Một số giải pháp thúc đẩy sự hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam”.
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Phát triển thị trường chứng khoán (TTCK) là việc rất quan trọng và cầnthiết khi nước ta phát triển một nền kinh tế hàng hoá Vốn tư bản sẽ trở thànhhàng hoá và tất yếu phải có một thị trường để có thể thực hiện việc trao đổi.Với lịch sử phát triển hàng trăm năm và được tổ chức một cách hết sức chặtchẽ, TTCK từ lâu nay đã được coi là một thể chế tài chính bậc cao và hoànthiện nhất của nền kinh tế thị trường, nếu thiếu nó, như nhiều chuyên gia kinh
tế học vẫn nói, nền kinh tế thị trường thiếu tính hoàn hảo Vai trò cơ bản của thịTTCK đối với nền kinh tế được thể hiện rất rõ bằng việc tạo dựng một kênhhuy động vốn hữu hiệu cho các doanh nghiệp (DN) từ nhiều nguồn khác nhau,trong đó phải kể đến các nguồn vốn nước ngoài.Thực tế hiện nay, nhu cầu vèvốn của các DN rất lớn Thống kê từ những thông tin điều tra do các DN cungcấp cho thấy, trong năm 2000, nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh của các DNcần khoảng 20 nghìn tỷ đồng Việt Nam,tính bình quân mỗi DN cần khoảng 84
tỷ đồng Nếu tính đến 2005 con số này vào khoảng 30 nghìn tỷ đồng,trung bìnhmỗi DN cần khoảng 100 tỷ đồng Mặt khác, các DN có nhu cầu mở rộng sảnxuất kinh doanh nhưng huy động vốn lại chủ yếu từ vay vốn ngắn hạn ngânhàng, lượng vốn vay lại không được đáp ứng đầy đủ Từ những khó khăn đó,TTCH với tư cách là kênh huy động vốn dài hạn sẽ tháo gỡ được những khókhăn trên
Hiện nay, ngoài sự quan trọng và cần thiết, TTCK cũng là vấn đề thời sự,nóng bỏng trong nền kinh tế Việt Nam Đây cũng là vấn đề khá mới mẻ đối vớingười Việt Nam.Với tư cách là một sinh viên-một nhà đầu tư tương lai, em rất
quan tâm tới vấn đề này.Vì vậy, em cũng mạnh dạn viết đề tài “Một số giải
pháp thúc đẩy sự hoạt động thị trường chứng khoán Việt Nam” Do trình độ
và thời gian có hạn, nên không thể tránh được những sai sót, em rất mong nhậnđược ý kiến của cô giáo TS- Lê Thị Anh Vân, người đã hướng dẫn em hoànthành đề tài này
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2NỘI DUNGCHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
I KHÁI NIỆM VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Khái niệm về chứng khoán.
Chứng khoán là những giấy tờ có giá trị, được xác nhận quyền sở hữu hợppháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức pháthành chứng khoán Chứng khoán bao gồm các loại như: Cổ phiếu, Trái phiếuvàcác loại giấy tờ khác có giá trị
2 Khái niệm về thị trường tài chính.
Thị trường tài chính (TTTC) là nơi cung và cầu về vốn gặp nhau, nơidiễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán quyền sử dụng các nguồn tài chínhthông qua những phương thức giao dịch và công cụ tài chính nhất định
Cấu trúc của thị trường tài chính:
3 Thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động mua, bán, chuyểnnhượng các loại cổ phiếu, trái phiếu và một số loại giấy tờ có giá trị khác nhămmục đích kiếm lợi
Thị trường chứng khoán
Thị trường vay
nợ dài hạn
TTCK d i hài h ạn (trên một năm)
TTCK ngắn hạn (dưới một năm)
Thị trường
tiền tệ
TTCK
Trang 3Thị trường chứng khoán theo tiếng Latinh là Bursa, nghĩa là các ví đựngtiền, còn gọi là sở giao dịch ckứng khoán, là một thị trường có tổ chức và hoạtđộng có điều khiển.
II LỊCH SỬ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Thời kỳ phôi thai (từ giữa thế kỷ 15 đến năm 1929).
Trong thời kỳ này, thị trường chứng khoán hưng thịnh nhất vào thế kỷ
19 Nhưng đến giữa thế kỷ 19, nó đã bắt đầu thể hiện các mặt tiêu cực, nhưnhững cuộc khủng hoảng có tính chu kỳ, đỉnh cao là đầu thế kỷ 20-được kếtthúc bằng cuộc khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu (1929-1933)
Các đặc điểm nổi bật thời kỳ này:
Việc hình thành thị trường chứng khoán và sở giao dịch chứng khoán làmang tính chất tự phát, Nhà nước không can thiệp vào mà thừa nhận vai tròtất yếu của nó trong nền kinh tế
Thị trường chứng khoán ở thời kỳ này là thuộc về tầng lớp thương gia,mang nhiều tính chất đầu cơ
Hoạt động của thị trường chứng khoán dựa trên cơ sở tính chất hiệp hộingành nghề với các qui định tự đặt ra
2 Thời kỳ phục hưng (1930-1970).
Thời kỳ này nhà nước bắt đầu can thiệp vào thị trường chứng khoán vàthị trường chứng khoán là nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất trong cuộc khủnghoảng tài chính.Vì thế mà thị trường chứng khoán trở thành công cụ trong việcquản lý thúc đẩy nền kinh tế Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán đượcchuyển về tay Nhà nước bằng sự ra đời của Uỷ ban Chứng khoán quốc gia.Vào những năm 50-60 của thế kỷ này, nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi với
sự hoạt động rất sôi động trở lại của thị trường chứng khoán
3 Thời kỳ quốc tế hoá và công chúng hoá thị trường chứng khoán (1971 đến nay).
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, công nghệ đã tạo ra việc ứngdụng công nghệ tin học vào thị trường chứng khoán
Trang 4Các sàn giao dịch trên thế giới được kết nối cho phép hoạt động liên tục24/24.
