư trong trường hợp người đi vay bịphá sản thì vẫn có những thứ tài sản đảm bảo thanh toán

2.4.Tính phân tán rủi ro

Tài sản đồng thời cũng phải có tính phân tán rủi ro hoặc rủi ro được đảm bảobởi một tỷ lệ hỗ trợ tín dụng cần thiết Ví dụ với một khoản vay tiêu dùng có giá trịtương đối nhỏ, nếu phát hành chứng khoán trên khoản vay đó thì rủi ro quá lớn, dovậy nếu ngân hàng tập hợp rất nhiều khoản vay lại để chứng khoán hoá thì hoạtđộng thanh toán của một khoản vay sẽ không làm ảnh hưởng hay bóp méo toàn bộkết quả thanh toán của toàn bộ danh mục Kết quả là toàn bộ danh mục tài sản cóthể được coi là 1 tài sản có thể dự tính được khả năng thanh toán của nó Trongtrường hợp một số tài sản trong danh mục hoạt động tốt, triển vọng thanh toán cao

có ảnh hưởng tích cực tới danh mục tài sản cho vay thì sẽ được phân tích theohướng làm hấp dẫn toàn bộ danh mục đem chứng khoán hoá

2.5.Tính độc lập với người khởi tạo

Đây là một đặc tính quan trọng có tác dụng làm tăng tính hấp dẫn của cácchứng khoán phát hành trên tài sản đó Sự tồn tại hay khả năng sinh lời của tài sảnhoàn toàn độc lập với sự tồn tại của người khởi tạo, thậm chí ngay cả khi ngườikhởi tạo bị phá sản Để đảm bảo điều này quá trình lập hợp đồng phải rõ ràng,người khởi tạo phải chuyển nhượng hoàn toàn các giấy tờ pháp lý cho trung gianđặc biệt (Special Purpose Vehicle- SPV) và không được dùng tài sản thế chấpnhiều lần vào các mục đích khác Một yếu tố hấp dẫn cho các chứng khoán là tronglần đi vay ngân hàng đã có sự thẩm định tư cách tín dụng của người đi vay, đồngthời mặc dù đã chuyển nhượng các chứng từ liên quan cho SPV nhưng tổ chức khởitạo vẫn giám sát hoạt động thanh toán của người đi vay để hưởng phí dịch vụ

2.6.Tính đồng nhất của tài sản

Quá trình chứng khoán hoá được thực hiện khi người khởi tạo tập hợp cácloại tài sản khác nhau lại thành danh mục rồi bán cho SPV Tiếp đó SPV lại tập hợpcác danh mục từ các tổ chức khởi tạo khác nhau để phân tích, làm tăng tính hấpdẫn của tài sản rồi từ đó phát hành chứng khoán ra công chúng Tuy nhiên nguyên

Trang 8

tắc tập hợp tài sản là phải có tính đồng nhất Ví dụ không thể gộp khoản phải thu từthẻ tín dụng với khoản phải thu từ vay mua nhà thế chấp vì chúng có sự khác biệtlớn về dòng tiền Đặc tính này cũng rất quan trọng Nó yêu cầu bản thân tổ chứckhởi tạo cũng như SPV phải phân tích, tính toán để tạo ra được một tập hợp tài sảnhợp lý mà đủ lớn.

3.Các thành viên liên quan

Hình 2: Mô hình chứng khoán hoá đơn giản

Một triết lý đơn giản ở đây là: mỗi thành viên tham gia đều phải có những lợiích nhất định tương xứng sự đóng góp của họ Do vậy để có thể hiểu được quytrình làm việc của chứng khoán hoá thì cũngcần thiết phải biết được lợi ích của cácđối tượng tham gia Tuy nhiên đề tài chỉ giới hạn trong việc phân tích các thànhviên tham gia cơ bản

Ta sẽ xem xét mô hình chứng khoán hoá đơn giản trên và phân tích các thànhviên theo sơ đồ của hoạt động chứng khoán hoá

3.1.Tổ chức khởi tạo

Chứng khoán

Tổ chức khởi tạo

Trung gian đặc biệt (SPV)

Nh à đầu tư

Tiền

Khách h ng à

Tổ chức cung cấp dịch vụ tăng cường tín dụng

Trang 9

Người khởi tạo là các doanh nghiệp tài chính hoặc phi tài chính có nhữngkhoản mục tài sản cần chứng khoán hoá Người khởi tạo vì những mục đích khácnhau mà tiến hành chứng khoán hoá khoản mục tài sản trên bảng cân đối tài sảncủa mình ví dụ như khoản phải thu, khoản cho vay dài hạn, đầu tư dự án Một đặcđiểm nhận thấy rõ ở đây là bản thân tổ chức khởi tạo không phải là người chịutrách nhiệm thanh toán khoản tiền khi đã chuyển quyền nhận các lợi ích từ tài sảncho Trung gian đặc biệt Do đó, lợi thế đặc biệt khi phát hành các ABS (AssetsBacked Security) là dù cho xếp hạng tín dụng của tổ chức khởi tạo thấp thì vẫn cóthể phát hành những chứng khoán có chất lượng cao Ví dụ, tổ chức khởi tạo chỉxếp hạng Aab vẫn có thể phát hành những chứng khoán xếp hạng AAA Đồng thời

do tài sản độc lập với tổ chức khởi tạo nên dù cho tổ chức khởi tạo có vấn đề về tàichính hoặc lâm vào tình trạng phá sản thì vẫn không ảnh hưởng tới sự chuyển dịchcủa dòng tiền Đây được gọi là cơ chế phòng ngừa phá sản (Bankcrupcy

Ngoài ra, việc xếp hạng chứng khoán cao không những giúp giảm chi phínguồn vốn mà còn cho phép các nhà đầu tư lớn như các công ty bảo hiểm, đốitượng thường bị cấm đầu tư vào các tài sản có tính lỏng hoặc xếp hạng thấp, có thểmua các loại chứng khoán này

3.2.Trung gian đặc biệt (SPV)

Là một tổ chức độc lập hợp pháp (thường là các công ty tài chính, AMC, cácquỹ tín thác ) với các biện pháp đặc biệt nhằm tăng tính hấp dẫn của các loạichứng khoán phát hành (tên tiếng Anh là Special Purpose Vehicle – sau đây tạmgọi là SPV) SPV mua lại quyền nhận các khoản phải thu từ tổ chức khởi tạo Trên

cơ sở những nhận định về con nợ của người khởi tạo, đồng thời với những phântích về tư cách tín dụng riêng đối với cả tổ chức khởi tạo lẫn khách hàng vay vốnSPV định ra một mức giá thích hợp cho khoản phải thu mà nó sẽ mua lại Ở đâySPV sẽ phải quan tâm tới lãi suất khoản vay, các khoản phí liên quan, phần bù rủi

ro đối với khoản vay, tài sản thế chấp Sau đó trên cơ sở những tính toán về thunhập dự tính và đánh gía rủi ro nó sẽ phát hành chứng khoán có thứ hạng khác nhau

Trang 10

ra công chúng đầu tư Nói chung SPV cũng phải đáp ứng những yêu cầu pháp lýnhư vốn pháp định, điều lệ hoạt động.

Khi có một sự kiện rủi ro xảy ra dẫn tới sự phá sản của SPV thì những hợpđồng đang thực hiện vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi kết thúc nhưng do một SPV kháchoặc tổ chức khởi tạo đảm nhận Đây cũng là một lá chắn bảo vệ các nhà đầu tư,tạo ra tính hấp dẫn của chứng khoán

3.3.Nhà đầu tư

Trên thực tế thị trường cho các chứng khoán loại này (ABS) được phát hànhhầu hết là các định chế tài chính hoặc phi tài chính, chỉ một số lượng không lớn cácnhà đầu tư cá nhân Các đối tượng này bao gồm các quỹ hưu trí, quỹ tương trợ,công ty bảo hiểm, thậm chí các ngân hàng đâu tư ABS cung cấp cho giới đầu tưmột công cụ tài chính có tính an toàn tương đối cao với lợi tức hợp lý mà khó cóthể tìm được ở các loại chứng khoán do các tổ chức có thứ hạng tín dụng thấp pháthành thêm vào đó số lượng lớn các nhà đầu tư đã tạo ra một vòng tuần hoàn ảo làmtăng tính lỏng cho thị trường ABS

Ngoài ra việc hạch toán ngoại bảng từ phía tổ chức khởi tạo cho phép nhàđầu tư tránh được rủi ro tín dụng liên quan tới người khởi tạo

3.4.Tổ chức cung cấp dịch vụ tăng cường tín dụng

Như đã nói chứng khoán hoá không thể thành công nếu không có sự bảo lãnhcủa chính phủ Với sự tham gia của chính phủ thì khả năng thanh toán của chứngkhoán là rất cao Trong trường hợp không có sự tham gia của chính phủ thì các tổchức tư nhân sẽ thay thế bằng các biện pháp tăng cường tín dụng Tăng cường tíndụng có hai hình thức là tăng cường tín dụng trong ( Internal Credit Enhancement)

và tăng cường tín dụng ngoài Các tổ chức này sẽ thu phí thông qua các cam kết hỗtrợ cho chương trình chứng khoán hoá

3.5.Cơ quan xếp hạng tín dụng

Là một tổ chức độc lập có thể thuộc về chính phủ hoặc giới tư nhân vớinhiệm vụ phân tích, đánh giá mức độ rủi ro xếp hạng các chứng khoán và các công

