Hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Việt Nam - Thực trạng và giải pháp
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu đi vào hoạt động vào năm
2000 Từ một thị trường èo uột với vài chục mã số giao dịch và số lượng ít ỏicác nhà đầu tư , cùng với sự phát triển của nền kinh tế và tác động tích cực củaviệc Việt Nam trở thành thành viên của WTO, đã có sự bùng nổ dữ dội, minhchứng là hàng trăm doanh nghiệp có uy tín đã tiến hành cổ phần hoá và tham gianiêm yết, khối lượng giao dịch từ một vài tỷ đồng đã tăng lên hàng nghìn tỷ mỗiphiên Đặc biệt từ con số 15, số lượng công ty chứng khoán đã nhanh chóngtăng lên gần 70 Sự tăng trưởng nhanh chóng của thị trường chứng khoán là mộttín hiệu đáng mừng, báo hiệu sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước, tuy nhiên rất
có thể nó cũng sẽ mang tới những ảnh hưởng tiêu cực cho sự phát triển vĩ môcủa đất nước Không thể phủ nhận được chỉ số lạm phát khá cao và đáng lo ngạinhững tháng cuối năm 2007 có sự ‘đóng góp” do sự tăng trưởng nóng của thịtrường chứng khoán Để thị trường phát triển đúng hướng, an toàn và ổn đinh,hạn chế được những rủi ro phát sinh, có rất nhiều việc phải làm: từ các nhàhoạch định chính sách vĩ mô tạo ra khung pháp lý, cơ chế chính sách chặt chẽ đểquản lý thị trường một cách hữu hiệu, đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ kể cảcác sản phẩm phái sinh trong đó việc nâng cao chất lượng hoạt động của cáccông ty chứng khoán cũng là một yếu tố rất quan trọng nhất là trong điều kiện sốlượng các công ty tăng nhiều và nhanh như hiện nay Một tổ chức kinh doanhchứng khoán chuyên nghiệp thực hiện nhiều nghiệp vụ khác nhau như môi giới,
tư vấn, bảo lãnh phát hành trong đó tự doanh có thể được xem là nghiệp vụphức tạp và quan trọng nhất Hoạt động tự doanh không chỉ mang lại lợi nhuậnrất lớn cho công ty chứng khoán mà nó còn là tiền đề, tạo cơ sở cho các nghiệp
vụ khác phát triển, tuy nhiên do phức tạp và phải chịu ảnh hưởng của rất nhiềunhân tố khác nhau nên nếu tổ chức không tốt, chỉ một khâu nào đó trục trặc cóthể dẫn đến rủi ro, thua lỗ cho công ty Do vai trò quan trọng như vậy nên có thể
Trang 2nói việc nâng cao chất lượng hoạt động của công ty chứng khoán cũng đồngnghĩa với việc nghiên cứu nâng cao chất lượng của hoạt động tự doanh.
Xét ở góc độ đó em muốn dành thời gian của khoá luận để tập trungnghiên cứu về hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán thông qua việc phântích hoạt động này của công ty TNHH chứng khoán ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn Việt Nam ( Agriseco), một trong những công ty chứngkhoán hàng đầu của Việt Nam, được thành lập ngay từ lúc thị trường chứng
khoán bắt đầu đi vào hoạt động với đề tài: "Hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Việt Nam - Thực trạng và giải pháp”.
Mục đích nghiên cứu đề tài
Khóa luận tập trung vào ba mục đích chính:
Một là nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động tự doanh chứngkhoán của công ty chứng khoán
Hai là phân tích thực trạng hoạt động tự doanh chứng khoán của Agriseco, từ đó đánh giá những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến những thànhtựu và hạn chế này
Ba là đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hoạt động tự doanh củaAgriseco
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động tự doanh của công tychứng khoán
Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là hoạt động tự doanh của Agriseco từ năm
2001 đến năm 2006
Bố cục của Khóa luận
Ngoài lời nói đầu, kết luận và mục tài liệu tham khảo, khóa luận gồm bachương sau:
Trang 3Chương I: Tổng quan về hoạt động tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
Chương II: Thực trạng hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân Hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động tự doanh chứng khoán tại Công ty TNHH Chứng khoán Ngân Hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam
Trang 4CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN
I - CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1- Khái niệm công ty chứng khoán
Thị trường chứng khoán (TTCK) là một bộ phận của thị trường tài chính,
có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình huy động và sử dụng vốn cho nềnkinh tế TTCK là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán chuyển nhượng cácloại chứng khoán Các sản phẩm trên TTCK khác với những sản phẩm hàng hóathông thường ở chỗ chúng không thể cầm, nắm hay cân đo đong đếm được,chúng là những sản phẩm tài chính Thực ra, hình thức biểu hiện của chứngkhoán cũng giống như tiền, tức là chúng không có giá trị nội tại Giá trị củachứng khoán chính là các lợi ích mà tổ chức phát hành mang lại cho người sởhữu chứng khoán với những điều kiện ràng buộc cụ thể Chứng khoán có cácthuộc tính gắn liền với nó là tính sinh lợi, tính thanh khoản và tính rủi ro Chínhnhững đặc điểm này làm chứng khoán trở thành những hàng hóa cao cấp, màviệc xác định giá trị thật không hề đơn giản
Trên TTCK, chứng khoán được các tổ chức phát hành bán cho các nhàđầu tư cũng như được các nhà đầu tư mua đi bán lại với nhau, tuy vậy khôngphải mọi người được mua bán, trao đổi chứng khoán trực tiếp cho nhau mà mọigiao dịch phải qua các trung gian môi giới
