1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Đề cương lý thuyết ôn thi chi tiết tài chính tín dụng

18 328 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 40,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 1 : Nêu khái niệm lạm phát và các chỉ số đặc chưng của lạm phát. Lạm phát là sự tăng lên mức giá chung liên tục của nền kinh tế trong một giai đoạn nào đó. Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát. Nếu mức giá chung giảm, ta có giảm phát. Để đo lường lạm phát, nguời ta có thể dùng hai chỉ số 1. Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành, và GDP tính theo giá kỳ trước. Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP. 2. Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hoá thiết yếu, ở VN nhóm hàng lương thực, giá vàng, đô la có lẽ có trọng số lớn. Chỉ số này khôngphản ánh sự biến động giá chung nhưng phản ánh biến động giá cả ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống, tiêu dùng. Khi nói tốc độ lạm phát, nguời ta cũng thường dùng chỉ số này Khi nền kinh tế có lạm phát, nếu không do nguyên nhân tác động từ nước ngoài, hay một thay đổi lớn về cung sản phẩm, thì nó thể hiện cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá. Việc duy trì cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá ở một mức độ vừa phải, do đó, lạm phát ở mức vừa phải, là cần thiết để kích thích sản xuất, giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá tốt hơn, và tạo lợi nhuận cần thiết cho các dn đầu tư nâng cao công nghệ, mở rộng sản xuất. Nếu nền kinh tế sa vào giảm phát, nghĩa là sẽ bị thừa cung, thừa ứ hàng hoá, gây ra tình trạng đình đốn, thua lỗ ở các doanh nghiệp. Đó là tác dụng của lạm phát. Tất nhiên lạm phát quá cao thì lại là một vấn đề. Câu 2 : Nêu bản chất , chức năng và vai trò của tiền tệ a. Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ Nguồn gốc: Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao đổi hàng hoá và của các hình thái giá trị. Có bốn hình thái giá trị phát triển từ thấp đến cao dẫn đến sự ra đời của tiền tệ: + Hình thái giá trị đơn giản hay ngẫu nhiên. + Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng. + Hình thái giá trị chung. + Hình thái tiền tệ. Bản chất: Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị; đồng thời, tiền tệ biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá. b. Các chức năng của tiền tệ Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó. Theo C. Mác tiền tệ có 5 chức năng: Thước đo giá trị. Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá. Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải có giá trị. Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng. Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ lệ nhất định. Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá. Do đó, giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá. Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định: + Giá trị hàng hoá. + Giá trị của tiền. + ảnh hưởng của quan hệ cung cầu hàng hoá. Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường. Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ. Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dung làm tiền tệ. ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau. Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả. Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của nó khi dùng làm thước đo giá trị. Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ. Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó. Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến chức năng tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào. Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen. Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá. Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt. Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá. Công thức lưu thông hàng hoá là: H T H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian. Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế. Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén. Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc. Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó. Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị.

Trang 1

TÀI CHÍNH TÍN DỤNG

ĐỀ CƯƠNG LÝ THUYẾT

Câu 1 : Nêu khái niệm lạm phát và các chỉ số đặc chưng của lạm phát

Lạm phát là sự tăng lên mức giá chung liên tục của nền kinh tế trong một giai đoạn nào đó Trong mỗi giai đoạn có thể có giá mặt hàng này tăng, mặt hàng kia giảm, nhưng nếu mức giá chung tăng, ta có lạm phát Nếu mức giá chung giảm,

ta có giảm phát

Để đo lường lạm phát, nguời ta có thể dùng hai chỉ số

1 Hệ số giảm phát GDP (GDP deflator) được tính trên cơ sở so sánh giá trị GDP tính theo giá hiện hành, và GDP tính theo giá

kỳ trước Nghĩa là đo lường mức tăng và giảm giá trên tất cả các loại hàng hoá dịch vụ tính trong GDP

2 Chỉ số giá tiêu dùng hay chỉ số giá cả CPI: được tính theo bình quân gia quyền của một nhóm các hàng hoá thiết yếu, ở

VN nhóm hàng lương thực, giá vàng, đô la có lẽ có trọng số lớn Chỉ số này khôngphản ánh sự biến động giá chung nhưng phản ánh biến động giá cả ảnh hưởng nhiều nhất đến đời sống, tiêu dùng