Trang 11

ty Kết quả xếp hạng của họ là căn cứ để các nhà đầu tư ra quyết định Trên thịtrường nợ thế chấp những chứng khoán phát hành có điểm tín dụng AAA sẽ rấtđược ưa chuộng Nhưng có một mâu thuẫn là mặc dù là một cơ quan ra quyết địnhđộc lập nhưng khi cho điểm một loại chứng khoán cơ quan này lại nhận phí từ cácSPV - đòi hỏi cơ quan này phải cân đối giữa quyền lợi của bản thân với tráchnhiệm đối với giới đầu tư Cũng vì lý do này mặc dù thị trường chứng khoán pháttriển rất cao trên toàn thế giới nhưng chỉ có duy nhất 4 cơ quan xếp hạng (Duff

&Philips, Fitch IBCA, Standard & Poor's, và Moody' s) Trong số này duy nhấtS&P và Moody's có đủ tư cách và tín nhiệm để hoạt động toàn cầu

4.Điều kiện cần thiết để chứng khoán hoá các khoản nợ

4.1.Cung và cầu trên thị trường

-Nhu cầu bán nợ- cung về chứng khoán hoá: thực tiễn hoạt động của ngân

hàng tất yếu phát sinh nợ trong quá trình giao dịch với các chủ thể khác Các khoản

nợ này phát sinh và tồn tại rất đa dạng trong mọi lĩnh vực ngành nghề của nền kinh

tế Đồng thời nhu cầu vốn của tổ chức là rất lớn nên đòi hỏi phải bán nợ để đẩynhanh vòng tuần hoàn của vốn- nhu cầu bán nợ nảy sinh

-Nhu cầu mua nợ- cầu về chứng khoán hoá: sự xuất hiện nhu cầu mua nợ

của các định chế tài chính đã thay đổi, dần dần trở thành cơ hội kinh doanh của cácđịnh chế này Sự khan hiếm cơ hội đầu tư hấp dẫn, sự hạn chế của các định chế tàichính trong việc đầu tư vào các lĩnh vực rủi ro cao, đồng thời sự dư thừa tư bản đãkhiến thị trường chứng khoán hoá ra đời

4.2.Sự phát triển cuả nền kinh tế và thị trường tài chính

Sự phát triển của nền kinh tế và thị trường tài chính là một yếu tố quan trọngcho sự phát triển các sản phẩm của chứng khoán hoá Nhưng không phải theo mộtquy luật thông thường là cứ hễ nền kinh tế phát triển mạnh thì thị trường này pháttriển Theo kinh nghiệm trên thế giới thì nền kinh tế vừa thoát ra khỏi chu kỳ pháttriển chậm thì tốc độ phát triển của chứng khoán hoá lại rất cao Đó là do những đòihỏi từ nhu cầu về nguồn vốn cho đầu tư trong thời kỳ bùng nổ kinh tế sắp tới

Trang 12

4.3.Sự phát triển của công nghệ

ABS đã bắt đầu với sự trợ giúp rất lớn của công nghệ hiện đại Chứng khoánchuyển qua nguyên thuỷ (pass- through ) được tính toán hết sức đơn giản Việcphán đoán dòng tiền của chứng khoán thế chấp do các đại lý của chính phủ pháthành ban đầu rất dễ dàng Cho đến nay thị trường ABS đã có những bước phát triển

và mở rộng thêm nhiều loại tài sản mới là kết quả của việc phát kiến ra các môhình, sức mạnh tính toán, và công nghệ thông tin

Mô hình mới cho phép các loại tài sản mới có thể nhanh chóng được chứngkhoán hoá mà không phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm lịch sử Nó hạn chế rủi rokhá tốt Tốc độ mạnh mẽ của máy tính cho phép các mô hình chạy thực nghiệmmang tính thời gian thực, cho phép các đối tượng liên quan hiểu những dao độngcủa chứng khoán Đồng thời công nghệ thông tin, điển hình là Internet, với lượngthông tin khổng lồ có tác dụng cung cấp cho nhà đầu tư những thông tin chính xác

để ra quyết định

4.4.Sự hỗ trợ của chính phủ

Chính phủ đã và sẽ đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển củachứng khoán hoá, cụ thể là chính phủ cần có những biện pháp để thúc đẩy thịtrường này phát triển Theo kinh nghiệm của Mỹ chính phủ đã thành lập 3 cơ quanmua bán nhà thế chấp, những nhân tố khởi đầu hết sức quan trọng cho việc tạo lậpthị trường Cụ thể hơn chính phủ cần có những biện pháp hỗ trợ đặc biệt để tăngtính hấp dẫn của các chứng khoán như thành lập các tổ chức tư vấn, các công ty philợi nhuận trong giai đoạn đầu để kích thích sự phát triển

4.5.Hệ thống pháp luật hoàn thiện

Vì giao dịch chứng khoán hoá như đã nói trên là rất phức tạp nên để diễn rasuôn sẻ đòi hỏi phải có cơ chế luật pháp hết sức rõ ràng Luật pháp ở đây phải baogồm các vấn đề về :

+Cơ chế mua bán chuyển nhượng nợ

+Quy chế thành lập và phương thức hoạt động của SPV

Trang 13

+Vấn đề về thuế

+Vấn đề hạch toán kế toán

+Điều khoản cho hoạt động chuyển đổi , tái cơ cấu nợ trong ngân hàng vàdoanh nghiệp

5.Lợi ích và rủi ro của chứng khoán hoá các khoản nợ

Như đã nói, một thị trường phát triển cần có các thành viên tham gia và cácthành viên cần biết rõ mình được lợi gì và mất cái gì trong thị trường đó Trên ýtưởng như vậy, ta sẽ đơn giản hoá bằng cách đứng trên quan điểm phân tích lợi ích

và rủi ro của tổ chức khởi tạo để làm rõ những ưu điểm và những khía cạnh cònchưa được của nghiệp vụ này Trên cơ sở đó ta thấy được vai trò to lớn của nó đốivới quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hoá hoạt động ngân hàng

5.1.Lợi ích của chứng khoán hoá

Chứng khoán hoá đem lại rất nhiều lợi ích đối với tổ chức khởi tạo thay vìliệt kê chúng ra ta sẽ tiếp cận theo phương pháp mổ sẻ để tìm ra lợi ích thực chấtcủa chứng khoán hoá Để phục vụ cho mục đích này chúng ta xây dựng một bảngcân đối kế toán đơn giản của một ngân hàng XYZ như sau:

Bảng 1: Bảng cân đối kế toán của ngân hàng XYZ (Đơn vị: triệu USD)

(Nguồn: tác giả xây dựng)

Giả sử trong trường hợp ngân hàng cần tiền mặt thì giải pháp huy độngthêm vốn trên thị trường bằng trái phiếu sẽ có chi phí rất cao Để giảm chi phíngân hàng sẽ dùng tài sản mình nắm giữ đem thế chấp để vay từ các định chế tàichính khác Bảng cân đối kế toán của ngân hàng XYZ sẽ được lập lại như sau:

Trang 14

Bảng 2: Bảng cân đối kế toán Ngân hàng XYZ sau khi vay bằng thế chấp

n v : tri u USD Đơn vị: triệu USD ị: triệu USD ệu USD

Nợ đáo hạn vào năm zzz 400

(Nguồn: tác giả xây dựng)

Tuy nhiên hai kỹ thuật huy động vốn trên vẫn là hạch toán nội bảng và bịgiới hạn bởi xếp hạng tín dụng của ngân hàng Khi đó việc huy động vốn sẽ có chiphí cao hơn đồng thời tỷ số nợ/ trên vốn cổ phần sẽ tăng từ 4 lên 6 đồng nghĩa đònbẩy là tài chính cao hơn, rủi ro cao hơn và ảnh hưởng tới xếp hạng của ngân hàng.Chứng khoán hoá có thể hạn chế điều này

5.1.1.Nguồn tài trợ ngoại bảng tăng lên

Giả sử ngân hàng có ý định bán nợ thông qua chứng khoán hoá

Bảng 3: Bảng cân đối kế toán Ngân hàng XYZ Đơn vị: triệu USD

(Nguồn: tác giả xây dựng)

Trang 15

Theo như quy định kế toán Mỹ thì tiền mặt thu từ bán tài sản được cộng vàotổng tài sản, đồng thời tài sản đã được chuyển nhượng hoặc bán sẽ được hạch toánvào khoản mục ngoại bảng

Theo như bảng cân đối trên rõ ràng ngân hàng XYZ đã chuyển được khoảncho vay thế chấp sang tiền mặt Tuy nhiên ngân hàng vẫn nắm giữ 10 triệu USDcoi như là khoản mục đầu tư chứng khoán từ chính tài sản đã được chứng khoánhoá của mình

5.1.2.Tránh được sự suy giảm của thị trường

Trong điều kiện ban đầu ngân hàng có thể đem bán tài sản thế chấp trên thịtrường thứ cấp Nhưng để tìm được khách hàng mua với mức giá đúng bằng giá trịthực của tài sản không phải là dễ và ngân hàng sẽ mất một khoản chi phí khôngphải là nhỏ Đặc biệt trong trường hợp thị trường của loại tài sản đó giảm sút thìnguy cơ bán giá thấp là chắc chắn Lúc đó chứng khoán hoá là một giải pháp hay

để bảo toàn giá trị tài sản đợi khi thị trường cho tài sản đó (đặc biệt là thị trường bấtđộng sản) đạt được độ ổn định

5.1.3.Cải thiện được tỷ số tài chính

Một ưu điểm của chứng khoán hoá là giúp cho ngân hàng tìm kiếm nguồnvốn với chi phí không cao mà vẫn duy trì được những chỉ số tài chính Như đã thấy,

tỷ số nợ trên vốn cổ phần sẽ không thay đổi, đồng thời một loạt các chỉ số liên quankhác sẽ không hề bị ảnh hưởng, thậm chí còn được cải thịên như chỉ số phản ánhtính thanh khoản của bảng cân đối

5.1.4.Cải thiện thứ hạng tín dụng

Một trong những điều kiện cho cấu trúc của chứng khoán hoá là cô lập giữatài sản của chủ nợ và con nợ Sự tách biệt giữa tài sản có chất lượng tín dụng tốtvới yếu tố rủi ro của bản thân doanh nghiệp đã làm cho các chứng khoán phát hànhtrên cơ sở tài sản bảo đảm có chất lượng tín dụng cao hơn bản thân người chủ sởhữu của nó Sự cải thiện xếp hạng tín dụng đến từ hai nguồn: thứ nhất là chứngkhoán mới phát hành được tài trợ bằng dòng tiền độc lập từ tài sản mà không chịu

Trang 16

bất cứ sự can thiệp nào từ người nắm giữ tài sản, điều đó có nghĩa thứ hạng củachứng khoán không hề bị ảnh hưởng bởi thứ hạng của người nắm giữ mà phụ thuộcchủ yếu vào chất lượng của tài sản; thứ hai, việc chuyển nhượng tài sản từ tổ chứckhởi tạo sang cho SPV là một giao dịch bán tài sản thật sự và SPV có chức năngtăng cường tính hấp dẫn của chứng khoán làm cho thứ hạng của chứng khoán tănglên đáng kể.