Với những đặc điểm như vậy cho phép mọi công dân đầu tư chứngkhoán bất cứ ở đâu và bất cứ khi naò mà họ muốn
III VAI TRÒ VÀ CHỨC NĂNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN.
1 Chức năng của thị trường chứng khoán
1.1 Chức năng thu hút vốn nhàn rỗi vào đầu tư phát triển.
Ta biết muốn đầu tư phát triển thì phải tự tích luỹ hoặc huy động từ bênngoài
Vốn huy động từ bên ngoài bao gồm vốn vay tín dụng của các tổ chức tàichính và phát hành cổ phiêú, trái phiếu
Ưu điểm của phát hành trái phiêú, cổ phiếu đối với dân chúng là họ dễdàng đầu tư vào bất cứ DN nào họ muốn hoặc mua bán kiếm lợi Còn đối vớicác DN là họ không phải trả lãi suất hàng tháng và không phải trả nợ gốc khi bịthua kỗ
Do tính chất của chu kỳ kinh doanh nên vốn tạm thời nhàn rỗi trong các
DN là rất lớn, bên cạnh, còn có một lượng vốn lớn nằm rải rác trong dân chưađược huy động Tất cả những tiềm năng này sẽ được phát huy hiệu quả nếu cóthị trường chứng khoán Vì thị trường chứng khoán với cơ sở pháp lý hoànchỉnh và bộ má quản lý hữu hiệu, với sự phổ biến và hướng dẫn rộng rãi ,người dân sẽ dễ dàng sử dụng nguồn tiết kiệm của họ hơn Đây là tác nhân kíchthích ý thức tiết kiệm và tạo thói quen đầu tư trong công chúng
Ngoài ra, trong xã hội cồn có các khoản tiền tạm thời nhàn rỗi như: quỹbảo hiểm, quỹ phúc lợi tập thể…một phần vốn của quỹ này được gửi vào Nhânhàng để thực hiện vệc thanh toán, phần còn lại, những người quản lý quỹ luôn
tự hỏi làm thế nào cho vốn của họ có khả năng sinh lãi nhiều nhất và vừa antoàn vừa có tính tạm thời…và thị trường chứng khoán có khả năng đáp ứng yêucầu này
Tóm lại,thị trường chứng khoán có chức năng thu hút mọi nguồn vốnnhàn rỗi trong xã hội để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mở rộng quy môdoanh nghiệp góp phần giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp
1.2 Chức năng điều tiết các nguồn vốn.
Phải thừa nhận rằng, một DN không phải lúc nào cũng thiếu hoặc thừavốn Thừa hay thiếu là phụ thuộc vào tính chất của chu kỳ kinh doanh.Khi cầnđầu tư mua nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, các khoản phải thu lớn, thì đây làlúc mà DN đang thiếu vốn Khi quá trình sản xuất kết thúc, sản phẩm được bán
ra và thu vốn về, các khoản phải thu được thu về, lúc này DN lại tạm thời thừavốn
Trang 5Trên thị trường vốn, luôn luôn có sự điều tiết vốn từ nơi thừa sang nơithiếu Ở đây thị trường chứng khoán đóng vai trò rất quan trọng.
1.3.Chức năng hoà nhập nền kinh tế thế giới.
Một DN có thể thu hút vốn bất vứ nơi nào và bằng con đường nào mà họ
có thể thu hút một cách dễ dàng thông qua thị trường chứng khoán Nhờ vào hệthống máy tính mà thị trường chứng khoán cho phép bất cứ ai, ở nơi nào trênthế giới và mua một loại cổ phiếu của bất kỳ một công ty nào mà họ thích Từ
đó hình thành mối liên hệ tiền tệ quốc tế, đẩy nhanh tốc độ chu chuyển nguồnvốn giữa các nước, thực hiện quan hệ vay mượn lâu dài trên thế giới tạo điềukiện cho việc hoà nhập nền kinh tế thế giới
1.4 Chức năng điều tiết vĩ mô.
Thị trường chứng khoán là công cụ của Nhà nước thông qua Uỷ banchứng khoán nhà nước, và Ngân hàng trung ương
Nghiệp vụ chủ yếu là thắt chặt hay nới lỏng sự đầu tư trên thị trường.Khi sản xuất sa sút, thiếu vốn, Nhà nước tung tiền ra mở rộng cho vay đểkhuyến khích sản xuất thông qua việc mua vào những lô chứng khoán có giá trịlớn Khi hiện tượng đầu tư quá mức, đầu cơ thịnh hành, thì bán chứng khoánnhằm thắt chặt tín dụng giảm bớt đầu tư kinh tế.Vậy thị trường chứng khoán làcông cụ hữu hiệu để nhà nước kịp thời điều tiết nguồn vốn trên thị trường
2 Vai trò của thị trường chứng khoán.
Các vai trò của thị trường chứng khoán rất đa dạng nhưng thông quanhững chức năng của nó thì có những vai trò sau:
2.1 Tạo vốn cho nền kinh tế quốc dân.
Do có thị trường chứng khoán nên việc đầu tư các nguồn vốn tạm thờinhàn rỗi dễ dàng hơn Từ việc nguồn vốn bị ứng đọng từ nhiều nơi, không cókhả năng sinh lời, cho đến khi có thị trường chứng khoán việc đầu tư, tích luỹvốn sôi động và dồi dào hẳn lên Thông qua đó nền kinh tế tăng trưởng mạnh
mẽ, công ăn việc làm được giải quyết, thất nghiệp giảm Bên cạnh, thị trườngchứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn từ dân chúng, nhưmột nam châm cực mạnh hút các nguồn vốn từ nước ngoài Ngoài ra còn giúpNhà nước giải quyết vấn đề thiếu hụt ngân sách, có thêm vốn xây dựng hạ tầng
Trang 6nữa, khi DN chưa có cơ hội sản xuất kinh doanh, các DN có thể dự trữ chứngkhoán như là một tài sản kinh doanh và các chứng khoán đó sẽ được chuyểnnhượng thành tiền khi cần thiết thông qua thị trường chứng khoán Ngoài ra,khi DN niêm yết trên thị trường chứng khoán, có nghĩa là đã có chữ tín đối vớicông chúng đầu tư Như vậy các công ty chứng khoán sẽ là tác nhân kích thíchgiúp DN tạo vốn nhanh chóng hơn.