Khi nói tốc độ lạm phát, nguời ta cũng thường dùng chỉ số này Khi nền kinh tế có lạm phát, nếu không do nguyên nhân tác động từ nước ngoài, hay một thay đổi lớn về cung sản phẩm, thì nó thể hiện cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá Việc duy trì cầu hàng hoá lớn hơn cung hàng hoá ở một mức độ vừa phải, do đó, lạm phát ở mức vừa phải, là cần thiết để kích thích sản xuất, giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá tốt hơn, và tạo lợi nhuận cần thiết cho các dn đầu tư nâng cao công nghệ, mở rộng sản xuất Nếu nền kinh tế sa vào giảm phát, nghĩa là sẽ

bị thừa cung, thừa ứ hàng hoá, gây ra tình trạng đình đốn, thua lỗ ở các doanh nghiệp Đó là tác dụng của lạm phát Tất nhiên lạm phát quá cao thì lại là một vấn đề

Câu 2 : Nêu bản chất , chức năng và vai trò của tiền tệ

a Nguồn gốc và bản chất của tiền tệ

*Nguồn gốc: Tiền tệ xuất hiện là kết quả của quá trình phát triển lâu dài của sản xuất, trao đổi hàng hoá và của các hình thái giá trị Có bốn hình thái giá trị phát triển từ thấp đến cao dẫn đến sự ra đời của tiền tệ:

+ Hình thái giá trị đơn giản hay ngẫu nhiên

+ Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng

+ Hình thái giá trị chung

Trang 2

+ Hình thái tiền tệ

*Bản chất: Tiền tệ là hàng hoá đặc biệt được tách ra làm vật ngang giá chung cho tất cả các hàng hoá, là sự thể hiện chung của giá trị; đồng thời, tiền tệ biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá

b Các chức năng của tiền tệ

Bản chất của tiền tệ được thể hiện qua các chức năng của nó Theo C Mác tiền tệ

có 5 chức năng:

- Thước đo giá trị Tiền tệ dùng để biểu hiện và đo lường giá

trị của các hàng hoá

Muốn đo lường giá trị của các hàng hoá, bản thân tiền tệ phải

có giá trị Vì vậy, tiền tệ làm chức năng thước đo giá trị phải là tiền vàng Để đo lường giá trị hàng hoá không cần thiết phải

là tiền mặt mà chỉ cần so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng Sở dĩ có thể làm được như vậy, vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá trong thực tế đã có một tỷ

lệ nhất định Cơ sở của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả hàng hoá Do đó, giá cả

là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá Giá cả hàng hoá do các yếu tố sau đây quyết định:

+ Giá trị hàng hoá

+ Giá trị của tiền

+ ảnh hưởng của quan hệ cung - cầu hàng hoá

Để làm chức năng thước đo giá trị thì bản thân tiền tệ cũng phải được đo lường

Do đó, phải có đơn vị đo lường tiền tệ Đơn vị đó là một trọng lượng nhất định của kim loại dung làm tiền tệ ở mỗi nước, đơn vị tiền tệ này có tên gọi khác nhau Đơn vị tiền tệ và các phần chia nhỏ của nó là tiêu chuẩn giá cả Tác dụng của tiền khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả không giống với tác dụng của

nó khi dùng làm thước đo giá trị Là thước đo giá trị, tiền tệ đo lường giá trị của các hàng hoá khác; là tiêu chuẩn giá cả, tiền

tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ Giá trị của hàng hoá tiền tệ thay đổi theo sự thay đổi của số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó Giá trị hàng hoá tiền tệ (vàng) thay đổi không ảnh hưởng gì đến "chức năng" tiêu chuẩn giá cả của nó, mặc dù giá trị của vàng thay đổi như thế nào Ví dụ, một USD vẫn bằng 10 xen

Trang 3

- Phương tiện lưu thông: Với chức năng làm phương tiện

lưu thông, tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá

Để làm chức năng lưu thông hàng hoá ta phải có tiền mặt Trao đổi hàng hoá lấy tiền làm môi giới gọi là lưu thông hàng hoá