5.1.5.Quản lý rủi ro tốt hơn

Chứng khoán hoá là một công cụ quản trị rủi ro tiên tiến của ngân hàng Nócho phép ngân hàng và doanh nghiệp tránh được nhiều loại rủi ro khác nhau từ rủi

ro tín dụng, rủi ro thanh khoản cho tới rủi ro hối đoái Bằng cách loại một khoảnmục tài sản ra khỏi bảng cân đối, tổ chức khởi tạo có thể sẵn sàng cho các côngcuộc đầu tư mới hoặc sẵn sàng đương đầu với một thời kỳ đen tối trước mắt

5.1.6.Yêu cầu nguồn vốn thấp hơn

Theo nguyên tắc quản lý rủi ro thì các ngân hàng hoặc một số định chế tàichính khác phải có những khoản dự trữ bắt buộc cho tài sản mà nó nắm giữ Mỗiloại tài sản phải được phân thành rủi ro theo thứ hạng và định lượng rủi ro đó Nóichung, khoản cho vay thường có mức độ rủi ro lớn nhất Ví dụ, khoản cho vaythương mại có mức độ rủi ro là 100% và vay nhà dân chỉ khoảng 50% Nhữngkhoản vay được xếp hạng cao thường được đánh giá có mức độ rủi ro thấp hơn Ví

dụ, chứng khoán của công ty thế chấp nhà liên bang có độ rủi ro là 20% trong khiđối với chứng khoán của chính phủ là 0% Các tổ chức nắm trong tay càng nhiềuloại tài sản rủi ro bao nhiêu thì yêu cầu dự trữ vốn càng cao

Nếu một ngân hàng có một khoản tín dụng xếp hạng A trị giá 4 tỷ USD thìnguồn dự trữ vốn sẽ là 8% (mức độ rủi ro là 100%), có nghĩa là ngân hàng phải dựtrữ 320 triệu USD Trong trường hợp ngân hàng này chứng khoán hoá 97% của cảdanh mục và nắm 3 % chứng khoán không xếp hạng (Unrated) như là một cách đểtăng cường tín dụng thì khoản dự trữ chỉ là 120 triệu USD Việc ngân hàng nắmgiữ dự trữ lớn đồng nghĩa với việc được an toàn hơn nhưng lại mất đi các chi phí

cơ hội khác

Trang 17

Rõ ràng qua chứng khoán hoá, tổ chức khởi tạo có thể có rất nhiều lợi íchkhác nhau Chứng khoán hoá có thể tạo ra hàng loạt các công cụ tài chính năngđộng từ chứng khoán ngắn hạn, dài hạn cho tới chứng khoán coupon thấp, chứngkhoán coupon cao, từ kỳ hạn hoàn vốn âm hay dương cho tới rủi ro thanh toántrước thoả mãn mọi nhu cầu của giới đầu tư.

5.2.Một số rủi ro thường gặp trong chứng khoán hóa

Quá trình chứng khoán hoá nếu không tiến hành thận trọng không nhữngkhông có lợi cho tổ chức khởi tạo mà còn có thể để lại rủi ro cho tổ chức đó Nếutài sản dùng để chứng khoán hoá chịu sự bóp méo của thị trường dẫn tới chất lượngchứng khoán không như ý muốn thì sẽ có sự xung đột tiềm ẩn giữa tổ chức khởitạo, nhà cung cấp dịch vụ và người bảo lãnh

5.2.1.Rủi ro phải mua lại các chứng khoán đã phát hành

Một ngân hàng người khởi tạo quá trình chứng khoán hoá có thể sẽ chịusức ép phải mua lại các chứng khoán đã phát hành nếu tài sản ngừng hoạt độnghoặc biểu hiện không tốt Chính quá trình phức tạp của chứng khoán hoá đã tạo rasức ép đối với tổ chức khởi tạo Việc có khá nhiều thành viên tham gia cùng sựquan tâm rất lớn của công chúng đầu tư đã gây ra sức ép tiềm ẩn Nhưng vấn đề mà

tổ chức khởi tạo lo lắng nhất ở đây là rủi ro trong quá trình chứng khoán hoá đốivới các thành viên khác có thể làm ảnh hưởng tới danh tiếng của nó trên thị trường,tạo ra những tiền lệ xấu về sau này

5.2.2.Rủi ro chất lượng danh mục giảm

Trên thị trường, tổ chức khởi tạo có xu hướng tìm kiếm những những nguồnhuy động vốn mới Do vậy, đôi khi nó muốn bán đi những tài sản có chất lượng tốt

và vì vậy có xu hướng làm tăng rủi ro trung bình đối với những tài sản còn lại trongdanh mục Các nhà đầu tư cùng cơ quan xếp hạng luôn yêu cầu tài sản có chấtlượng cao và khuyến khích các tổ chức bán đi những tài sản tốt của mình Thêmvào đó, trong quá trình chứng khoán hoá với thời gian tương đối dài ngân hàngphải chịu áp lực từ phía cổ đông nên thường có xu hướng giảm nhẹ các tiêu chuẩncho vay để giữ mức độ tăng trưởng Và khi đó nhiều khoản tín dụng mới được chấp

Trang 18

nhận không những không làm cho chất lượng danh mục cao hơn mà lại có xuhướng làm giảm chất lượng danh mục, từ đó ảnh hưởng tới tiếng tăm của tổ chức.

5.2.3.Rủi ro liên quan đến chứng khoán hóa các khoản tín dụng tuần hoàn

Việc chứng khoán hóa các khoản tín dụng tuần hoàn đặc biệt phức tạp vì nóliên quan tới việc phát hành một lượng chứng khoán cố định nhưng tài sản bảo đảmcho nó lại luôn dao động và không có thời gian đáo hạn xác định Một danh mụcphải thu của thẻ tín dụng dao động hàng ngày khi các tài khoản cá nhân tăng giảm

và phương thức thanh toán cũng hết sức bất thường, lúc nhanh lúc chậm tuỳ theo sựlựa chọn khách hàng Vì thế việc quản lý các luồng tiền vào từ khách hàng cho tớiviệc chuyển cho người nắm giữ chứng khoán rất phức tạp, đòi hỏi phải có nhữngcông cụ quản lý cao cấp, đảm bảo việc chia sẻ rủi ro giữa các bên trong suốt quátrình chứng khoán hoá

Với những ưu và nhược điểm như đã nêu ra ở trên, ta thấy chứng khoán hoáđược coi như một công cụ tài chính đặc biệt thoả mãn đựơc yêu cầu của các ngânhàng Nó sẽ là giải pháp tốt cho ngân hàng trong quản lý Và để làm rõ hơn quátrình hoạt động của chứng khoán hoá trong ngân hàng thương mại ta sẽ phân tíchtrong phần tiếp theo

II.CHỨNG KHOÁN HOÁ CÁC KHOẢN NỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Vài nét về chứng khoán hoá khoản nợ tại các NHTM

Chứng khoán hoá khoản nợ trong ngân hàng là hình thức mà trong đó ngânhàng đóng vai trò tổ chức khởi tạo cố gắng tập hợp các khoản mục tài sản củamình, sau đó đem chứng khoán hoá để bán ra thị trường-nó có tên gọi chung làCDO (Collateratized Debt Obligation) Thực chất của hình thức này là ABS (AssetBacked Security) nhưng tài sản để bảo đảm cho nó là một danh mục trái phiếu hoặckhoản cho vay của ngân hàng Đồng thời trên cơ sở quy trình chứng khoán hoákhoản nợ ngân hàng nói chung lại có 2 biến thái của CDO đó là :

+CDO chênh lệch đặc trưng dưới hình thức CBO(Collateratized BondObligation) thường do ngân hàng khởi tạo mua khoản vay hoặc khoản nợ trên thị

Trang 19

trường sau đó đem chứng khoán hoá để hưởng những chênh lệch do bán lại nợ vàphí quản lý hoạt động thu tiền Đây là hình thức thuần tuý kinh doanh của ngânhàng.