2.3 Thị trường chứng khoán là công cụ đánh gía DN, dự đoán tương lai.
Thị trường chứng khoán ngày càng đa dạng và phức tạp, liên quan đếnvận mệnh của nền kinh tế quốc dân Sự hình thành thị giá chứng khoán của một
DN trên thị trường chứng khoán đã bao hàm sự hoạt độngcủa DN đó trong hiệntại và dự doán tương lai Khi giá cổ phiếu của một DN cao (hay thấp) biểu hiệntrạng thái kinh tế tức là khả năng mang lại cổ tức cao (hay thấp) cho các cổđông của DN đó Triển vọng tương lai của các DN cũng được thể hiện mộtcách trực tiếp trên thị giá cổ phiếu và cũng như sự biến động của nó
Ngoài ra, với phương pháp chỉ số hoá thị giá của các loại chứng khoánchủ yếu trong nền kinh tế và việc nghiên cưú phân tích một cách khoa học hệthống chỉ số giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán ở từng nước trongmối quan hệ với thị trường thế giới, đã dự đoán được trước sự biến động kinh
tế của một hoặc hàng loạt các nước trên thế giới
IV MỘT SỐ HẠN CHẾ CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Thị trường chứng khoán là nơi cung cấp sự đầu cơ.
Điểm yếu của thị trường chứng khoán là giá của các chứng khoán có thể
bị đẩy lên hoặc dìm xuống bởi các thương gia chứng khoán lớn để nhằm mụcđích kiếm lợi Các nhà đầu tư nhỏ sẽ bị thiệt hại Ví dụ như các nhà đầu cơthường đưa ra những thông tin lệch lạc làm rối loạn thông tin tới công chúngđầu tư từ đó làm rối loạn mất ổn định quan hệ cung cầu chứng khoán trên thịtrường nhân cơ hội đó mà kiếm lợi
Tình trạng đầu cơ có thể dẫn tới sự khan hiếm giả tạo trên thị trường, làmcho giá chứng khoán tăng vọt lên so với giá trị thực của nó Lúc này hàng loạtchứng khoán này được tung ra trên thị trường nhưng giá quá cao nên không cóngười mua dễ dẫn đến sự sụp đỏ của thị trường chứng khoán
2 Thị trường chứng khoán làm cho mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt hơn.
Do sự tập trung tư bản làm cho một số người ngày càng giàu có, khốngchế nhiều chứng khoán hơn và có thể trở thành cổ đông lớn nhấn chìm những
cổ đông nhỏ khác , dẫn đến khống chế thị trường, lũng đoạn giá cả và phá hoại
Trang 7sự ổn định của thị trường chứng khoán Trong khi đó nhiều người bị thôn tínhtrở nên nghèo hơn, gây nên mâu thuẫn xã hội ngày thêm gay gắt.
3 Thị trường chứng khoán làm cho nền kinh tế dễ mất ổn định.
Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng không ổn định, sản xuất trì trệ, thịtrường tiêu điều, vay vốn khó khăn doanh nghiệp và ngân hàng bị phá sản Lúcnày giá cả của thị trường chứng khoán bị đảo lộn nghiêm trọng, đầu cơ điêncuồng, gây nên khủng hoảng kinh tế
V CƠ CẤU TỔ CHỨC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Uỷ ban chứng khoán quốc gia (UBCKQG)
UBCKQG là cơ quan Nhà nước điều hành hoạt động thị trường chứngkhoán UBCKQG ở các nước khác nhau có các cách thức tổ chức và hoạt độngkhác nhau nhưng về bản chất là cơ quan có chức năng đặt ra các qui định thịtrường, khuôn khổ pháp lý cho thị trường chứng khoán Nó cũng là cơ quanđiều hành cao nhất, kiểm tra, giám sát các hoạt động thị trường TrongUBCKQG, các thành viên của Chính phủ chiếm số đông và giữ các chức vụchủ yếu
2 Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK).
SGDCK có thể có tên là Trung tâm giao dịch chứng khoán với nghĩa hẹphơn SGDCK được tổ chức dưới dạng công ty cổ phần hoặc công ty tráchnhiệm hữu hạn và hoạt động vói mục đích phi lợi nhuận Đây là trung tâm đầunão của thị trường chứng khoán Đại diện cho SGDCK trước pháp luật là banquản lý sở giao dịch chứng khoán, họ được các thành viên trong SGD bầu ra.Các thành viên của SGD là các công ty chứng khoán Ban quản lý SGD cótrách nhiệm điều hành SGD để thực hiện đúng các qui định về giao dịch màpháp luật và các qui định chung của các thành viên đẵ đặt ra
3 Các nhà đầu tư.
Đối với các nhà đầu tư tham gia trên SGDCK, thông thường là các tổchức đầu tư, các quĩ hưu trí, các quĩ bảo hiểm, cac ngân hàng…Việc tham giagiao dịch tại SGD phải thông qua các công ty chứng khoán thành viên Các tổchức này do có nguồn vốn to lớn từ dân cư và các nhà đầu tư uỷ thác nên mới
có thể đáp ứng được các yêu cầu của SGD Đối với các nhà đầu tư cá nhân, họtham gia váo thị trường chứng khoán chủ yếu trên thị trường giao dịch quaquầy hoặc thông qua các tổ chức đầu tư để tham mua các lô chứng khoán trênthị trường
Trang 84 Các đơn vị phát hành chứng khoán
Họ là người tạo ra hàng hoá cho thị trường chứng khoán bao gồm Nhànước, các loại hình DN phát hành chứng khoán …Hàng hoá chứng khoán cóphong phú hay không là phụ thuộc vào các đơn vị phát hành Việc khuyếnkhích một thi trường năng động và có hiệu quả không thể thiếu được các chínhsách khuyến khích phát triển các DN hoạt động mạnh mẽ và có triển vọng pháttriển lớn trên thị trường