Lịch sử hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán trên thế giớicho thấy, lúc ban đầu các nhà môi giới hoạt động cá nhân độc lập với nhau Saunày, cùng với sự tăng quy mô, khối lượng giao dịch và chức năng của các nhàmôi giới, đòi hỏi sự ra đời của các công ty chứng khoán là sự tập hợp của cácnhà môi giới riêng lẻ Cùng với sự phát triển của TTCK, các nghiệp vụ cũngđược mở rộng, không chỉ gói gọn trong nghiệp vụ môi giới, các công ty chứngkhoán ngày càng có cơ cấu, tổ chức hoạt động phức tạp hơn, mang một vai tròlớn hơn trên TTCK
Trang 5Một định nghĩa về công ty chứng khoán phổ biến và được chấp nhận
rộng rãi là: “Công ty chứng khoán là một tổ chức tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên thị trường chứng khoán” (Theo Giáo trình Thị trường chứng
khoán, xuất bản năm 2005 của Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội)
Công ty chứng khoán đóng vai trò là tổ chức trung gian trong các giaodịch trên thị trường chứng khoán, là nơi kết nối và thực hiện giao dịch giữangười mua và người bán Bên cạnh đó, công ty chứng khoán còn là trung gian
về thông tin, chuyên cung cấp các thông tin tư vấn, các sản phẩm nghiên cứunhằm hỗ trợ nhà đầu tư chọn lựa được các chứng khoán cho danh mục đầu tưcủa mình
Dưới góc độ pháp lý, công ty chứng khoán là một doanh nghiệp đượcthành lập và hoạt động theo pháp luật của từng nước để thực hiện các hoạt độngkinh doanh chứng khoán
Tại Việt Nam, trong Luật Chứng khoán chưa có định nghĩa hay khái niệm
về công ty chứng khoán Nhưng ta có thể tìm thấy tại Điều 2 khoản 1 Quyếtđịnh 27/2007/QĐ-BTC ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính có quy định: “Công tychứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứngkhoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới chứng khoán,
tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứngkhoán”
Về hình thức pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam cụ thể là theođiều 59 khoản 1 Luật Chứng khoán có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007,công ty chứng khoán chỉ được tổ chức dưới hai hình thức là công ty tráchnhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần theo quy đinh của Luật doanh nghiệp
Về nghiệp vụ kinh doanh, Luật Chứng khoán có quy định cụ thể tại điều
60 như sau: Công ty chứng khoán được thực hiện một, một số hoặc toàn bộnghiệp vụ kinh doanh sau đây: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán,bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán Công ty chứngkhoán chỉ được phép thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi
Trang 6thực hiện nghiệp vụ tự doanh chứng khoán Ngoài những nghiệp vụ trên, công tychứng khoán được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ tài chínhkhác." Luật Chứng khoán có một điểm khác so với Nghị định 144/2003/NĐ-CPngày 28/08/2003 đó là không cho phép công ty chứng khoán thực hiện nghiệp
vụ quản lý danh mục đầu tư chứng khoán nữa
Hoạt động của các công ty chứng khoán rất đa dạng và phức tạp, khác hẳnvới các doanh nghiệp sản xuất hay thương mại thông thường vì môi trường hoạtđộng của chúng chính là TTCK – thị trường tài chính bậc cao của nền kinh tế thịtrường Chính hoạt động đa dạng và phức tạp như vậy nên vấn đề xác định môhình tổ chức kinh doanh của công ty chứng khoán ở mỗi quốc gia lại có nhữngđiểm khác biệt nhất định Nhìn chung, hai mô hình được áp dụng phổ biến hiệnnay là mô hình công ty đa năng và mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán
Mô hình công ty đa năng được chia làm hai dạng: đa năng một phần (cácngân hàng muốn kinh doanh chứng khoán phải thành lập các công ty con độclập, hoạt động tách rời với hoạt động kinh doanh tiền tệ) và đa năng hoàn toàn(các ngân hàng thương mại được phép kinh doanh tổng hợp, bao gồm cả tiền tệ,chứng khoán và bảo hiểm) Mô hình đa năng hoàn toàn có ưu điểm là sự kết hợp
đa năng rất cao, do đó giảm bớt được rủi ro cho hoạt động kinh doanh chungbằng việc đa dạng hóa đầu tư Ngoài ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khảnăng chịu đựng của ngân hàng trước những biến động trên thị trường tài chính.Tuy nhiên ở mô hình này tính chuyên môn hóa không cao, và nếu môi trườngluật pháp không chặt chẽ sẽ dễ dẫn tới tình trạng lũng đoạn thị trường, dễ dẫnđến khủng hoảng tài chính Do những hạn chế như vậy, nhiều nước đã chuyểnsang áp dụng mô hình công ty chứng khoán chuyên doanh, mô hình đa nănghoàn toàn chỉ còn tồn tại ở một số ít quốc gia
Ngược lại, theo mô hình công ty chuyên doanh chứng khoán, hoạt độngkinh doanh chứng khoán sẽ do các công ty độc lập, chuyên môn hóa trong lĩnhvực chứng khoán đảm nhận, các ngân hàng không được trực tiếp tham gia vàokinh doanh chứng khoán Mô hình này có ưu điểm là hạn chế được rủi ro cho hệ
Trang 7thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các công ty chứng khoán đi vào chuyên mônhóa sâu trong lĩnh vực chứng khoán để thúc đẩy thị trường phát triển, tuy nhiênkhả năng phân tán rủi ro trong kinh doanh bị hạn chế Mô hình này được ápdụng phổ biến ở các nước Mỹ, Nhật và các thị trường mới nổi như Hàn Quốc,Thái Lan…
2 Các hoạt động cơ bản của công ty chứng khoán
2.1 Môi giới chứng khoán
Theo Luật Chứng khoán, hoạt động môi giới chứng khoán được định
nghĩa như sau: “Môi giới chứng khoán là việc công ty chứng khoán làm trung gian thực hiện mua, bán chứng khoán cho khách hàng”.