Công thức lưu thông hàng hoá là: H- T - H, khi tiền làm môi giới trong trao đổi hàng hoá đã làm cho hành vi bán và hành

vi mua có thể tách rời nhau cả về thời gian và không gian Sự không nhất trí giữa mua và bán chứa đựng mầm mống của khủng hoảng kinh tế

Trong lưu thông, lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc nén Dần dần nó được thay thế bằng tiền đúc Trong quá trình lưu thông, tiền đúc bị hao mòn dần và mất một phần giá trị của nó Nhưng nó vẫn được xã hội chấp nhận như tiền đúc đủ giá trị

Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị danh nghĩa của

nó Sở dĩ có tình trạng này vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát Người ta đổi hang lấy tiền rồi lại dùng nó để mua hàng mà mình cần Làm phương tiện lưu thông, tiền không nhất thiết phải có đủ giá trị Lợi dụng tình hình đó, khi đúc tiền nhà nước tìm cách giảm bớt hàm lượng kim loại của đơn vị tiền tệ Giá trị thực của tiền đúc ngày càng thấp so với giá trị danh nghĩa của nó Thực tiễn đó dẫn đến sự

ra đời của tiền giấy Bản thân tiền giấy không có giá trị mà chỉ

là dấu hiệu của giá trị và được công nhận trong phạm vi quốc gia

- Phương tiện cất trữ Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền

được rút khỏi lưu thong đi vào cất trữ Sở dĩ tiền làm được chức năng này là vì: tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thái giá trị, nên cất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải Để làm chức năng phương tiện cất trữ, tiền phải có đủ giá trị, tức là tiền vàng, bạc Chức năng cất trữ làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông Nếu sản xuất tăng, lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ được đưa vào lưu thông Ngược lại, nếu sản xuất giảm, lượng hàng hoá lại ít thì một phần tiền vàng rút khỏi lưu thông đi vào cất trữ

- Phương tiện thanh toán Làm phương tiện thanh toán,

tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịu hàng Khi sản xuất và trao đổi hàng hoá phát triển đến trình độ nào

đó tất yếu nảy sinh việc mua bán chịu Trong hình thức giao

Trang 4

dịch này trước tiên tiền làm chức năng thước đo giá trị để định giá cả hàng hoá Nhưng vì là mua bán chịu nên đến kỳ hạn tiền mới được đưa vào lưu thông để làm phương tiện thanh toán

Sự phát triển của quan hệ mua bán chịu này một mặt tạo khả năng trả nợ bằng cách thanh toán khấu trừ lẫn nhau không dùng tiền mặt Mặt khác, trong việc mua bán chịu người mua trở thành con nợ, người bán trở thành chủ nợ Khi hệ thống chủ nợ và con nợ phát triển rộng rãi, đến kỳ thanh toán, nếu một khâu nào đó không thanh toán được sẽ gây khó khăn cho các khâu khác, phá vỡ hệ thống, khả năng khủng hoảng kinh

tế tănglên

- Tiền tệ thế giới Khi trao đổi hàng hoá vượt khỏi biên giới

quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thế giới Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị, phải trở lại hình thái ban đầu của

nó là vàng Trong chức năng này, vàng được dùng làm phương tiện mua bán hàng, phương tiện thanh toán quốc tế

và biểu hiện của cải nói chung của xã hội

Tóm lại: 5 chức năng của tiền trong nền kinh tế hàng hoá quan hệ mật thiết với nhau Sự phát triển các chức năng của tiền phản ánh sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá

c Vai trò của tiền tệ

Vai trò của tiền tệ trong nền kinh tế thị trường thể hiện ở ba mặt:

-Thứ nhất: tiền tệ là phương tiện không thể thiếu để mở rộng

và phát triển nền kinh tế hàng hóa C.Mác đã chỉ ra rằng, người ta khổng thể tiến hàng sản xuất hàng hóa nếu như không có tiền và sự vận động của nó