+CDO trên bảng cân đối mà đặc trưng dưới hình thức CLO ( CollateratizedLoan Obligation) được thiết kế để loại một khoản vay ra khỏi bảng cân đối nhằmđạt được trạng thái yêu cầu về vốn và nhằm tăng giá trị tài sản thông qua việc làmtăng tính lỏng của tài sản CLO là một công cụ cực kỳ hữu hiệu đối với ngân hàngtrong việc loại các khoản mục tài sản, đặc biệt là các khoản nợ tồn đọng, nợ xấu rakhỏi bảng cân đối tài sản nhằm đạt được trạng thái tài chính tốt hơn

Để làm hiểu rõ hơn cấu trúc CLO và động lực tiến hành ta cần có sự phânbiệt giữa CLO với các loại chứng khoán khác ở một số đặc điểm

*Số lượng của các khoản nợ được tập hợp vào danh mục cho vay không quálớn như trong chứng khoán hoá các khoản cho vay ô tô hoặc thẻ tín dụng, thôngthường 1 danh mục được tập hợp bao gồm 100-200 khoản vay

*Tính đồng nhất của khoản vay hoặc trái phiếu khá cao Tổ chức khởi tạophải cố gắng tập hợp các khoản vay sao cho có thể cung cấp cho danh mục chứngkhoán hoá những lợi ích và độ phân tán nhất định

*Hầu hết cấu trúc của CDO là cấu trúc nhiều lớp, những lớp này có độ ưutiên khác nhau về dòng tiền, thời gian đáo hạn tuỳ thuộc vào nhu cầu của nhà đầu

tư Có một số lớp sẽ có mức rủi ro rất thấp do được bên thứ ba bảo lãnh và cónhững lớp sẽ chịu hầu hết các rủi ro cho các lớp xếp hạng trên nó

*Một đặc trưng khác là trong thời kỳ thanh toán có giai đoạn tái đầu tư đốivới những khoản nợ được thanh toán sớm hoặc do bán tài sản

Nhìn chung, CDO cũng có những rủi ro và lợi ích nhất định mà khi thực hiện

cả nhà đầu tư và tổ chức khởi tạo cần phải có những tính toán để đảm bảo lợi íchcho riêng mình Về nội dung này ta sẽ làm rõ hơn ở phần quy trình chứng khoánhoá

Trang 20

Quá trình chứng khoán hoá nhìn chung tương đối phức tạp vì nó liên quantới rất nhiều bên và mỗi bên đều có những lợi ích và rủi ro riêng Hoạt động chứngkhoán hoá có rất nhiều khâu nhưng nhìn chung có thể biểu diễn trong hình 2 và có

các bước được thể hiện trong hình 3.

2.Nội dung chứng khoán hoá

2.1.Chuẩn bị giao dịch của tổ chức khởi tạo

2.1.1.Chuẩn bị về mặt luật pháp.

Cần phải nghiên cứu kỹ những văn bản của các bộ, ngành liên quan đếnnghiệp vụ chứng khoán hóa, những văn bản về Quy chế mua bán nợ, về việc thànhlập AMC, về việc chuyển nợ từ ngân hàng sang AMC

Theo quy định của một số nước, để khuyến khích một số thị trường tài sảnphát triển thì còn cần có những ưu đãi về thuế Đây cũng là điểm hết sức lưu ý vì

nó sẽ tạo ra những yếu tố pháp lý cần thiết cho chứng khoán hoá

2.1.2.Chuẩn bị về mặt nội bộ

Các ngân hàng phải chuẩn bị một đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, cókinh nghiệm, am hiểu về kinh tế thị trường,tiếp cận những kiến thức mới của thếgiới về xử lý nợ

Các ngân hàng cũng phải hiện đại hóa các trang thiết bị công nghệ của mình.Trong lĩnh vực ngân hàng nói chung và chứng khoán hóa nói riêng, những trangthiết bị này sẽ giúp nâng cao chất lượng hoạt động, đảm bảo tiến độ và tính chínhxác, cho phép đưa ra các kết quả khác nhau qua vận hành các mô hình trên vi tính

Các ngân hàng cũng phải lường hết tính phức tạp của chứng khoán hoá cả vềmặt tính toán, tổ chức và có những chuẩn bị cần thiết để phòng ngừa những rủi roxấu nhất có thể gặp phải trong giao dịch

2.2.Chuẩn bị của SPV

2.2.1.Quyết định cấu trúc của chứng khoán phát hành

Trang 21

Sau khi tổ chức khởi tạo là ngân hàng đưa ra đề nghị với SPV thì tổ chức nàyphải quyết định cấu trúc của chứng khoán phát hành

SPV phải tập hợp các khoản vay từ ngân hàng chuyển sang, phải phân loại,đánh giá chất lượng của các khoản vay hết sức chi tiết Nó cần phải xác định trong

đó bao nhiêu phần trăm là các khoản nợ có lãi suất cố định, lãi suất điều chỉnh Mỗikhoản này có những đặc điểm khác nhau về thời gian thanh toán, phương thứcthanh toán và có những thoả thuận riêng biệt Sau đó SPV tập hợp những loại tàisản có tính đồng nhất vào thành các danh mục và phát hành các chứng khoán cóthứ hạng khác nhau ra thị trường

Hình 4 : Phân lớp chứng khoán

Theo như mô hình đã đưa ra trên, sau khi tập hợp tài sản lại thành một danhmục thì phải chia chứng khoán thành các lớp theo cơ chế thẩm thấu dần hay cơ chếthác nước (waterfall) Theo cơ chế này danh mục tài sản sẽ được chia thành các lớpnhỏ phù hợp với nhu cầu của nhà đầu tư và chất lượng của các loại tài sản ban đầu.Tuy nhiên đây cũng là một yếu tố rất phức tạp trong việc đánh giá chính xác mức

độ rủi ro của chứng khoán

Chứng khoán có xếp hạng tín dụng cao nhất là A- lớp ưu tiên (senior class)

là chứng khoán có xếp hạng rất cao, khả năng thanh toán nợ gốc và lãi suất đầy đủ

và đúng hạn như đã cam kết Thông thường phần này được chia làm 2 đến 3 loại là:AAA, AA và A, có quyền ưu tiên trong thanh toán lãi suất và gốc so với các chứng

LỚP ƯU TIÊN

LỚP THỨ CẤP

AAA

AA A BBB BB B UNRATEDDANH MỤC

CHO VAY

Trang 22

khoán loại sau Tuy nhiên lớp này thường có mức thu nhập dự tính không cao và cóthời gian đáo hạn thấp nhất.

Chứng khoán thứ cấp hay lớp B và C (subordinate class) là loại chứng khoán

có xếp hạng tín dụng thấp hơn và sẽ phải chịu sự phân bổ rủi ro từ chứng khoán ưutiên chuyển xuống Trong mỗi kỳ thanh toán, thường loại này cũng phải thanh toánsau và trường hợp có sự kiện rủi ro tài chính xảy ra, cần thanh lý tài sản thì loại nàycũng nhận sau lớp ưu tiên Ta thấy lớp thứ cấp sẽ gánh chịu rủi ro rất lớn Do vậy

để thu hút giới đầu tư, trên thực tế, người quản trị SPV có kinh nghiệm sẽ dành một

số ưu tiên cho các lớp sau, ví dụ bằng cách thanh toán lãi suất cho lớp B còn lớp A

sẽ được thanh toán vốn gốc trước

Chứng khoán không phân loại (Unrated class-UC đôi khi gọi là Equity)thường chiếm một phần nhỏ của toàn bộ danh mục chứng khoán hoá Phần nàythường do tổ chức khởi tạo nắm giữ như một phần bắt buộc của chứng khoán hoá.Phần này có thể tạo thêm thu nhập cho tổ chức khởi tạo trong trường hợp tình hìnhchi trả tốt, ngược lại, có thể nó sẽ được dùng để chi trả cho các chứng khoán đãphát hành

2.2.2.Dự tính về dòng tiền cho các lớp chứng khoán

Việc phân bố dòng tiền cho các lớp chứng khoán của SPV là những quyếtđịnh hết sức linh họat tuỳ thuộc vào chính sách của nhà quản trị nhưng đồng thờicũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan khác Khi nhận được tiền theo phân

bố trên, SPV sẽ tính toán, trừ các chi phí của giao dịch và căn cứ vào cấu trúc, mức

độ ưu tiên trong thanh toán, định ra lớp nào sẽ được thanh toán vốn gốc hay lãi suấttrước Trong trường hợp này ngoài việc phải đối mặt với rủi ro trả trước và các rủi

ro dẫn tới sự huỷ bỏ của một dòng tiền thì trên thực tế các khoản vay sẽ được thanhtoán theo nhiều hình thức khác nhau (đồng thời thanh toán theo niên kim hoặc theotrả gốc đều ) dẫn tới việc phân chia và tính toán các lớp, các dòng tiền cũng hếtsức phức tạp

Để minh hoạ cho phần này ta xem xét một đợt phát hành chứng khoán củamột SPV là Bleecker Structured Asset Funding Ltd

Trang 23

Theo như bảng dưới thì chứng khoán lớp 1 đựơc đánh giá thành 3 loại: Aaa,

Aa và Aa2 Trong đó loại Aa có giá tỷ lệ lớn nhất phản ánh chất lượng chứngkhoán hoá tốt và đây là loại dành cho giới đầu tư chấp nhận mức lãi suất vừa phảinhưng rủi ro thấp như các công ty bảo hiểm, các ngân hàng muốn nắm giữ tài sản

có tính thanh khoản cao Ta còn thấy chứng khoán lớp 2 có mức lãi suất rất caonhưng hàm chứa những rủi ro tiềm ẩn, phù hợp với những người ưa rủi ro và thunhập Phần còn lại chiếm 5% là phần mà tổ chức khởi tạo phải nắm giữ theo nhưthoả thuận với SPV