Chúng ta cũng có thể hiểu thật đơn giản như sau: Môi giới chứng khoán làhoạt động trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng đểhưởng hoa hồng trên tổng doanh số mà khách hàng thực hiện mua bán Theo đó,các CTCK đại diện cho khách hàng tiến hành các giao dịch thông qua cơ chếgiao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC (thị trường chứngkhoán phi tập trung) mà chính khách hàng phải chịu trách nhiệm đối với kết quảgiao dịch của mình
Thông qua hoạt động môi giới, CTCK sẽ chuyển đến khách hàng các sảnphẩm, dịch vụ tư vấn đầu tư và kết nối giữa nhà đầu tư muốn bán chứng khoánvới nhà đầu tư muốn mua chứng khoán Và trong những trường hợp nhất định,nhân viên môi giới sẽ trở thành người bạn, người chia sẻ những lo âu, căngthẳng và đưa ra nhưng lời động viên kịp thời cho nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư cónhững quyết định tỉnh táo
Xuất phát từ yêu cầu trên, nghề môi giới đòi hỏi phải có những phẩmchất, tư cách đạo đức, kỹ năng mẫu cán trong công việc và với một thái độ côngtâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất Nhà môi giới phải hànhđộng dựa trên quyền lợi của khách hàng,không được xúi dục khách hàng mua,bán chứng khoán để kiếm hoa hồng trên doanh số, mà nên đưa ra những lời
Trang 8khuyên hợp lý không chỉ giúp khách hàng thu được lợi nhuận cao mà còn để hạnchế đến mức thấp nhất thiệt hại cho khách hàng trong hoạt động đầu tư của họ.
2.2 Hoạt động tự doanh chứng khoán
Luật chứng khoán năm 2006 quy định: “Tự doanh chứng khoán là việc công ty chứng khoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình.”
Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện thông qua cơ chế giao dịchtrên các thị trường giao dịch tập trung (sở giao dịch chứng khoán, trung tâm giaodịch chứng khoán) hoặc thị trường OTC Trên thị trường giao dich tập trung,lệnh giao dịch của các CTCK được đưa vào hệ thống và thực hiện tương tự lệnhgiao dịch của khách hàng Trên thị trường OTC, hoạt động này có thể thực hiệntrực tiếp giữa công ty với đối tác hay qua một hệ thống mạng thông tin
Mục đích của hoạt động tự doanh là nhằm được thu lợi nhuận cho chínhcông ty thông qua hành vi mua, bán chứng khoán với khách hàng Nghiệp vụnày hoạt động song hành với nghiệp vụ môi giới chứng khoán, vừa phục vụ lệnhgiao dịch cho khách hàng đồng thời cũng phục vụ cho chính công ty, vì vậytrong quá trình hoạt động có thể dẫn đến xung đột lợi ích giữa thực hiện giaodịch cho khách hàng và cho bản thân công ty Do đó, luật pháp của các nước đềuyêu cầu tách biệt rõ ràng giữa các nghiệp vụ môi giới chứng khoán và tự doanhchứng khoán, CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước khi thựchiện lệnh cho mình
Khác với nghiệp vụ môi giới, CTCK chỉ làm trung gian thực hiện lệnhcho khách hàng để hưởng hoa hồng, trong hoạt động tự doanh CTCK kinhdoanh bằng chính nguồn vốn của công ty Vì vậy, CTCK đòi hỏi phải có nguồnvốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn tốt, có khả năng phântích và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóngvai trò là các nhà tạo lập thị trường
2.3 Hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán
Trang 9Luật chứng khoán năm 2006 ghi rõ: “Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc tổ chức bảo lãnh phát hành cam kết với tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng khoán, nhận mua một phần hay toàn bộ chứng khoán của tổ chức phát hành để bán lại hoặc mua số chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng.”
Để thực hiện thành công các đợt chào bán chứng khoán ra công chúng,đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các CTCK để tư vấn cho đợt phát hành
và thực hiện bảo lãnh, phân phối chứng khoán ra công chúng Đây là nghiệp vụbảo lãnh phát hành của các CTCK và là nghiệp vụ luôn chiếm tỷ lệ doanh thukhá cao trong tổng doanh thu của các CTCK Tuy nhiên, tại Điều 60 khoản 2Luật Chứng khoán cũng quy định rõ: “Công ty chứng khoán chỉ được phép thựchiện nghiệp vụ bảo lãnh phát hành chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ tựdoanh chứng khoán”
Như vậy, nghiệp vụ bảo lãnh phát hành là việc CTCK có chức năng bảolãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện đầy đủ các thủ tục trước khi chào bánchứng khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứngkhoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh pháthành không chỉ có các CTCK mà còn bao gồm các định chế tài chính khác nhưngân hàng đầu tư, nhưng thông thường khi CTCK nhận bảo lãnh phát hànhthường kiêm luôn việc phân phối chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tưthường đứng ra nhận bảo lãnh phát hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh pháthành) sau đó chuyển phân phối chứng khoán cho các CTCK tự doanh hoặc cácthành viên khác
2.4 Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán:
Tư vấn đầu tư chứng khoán là việc công ty chứng khoán cung cấp cho nhà đầu tư kết quả phân tích, cũng như công bố báo cáo phân tích và khuyến nghị liên quan đến chứng khoán.