Khi tiền tệ tham gia trong chức năng thước đo giá trị và phương tiện lưu thông là cho việc đo lường và biểu hiện giá trị của hàng hóa trở nên giản đơn, thuận lợi và thống nhất, làm cho sự vận động của hàng hóa trong lưu thông tiến hành một cách trôi chảy Mặt khác, khi sử dụng tiền trong sản xuất kinh doanh giúp cho người sản xuất có thể hạch toán được chi phí

và xác định kết quả sản xuất kinh doanh, thực hiện được tích lũy tiền tệ để thực hiện tái sản xuất kinh doanh

Tiền tệ trở thành công cụ duy nhất và không thể thiêu để thực hiện yêu cầu quy luật giá trị Vì vậy, nó là công cụ không thể thiếu được để mở rộng và phát triển nền kinh tế hàng hóa

-Thứ hai: tiền tệ là phương tiện để thực hiện và mở rộng các

quan hệ quốc tế Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa

Trang 5

phát triển chuyển sang nền kinh tế thị trường thì tiền tệ không những là phương tiện thực hiện các quan hệ kinh tế xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn là phương tiện quan trọng

để thực hiện và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế

Cùng với ngoại thương, các quan hệ thanh toán và tín dụng quốc tế, tiền tệ phát huy vai trò của mình để trở thành phương tiện cho việc thực hiện và mở rộng các quan hệ quốc

tế, nhất là đối với các mối quan hệ nhiều mặt giữa các quốc gia trên thế giới hình thành và phát triển làm cho xu thế hội nhập trên các lĩnh vực kinh tế xã hội, tài chính, tiền tệ ngân hàng, hợp tác khoa học kỹ thuật giữa các nước

-Thứ ba: tiền tệ là một công cụ để phục vụ cho mục đích của

người sử dụng chúng

Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hóa phát triển cao thì hầu hết các mối quan hệ kinh tế-xã hội đều được tiền tệ hóa, mọi cá nhân, tổ chức, cơ quan…đều không thể thoát ly khỏi các quan hệ tiền tệ Trong điều kiênh tiền tệ trở thành công

cụ có quyền lực vạn năng xử l và giải tỏa mối ràng buộc phát sinh trong nền kinh tế xã hội không những trong phạm vi quốc gia mà còn phạm vi quốc tế Chính vì vậy mà tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích và quyền lợi cho những ai đang nắm giữ tiền tệ Chừng nào còn tồn tại nền kinh tế hàng hóa

và tiền tệ thì thế lực của đồng tiền vẫn còn phát huy sức mạnh của nó

Câu 3 :Ttrình bày về ngân hàng trung ương

1 Bản chất của ngân hàng trung ương

Ngân hàng trung ương là ngân hàng phát hành, là nơi tập trung các quyền lực của nhiều ngân hàng vào một ngân hàng, là một bộ máy quyền lực to lớn có khả năng chi phối cả

về mặt kinh tế và chính trị trong nước Ngân hàng trung ương

dù được gọi với nhiều tên gọi khác nhau như : NHNH, NH quốc gia, NH dự trữ, nhưng đều thể hiện là một trung tâm tài chính tiền tệ lớn của quốc gia, đóng vai trò rất lớn trong hệ thống tín dụng của NH ở các nước

1 Chức năng của ngân hàng trung ương

 Phát hành tiền và điều tiết lưu thông tiền tệ

Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng trung ương Thực hiện các chức năng này có ảnh hưởng đến

Trang 6

tình hình lưu thông tiền tệ của quốc gia, do đó có thể ảnh đến mọi mặt hoạt động của đời sống kinh tế xã hội

 NHTU là ngân hàng của các ngân hàng

Chức năng này thể hiện ở chỗ đối tượng giao dịch chủ yếu của NHTU là các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác của nền kinh tế

 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của nhà nước

- Thuộc sở hữu của nhà nước

- Ban hành một các văn bản pháp quy về tín dụng, tiền

tệ, ngoại hối, ngân hàng và thực hiện kiểm tra công tác thi hành các văn bản này

- Mở tài khoản và các giao dịch với kho bạc NN

- Tổ chức thanh toán giữa kho bạc và các ngân hàng

- Cung cấp tín dụng và tạm ứng cho ngân sách nhà nước trong những trường hợp cần thiết