SPV: Bleecker Structured Asset Funding Ltd

Giá trị danh mục chứng khoán hoá 457 triệu USD

Bảng 4: Cấu trúc chứng khoán của Bleecker Structured Asset Funding Ltd

n v : tri u USDĐơn vị: triệu USD ị: triệu USD ệu USD

Lãi suất Đáo

hạn

Tăng cường tín dụng (% tổng vốn)

(Nguồn: Securitization: a public tool-Nick Davis-8/2000)

2.2.3.Thoả thuận về tăng cường tín dụng

2.2.3.1.Lựa chọn hình thức tăng cường tín dụng

Trang 24

Với bất cứ nhà đầu tư nào dù ưa thích mạo hiểm cũng không muốn chấpnhận toàn bộ rủi ro từ chứng khoán hoá Do vậy thông qua SPV thường có các biệnpháp tăng cường tín dụng nhằm đảm bảo quyền lợi cho nhà đầu tư Thông thường

có 2 loại là tăng cường tín dụng trong và tăng cường tín dụng ngoài

Tăng cường tín dụng ngoài: thường do một ngân hàng thứ 3 hoặc do công

ty bảo hiểm đứng ra bảo đảm Có những hình thức thông dụng sau:

+Thư tín dụng không thể huỷ ngang có thể do ngân hàng thứ 3 phát hànhcam kết sẽ thanh toán một phần của giá trị danh mục trong trường hợp có sự kiệnrủi ro xảy ra

+Bảo hiểm do tổ chức công ty bảo hiểm hoặc các công ty tài chính cung cấpnhằm hạn chế rủi ro trả sai hẹn của người đi vay Theo cách này tổ chức bảo hiểm

sẽ cam kết thanh toán cho các chứng khoán ở các lớp nhất định tuỳ theo năng lựccủa tổ chức đó Tuỳ theo chất lượng và số lượng của chứng khoán mà tổ chức này

sẽ nhận phí từ 8 cho đến > 50 điểm Hình thức này hiện nay tương đối thông dụng

và có tốc độ phát triển nhanh

+Tài khoản tiền mặt thế chấp là một tài khoản do tổ chức khởi tạo hoặc domột bên thứ 3 đứng ra gửi một lượng tiền cần thiết bằng giá trị tăng cường tín dụngtiêu chuẩn Tài khoản này sẽ phục vụ cho quyền lợi của nhà đầu tư và sẽ được rút

ra khi có sự kiện rủi ro nảy sinh

Theo cách tính mức độ tăng cường tín dụng phổ biến trên thế giới đang ápdụng thì trước hết, tổ chức cung cấp dịch vụ tăng cường tín dụng sẽ căn cứ vào cáclớp chứng khoán được phát hành và tìm ra số nhân tổn thất (Loss multiple) theobảng sau:

Trang 25

Tỷ lệ tăng cường tín dụng sẽ được tính trên cơ sở đời sống trung bình củachứng khoán và mức độ tổn thất dự tính.

Tỷ lệ tăng cường tín

dụng (TLTCTD)

= Số nhântổnthất

x Thời gian

đáo hạn trung bình

x Mức độ tổn

thất dự tính

Giả sử ta có danh mục sau:

Bảng 5: Mức độ tăng cường tín dụng Đơn vị: triệu USD

Thời gian đáo hạn trung bình 2,5 năm

đỡ cho giá trị chứng khoán Để tính toán tài sản giữ lại SPV sẽ căn cứ vào số liệulịch sử để đưa ra một tỷ lệ phù hợp

Trang 26

+Chia lớp chứng khoán: như đã nói ở trên chứng khoán phát hành được chia

ít nhất thành 2 lớp Lớp ưu tiên (senior) được ưu tiên nhận dòng tiền từ tài sản cơ

sở còn lớp thứ hai sẽ nhận sau lớp thứ nhất Ví dụ, phát hành một danh mục chứngkhoán trong đó 90% là ưu tiên còn 10% là thông thường thì tất nhiên là những nhàđầu tư nắm giữ 10% sẽ gánh chịu hầu hết mọi rủi ro, nhưng bù lại có một mức thunhập mong đợi rất cao

2.2.3.2.Định mức phí cho tăng cường tín dụng

Đối với SPV khi quyết định hình thức tăng cường tín dụng sẽ phải cân nhắc

ưu và nhược điểm của tăng cường tín dụng trong và tăng cường tín dụng ngoài.Nhưng dù dưới bất cứ hình thức nào thì đều có những chi phí nhất định Và thôngthường mức phí này sẽ dao động quanh khoảng 8 – 90 điểm tín dụng tuỳ theo mức

độ cần tăng cường Trên thực tế SPV hay sử dụng kết hợp nhiều hình thức khácnhau ví dụ: SPV yêu cầu công ty bảo hiểm cam kết thanh toán một tỷ lệ nhất địnhvới chứng khoán lớp AAA còn các lớp khác nó sẽ dùng thế chấp vượt quá để tăngcường tín dụng

2.2.3.3.Tăng cường tính lỏng

Một hình thức kỹ thuật tăng cường tín dụng khác là cung cấp dịch vụ tínhlỏng cao, như ta sẽ thấy trên mô hình chứng khoán hoá Đây cũng là một yếu tố rấtquan trọng vì mục tiêu của chứng khoán hoá là chuyển những tài sản tính lỏng thấpsang tính lỏng cao trên thị trường chứng khoán Kỹ thuật này thông dụng đối vớinhững chứng khoán phát hành trên những tài sản thương mại, những loại bao gồmrất nhiều hình thức phải thu khác nhau dẫn tới kỳ hạn hoàn vốn và hoàn trả khôngkhớp với nhau

Do vậy để lấp đầy khoảng chênh lệch này cần phải có các tổ chức sẵn sàngcung cấp nhưng khoản vay ngắn hạn Tổ chức này có thể là ngân hàng hoặc công tytài chính có quan hệ mật thiết với SPV

2.3.Xếp hạng chứng khoán

Trang 27

Quá trình xếp hạng chứng khoán bắt đầu khi cơ quan xếp hạng chứng khoánchính thức nhận được lời đề nghị từ phía SPV

Thông thường để đánh giá và xếp hạng chứng khoán phát hành cơ quan xếphạng tín dụng thường thực hiện những bước cơ bản sau:

2.3.1.Đánh giá tư cách tín dụng của người đi vay có tài sản nằm trong danh mục của SPV

Trong bước này, ngoài việc phải đánh giá những dữ kiện mà ngân hàng cungcấp để đánh giá trực tiếp khả năng trả nợ của khách hàng, đo lường rủi ro tiềm ẩncủa khoản nợ, cơ quan xếp hạng tín dụng cần điều tra những thông tin cần thiết đểđánh giá được rủi ro của khoản vay Trong nhiều trường hợp, các thông tin liênquan đến chất lượng tín dụng của người vay nợ không được công bố rộng rãi, cơquan xếp hạng tín dụng phải thu thập thông tin về:

Uy tín Uy tín của người vay vốn thể hiện qua lịch sử đi vay và trả nợ của

họ Nếu trong suốt thời gian quan hệ với ngân hàng , người vay thường xuyên trả

nợ đầy đủ và đúng hạn thì khoản nợ này sẽ có sức hấp dẫn lớn đối với SPV Vàkhoản nợ này sẽ làm giảm bớt chi phí tăng cường tín dụng cho cả danh mục tài sảnSPV nắm giữ đồng thời tạo điều kiện cho chứng khoán phát hành ra có xếp hạng tíndụng cao

Cơ cấu vốn Cơ cấu vốn thể hiện qua tỷ lệ vốn vay với vốn tự có của người

vay Tỷ lệ này phản ánh xác xuất rủi ro không thu được nợ vì tỷ trọng vốn vay nợcàng cao thì đòn bẩy tài chính càng cao, lãi suất và vốn vay phải trả càng lớn, khảnăng đáp ứng luồng lưu kim càng nhỏ Vì vậy khoản vay của các công ty có tỷ lệ

nợ cao đòi hỏi phần bù rủi ro phải lớn để bù đắp rủi ro tiềm năng phát sinh từ cơcấu vốn

Mức độ biến động của thu nhập Với bất kỳ cơ cấu vốn nào sự biến động

của thu nhập cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng trả nợ của người đi vay, bao gồmcác khoản nợ gốc và lãi Điều này rất quan trọng vì khi khoản nợ được chuyển choSPV để tập hợp lại thành danh mục, nó sẽ phải tính toán dòng tiền của tất cả các

Trang 28

khoản nợ rồi phát hành chứng khoán có thời hạn và phương thức thanh toán riêngbiệt, không phụ thuộc vào tài sản ban đầu Do đó, khả năng thanh toán không ổnđịnh có thể sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của SPV

Tài sản thế chấp Một điều kiện tiên quyết trong việc quyết định chứng

khoán hoá một khoản nợ là phải có tài sản thế chấp hoặc tài sản bảo đảm cho cáckhoản nợ Tuy nhiên tài sản thế chấp không loại trừ được rủi ro tín dụng tiềm năng(trong trường hợp giá trị tài sản thế chấp suy giảm nhỏ hơn giá trị khoản vay).Nhưng đồng thời cũng phải thấy là, qua chứng khoán hoá, rủi ro bán tài sản thếchấp nhỏ hơn giá thị trường cũng giảm đi vì ưu điểm của chứng khoán hoá là sẽ đợicho tới khi giá thị trường cao sẽ bán tài sản Tuy vậy ngân hàng mua nợ cần phảiđịnh giá tài sản thế chấp chính xác để phòng ngừa sự thay đổi giá trị của tài sản