Trang 10Trong hoạt động tư vấn đầu tư, CTCK cung cấp thông tin, cách thức đầu
tư và loại chứng khoán cần đầu tư đối với các khách hàng của mình Hoạt độngnày đòi hỏi nhiều kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của nhân viên tư vấn Mặtkhác, tính trung thực của các nhân viên tư vấn của CTCK có tầm quan trọng lớntrong việc thu hút khách hàng Hoạt động tư vấn là hoạt động mà người tư vấn
sử dụng kiến thức, chính là vốn chất xám nhằm đem lại lợi nhuận cho kháchhàng Người tư vấn cần phải hết sức thận trọng trong việc đưa ra những khuyếnnghị cho khách hàng, vì từ những khuyến nghị đó khách hàng có thể thu về lợinhuận lớn hoặc thua lỗ, thậm chí phá sản, còn người tư vấn vẫn thu về cho mìnhphí dịch vụ tư vấn bất kể kết quả kinh doanh của khách hàng có thành công haykhông
Hoạt động tư vấn đầu tư chứng khoán được phân loại theo các tiêu chísau:
Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm có tư vấn trực tiếp (gặp gỡkhách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián tiếp(thông qua các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng
Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: bao gồm có tư vấn gợi ý (gợi ý chokhách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của khách hàng)
và tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ quyền thựchiện của khách hàng)
Theo đối tượng của hoạt động tư vấn: Bao gồm có tư vấn cho người pháthành (tư vấn cho tổ chức dự kiến phát hành: cách thức, hình thức phát hành, xâydựng hồ sơ, bản cáo bạch… và giúp tổ chức phát hành trong việc lựa chọn tổchức bảo lãnh, phân phối chứng khoán) và tư vấn đầu tư (tư vấn cho khách hàngđầu tư chứng khoán trên thị trường thứ cấp về giá, thời gian, định hướng đầu tưvào các loại chứng khoán…vv)
2.5 Các hoạt động phụ trợ
Lưu ký chứng khoán: Là việc lưu giữ, bảo quản chứng khoán của khách
hàng thông qua tài khoản lưu ký chứng khoán Đây là quy định bắt buộc trong
Trang 11giao dịch chứng khoán, bởi giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung làhình thức giao dịch ghi sổ, khách hàng phải mở tài khoản lưu ký chứng khoántại các CTCK (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức ghi sổ) hoặc ký gửicác chứng khoán (nếu chứng khoán phát hành dưới hình thức chứng chỉ vậtchất) Khi thực hiện dịch vụ lưu ký chứng khoán cho các khách hàng, CTCK sẽđược nhận các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyểnnhượng chứng khoán.
Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý cổ tức): Xuất phát từ việc lưu
ký chứng khoán cho khách hàng, CTCK sẽ theo dõi tình hình thu lãi, cổ tức củachứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàngthông qua tài khoản của khách hàng tại công ty
Nghiệp vụ tín dụng: Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ
môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng, CTCK còn triển khaicác dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao dịch bán khống(short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụmua ký quỹ (margin purchase)
Cho vay ký quỹ là một hình thức cấp tín dụng của CTCK cho kháchhàng của mình để họ mua bán chứng khoán và sử dụng các chứng khoán đó làmvật đảm bảo cho các khoản vay đó Khách hàng chỉ cần ký quỹ một phần, số cònlại sẽ do CTCK ứng trước tiền thanh toán Đến kỳ hạn thoả thuận, khách hàngphải hoàn trả đầy đủ số gốc vay và lãi cho CTCK Trường hợp khách hàngkhông trả được nợ, thì công ty sẽ có quyền phát mãi số chứng khoán đã mua đểthu hồi nợ
Nghiệp vụ quản lý quỹ: Quỹ đầu tư chứng khoán là quỹ hình thành từ vốn
góp của những người đầu tư, được ủy thác cho công ty quản lý quỹ đầu tư quản
lý và đầu tư vào chứng khoán nhằm đem lại lợi ích cho những người đầu tư vàoquỹ Ở một số nước, pháp luật về TTCK còn cho công ty chứng khoán đượcphép thực hiện nghiệp vụ quản lý quỹ đầu tư Theo đó, CTCK sẽ cử đại diện củamình để quản lý quỹ và sử dụng vốn và tài sản của quỹ đầu tư để đầu tư vàochứng khoán CTCK được thu phí cho dịch vụ quản lý quỹ đầu tư
Trang 123 Chức năng và vai trò của các công ty chứng khoán
3.1 Chức năng cơ bản của công ty chứng khoán
Hoạt động của TTCK muốn hiệu quả cần đến những trung gian, đó là cáccông ty chứng khoán , có nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và
bộ máy tổ chức phù hợp, thực hiện vai trò trung gian môi giới mua- bán chứngkhoán, tư vấn đầu tư và một số các dịch vụ khác cho cả các tổ chức phát hành vàcác nhà đầu tư
Các CTCK là các tác nhân thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nóichung và TTCK nói riêng Nhờ các CTCK mà các cổ phiếu và trái phiếu lưuthông dễ dàng, tạo ra tính thanh khoản cao , qua đó huy động được một lượngvốn khổng lồ nhàn rỗi, nằm lẻ tẻ trong dân chúng để đưa vào những nơi sử dụnghiệu quả hơn
Công ty chứng khoán có các chức năng cơ bản sau :
Tạo cơ chế huy động vốn bằng cách nối những người có vốn (nhà đầu tư)đến những người có nhu cầu sử dụng vốn, muốn huy động vốn (những ngườiphát hành chứng khoán) thông qua nghiệp vụ bảo lãnh phát hành
Tạo tính thanh khoản cho chứng khoán qua cung cấp cơ chế chuyển từchứng khoán ra tiền mặt và từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng
Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (qua hoạt động tự doanh với vaitrò nhà tạo lập thị trường)
3.2 Vai trò của công ty chứng khoán
3.2.1 Đối với các tổ chức phát hành
Tạo cơ chế huy động vốn: Mục tiêu chính tham gia TTCK của các tổ chức
phát hành chính là huy động vốn thông qua việc phát hành các loại chứngkhoán Một trong nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian,nguyên tắc này yêu cầu các tổ chức phát hành và các nhà đầu tư không đượcmua bán chứng khoán trực tiếp với nhau mà phải thông qua trung gian mua bán
Trang 13CTCK với tư cách là một định chế tài chính trung gian, hỗ trợ việc huy độngvốn của các tổ chức phát hành thông qua hoạt động bảo lãnh phát hành
Hỗ trợ chuyên môn thông qua tư vấn: Ngoài ra, CTCK còn cung cấp cho