Tóm lại , NHTU đảm nhiệm những công việc thuộc chức năng quản lý của NH, và thay mặt chính phủ làm đại diện các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế

1 Vai trò của ngân hàng trung ương

- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội

- Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách tiền tệ quốc gia, xây dựng chiến lược phát triển hệ thống ngân hàng

- Xây dựng các dự án luật, pháp lệnh về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, ban hành các văn bản luật liên quan đến các hoạt hoạt động tiền tệ và ngân hàng

- Cấp, thu hồi giấy phép thành lập, giấy phép hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng, các quyết định giải thể, hợp , tách các tổ chức tín dụng

- Thực hiện thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm trong hoạt động ngân hàng

- Thực hiện việc vay, trả nợ nước ngoài của các doanh nghiệp theo quy định của chính phủ

- Chủ trì lập, theo dõi việc thực hiện bảng cán cân thanh toán quốc tế, quản lý hoạt động ngoại hối, kinh doanh vàng

- Tham gia ký kết các điều ước quốc tế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đại diện cho chính phủ tại các tổ chức tài chính, tiền tệ quốc tế khi được ủy quyền

- Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các nghiệp vụ ngân hàng,

tổ chức nghiên cứu khoa học và công nghệ ngân hàng

Trang 7

- Thực hiện nghiệp vụ phát hành, thu hồi và tiêu hủy tiền tệ, tổ chức in, đúc cà bảo quản việc chuyển tiền

- Tổ chức cấp tín dụng và phương tiện thanh toán cho nền kinh tế

- Kiểm soát và quản lý ngoại hối nhà nước, kiểm soát ngoại hối của các tổ chức tín dụng

- Tổ chức hệ thống thanh toán liên ngân hàng

- Làm đại lý và thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng cho kho bạc nhà nước

Câu 4 : Nêu khái niệm tiền tệ của Các Mác và các nhà kinh tế học hiện đại

Tiền tệ là một phạm trù kinh tế nhưng cũng lại là một phạm trù lịch sử Sự xuất hiện của tiền tệ là một phát minh vĩ đại của loại người trong lĩnh vực kinh tế, nó có tác dụng thúc đẩy nhanh chóng các hoạt động giao lưu kinh tế, làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội

Vậy, tiền tệ là cái gì? Nó ra đời từ lúc nào? Để tìm hiểu rõ về nguồn gốc ra đời của tiền tệ, có rất nhiều các quan điểm khác nhau

Trong kinh tế chính trị của các nước phương Tây hình thành nên hai trường phái:

Một truờng phái cho rằng tiền tệ ra đời là kết quả tất yếu khách quan của quá trình trao đổi hang hóa (Trường phái kinh

tế chính trị học cổ điển như: Adam Smith, David Ricardo…) Trường phái thứ hai giải thích sự xuất hiện của tiền như là một

sự kiện có tính chất tâm ly (như hai nhà tâm ly học W.Gherlop

và Smondest) Họ cho rằng: “Nguồn gốc của tiền tệ không nằm trong quá trình trao đổi hàng hóa mà do lòng ham muốn hiểu biết và nhu cầu làm đẹp là bản tính của đàn bà Còn bản tính của đàn ông lại là danh vọng, và sự ham muốn có nhiều tiền”

Lần đầu tiên, C.Mác vận dụng phương pháp duy vật biện chứng nghiên cứu các hiện tượng kinh tế Ông đã nghiên cứu

sự phát triển của các hình thái trao đổi từ hình thái trao đổi ngẫu nhiên đến quá trình trao đổi hàng hóa sử dụng tiền tệ,

từ đó ông xác định bản chất của tiền tệ cũng như sự ra đời của nó

Theo Mác, trong lịch sử phát triển của loại người, lúc đầu con người sống thành bầy đàn, kiếm ăn một cách tự nhiên, chưa

có chiếm hữu tư nhân, chưa có sản xuất và trao đổi hàng hóa nên chưa có tiền tệ Tuy nhiên, ngay từ trong xã hội nguyên thủy đã xuất hiện mầm móng của sự trao đổi Lúc đầu trao đổi mang tính chất ngẫu nhiên và được tiến hành trực tiếp vật này lấy vật khác Giá trị (tương đối) của một vật được biểu