Phân tích môi trường vĩ mô và chu kỳ kinh tế Chu kỳ kinh tế cũng có ảnh

hưởng rất quan trọng đến khả năng đánh giá của SPV hoặc cơ quan định giá về xácxuất rủi ro của khoản nợ Khi nền kinh tế rơi vào thời kỳ suy thoái thì nhiều khoảnvay rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán Ngân hàng cũng sẽ bị ảnh hưởngkhông nhỏ và nhu cầu loại bỏ các khoản vay ra khỏi bảng cân đối là rất lớn Tuyvậy, các chứng khoán phát hành ra nếu không thận trọng có thể sẽ không được giớiđầu tư mua Lãi suất trong môi trường kinh tế vĩ mô cũng ảnh hưởng không nhỏ tớihoạt đông chứng khoán hoá Lãi suất tăng đòi hỏi chứng khoán phát hành ra cómức lãi suất cao hơn, còn trong trường hợp lãi suất giảm thì cũng có thể xảy ra rủi

ro trả trước

2.3.2.Đánh giá danh mục chuẩn bị chứng khoán hoá

Đây là phần quan trọng nhất trong khâu xếp hạng tín dụng của chứng khoán

và nó quyết định tới thứ hạng của chứng khoán phát hành Trong một vài năm gầnđây phương pháp nhị thức mở rộng do Moody’s giới thiệu đã trở thành tiêu chuẩntrong việc đánh giá rủi ro của CDO Ý tưởng cơ bản của phương pháp này mô hìnhhoá rủi ro của một tập hợp tài sản có tính đồng nhất và độc lập với nhau

Phương pháp này như sau:

Trang 29

Thứ nhất cơ quan xếp hạng tín dụng sẽ đánh giá độ phân tán rủi ro của cảdanh mục tài sản do SPV nắm giữ.

Trong đó:

n: số lượng tài sản trong danh mục

Fi :giá trị danh nghĩa của tài sản thứ i trong danh mục

Rõ ràng giá trị của cả danh mục với các tài sản có giá trị rủi ro khác nhau cóthể được thay thế bằng D như là giá trị trung bình của các tài sản F có điều chỉnhtheo rủi ro

Tỷ lệ hoàn trả E biểu hiện cho mức độ rủi ro của các lớp chứng khoán và nếuchứng khoán có xếp hạng càng cao thì khả khả năng hoàn trả cũng rất cao

Ta có:

n: tỷ lệ hoàn trả theo các phân bố xác xuất

n::xác xuất cho sự kiện  xảy ra

p: biểu hiện cho xác suất vỡ nợ trung bình của cả danh mục

Lj: biểu hiện mất mát do các lớp của CDO tương ứng với sự kiện J xảy ra

Pj: là xác suất của sự kiện trong điều kiện rủi ro vỡ

n

P loss

E

) ( )

j D

 2

) ( ) ( )

L loss E P Loss  

j i j j i i Þ

n i

n

i i

F F q p q p p

F q F p D

(

Trang 30

(Nguồn: Analyzing the risk of structured credit (CDO) tranches:the modified binomial expansion method)

Độ lệch chuẩn cho phép tổ chức xếp hạng tín dụng thu nhận được nhữngthông tin quan trọng về mức độ vững mạnh của các lớp chứng khoán có liên quantới sự thay đổi của tỷ lệ hoàn trả

Trên cơ sở những tính toán cơ bản và những tính toán điều chỉnh khác nhưđánh giá mức độ biến động của dòng tiền, khả năng tái đầu tư hay những biến động

về lãi suất thu nhập cơ quan xếp hạng tín dụng sẽ tư vấn cho SPV có thể thay đổicấu trúc của chứng khoán hoặc yêu cầu mức tăng cường tín dụng cao hơn nữa đểđưa ra được những lớp chứng khoán phù hợp với điều kiện đánh giá của cơ quannày

2.4.Thu và phân phối dòng tiền

Thanh toán nợ

Phí Cam kết

nh ành đằu tư

Trung gian t i ành chính

Gốc

+

lãi

Phí dịch vụ

Trang 31

Hàng tháng có một luồng tiền do con nợ chuyển vào một tài khoản do ngânhàng quản lý Ngân hàng lúc này sẽ đóng vai trò người cung cấp dịch vụ và nhậnphí quản lý luồng tiền Sau đó ngân hàng sẽ chuyển tiền vào một tài khoản gọi làcollection account do SPV là chủ sở hữu Đây sẽ là tài khoản đầu mối của tất cả cáctài khoản khác và phân phối cho các đối tượng tham gia.

Quá trình thu tiền của SPV sẽ tập trung và thông qua tài khoản thu tiền Cáckhoản phải này có thời hạn thanh toán, phương thức thanh toán khác nhau nhưngSPV chỉ thanh toán theo một số phương thức nhất định Do vậy nó sẽ phải thôngqua các trung gian tài chính khác để hoán đổi tiền tệ nhằm đạt được ý định cầnthiết

2.5.Tái đầu tư và thay thế tài sản

Vì danh mục tài sản của SPV là tập hợp của rất nhiều tài sản có thời hạnthanh toán khác nhau nên rủi ro thanh toán trước là tất yếu xảy ra với SPV Trongtrường hợp này việc tái đầu tư được thực hiện để lấp đầy khoảng trống do tài sản

đó để lại Thông thường có 3 hình thức tái đầu tư là:

+Tái đầu tư cam kết là hình thức SPV tái đầu tư vào các đối tượng tham giahợp đồng như một sự đánh đổi cho những dịch vụ mà các đối tác cung cấp

+Mua những khoản nợ khác là hình thức tương đối phổ biến Theo đó SPV

sẽ mua nhưng khoản nợ mới để tạo ra dòng tiền mới và liên tục cho những nhà đầu

tư nắm giữ chứng khoán phát hành của danh mục

+Đầu tư chứng khoán là hình thức SPV dùng tiền mua những chứng khoánlấp vào danh mục tài sản và dùng dòng tiền từ chứng khoán đầu tư sẽ bổ sung chophân phối dòng tiền

3.Một số phương thức chứng khoán hoá các khoản nợ tồn đọng

Hiện nay trên thế giới tuỳ vào điều kiện phát triển của từng nước có thể cóhai phương thức như sau:

Hình 5: Các hoạt động thu v phân phành ối luồng tiền

Trang 32

3.1.Phương thức phân tán

Những nước có thị trường tài chính phát triển như Mỹ, Canada và EU đã ápdụng mô hình này Theo phương thức này ngân hàng A có thể thành lập riêng chomình một SPV hoặc thông qua một SPV độc lập khác tiến hành chứng khoán hoácác khoản nợ của mình

Trường hợp SPV là một trung gian tài chính có thể là quỹ đầu tư, một công

ty tài chính hoặc công ty trực thuộc một ngân hàng đầu tư thì hiệu quả hoạt độngcủa nó được đo lường bằng lợi nhuận Cụ thể là khi SPV mua một khoản nợ dongân hàng chuyển sang nó sẽ cố gắng mua với mức chiết khấu lớn nhất và sau đóphát hành chứng khoán SPV có thể thu phí do một ngân hàng uỷ thác hoặc có thểthu lợi nhuận qua hoạt động chứng khoán hoá

Trong trường hợp SPV trực thuộc ngân hàng mẹ thì hoạt động của nó sẽphục vụ cho hoạt động xoá nợ xấu của ngân hàng mẹ nhưng đồng thời cũng sẽ hoạtđộng theo như các SPV trên thị trường khác Hình thức này có thể biểu diễn dướibiểu hình đồ sau:

Hình 6: Chứng khoán hoá khoản nợ tồn đọng theo phương án phân tán

Theo như phương thức này thì ngân hàng A cấp một số vốn là 10 cho SPV

để SPV có đủ điều kiện pháp lý để hoạt động Lúc này trên bảng cân đối của ngânhàng giá trị sổ sách của khoản vay là 100 Tuy nhiên xác suất hoàn trả của khoảnvay là rất thấp và giá trị thị trường của tài sản thế chấp chỉ là 60 Sau khi thành lập

Cấp vốn th nh lành ập: 10

Bán khoản vay: 60 Tiền : 60

Cho vay: 60

Trang 33

SPV ngân hàng A sẽ cho SPV vay một khoản mới giá trị là 60 (giá thị trường củakhoản vay) để SPV có vốn hoạt động, đồng thời sẽ bán cho SPV khoản vay với giátrị cũng là 60 (SPV sử dụng khoản vay để mua tài sản của ngân hàng) Trên thực tếtiền sẽ không chuyển trực tiếp mà vẫn nằm trong tài sản của ngân hàng A nhưngngân hàng sẽ loại được khoản này ra khỏi bảng cân đối và thay bằng khoản vaymới lành mạnh hơn Và SPV tuy là mua khoản vay nhưng thực chất chỉ là sựchuyển dịch từ ngân hàng sang cho SPV Ngân hàng tuy mất giá trị danh nghĩa là

40 nhưng nó sẽ đươc lợi thế về thuế trên khoản lỗ này

Lợi thế của phương thức phân tán này là

Động lực quản lý của các SPV sẽ mạnh hơn vì hoạt động sẽ dựa trên cơ chếcạnh tranh vì lợi nhuận

Ít chịu áp lực chính trị từ phía chính phủ

Làm sạch được bảng cân đối của ngân hàng

Một số nhược điểm của phương thức này

Chi phí hoạt động thường lớn hơn phương thức tập trung và nhiều khi khôngtận dụng hết được khả năng của SPV

Nếu SPV phụ thuộc vào ngân hàng thì tuy về mặt lý thuyết không có sự ràngbuộc gì nhưng trên thực tế do áp lực của ngân hàng mẹ nên việc xử lý nợ nhiều khikhông đảm bảo

Về hoạt động do các trung gian làm việc nên không đủ mạnh về mặt pháp lýcho thu hồi tài sản thế chấp hoặc giải quyết với con nợ

Quyền lực hoạt động phân tán ít có hỗ trợ từ phía chính phủ

3.2.Phương thức tập trung

Phương thức này tương đối phổ biến trên thị trường của những nước đangphát triển, đang trong quá trình hoàn thiện về mặt thị trường tài chính cũng nhưhoàn thiện kỹ thuật chứng khoán hoá nói riêng như Hàn quốc, Thái Lan, Trung

Trang 34

Quốc Theo như cách thức tổ chức và tiến hành của phương thức này thì chính phủcũng tham gia vào hoạt động chứng khoán hoá.