5 Các trung gian tài chính (TGTC).
Bao gồm các công ty chứng khoán , các Ngân hàng, các tổ chức tài chínhphi ngân hàng…Vai trò của chúng là làm chức năng lưu chuyển vốn và chứngkhoán từ các nhà đầu tư tới những DN phát hành chứng khoán tại thị trườngthứ cấp Mặt khác, các TGTC gồm vốn từ dân chúng nhỏ lẻ tạo ra nguồn vốnlớn, có thời hạn dài để mua chứng khoán từ các nhà phát hành-các DN cần vốnlớn Mặt khác, các TGTC cũng là người đứng ra bảo lãnh phát hành cho các
DN cần phát hành và đem bán lại cho các nhà đầu tư , hay TGTC là bạn hàngcủa cả hai bên (nhà đầu tư ,DN) trong hoạt động chứng khoán
Đối với các nhà đầu tư , không phải ai cũng có kiến thức và kinh nghiệm
về đầu tư chứng khoán Qua các TGTC họ có thể mua được những loại chứngkhoán có chất lượng cao, rủi ro thấp Đối với các đơn vị phát hành, việc gianhập thị trường chứng khoán thông qua huy động vốn từ thị trường này đòi hỏiphải sự tư vấn hỗ trợ từ phía các TGTC
6 Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán
Với sự tham gia đa dạng của các TGTC trên thị trường chứng khoán, cầnthiết phải có một tổ chức đứng ra định chế, điều hành và giám sát ngoài cơquan nhà nước Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán là tổ chức tự địnhchế, có tính hiệp hội được thành lập ở hầu hết các nước và nhiệm vụ là đặt raqui định nghề nghiệp bọc các tổ chức TGTC phải tuân theo, cao hơn là bảo vệcác nhà đầu tư Ngoài ra, còn có nhiệm vụ tập hợp thị trường, không để tìnhtrạng xé lẻ và kinh doanh lộn xộn trên thị trường mà phải theo trình tự, địađiểm, phương thức về nghề nghiệp do hiêp hội đặt ra
VI HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
Hoạt động của thị trường chứng khoán có thể chia làm 3 loại hoạt độngchủ yếu: Các nghiệp vụ chủ yếu của thị trường chứng khoán, các nghiệp vụ liênquan và các nghiệp vụ kỹ thuật
1 Các nghiệp vụ trực tiếp của thị trường chứng khoán.
1.1 Phát hành chứng khoán:
Trang 9Là nghiệp vụ của các đơn vị phát hành chứng khoán, còn các phươngthức, trình tự phát hành phải tuân thủ theo qui định của thị trường chứng khoán.
Để được phát hành chứng khoán, đơn vị phải có đơn xin kèm theo hồ sơ pháthành gửi UBCKQG xem xét Chỉ khi được sự chấp thuận thì đơn vị mới đượcphát hành chứng khoán ra thị trường Nghiệp vụ phát hành liên quan đến việctính toán phức tạp, nên phát hành chứng khoán nào, số lượng, thời hạn, giá cả,việc trả lãi suất, lãi tức… đòi hỏi không chỉ các chuyên gia của các công ty pháthành mà còn cần tới sự hỗ trợ của các chuyên gia từ các công ty chứng khoánhoặc các TGTC khác với tư cách là tư vấn và trợ giúp phát hành
Tư vấn phát hành: là các công ty trợ giúp phát hành đơn thuần là tư vấncho công ty phát hành về các vấn đề quan trọng trong hoạt động phát hành vàđược hưởng một khoản phí dịch vụ do công ty phát hành trả
1.3 Nghiệp vụ môi giới chứng khoán.
Đây là việc các công ty chứng khoán làm trung gian giữ người mua vàngười bán chứng khoán Môi giới là việc đưa người cần bán một loại chứngkhoán nào đó với giá đưa ra đến với người mua loại chứng khoán đó với giá đó.Trên thị trường có rất nhiều cung và cầu về chứng khoán, nhưng để họ gặpnhau ở một mức giá, với một khối lượng cụ thể là công việc rất khó khăn đốivới mỗi cá nhân cần mua và bán Để giảm bớt chi phí này, các nhà môi giới làngười nắm chắc được những ai cần mua và cần bán với số lượng và giá cả cụthể Từ đó, họ làm trung gian để môi giới, liên hệ cho những người này gặpnhau và để bù đắp cho việc dàn xếp này, người môi giới chứng khoán đượchưởng một khoản phí hay là hoa hồng trong môi giới giao dịch
1.4 Nghiệp vu kinh doanh chứng khoán
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán tiến hành giao dịch muabán chứng khoán bằng tài khoản của mình và tự gánh chịu rủi ro Chỉ có công
ty chứng khoán mới được phép thực hiện nghiệp vụ này
Mục đích của nghiệp vụ này là thu lợi nhuận và làm ổn định thị trường.Tại thời điểm thị trường đang lên cơn sốt về giá chứng khoán, ngoài các biện
Trang 10pháp khác, thì công ty chứng khoán tham gia bán chứng khoán để bình ổn giá
cả, nhằm giảm sự căng thẳng của thị trường cũng như để kiếm lời Trongnhững thời điểm suy giảm, giá chứng khoán giảm thì các công ty chứng khoánmua vào để tăng sự sôi động của thị trường Vì vậy công ty chứng khoán là lựclượng dự bị làm đối trọng với các áp lực thị trường