doanh nghiệp các giải pháp tổng hợp về tài chính công ty, cơ cấu lại, lập và đánhgiá dự án, quản lý tài sản và định hướng đầu tư
3.2.2 Đối với các nhà đầu tư
Tăng hiệu quả đầu tư: Để tham gia đầu tư chứng khoán, các nhà đầu tư
phải trải qua một quá trình dài, từ tìm hiểu thông tin thị trường, thông tin vềchứng khoán muốn đầu tư, đưa ra quyết định đầu tư (thời điểm đầu tư, số vốnđầu tư, cơ cấu danh mục đầu tư…), tiến hành đầu tư (đặt lệnh đối với chứngkhoán niêm yết hay đi tìm người muốn bán/mua đối với chứng khoán chưaniêm yết), thực hiện các thủ tục cần thiết như thanh toán, lưu ký….Tóm lại, đểđầu tư được nhà đầu tư phải bỏ ra không ít thời gian và chi phí, hơn thế nữacũng không đảm bảo được độ chính xác của thông tin mình tiếp cận được, haythời gian bỏ ra để tìm hiểu và quyết định quá dài làm lỡ mất cơ hội đầu tư.CTCK cung cấp dịch vụ môi giới và tư vấn đầu tư, góp phần làm giảm chi phí,thời gian giao dịch cho các nhà đầu tư Trên TTCK, các hàng hóa được mua bán,trao đổi là những hàng hóa khó xác định giá trị, giá cả lại thường xuyên biếnđộng, rủi ro trong đầu tư thường cao CTCK với hoạt động chuyên nghiệp củamình, có khả năng thu thập và xử lý thông tin, rút ngắn thời gian tìm hiểu thôngtin ra quyết định, đồng thời các nhân viên tư vấn đưa ra các khuyến nghị, các ýkiến chuyên môn, là cơ sở để các nhà đầu tư thực hiện các quyết định của mình,tăng hiệu quả và giảm rủi ro trong đầu tư Ngoài ra, thông qua việc lưu ký chứngkhoán, CTCK giúp khách hàng bảo quản các chứng khoán
3.2.3 Đối với thị trường chứng khoán
Đối với TTCK, CTCK có hai vai trò cơ bản sau:
Trang 14Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường Giá cả chứng khoán là do thị
trường quyết định Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và ngườibán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trìnhmua bán Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng gópphần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá Trên thị trường sơ cấp, cácCTCK cùng với các nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên Chính vì vậy, giá cảcủa mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các CTCK
Các CTCK còn có vai trò tham gia điều tiết thị trường Để bảo vệ lợi íchcủa khách hàng và của chính mình, nhiều công ty dành một tỷ lệ nhất định giaodịch của mình để thực hiện vai trò bình ổn thị trường Theo quy định của nhiềunước, CTCK cũng bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình
để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán giảm và bán ra khi giá chứngkhoán cao
Góp phần tạo hàng hóa cho thị trường và tăng tính thanh khoản của các chứng khoán Trên thị trường sơ cấp, bằng hoạt động bảo lãnh phát hành, công
ty chứng khoán tham gia vào quá trình tạo hàng hoá cho thị trường Với chuyênmôn và uy tín của mình, cổ phiếu và trái phiếu khi được công ty chứng khoánbảo lãnh phát hành sẽ rút ngắn thời gian phát hành và nhanh chóng được giaodịch Trong quá trình bảo lãnh, CTCK định giá chứng khoán cho đợt phát hànhphù hợp với thực trạng của tổ chức phát hành và tình hình thị trường, đồng thờibình ổn giá chứng khoán trong giai đoạn đầu Điều này khiến chứng khoán đượcnhà đầu tư tín nhiệm hơn Bên cạnh đó, hoạt động môi giới và tư vấn của CTCKtrên thị trường thứ cấp tạo nên tính thanh khoản cho chứng khoán, làm chochúng hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư Cũng trên thị trường này, do thực hiệncác giao dịch mua và bán các CTCK giúp người đầu tư chứng khoán chuyển đổichứng khoán thành tiền mặt và ngược lại, làm tăng tính thanh khoản của chứngkhoán
3.2.4 Đối với các cơ quan quản lý
Cung cấp thông tin: CTCK là một chủ thể trên thị trường và tham gia vào
Trang 15hầu hết các hoạt động trên TTCK, từ bảo lãnh phát hành cho các chứng khoánmới cho đến môi giới và trực tiếp mua, bán chứng khoán trên thị trường Có thểnói các CTCK là một trong những chủ thể am hiểu thị trường chứng khoán nhất,nắm được nhiều thông tin nhất Các thông tin do CTCK cung cấp có ý nghĩ lớnđối với các cơ quan quản lý Thứ nhất, đối với các cơ quan hoạch định chínhsách TTCK giống như phong vũ biểu của nền kinh tế, mọi biến động của nềnkinh tế ít nhiều được phản ảnh qua hoạt động của TTCK, nhờ những thông tin
do CTCK cung cấp, các cơ quan hoạch định chính sách có được những thông tincần thiết về thị trường, làm cơ sở để đưa ra những chiến lược chính sách đúngđắn, phù hợp với tình hình thực tế Thứ hai, đối với các cơ quan quản lý thịtrường CTCK có thể cung cấp các thông tin về các giao dịch mua, bán trên thịtrường, thông tin về các cổ phiếu, trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin vềcác nhà đầu tư v.v…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường cóthể nắm được các diễn biến của thị trường, các bất ổn xảy ra, nhờ thế kiểm soáthoạt động của TTCK và chống các hiện tượng tiêu cực như: thao túng, lũngđoạn, bóp méo thị trường
II - HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1- Khái niệm hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán
Theo Luật chứng khoán, tự doanh chứng khoán là việc công ty chứngkhoán mua hoặc bán chứng khoán cho chính mình Trong đó chứng khoán cóthể được hiểu là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sởhữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành Chứng khoán đượcthể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồmcác loại sau đây: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ phần, chứngquyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứngkhoán hoặc chỉ số chứng khoán Hiện tại trên TTCK Việt Nam, do các loạichứng khoán phái sinh chưa phát triển nên hoạt động tự doanh chứng khoán củacác công ty chủ yếu xoay quanh cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ
Trang 16Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện cácnghiệp vụ trên TTCK, có cơ cấu tổ chức phức tạp và có tính chuyên nghiệp caotrên thị trường, do đó hoạt động đầu tư và kinh doanh chứng khoán mà cácCTCK thực hiện có nhiều điểm khác biệt so với hoạt động đầu tư của các chủthể khác trên TTCK.