Trang 8

hiện bởi giá trị sử dụng của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật ngang giá

Khi sự phân công lao động xã hội lần thứ nhất xuất hiện, bộ lạc du mục tách khỏi toàn khối bộ lạc, hoạt động trao đổi diễn

ra thường xuyên hơn Tương ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị mở rộng Tham gia trao đổi bây giờ không phải là hai loại hàng hóa mà là một loạt các loại hàng hóa khác nhau Đây là một bước phát triển mới, tiến bộ

so với hình thái giá trị giản đơn, song bản thân nó còn bộc lộ một số thiếu sót:

-Biểu hiện tương đối của giá trị mọi hàng hóa chưa được hoàn tất, vẫn còn nhiều hàng hóa làm vật ngang giá

-Các hàng hóa biểu hiện cho giá trị của một hàng hóa lại không thuần nhất

Phân công lao động xã hội và sản xuất phát triển thì hình thức trao đổi hàng hóa trực tiếp ngày càng bộc lộ các nhược điểm của nó Các hàng hóa chỉ được trao đổi với nhau khi những người chủ của nó có cùng muốn trao đổi, muốn trùng khớp Như vậy, cùng với sự phát triển của sản xuất thì trao đổi trực tiếp ngày càng khó khăn và làm cho mâu thuẫn trong lao động và phân hóa lao động xã hội ngày càng tăng Do đó, tất yếu đòi hỏi phải có một thứ hàng hóa đặc biệt đóng vai trò vật ngang giá chung tất ra từ tất cả các thứ hàng hóa khác và các hàng hóa khác có thể trao đổi được với nó, ví dụ như súc vật Thích ứng với giai đoạn phát triển này của trao đổi là hình thái giá trị chung Nhưng trong giai đoạn này, tác dụng của vật ngang giá chung vẫn chưa cụ thể tại một thứ hàng hóa nào, trong những vùng khác nhau tì có những thứ hàng hóa khác nhau có tác dụng làm vật ngang giá chung

Cuộc phân công lao động xã hội lần thứ hai xuất hiện, thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp làm cho sản xuất hàng hóa phát triển và thị trường mở rộng Tình trạng nhiều hàng hóa có tác dụng vật ngang giá chung phát sinh mâu thuẫn với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường, thị trường đòi hỏi phải thống nhất một vật ngang giá đơn nhất Khi vật ngang giá chung cố định ở một loại hàng hóa thì sinh ra hình thái tiền tệ Khi đó, tất cả hàng hóa được biểu hiện giá trị của nó trong một thư hàng hóa, thứ hàng hóa đó trở thành vật ngang giá chung

Như vậy, tiền tệ xuất hiện sau một quá trình phát triển lâu dài của trao đổi và của các hình thài giá trị

Tóm lại, tiền tệ là một phạm trù lịch sử, nó là sản phẩm tự phát của nền kinh tế hàng hóa, sản phẩm của sự phát triển các hình thái giá trị Đồng thời cũng là sản phẩm của sự phát

Trang 9

triển mâu thuẫn giữa lao động và phân công lao động xã hội trong sản xuất hàng hóa Sự ra đời và phát triển của tiền tệ gắn liền với sự ra đời và phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hóa

*Khái niệm tiền tệ

Sau khi xem xét lịch sử hình thành tiền tệ, bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu khái niệm tiền tệ Mọi người đề biết tiền tệ là một thuật ngữ rất quen thuộc trong đời sống kinh tế xã hội, tuy nhiên, khó có thể tìm ra một khái niệm thống nhất về tiền tệ.

Theo Mác, tiền tệ là một thứ hàng hoá đặc biệt, được tách ra khỏi thế giới hàng hoá, dùng để đo lường và biểu hiện giá trị của tất cả các loại hàng hoá khác Nó trực tiếp thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hóa.