2 Các nghiệp vụ khác liên quan.
2.1 Nghiệp vụ tín thác đầu tư chứng khoán.
Đây là việc các cá nhân, tổ chức cùng gom vốn và thành lập một công tyhoặc dưới dạng các quỹ và họ uỷ thác quyền sử dụng vốn cho hội đồng quản trịcông ty tín thác đầu tư hoặc uỷ ban quản lý tín thác đầu tư Số lượng vốn góptrên được đầu tư vào chứng khoán, lãi và vốn gốc sẽ được thanh toán cho các
cổ đông khi kết thúc hợp đồng
2.2 Tư vấn đầu tư.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán, các công ty tài chínhkhác Hoạt động tư vấn đầu tư là việc cung cấp thông tin, cách thức, đối tượngchứng khoán, thời hạn, khu vực…các vấn đề có tính qui định của luật pháp vềhoạt động chứng khoán
Các loại dịch vụ tư vấn bao gồm:
+ Tư vấn đầu tư mua bán chứng khoán
+ Tư vấn quản lý doanh mục đầu tư
+ Tư vấn thông tin về hoạt động chứng khoán
Mục đích của hoạt động tư vấn nhằm thúc đẩy các nhà đầu tư trên thịtrường hiểu biết về thị trường chứng khoán để đầu tư và quản lý hoạt động đầu
tư của mình có hiệu quả nhất
2.3 Nghiệp vụ tín dụng chứng khoán.
Đây là nghiệp vụ của các công ty chứng khoán, các công ty tài chínhkhác nhằm cho các nhà đầu tư vay tiền để mua chứng khoán Vì không phảinhà đầu tư nào cũng có đủ tiền mới đi mua chứng khoán hoặc lúc nào cũng đủtiền để mua một loại chứng khoán mong muốn Vậy nghiệp vụ này là để đápứng nhu cầu của nhà đầu tư Điều kiện của loại tín dụng này cũng như loại tíndụng thông thường tức là phải có năng lực trả nợ, phải có tài sản để thế chấp.Ngoài ra, các chứng khoán mua được phải dùng để thế chấp cho khoản vay củakhách hàng cho đến khi các chứng khoán này được bán trên thị trường
Tại một số nước, tỷ lệ cấp tín dụng chứng khoán của các tổ chức này chokhách hàng được pháp luật giới hạn ở mức tối đa là 60 % tổng giá trị chứngkhoán cần mua Mục đích của nghiệp vụ này là nhằm thu lợi dựa trên mức hoa
Trang 11hồng thu được, kích thích các nghiệp vụ khác hoạt động và nhằm tạo sự sôiđộng, sự phong phú về cầu hàng hoá chứng khoán.
3 Các yếu tố kỹ thuật nghiệp vụ.
3.1 Phân tích chỉ số chứng khoán.
Đó là việc sử dụng các công thức toán học để tính toán và xác định độbiến động của giá cả chứng khoán dựa trên tiêu chuẩn và điều kiện thị trườngnhất định Đòi hỏi là các chuyên gia về chứng khoán, có đầy đủ thông tin chínhxác về thị trường, có các kỹ thuật thiết bị tiên tiến và đòi hỏi phải nghiên cứuthường xuyên, liên tục, sâu sắc để đưa các số liệu chính xác về các chỉ sốchứng khoán và tình hình thị trường
Bao gồm việc xác định giá phát hành và giá bán trên thị trường Nghiệp
vụ này ảnh hưởng đến khả năng hấp đẫn đối với nhà đầu tư cũng như khả năngthu hút vốn của doanh nghiệp Đó là việc tính toán yếu tố có lợi nhuận chứngkhoán tạo ra và các yếu tố rủi ro của chứng khoán đó Ngoài ra, để mua chứngkhoán trên thị trường, các nhà đầu tư, các tổ chức môi giới, kinh doanh và tưvấn đầu tư chứng khoán cũng phải xác định được mức giá cụ thể mua đượccủa loại chứng khoán đó trên cơ sở đánh giá hiện tại cũng như tương lai về giáchứng khoán đó
Ngoài các nghiệp vụ trên, còn có các nghiệp vụ như đánh giá rủi rochứng khoán, các loại chỉ số khác… giúp cho mọi đối tượng có thể tham gia thịtrường chứng khoán một cách dễ dàng nhất
Trang 12CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
I SỰ CẦN THIẾT CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Nền kinh tế Việt Nam hơn 10 năm đổi mới.
Chủ trương của Đảng và Nhà Nước ta đã đề ra trong Đại hội VI là pháttriển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có
sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Từ những thànhtựu đã đạt được của công cuộc đổi mới nền kinh tế hơn 10 năm qua đã chứng tỏchủ trương trên là hoàn toàn đúng đắn
Trong thời kỳ 1986 -1990 nền kinh tế nước ta có nhịp độ tăng trưởngbình quân thấp (thấp hơn cả thời kỳ 5 năm trước đó) Cụ thể thời kỳ này chỉtăng trưởng 3,9 % còn thời kỳ 1981-1985 là 6,4 %
Chỉ số lạm phát năm 1986 lên tới 774,4 %, năm 1990 lạm phát tuy đãđược kiềm chế nhưng vẫn ở mức cao (67%)
Từ năm 1991 đến nay nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triểnvượt bậc, tốc độ tăng trưởng trong nhiều năm liền khá cao (hơn 8%/năm), lạmphát được kiềm chế ở mức độ cho phép, đời sống nhân dân được cải thiện rõrệt
Bảng: Tốc độ tăng trưởng GDP vài h lạm phát Đơn vị: %
Năm 1991 1992 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 Tốc độ tăng GDP 5,96 8,65 8,07 8,84 9,54 9,34 8,15 5,83 4.99 6,7 Tốc độ lạm phát 67,5 17,5 5,2 14,4 12,7 4,5 3,6 9,2 0,1 -
Để đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đòi hỏi phải có một nguồn vốn lớn.Nghị quyết Đại hội VIII đã đề ra cho giai đoạn 1996-2000 đòi hỏi một nguồnvốn 40-45 tỷ USD, bình quân mỗi năm phải đạt 8 tỷ USD để thúc đẩy CNH-HĐH nhằm từng bước tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, góp phần chống nguy cơ tụthậu xa hơn về kinh tế với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới
2 Nhu cầu về vốn trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp Việt Nam là rất lớn.
Về quy mô vốn: Qua điều tra gần đây với 273 DN thì có khoảng 50 % có
số vốn chủ sở hữu trên 10 tỷ đồng và hầu hết là các DN Nhà nước
Về cơ cấu vốn: Đối với khối DNNN thì tỷ lệ vốn vay trên tổng vốn kinhdoanh thường chiếm trên 70 % Tỷ lệ vốn Nhà nước chiếm trên 30 % trongtổng số vốn Còn các công ty cổ phần có tỷ trọng phần vốn tự có trong tổng số
Trang 13vốn kinh doanh cao hơn (60%) Tuy nhiên, họ cũng gặp khó khăn trong vấn đềvay Ngân hàng.