Hoạt động tự doanh chứng khoán của CTCK mang tính chuyên nghiệpcao Thứ nhất thể hiện ở nguồn nhân lực có trình độ và hiểu biêt sâu sắc về lĩnhvực này Các cán bộ thực hiện hoạt động tự doanh của CTCK là những người cókiến thức chuyên môn, được đào tạo bài bản, có khả năng tiếp cận và phân tíchthông tin cao, có tính độc lập, khả năng đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn
và có thể làm việc dưới áp lực lớn Trong hoạt động tự doanh chứng khoán tínhthời điểm là rất quan trọng nên các cán bộ tự doanh đều có tính năng động và tựchủ cao Thứ hai, mọi hoạt động đầu tư và kinh doanh của CTCK đều phải tuântheo một quy trình đầu tư chặt chẽ và những quy định nhất định nhằm đảm bảotính hiệu quả và an toàn trong đầu tư Trách nhiệm, quyền hạn của các đốitượng tham gia vào hoạt động tự doanh đều được quy định rõ, đồng thời hoạtđộng tự doanh cũng phải được thực hiện thông qua các bước nhất định và cóphương án đầu tư cụ thể Hoạt động tự doanh của CTCK luôn có mục đích, cótính định hướng và nằm trong một chiến lược lâu dài của công ty Dựa vào tìnhhình kinh tế xã hội và điểm mạnh, điểm yếu, điều kiện của công ty trong từnggiai đoạn hoạt động cụ thể, các CTCK đều đề ra những chiến lược đầu tư và cácchính sách quản lý danh mục đầu tư một cách phù hợp
Hoạt động tự doanh của CTCK không những mang tính chuyên nghiệpcao mà còn có quy mô rất lớn và danh mục đầu tư rất đa dạng Phần lớn cácCTCK có tiềm lực tài chính mạnh và có thể huy động được lượng vốn lớn nêngiá trị các khoản đầu tư thường lớn Với tính chuyên nghiệp cao, khả năng tiếpcận, phân tích thông tin tốt nên các CTCK không chỉ tập trung vào một loạichứng khoán ,một thị trường, một ngành nghề hay một công ty nhất định màthường họ đầu tư vào nhiều ngành nghề khác nhau, các loại chứng khoán khácnhau, cả TTCK trong và ngoài nước Dựa vào các lợi thế về nhân lực và vốn,
Trang 17các CTCK còn có khả năng tìm kiếm nhiều cơ hội đầu tư, thuận lợi cho việc đadạng hóa danh mục đầu tư, giảm thiểu rủi ro.
Mặc dù có nhiều lợi thế nhưng hoạt động đầu tư chứng khoán của cácCTCK vẫn luôn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, tương tự như những rủi ro các nhà đầu
tư gặp phải, thậm chí với quy mô khoản đầu tư lớn, nếu gặp phải rủi ro , hậu quả
sẽ nghiêm trọng hơn bình thường, bởi vậy trong hoạt động tự doanh của mình,các CTCK đều sử dụng các công cụ phòng vệ để phòng tránh rủi ro Việc sửsụng các công cụ phòng vệ hữu hiệu đến đâu phụ thuộc vào nhiều yếu tố khácnhau, cả yếu tố khách quan và chủ quan Yếu tố khách quan thể hiện ở sự pháttriển của thị trường với việc sử dụng rộng rãi của các công cụ phòng vệ tronghoạt động đầu tư như hợp đồng tương lai, quyền chọn , Yếu tố chủ quan thuộc
về công ty bao gồm các yếu tố về nhân lực, chiến lược phát triển, chính sáchquản lý danh mục đầu tư
2- Phân loại hoạt động tự doanh chứng khoán
2.1 Hoạt động đầu tư ngân quỹ
Bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải dự trữ cho mình một lượng tiềnmặt nhất định để thực hiện chi trả và dự phòng cho các nhu cầu thanh toán hàngngày Yêu cầu này càng đặc biệt cấp thiết đối với các doanh nghiệp hoạt độngtrong lĩnh vực tài chính Ngoài tiền mặt, các khoản dự trữ này còn được thựchiện dưới dạng tiền gửi tại các ngân hàng và một số chứng khoán ngắn hạn, cótính lỏng cao, dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt Hoạt động đầu tư ngân quỹphát sinh nhằm giúp các ngân hàng, các công ty chứng khoán quản lý tốt khoản
dự trữ này Bằng việc đầu tư số tiền tạm thời nhàn rỗi vào thị trường tiền tệ, họđạt được cả hai mục đích: vừa đáp ứng nhu cầu thanh toán, vừa có mức sinh lờinhất định
2.2 Hoạt động đầu tư chênh lệch giá
Trang 18Kinh doanh chênh lệch giá là việc các nhà đầu tư mua chứng khoán ởmột mức giá thấp và bán chúng ở một mức giá cao hơn, phần lợi nhuận thu về làphần chênh lệch giá Mục đích đầu tư ở đây là chỉ quan tâm đến chênh lệch giá
cả trên thị trường để thực hiện đầu tư, tức là họ mong muốn tạo ra lợi nhuậnnhưng không chịu rủi ro trên cơ sở khai thác sự không nhất quán về giá chứngkhoán tại các thời điểm khác nhau và tại các thị trường khác nhau
Chẳng hạn, khi CTCK thực hiện hoạt động tự doanh cổ phiếu với chiếnlược tập trung chính vào loại hình này thì chính sách đầu tư của CTCK thiên vềđầu tư trong ngắn hạn, còn đầu tư trong dài hạn là cực kì hạn chế Khi giá cổphiếu trên thị trường tăng hơn giá mua vào với một tỷ lệ phần trăm nhất định,công ty sẽ thực hiện bán cổ phiếu đó trên thị trường để thu về lợi nhuận từ mứcgiá chênh lệch
2.3 Hoạt động đầu cơ
Các CTCK tiến hành đầu cơ với hy vọng kiếm được lợi nhuận thông quahành vi chấp nhận rủi ro về giá chứng khoán Trong lĩnh vực chứng khoán, đầu