Theo như mô hình này thì chính phủ yêu cầu một số nhóm các ngân hàng lớnđồng thành lập một SPV SPV sẽ đứng ra chịu trách nhiệm chứng khoán hoá cáckhoản nợ của các ngân hàng tham gia góp vốn Sau khi SPV nhận được các khoảnvay từ phía các ngân hàng chuyển sang nó sẽ xem xét đánh giá tình hình thị trườngcủa loại tài sản thế chấp

Trong trường hợp thị trường này xuống giá ví dụ như thị trường bất động sảncủa Nhật bản vào cuối những năm 80, nó sẽ chứng khoán hoá khoản nợ và tìm cáchkhai thác giá trị tài sản Nếu người đi vay vẫn còn khả năng thanh toán nợ nó sẽxem xét và đưa ra phương án kinh doanh để tận thu tài sản hoặc bản thân nó sẽ khaithác tài sản thế chấp cùng con nợ Trong trường hợp này hoạt động của SPV sẽ làhoạt động của AMC ( công ty quản lý tài sản ) nhưng một điểm khác là nó sẽ bántài sản khi có giá trị cao nhất và sản phẩm của nó là các chứng khoán có tính thanhkhoản cao

Hình 7: Chứng khoán hoá khoản nợ tồn đọng theo phương án tập trung

Trang 35

tiền tiềnc

d

góp vốngóp vốn

Phương thức này có những ưu điểm sau:

SPV sẽ được coi như công cụ đặc biệt để đưa các khoản nợ tồn đọng, nợ xấu

ra khỏi bảng cân đối với những tiêu chí đánh giá và quản lý thống nhất

Được sự hậu thuẫn rất lớn từ phía chính phủ và chịu áp lực từ phía chính phủbuộc các ngân hàng phải cải tổ

Có quyền lực mạnh mẽ trong việc xử lý tài sản thế chấp và khai thác tài sản

Có điều kiện tập trung nguồn lực và kỹ năng

Trong chương 1, khóa luận đã đề cập tới những khái niệm và hoạt động cơbản nhất của chứng khoán hoá khoản nợ trong ngân hàng Trên cơ sở những kháiniệm như vậy chương 2 của khóa luận sẽ xem xét, đánh giá những vấn đề còn tồntại trong xử lý nợ tồn đọng tại các hệ thống NHTM Việt nam nói chung và ở

NGÂN HÀNG AN HÀNG ANG

C

Nợ tồn đọng c

NGÂN HÀNG AN HÀNG ANG D

Nợ tồn đọng d

Trang 36

NHNT nói riêng và đề xuất nghiệp vụ chứng khoán hoá như là một công cụ hữuhiệu cho quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hoá tài chính tại các ngân hàng này.

III.KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG CHỨNG KHÓA HÓA

Tuy khái niệm chứng khoán hóa mới chỉ xuất hiện từ những năm 70 của thế

kỷ 20 nhưng cho đến nay đã có rất nhiều nước thực hiện hoạt động này Thoạt đầu,hoạt động này được tiến hành thành công ở châu Mỹ và châu Âu Sau đó chứngkhoán hóa được tiến hành ở cả châu Úc, châu Phi và châu Á Tuy nhiên, khái niệmchứng khoán hóa vẫn còn rất mới mẻ đối với Việt Nam Để tạo điều kiện cho hoạtđộng chứng khoán hóa ra đời và phát triển thành công ở nước ta thì học tập kinhnghiệm của các nước khác, đặc biệt là các nước trong khu vực là một việc hết sứccần thiết

Trên cơ sở nhận thức như vậy, khóa luận xin nêu ra một số điểm đáng chú ýtrong hoạt động chứng khoán hóa ở Nhật Bản và Hàn Quốc, hai quốc gia đã thựchiện khá thành công hoạt động này

1.Nhật Bản

Tại Nhật, việc tiến hành một giao dịch phải tuân thủ theo Bộ luật dân sựNhật Bản Bộ luật này yêu cầu phải có thông báo bằng văn bản hoặc sự đồng ý củachủ nợ trước khi giao dịch được tiến hành Những yêu cầu khắt khe này chính lànhững trở ngại lớn để phát triển hoạt động chứng khoán hóa tài sản Luật MITI do

Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế (The Ministry of International Trade andIndustry-MITI) ban hành đã thay đổi những yêu cầu này, cho phép những ngườikhởi tạo không phải là ngân hàng có được sự chấp thuận về kế hoạch của MITI

Tuy nhiên, cho tới nay, không có một luật nào giải quyết vấn đề đối vớinhững người khởi tạo khác Nếu một người phát hành không thể tách tài sản khỏirủi ro tín dụng của người khởi tạo trong quá trình thực hiện giao dịch thì người pháthành thường không thể có được xếp hạng tín dụng cho ABS cao hơn xếp hạng tíndụng của người khởi tạo Luật MITI đã giải quyết vấn đề này đối với người khởitạo không phải là ngân hàng và cho phép họ có được xếp hạng tín dụng cao hơn

Trang 37

Những người được uỷ quyền khác cố gắng vượt qua vấn đề này với việc tiếnhành ngẫu nhiên (contingent perfection) Tổ chức phát hành thực tế không tiếnhành giao dịch cho đến khi những sự kiện có tính chất châm ngòi, chẳng hạn như

sự suy giảm thứ hạng tín dụng của người khởi tạo, xảy ra Tuy nhiên, các cơ quanxếp hạng tín dụng không sẵn lòng cấp cho cho ABS một thứ hạng cao hơn củangười khởi tạo trong những trường hợp như vậy vì những sự kiện châm ngòi có thểkhông diễn ra như kế hoạch và giúp cho giao dịch được hoàn thành đúng hạn

Hoạt động tăng cường tín dụng cũng có những điểm đáng chú ý Thôngthường, rủi ro tài sản có thể được giảm xuống bằng cách sử dụng một số biện pháptăng cường tín dụng ngoài Tại Mỹ có 4 phương pháp điển hình để giảm rủi ro này:1)nhờ một ngân hàng phát hành một thư tín dụng; 2)nhờ một công ty bảo hiểm pháthành đơn bảo hiểm; 3)nhờ một công ty tài chính phát hành một giấy bảo lãnh; 4)sửdụng khoản vay phụ của một bên thứ ba Tuy nhiên, những phương thức này khôngphổ biến ở Nhật vì Nhật không có sẵn cơ sở hạ tầng cần thiết để cung cấp loại tăngcường tín dụng này Do đó, việc chứng khoán hóa tài sản của Nhật cho đến nay vẫndựa vào việc tăng cường tín dụng trong

Trong một số giao dịch khá gần đây mà có tăng cường tín dụng của bên thứ

ba thì dịch vụ này do ngân hàng cung cấp Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính

đã làm giảm xếp hạng tín dụng của ngân hàng, do đó làm giảm khả năng cung cấptăng cường tín dụng của họ

Các công ty bảo hiểm lại không phải gánh chịu những ảnh hưởng xấu nhưvậy Tuy nhiên, cho tới gần đây luật bảo hiểm vẫn cấm các công ty bảo hiểm cungcấp các giấy bảo lãnh cho những loại nghĩa vụ chính nhất định Tháng 2/1998 cơquan lập pháp Nhật đã xóa bỏ những hạn chế đó và cho phép các công ty bảo hiểmcung cấp bảo lãnh thanh toán các khoản nợ và chứng khoán Sự tham gia của cáccông ty bảo hiểm trong lĩnh vực chứng khoán hóa sẽ mở cửa lĩnh vực này cho rấtnhiều khởi tạo mới

Trên thực tế, MBIA-AMBAC International, một trong những nhà bảo lãnhbảo hiểm tài chính chuyên môn lớn nhất trên thế giới đã hình thành nên một liên

Trang 38

minh chiến lược với hai trong số những công ty bảo hiểm nhân phi thọ lớn nhấtNhật Bản: Mitsui Marine and Fire Insurance Co.Ltd và Yasuda Fire MarineInsurance Co.Ltd Các liên minh kiều này sẽ cung cấp loại tăng cường tín dụng màrất cần thiết cho hoạt động chứng khoán hóa và mang những lợi ích của chứngkhoán hóa tới cho những công ty Nhật mà cần nó nhất.