Về tình hình huy động vốn của các DN: Mục đích huy động vốn chủ yếuvào bổ sung vốn lưu động và đổi mới công nghệ Mà nguồn vay vốn chủ yếulại từ vay vốn ngắn hạn Ngân hàng, và lượng vay lại không được đáp ứng đầy
đủ Do vậy, hiệu quả của đồng vốn vay phục vụ sản xuất kinh doanh của các
DN bị hạn chế nhiều Một xu hướng khá phổ biến là huy động vốn trong nội bộ
DN thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu
Theo thống kê, trong năm 2000, nhu cầu vốn hoạt động kinh doanh củacác DN cần khoảng 20 nghìn tỷ đồng Việt Nam, tính bình quân mỗi DN cầnkhoảng 84 tỷ đồng Nếu tính đến 2005 con số này vào khoảng 30 nghìn tỷđồng, trung bình mỗi DN cần khoảng 100 tỷ đồng Tóm lại, nhu cầu về vốntrung hạn, dài hạn của các DN là rất lớn Với những khó khăn về lãi suất cao,khó khăn về thủ tục và điều kiện vay vốn, nếu DN chỉ huy động vốn từ cácNHTM như hiện nay thì chắc chắn không thể đáp ứng được nhu cầu về vốnhiện nay của các DN Vậy cần thiết phải có một thị trường chứng khoán có tổchức và được quản lý chặt chẽ để tạo kênh huy động vốn trung hạn, dài hạn rấtlớn cho các DN, đặc biệt là những DN có nhu cầu về vốn lớn Mặt khác, theocác tài liệu cho biết thì các nguồn vốn trong dân là không nhỏ, (trên 20 000 tỷĐồng-TBKT 40/97) Số vốn này chủ yếu là để gửi tiết kiệm hoặc tích trữ còn
để đầu tư là rất thấp Vậy nếu có thị trường chứng khoán sẽ kích thích dânchúng có ý thức tiết kiệm, đầu tư sinh lợi từ những khoản này
3 Thị trường chứng khoán là sự đòi hỏi khách quan của nền kinh tế nước ta.
Thứ nhất, thị trường chứng khoán góp phần giải quyết bài toán về sựthiếu vốn trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước Như trên, thị trường chứngkhoán có thể đáp ứng được những nguồn vốn trung hạn, dài hạn rất lớn cho các
DN Việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán sẽ giúp Nhà nước ta
có được một công cụ để phát huy nội lực đồng thời giúp nâng cao hiệu quả hợptác quốc tế
Thứ hai, sự phát triển thị trường chứng khoán là tất yếu khách quan khinước ta chuyển sang cơ chế thị trường, vì cho phép các chủ thể kinh tế mở rộngquyền tự chủ tài chính với các hình thức huy động vốn da dạng
Như vậy, việc thiết lập thị trường chứng khoán ở Việt Nam là hết sứccần thiết, nó có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc huy động vốn đầu tư pháttriển kinh tế xã hội và đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi cho các luồng vốn ở
Trang 14trong và ngoài nước lưu chuyển thông suốt, góp phần tích cực vào việc đáp ứngnhu cầu về vốn nền kinh tế.
II NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
1 Thuận lợi.
Thứ nhất, nước ta có một hệ thống chính trị ổn định Thu nhập của dân
cư gần đây được cải thiện rõ rệt Uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dânngày càng cao Đây là tiền đề vững chắc mà mọi nền kinh tế đều cần đến thểhiện thông qua mối liên hệ biên chứng giữa chính trị và kinh tế
Thứ hai, nền kinh tế nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, tăng trưởngcao và liên tục trong những năm gần đây Đây là tiền đề quan trọng cho các DNlàm ăn có hiệu quả và có đủ điều kiện tham gia niêm yết chứng khoán Mứctăng trưởng cao sẽ góp phần tăng mức tiết kiệm, đầu tư trên cơ sở đó tăng mứccầu về chứng khoán trên thị trường
Thứ ba, Đảng và Chính phủ ta đã có tầm nhìn đúng đắn và quan tâm thoảđáng về thị trường chứng khoán Như đưa ra chính sách đa dạng hoá các hìnhthức sở hữu, cải cách hệ thống tài chính, cải cách Ngân hàng, cải cách hệ thốngcác DNNN Cụ thể ngày 28/11/1996 Uỷ ban chứng khoán Nhà nước được rađời và đến ngày 20/7/2000 thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức đi vàohoạt động
Thứ tư, đối với lĩnh vực tài chính Ngân hàng, trong những năm cải cách
và đổi mới đã cho ra đời khá nhiều NHTM, các tổ chức Bảo hiểm và các địnhchế tài chính khác Đây là các nhân tố và điều kiện quan trọng đối với sự pháttriển của thị trường tài chính nói chung và đối với sự phát triển của thị trườngchứng khoán nói riêng
Thứ năm, hệ thống pháp luật của nước ta không ngừng được bổ sung vàngày càng hoàn thiện Điều này đã tạo ra môi trường pháp lý ngày càng thuậnlợi cho thị trường chứng khoán Việt Nam Các văn bản pháp luật quan trọnglà: Nghị quyết số 75/CP ngày 28/11/1996 về việc thành lập Uỷ ban chứngkhoán Nhà nước và Nghị định số: 48/1998 NĐ-CP ngày 11/7/1998 về chứngkhoán và thị trường chứng khoán… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng vàcăn bản đối với quá trình xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở nướcta
Thứ sáu, chế độ kế toán DN mới được sửa đổi và ban hành, áp dụng gầngũi hơn đối với các chuẩn mực quốc tế Bên cạnh đó hệ thống kiểm toán, kể cảkiểm toán Nhà nước, phi Nhà nước, kiểm toán nước ngoài đã được hình thành
và phát triển Đây cũng là những mắt xích, đầu mối quan trọngkhông thể thiếu
Trang 15được trong quá trình hình thành và phát triển chứng khoán và thị trường chứngkhoán.