cơ là việc mua, bán, nắm giữ, bán khống các loại chứng khoán nhằm thu lợi từ
sự biến động giá mạnh của chúng.Cơ sở đầu cơ của họ là: tại một ngày nhất địnhtrong tương lai giá chứng khoán sẽ tăng hơn giá ở thời điểm hiện tại Do đó, khiđầu cơ, CTCK sẽ mua vào tại thời điểm giá chứng khoán thấp để bán số chứngkhoán đó với giá cao hơn trong tương lai Những CTCK này sẵn sàng chấpnhận thua lỗ cao nếu gặp rủi ro nhưng lại có thể đạt được những khoản lợikhổng lồ Hoạt động đầu cơ thường chỉ được thực hiện trong ngắn hạn và chỉnhững CTCK cần tích tụ nhiều vốn, đặt mục tiêu lợi nhuận lên hàng đầu, cóchính sách đầu tư mạo hiểm mới thực hiện hoạt động này
2.4 Hoạt động đầu tư phòng vệ
CTCK thực hiện hoạt động đầu tư phòng vệ với mục đích tự bảo vệ trước
sự biến động của giá chứng khoán Để thực hiện được mục đích đó, các CTCKphải sử dụng đến các công cụ phòng vệ như option, future, swap, Đây là một
Trang 19loại đầu tư được thực hiện để làm giảm hoặc loại trừ rủi ro xảy đến với một loạiđầu tư khác, trong khi vẫn đảm bảo một mức lợi nhuận khi thực hiện thương vụ.
2.5 Hoạt động tạo lập thị trường
Tạo lập thị trường là hoạt động của CTCK trong đó công ty chấp nhận rủi
ro nắm giữ một khối lượng nhất định của một loại chứng khoán nhất định để hỗtrợ, thúc đẩy giao dịch đối với loại chứng khoán đó Khi đã đóng vai trò nhà tạolập thị trường, CTCK thường xuyên yết lên các mức giá chào mua, chào bán vàthực hiện mua bán theo các mức giá đó
2.6 Hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát
Mục đích của CTCK ở đây là thao túng và nắm quyền kiểm soát các tổchức phát hành do vậy CTCK sẽ sẵn sàng chấp nhận một chi phí lớn nhưng hợp
lý để nắm được quyền kiểm soát và trong tương lai kỳ vọng có thể thao túngnhững tổ chức đó và thu được những nguồn lợi cao CTCK sẽ có đầy đủ điềukiện để thực hiện hoạt động đầu tư nắm quyền kiểm soát khi có một tiềm lực tàichính mạnh và đội ngũ cán bộ có trình độ cao Với những công ty phát hành làm
ăn không hiệu quả các CTCK hoàn toàn có thể mua lại toàn bộ hoặc một phần
đủ quyền để chi phối hoặc tham gia quản lý công ty, sau đó tái cơ cấu tài chínhdoanh nghiệp, tái cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh và quản lý doanhnghiệp của các công ty phát hành để rồi có thể đưa công ty đó niêm yết trênTTCK hoặc bán lại công ty đó cho các đối tác với giá trị cao hơn Với xu hướngnày các CTCK ngày càng phát triển theo mô hình một tập đoàn tài chính trunggian vừa thực hiện cung cấp dịch vụ trên TTCK, vừa đóng vai trò là những nhàđầu tư chiến lược
3- Mục đích tự doanh chứng khoán của công ty chứng khoán
Mục đích chính của tự doanh chứng khoán là thu được lợi nhuận Thôngthường lợi nhuận thu về tự doanh chứng khoán là rất lớn, chiếm tỉ trọng lớntrong cơ cấu lợi nhuận của các CTCK
Trang 20Đối với các CTCK , những tổ chức kinh doanh trên thị trường vốn, phạm
vi và quy mô kinh doanh phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn và mức dự trữ đảmbảo khả năng thanh toán Hoạt động tự doanh làm cho CTCK nắm giữ số lượngchứng khoán rất lớn, chứng khoán lại là một công cụ có khả năng thanh khoảncao và mang lại lợi nhuận lớn Chính vì có nguồn chứng khoán dự trữ lớn, khảnăng thanh toán của các CTCK được đảm bảo ổn định hơn Nhờ nguồn chứngkhoán dự trữ, các CTCK có thể vay vốn từ các trung tâm thanh toán và lưu kýchứng khoán, các ngân hàng hay các CTCK khác để mở rộng kinh doanh.Nguồn vốn lớn có thể tạo ra hạn mức giao dịch lớn cho các hợp đồng giao dịch
có khối lượng lớn
Nắm giữ lượng chứng khoán lớn còn tạo điều kiện cho CTCK triển khaimột số nghiệp vụ mới trên cơ sở được pháp luật cho phép như bán khống hayhợp đồng quyền chọn…
CTCK thực hiện hoạt động tự doanh không chỉ nhằm đạt lợi nhuận cao,củng cố tiềm lực tài chính thêm vững mạnh, mà còn để tạo ra thương hiệu mạnhtrên thị trường
4- Những điều kiện và yêu cầu đối với công ty chứng khoán khi tiến hành hoạt động tự doanh chứng khoán
4.1 Điều kiện để thực hiện hoạt động tự doanh
Vốn và con người là hai điều kiện cơ bản để thực hiện hoạt động tự doanhchứng khoán
Về vốn, để thực hiện hoạt động tự doanh chứng khoán các CTCK thườngphải đảm bảo đủ một số vốn pháp định nhất định theo quy định của pháp luật.Việc quy định mức vốn trên nhằm đảm bảo các công ty thực sự có vốn và dùngvốn của chính mình để kinh doanh.Theo pháp luật Việt Nam, cụ thể tại Điều 18khoản 1 Nghị định 14/2007/NĐ-CP có quy định về vốn pháp định đối với hoạtđộng tự doanh chứng khoán là 100 tỷ đồng
Về con người, đây chính là yếu tố quyết định sự thành công của hoạt động