Theo các nhà kinh tế hiện đại: Tiền được định nghĩa là bất cứ cái gì được chấp nhận chung trong việc thanh toán để nhận hàng hoá, dịch vụ hoặc trong việc trả nợ.

Câu 5 : Khái niệm cổ phiếu , trái phiếu , so sánh giữa cổ phiếu và trái phiếu

Cổ phiếu là chứng từ cấp cho các cổ đông của một công

ty cổ phần để xác nhận phần góp vốn của họ trong công ty

Cổ phiếu có thể được chuyển nhượng Cổ phiếu được phát hành bao gồm cổ phiếu có ghi tên và cổ phiếu không ghi tên

Cổ phiếu có ghi tên là cổ phiếu của các sáng lập viên và của các thành viên hội đồng quản trị, chỉ được chuyển nhượng khi

có sự đồng ý của hội đồng quản trị, trừ trường hợp những người này đã thôi giữ các chức vụ đó từ 2 năm trở lên Cổ phiếu không ghi tên là cổ phiếu của các cổ đông khác, được

tự do chuyển nhượng

Trái phiếu là 1 loại chứng khoán ghi nhận hình thức vay

nợ Trái phiếu khác với các hình thức vay nợ khác là chúng có khả năng trao đổi Trong trái phiếu, người vay nợ sẽ phát hành một loại chứng chỉ tương lai Trái phiếu được phát hành

ở các thị trường vốn khác nhau bởi các tổ chức công cộng như: các tổ chức đa quốc gia, phi chính phủ, chính quyền địa phương hay công ty

- Giống nhau

+ Là hình thức chuyển nhượng cầm cố, thuế chấp, thừa kế + Đều được hưởng chênh lệch giá

Trang 10

+ Đều được nhận lãi ( cổ phiếu gọi là cổ tức)

+ Đều là phương tiện thu hút vốn của nhà phát hành

+ Là phương tiện kinh doanh của các nhà đầu tư

- Khác nhau

Cổ phiếu

+ là chứng chỉ góp vốn, người sở hữu trở thành cổ đông

+ cổ tức không cố định (có 2 loại cổ tức là: cổ tức xác định %

và không xác định %, cổ tức chỉ được trả lãi khi công ty có lãi

và cổ tức thường là rất ít)

+ không có tính thời hạn, gắn liền với sự tồn tại của công ty + có tính rủi ro cao hơn trái phiếu

+ cổ đông có quyền tham gia vào hoạt động của công ty

+ người sở hữu cổ phiếu không được rút vốn trực tiếp

+ không có tính chuyển thành trái phiếu

+ do công ty cổ phần phát hành

+ khi công ty phá sản cổ phiếu cũng được dùng để thanh toán các nghĩa vụ tài chính nhưng sau khi đã thanh toán hết cho người sở hữu trái phiếu

+ cổ phiếu có tính tư bản giả

+ cổ phiếu không có tính hoàn trả trực tiếp

Trái phiếu

+ là chứng chỉ ghi nhận nợ, người sở hữu trái phiếu thành chủ nợ

+ trái phiếu có lãi suất (nhận được lãi kể cả khi công ty làm

ăn thua lỗ)

+ chủ nợ không có quyền biểu quyết, không có quyền tham gia vào hoạt động của công ty

+ có tính thời hạn nhất định

+ ít rủi ro hơn cổ phiếu, có tính ổn định về lợi nhuận

+ được thành lập bởi công ty TNHH, công ty cổ phần nhà nước + khi công ty phá sản, trái phiếu được ưu tiên thanh toán

Câu 6 : So sánh giữa cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi

Cổ phiếu ưu đãi

- Cổ phiếu ưu đãi là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu trong một công ty, đồng thời cho phép người nắm giữ loại cổ phiếu này được hưởng một số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông phổ thông Người nắm giữ cổ phiếu ưu đãi được gọi là cổ đông

ưu đãi của công ty

- Người sở hữu cổ phiếu ưu đãi được tham gia họp Đại hội đồng cổ đông và được bỏ phiếu quyết định những vấn đề quan trọng nhất của công ty, được quyền bầu cử và ứng cử vào Hội đồng Quản trị của công ty

Ngày đăng: 31/10/2014, 13:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w