Thứ bảy, hệ thống thông tin liên lạc, truyền thông ở nước ta đang trên đàphát triển mạnh Chiến lược tăng tốc độ Bưu điện là điều kiện hỗ trợ quan trọng
để hình thành và phát triển thị trường chứng khoán Có thể nói, trình độ vànăng lực của ngành tin học Việt Nam đã đủ khả năng tham gia vào tham giavào việc xây dựng các chương trình của hệ thống giao dịch điện tử thị trườngchứng khoán
Cuối cùng, một yếu tố thuận lợi khác quan trọng đó là Việt Nam là nướcphát triển sau nên có thể tranh thủ học hỏi kinh nghiệm các nước đi trước Nhờchính sách kinh tế mở cửa, hội nhập với bên ngoài, làm cho quan hệ kinh tếtrong nước cũng như quan hệ kinh tế đối ngoại ngày càng thu được những kếtquả rất đáng khích lệ Bên cạnh đó, cũng có sự giúp đỡ nhiệt tình và hiệu quảcủa các quốc gia, các tổ chức quốc tế Những yếu tố này đã có những tác độngtích cực đến việc hình thành và phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta
2 Những khó khăn và thách thức.
Đã nói đến thị trường thì phải nói đến hàng hoá cho thị trường đó Song,trên thực tế hàng hoá thị trường chứng khoán Việt Nam còn nghèo nàn về sốlượng và chủng loại, những công ty cổ phần đủ điều kiện tham gia niêm yết tạitrung tâm giao dịch chứng khoán (TTGDCK) còn hạn chế
Hiện nay, có khoảng 43 công ty cổ phần có đủ điều kiện niêm yết chứngkhoán trên trung tâm giao dịch chứng khoán Nếu so sánh với tổng số công ty
cổ phần hiện có (tính đến thời điểm 19/7/2000 là khoảng 630 công ty) thì con
số này khá khiêm tốn (chiếm khoảng 6 %) Trên thực tế rất ít các công ty đãniêm yết chứng khoán tại trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minhtính đến cuối tháng 9/2000, mới chỉ có 4 công ty tham gia niêm yết
Hệ thống kiểm toán của nước ta tuy đã được hình thành và phát triểntừng bước, nhưng vẫn chưa thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường chứngkhoán kể cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là khi qui mô của thị trườngchứng khoán được mở rộng
Hiện nay, trên phạm vi cả nước có hơn 20 000 DN nếu chỉ cần 1/10 số
DN này đăng ký phát hành và cần đến kiểm toán, thì khả năng hiện tại củangành kiểm toán trong nước (trong cả nước có 19 công ty kiểm toán độc lậpnước nước ngoài) thì sẽ cần bao nhiêu thời gian để hình thành công việc này?
Cho đến nay, Việt Nam vẫn là nước có thu nhập bình quân thấp so vớithế giới, do vậy khi thực hiện cổ phần hoá (CPH) các DNNN theo đúng kếhoạch và tiến độ đặt ra là vấn đề không dễ dàng Hay do tập quán thanh toán
Trang 16bằng tiền mặt vẫn còn phổ biến trong công chúng và ngay cả đối với DN Hệthống thanh toán qua Ngân hàng hiệu quả chưa cao Sự đỗ vỡ của một sốNHTM, quỹ tiết kiệm đã làm giảm lòng tin của công chúng Với những vấn đềnhư vậy đã gây sự cản trở cho việc phát triển thị trường chứng khoán ở nước ta.
Đội ngũ cán bộ điều hành, quản lý thị trường chứng khoán còn non trẻ,thiếu cả số lượng, kinh nghiệm và kiến thức nghiệp vụ Để có đủ tri thức, kinhnghiệm và một đội ngũ cán bộ quản lý điều hành vững vàng, dày dạn là cả mộtthách thức lớn đối với ngành chứng khoán nước ta
Mặc dù còn quá ít thời gian để thị trường chứng khoán Việt Nam có thểkhẳng định được vai trò trong đời sống kinh tế, nhưng dù sao cần phải thấyrằng, những diễn biến của trung tâm giao dịch chứng khoán Tp Hồ Chí Minhthời gian qua đã bộc lộ nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết
Thứ nhất, hệ thống trung gian tài chính với tư cách là “hoạt chất” bôitrơn hoạt động của thị trường chứng khoán đang được dư luận cho là vừa thiếuvừa yếu Những mâu thuẫn phát sinh ở đây là, bối cảnh hàng hoá của thị trườngchứng khoán còn quá nghèo nàn
Thứ hai, thực tế hoạt động của thị trường chứng khoán cho thấy, quy môcủa hệ thống lưu ký còn quá nhỏ, đòi hỏi phải được mở rộng ra ở nhiều địaphương để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư Điều này không hề đơn giản, vì
đi kèm với nó cần phải phát triển hạ tầng kỹ thuật thông tin hiện đại, đòi hỏi chiphí không nhỏ, khó có thể đáp ứng trong điều kiện hoàn cảnh hiện nay
Thứ ba, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi, như các công tychứng khoán , các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ được miễn thuếthu nhập DN thêm một năm và được giảm 50 % trong 2 năm tiếp theo Tuynhiên những ưu đãi này vẫn không thể hạn chế được những thua lỗ của họ
Thứ tư, khi thành lập thị trường chứng khoán, mong muốn của các nhàquản lý là mở rộng kênh huy động vốn dài hạn cho phát triển kinh tế Tuynhiên, qua 3 tháng hoạt động mới chỉ có 4 công ty niêm yết Một số công tychưa niêm yết khi được hỏi lý do đều trả lời rằng, nếu có nhu cầu vốn thì vayvốn của Ngân hàng rẻ hơn
Qua phân tích những mâu thuẫn trên để thấy rằng con đường ổn định vàphát triển thị trường chứng khoán theo đúng nghĩa của nó là không hề bằngphẳng
III NHỮNG ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ HÌNH THÀNH THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
1 Điều kiện kinh tế.