2.Hàn Quốc

Trước cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997, một số giao dịchchứnng khoán hóa đã được nhắc đến ở Hàn Quốc nhưng không có gì đáng chú ýxảy ra Các hoạt động trên thị trường chứng khoán bắt đâu tăng dần lên từ năm

1999 Một trong những giao dịch đáng chú ý nhất đã diễn ra vào tháng 12/1998 doKorean Exim Bank tiến hành Ngân hàng này tham gia vào việc tài trợ cho các hoạtđộng ở nước ngoài của các công ty Hàn Quốc và có những khoản tiền có thể thuđược (receivables) trong hoạt động ngoại hối Ngân hàng này đã chứng khoán hóanhững khoản có thể thu được (dưới dạng những giấy cam kết thanh toán -promissory note-do khách hàng của nó lập) trị giá 265 triệu USD Những bản camkết có chất lượng cao nhất được xếp hạng AAA Vào tháng 2/1999 Industrial Bank

of Korea cũng chứng khoán hóa những khoản có thể thu được từ cho vay quốc tếtrong một giao dịch trị giá 106 triệu USD Giao dịch này được FSA, một công tybảo hiểm bảo lãnh

Một trong những nguyên nhân chính của việc quy mô hoạt động chứngkhoán hóa ở Hàn Quốc diễn ra thấp trước cuộc khủng hoảng tài chính là luật phápcủa nước này Năm 1998, Hàn Quốc đã ban hành Luật chứng khoán hóa nhữngkhoản có tài sản bảo đảm Luật này chủ yếu điều chỉnh hoạt động chứng khoán hóacủa các tổ chức tài chính Luật này bao trùm một phạm vi rất rộng Các tổ chức tàichính ở đây bao gồm các tổ chức tài chính do Chính phủ sáng lập như KoreanDevelopment Bank, Korean Exim Bank, Industrial Bank of Korea, các công ty bảohiểm, các công ty chứng khoán

Trang 39

SPV, người nắm giữ những khoản có thể thu được trong tương lai sẽ được tổchức như một công ty trách nhiệm hữu hạn Nghiệp vụ kinh doanh duy nhất của tổchức này là nắm giữ những khoản có thể thu được Chức năng cung cấp dịch vụ làlàm đại diện cho người khởi tạo nhưng việc quản lý các tài sản được chứng khoánhóa lại nằm dước sự kiểm soát của SPV.Từ năm 1962, Công ty quản lý tài sảnHàn Quốc (KAMCO) được thành lập.với mục đích chủ yếu khi đó là xử lý tài sảntồn đọng của NH Phát triển Hàn Quốc Tuy nhiên, đến năm 1997, do tình hìnhkhủng hoảng của hệ thống NH tài chính tại Hàn Quốc nên KAMCO được giaonhiệm vụ sử lý tài sản tồn đọng của các định chế tài chính Hàn Quốc KAMCOđược đặt dưới sự giám sát tài chính Hàn Quốc Sau hơn 3 năm, KAMCO đã muađược 98,3 nghìn tỷ và bán được 47,4 nghìn tỷ won tài sản tồn đọng của các địnhchế tài chính Nền kinh tế phục hồi, giá tài sản, đặc biệt là bất động sản tăng lênnên KAMCO có thể bán với giá cao hơn giá mua vào (trong năm 1999 và đầu năm

2000, KAMCO có lãi ròng 9.643 và 6.178 tỷ won).(1)

Uỷ ban giám sát tài chính Hàn Quốc (Financial Supervisory FSC) duy trì quyền kiểm soát đối với hoạt động chứng khoán hóa của các công tyHàn Quốc Theo đó, người khởi tạo dự định tiến hành chứng khoán hóa thì phảiđăng ký kế hoạch của họ với FSC FSC có quyền từ chối hoặc yêu cầu người khởitạo sửa đổi kế hoạch Việc chuyển nhượng những khoản có thể thu được của ngườikhởi tạo cũng phải được đăng ký với FSC

Hệ thống luật pháp chung của Hàn Quốc cũng có thể yêu cầu thông báo chocon nợ trong bất kỳ một lần chuyển nhượng các khoản có thể thu được Quy địnhnày về cơ bản vẫn không thay đổi thậm chí ngay cả theo luật chứng khoán hóa.Luật này cũng đòi hỏi phải thông báo cho con nợ hay có được sự chấp thuận củacon nợ

3.Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Trong quá trình nghiên cứu khả năng áp dụng biện pháp chứng khoán hóacác khoản nợ tồn đọng để tái cơ cấu và làm lành mạnh hóa hệ thống các NHTM

(1)Báo cáo kết quả khảo sát thực tế tại H n Qu àn Qu ốc về vấn đề xử lý nợ tồn đọng v ho àn Qu ạt động của công

ty Quản lý t i s àn Qu ản H n Qu àn Qu ốc-29/5/2001

Trang 40

Việt Nam, một việc hết sức quan trọng là các ngân hàng phải nghiên cứu hoạt độngnày ở các quốc gia trên thế giới và thông qua đó rút ra những bài học kinh nghiệmcho mình

Qua việc nghiên cứu kinh nghiệm hoạt động chứng khoán hóa của Nhật Bản

và Hàn Quốc khóa luận xin rút ra một số điểm nổi bật sau:

3.1.Cần phải tạo ra một môi trường pháp lý thuận lợi

Môi trường pháp lý thuận lợi là một trong các yếu tố quyết định sự thànhcông của AMC AMC cần có các quyền pháp lý mạnh hơn các doanh nghiệp hayngân hàng bình thường Ví dụ: con nợ không có quyền can thiệp vào quyết địnhmua bán nợ tồn đọng của AMC, cán bộ của AMC được pháp luật bảo vệ khi raquyết định mua bán nợ tồn đọng đúng quy định, AMC được quyền chỉ định ngườiquản lý đặc biệt đối với con nợ

Tại Hàn Quốc, KAMCO được coi như một doanh nghiệp nhưng nó khôngnhững chịu sự điều tiết của luật doanh nghiệp mà còn chịu sự điều tiết của một sốluật đặc biệt và quy định khác, ví dụ như luật KAMCO, luật chứng khoán có tài sảnbảo đảm Những luật và quy định đặc biệt này đều nhằm tạo môi trường pháp lýthuận lợi cho KAMCO

Việc Nhật Bản điều chỉnh các quy định của mình theo hướng thuận lợi hơn

đã tạo điều kiện cho hoạt động chứng khoán hóa tài sản phát triển Trong các báocáo đánh giá các giao dịch chứng khoán hóa của Nhật Bản, Standard & Poor chorằng triển vọng chứng khoán hóa của nước này là rất lớn và một trong những lý dochính cho sự phát triển đó là những quy định mới của Nhật đã tạo điều kiện thuậnlợi cho hoạt động này

3.2.Nên thành lập một AMC tập trung

Với thị trường tài sản chưa phát triển như ở Việt Nam thì chúng ta nên ápdụng mô hình AMC tập trung do nếu có nhiều AMC xử lý nợ của các NH khácnhau thì bản thân các AMC phải cạnh tranh nhau để bán được tài sản tồn đọng Hệquả là giá bán tài sản có thể thấp hơn, tài sản tồn đọng có thể nằm lại AMC lâuhơn Ngoài ra việc tạo nguồn vốn cho các AMC riêng lẻ là khó khăn Nếu các ngânhàng phải tự lập AMC để xử lý nợ, thiếu sự hỗ trợ của Chính phủ trong việc tạo

Ngày đăng: 27/03/2013, 09:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Commercial mortage backed securities – Anthony B.Sanders Ph.D the Ohio State University -June 1999 Khác
2. Prepaymenr behaviour of Dutch Mortgagors: an emprical analysis (Disscussion paper)- September 2001 Khác
3. The Barcalys capital guide to cashflow collateralized debt obligation Barcalys bank - March 2002 Khác
8. Innovation in Financial Services case study: Asset-backed securitization (Working paper 99-003)- February 1999 Khác
9. Securitization a public tools?- Nick Davis(Treasury Working Paper)- December 2000 10.MBS Structuring concepts and Techniques-Sunil GangwaniDeloitte & Touche LLP- January 1998 Khác
11.Cash flow model for pricing mortgages –Philip booth and Duncan Walsh IMA Jounal of management mathematics- August 2001 Khác
12.Rating criteria for cash flow ABS/MBS CDOS - FICManaged funds Special Report- November 2000 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2: Mô hình chứng khoán hoá đơn giản - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 2 Mô hình chứng khoán hoá đơn giản (Trang 8)
Bảng 2: Bảng cân đối kế toán Ngân hàng XYZ sau khi vay bằng thế chấp - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 2 Bảng cân đối kế toán Ngân hàng XYZ sau khi vay bằng thế chấp (Trang 14)
Hình 4 : Phân lớp chứng khoán - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 4 Phân lớp chứng khoán (Trang 21)
Bảng 4: Cấu trúc chứng khoán của Bleecker Structured Asset Funding Ltd - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 4 Cấu trúc chứng khoán của Bleecker Structured Asset Funding Ltd (Trang 23)
Bảng 5: Mức độ tăng cường tín dụng                     Đơn vị: triệu USD - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 5 Mức độ tăng cường tín dụng Đơn vị: triệu USD (Trang 25)
Hình 5:  Các hoạt động thu v  phân ph à ối luồng tiền - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 5 Các hoạt động thu v phân ph à ối luồng tiền (Trang 30)
Hình 7:  Chứng khoán hoá khoản nợ tồn đọng theo phương án tập trung - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Hình 7 Chứng khoán hoá khoản nợ tồn đọng theo phương án tập trung (Trang 34)
Bảng 6:      Phân tích nợ tồn đọng của NHNT - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 6 Phân tích nợ tồn đọng của NHNT (Trang 50)
Bảng 8: Phân loại nợ tồn đọng của NHNT - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 8 Phân loại nợ tồn đọng của NHNT (Trang 54)
Bảng 10: Dòng tiền bán và khai thác tài sản - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 10 Dòng tiền bán và khai thác tài sản (Trang 56)
Bảng 9: Dòng tiền khai thác con nợ - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 9 Dòng tiền khai thác con nợ (Trang 56)
Bảng 16: Bảng thanh toán nợ loại A - Xây dựng mô hình chứng khoán hóa các khoản nợ trong quá trình tái cơ cấu và lành mạnh hóa tài chính của hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam
Bảng 16 Bảng thanh toán nợ loại A (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w