Đây là nền tảng đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động và đượcquyết định lớn bởi các chính sách kinh tế của Nhà nước Hiến pháp 1992 xác
Trang 17định “Nhà nước phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chếthị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Pháttriển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với các hình thức đa dạng dựa trênchế độ sở hưũ toàn dân, sở hữu tập thể và tư nhân.”
Hiện nay Việt Nam có khoảng hàng nghìn DN các loại, cá khoảng 700
DN đã được cổ phần hoá Trong những DN đã cổ phần hoá có rất nhiều DN cókhả năng phát hành và niêm yết trên thị trường chứng khoán
Với một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, phát triển ổn định và với hệthống tiền tệ tỷ giá ổn định, hệ thống thị trường vốn ngắn hạn đã được thiết lập
và hoạt động trôi chảy sẽ góp phần lớn cho thị trường chứng khoán với tư cách
là thị trường vốn trung và dài hạn hoạt động có hiệu quả
Mấy năm qua, tăng trưởng kinh tế Việt Nam khoảng 8%/ năm Đây làkết quả điều hành kinh tế vĩ mô của Nhà nước, là sự cố gắng của tất cả các cấp,ngành, của toàn thể nhân dân lao động Việt Nam Tuy nhiên, do xuất phát điểmcòn thấp nên chúng ta còn gặp nhiều khó khăn Nếu cứ duy trì tốc độ từ 8-10%/ năm, thì trong vòng 15 năm, thì thu nhập bình quân sẽ tăng gấp đôi và sẽcho phép thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh Chính thị trườngchứng khoán đáp ứng một nhu cầu rất lớn về vốn dài hạn cho các DN Đâycũng chính là yếu tố tác động trở lại tới nền kinh tế, giúp nền kinh tế phát triểncao hơn, nhanh hơn
2 Điều kiện pháp lý.
Tất cả các loại chứng khoán đư ra bán hay mua trên thị trường đều phảituân theo một khung pháp lý tiêu chuẩn theo luật định Các vấn đề sở hữuchứng khoán, đều phải được chứng nhận của các cơ quan môi giới Vì vậy hệthống thị trường chứng khoán đòi hỏi một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh
Mặc dù có nhiều luật lệ ràng buộc trên thị trường chứng khoán Tuynhiên, còn phát sinh nhiều biểu hiện tiêu cực như: gian lận, đầu cơ gây rối thịtrường, trục lợi cá nhân…làm giảm niềm tin của nhà đầu tư Nếu kéo dài có thểgây khủng hoảng thên thị trường chứng khoán Do vậy, việc xây dựng hệ thốngpháp lý là điều kiện quan trọng tạo hành lang pháp lý cho thị trường chứngkhoán phát triển và là tiền đề cho việc duy trì lòng tin và bảo vệ công chúngđầu tư
3 Điều kiện kỹ thuật tổ chức.
Thứ nhất là, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật cho sự phát triển thị trườngchứng khoán Tức phải xây dựng hệ thống giao dịch, hệ thống xử lý dữ liệu, hệthống thông tin và hệ thống thanh toán bù trừ, lưu trữ chứng khoán với mô hình
và mức độ tự động hoá ban đầu thích hợp
Trang 18Thứ hai là, các tổ chức hoạt động trên thị trường chứng khoán Đây làyếu tố có ý nghĩa rất quan trọng Các tổ chức như các công ty bảo lãnh pháthành chứng khoán, các công ty môi giới, các công ty tư vấn, các quỹ đầu tư.Ngoài cần phát triển các nhà đầu tư cá tổ chức Đây là các chủ thể chiếm tỷtrọng lớn trong việc phát triển cầu thị trường.
IV QUÁ TRÌNH CHUẨN BỊ CHO SỰ PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
1.1 Thành lập Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN)
UBCKNN được thành lập từ ngày 28/11/1996, là cơ quan thuộc Chínhphủ, có chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trườngchứng khoán
Nhiệm vụ của UBCKNN:
Xây dựng hệ thống pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán
Tổ chức xây dựng, phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Cấp, đình chỉ hay thu hồi giấy phếp hoạt động của các định chế tài chínhhoạt động trên thị trường chứng khoán
Tổ chức giáo dục, đào tạo và cấp chứng chỉ cho mọi đối tượng tham gia thịtrường chứng khoán
UBCKNN có trụ sở đặt tại Hà Nội và một cơ quan đại diện tại Tp HồChí Minh
Sơ đồ: Tổ chức bộ máy UBCKNN Việt Nam
Các uỷ viên kiểm nhiệm
- Một thứ trưởng Bộ khế hoạch
- Một thứ trưởng Bộ tài hi chính
- Một thứ trưởng Bộ tư pháp
- Một Phó thống đốc NHNN
Cơ quan đại diện Tp
Trang 19Sơ đồ: TTCK Việt Nam và các tổ chức liên hệ.
Nghị định 48/1998 NĐ-CP là khung pháp lý cơ bản đầu tiên về thịtrường chứng khoán Việt Nam, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước tatrong việc xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Nghị định này đãnêu lên một số nguyên tắc cơ bản về quản lý và phát hành chứng khoán ra côngchúng, về thị trường giao dịch tập trung, phạm vi kinh doanh của các công ty
Uỷ ban chứng khoán Nhài h
Công ty CK3
kiệm
Nhài h đầu tư
Doan
h nghiệp
Quỹ đầu tư
Quỹ bảo hiểm
Quỹ tươn
g hỗ
Kho bạc Nhài h nước
Chính quyề
n địa phương
Trung tâm thông
Tp Hồ Chí Minh
Công ty kiểm toán
*******