tự doanh Kinh doanh chứng khoán là một lĩnh vực chịu sự chi phối của yếu tố
Trang 21con người và thông tin Nhân viên tự doanh phải có trình độ chuyên môn, khảnăng tự quyết cao và tính nhạy cảm trong công việc, đặc biệt khi dùng một sốvốn lớn để kinh doanh thì đồng thời cũng phải làm việc được dưới áp lực lớn, và
có tinh thần trách nhiệm cao Tại một số nước, nhân viên tự doanh phải hội đủmột số tiêu chuẩn nhất định như kinh nghiệm làm việc lâu năm trong ngành, cóbằng thạc sỹ và một số chứng chỉ chuyên môn nhất định
4.2 Các yêu cầu đối với công ty chứng khoán
Hoạt động tự doanh là một hoạt động quan trọng của CTCK và có ảnhhưởng đến các hoạt động khác cũng như phần nào tạo ra một tác động khá rõtrên thị trường nên CTCK phải tuân thủ một số yêu cầu khi thực hiện hoạt động
tự doanh
Tách biệt quản lý: Các CTCK phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh
và nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động.Công ty phải có đội ngũ nhân viên riêng để thực hiện hoạt động tự doanh, hoàntoàn tách biệt với nhân viên môi giới Bên cạnh đó, công ty chứng khoán phảiđảm bảo quản lý riêng tài sản của khách hàng và của công ty
Ưu tiên khách hàng: CTCK phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng
khi thực hiện nghiệp vụ tự doanh Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của kháchhàng phải được xử lý trước lệnh tự doanh của công ty Nguyên tắc này đảm bảo
sự công bằng cho khách hàng trong quá trình giao dịch chứng khoán Do có tínhđặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên cácCTCK có thể dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bántranh của khách hàng nếu không có nguyên tắc trên
Góp phần bình ổn thị trường: do đặc thù của TTCK đặc biệt là các TTCK
mới nổi, bao gồm chủ yếu là các nhà đầu tư cá nhân, thiếu chuyên nghiệp Điềunày dễ gây ra những biến động bất thường, gây bất ổn cho TTCK Vì thế rất cầnđến các nhà đầu tư lớn, chuyên nghiệp làm tín hiệu hướng dẫn đầu tư cho toàn
bộ thị trường, hơn nữa, với khả năng chuyên môn cao và tiềm lực tài chính dồidào, các CTCK có thể thông qua hoạt động tự doanh góp phần lớn trong việc
Trang 22điều tiết giá cả, cung cầu trên TTCK Thông thường, đây là một quy định bắtbuộc với các CTCK trong hệ thống pháp luật nhiều nước và là một nguyên tắcnghề nghiệp do các hiệp hội chứng khoán đặt ra và các CTCK phải tuân thủtrong quá trình hoạt động.
5- Vai trò của hoạt động tự doanh chứng khoán
5.1 Đối với CTCK:
Hoạt động tự doanh mang lại lợi nhuận cho CTCK Đây là vai trò quantrọng của hoạt động tự doanh đối với công ty, lợi nhuận từ hoạt động tự doanhchiếm một tỷ trọng không nhỏ trong tổng lợi nhuận của một CTCK Các CTCKsẵn có khả năng chuyên môn, thông tin và đặc biệt là nguồn vốn lớn, nên hầu hếtđều triển khai hoạt động tự doanh Tuy không được ổn định như nghiệp vụ môigiới chứng khoán và là hoạt động tiêu tốn nhiều nhân lực cũng như nguồn tàichính, đồng thời cũng chứa rất nhiều rủi ro nhưng hoạt động tự doanh nhiều khimang lại cho CTCK những khoản lợi nhuận khổng lồ
Hoạt động tự doanh hỗ trợ các nghiệp vụ khác phát triển.Tự doanh là hoạtđộng hỗ trợ trực tiếp cho nghiệp vụ bảo lãnh phát hành Giữa hai nghiệp vụ này
có mối quan hệ rất chặt chẽ Ngoài ra với các nghiệp vụ khác như tư vấn, môigiới…, hoạt động tự doanh cũng có những hỗ trợ đáng kể về thông tin, nhậnđịnh hay quan hệ khách hàng… Triển khai hoạt động tự doanh cũng góp phần
đa dạng hóa hoạt động, giảm thiểu rủi ro tổng thể cho các CTCK
Hoạt động tự doanh góp phần phát triển khách hàng Trong quá trình hoạtđộng tự doanh, mối quan hệ giữa công ty và các khách hàng được củng cố, từ đónảy sinh nhiều mối quan hệ tốt đẹp khác, tạo điều kiện phát triển cơ sở kháchhàng chung của cả CTCK
Hoạt động tự doanh giúp các CTCK nắm bắt sát sao tình hình thị trường
Để thực hiện hoạt động tự doanh, các công ty phải theo sát sự biến động của thịtrường Cũng chính từ các thông tin này cộng với sự nhìn nhận, đánh giá chủ
Trang 23quan mà các CTCK đưa ra được chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng giaiđoạn hoạt động.
Hoạt động tự doanh góp phần nâng cao chất lượng đầu tư trên thị trường.CTCK là một tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực chứng khoán, đầu tư theoquy trình và phân tích bài bản Do đó, càng nhiều CTCK thực hiện hoạt động tựdoanh cổ phiếu thì phong cách đầu tư theo số đông trên thị trường sẽ dần bị thaythế bởi một cách thức đầu tư có suy tính và phân tích Có như vậy, thị trườngmới phát triển ổn định và bền vững
Hoạt động tự doanh góp phần bình ổn giá cả thị trường Các CTCK hoạtđộng nhằm góp phần bình ổn giá cả thị trường Trong trường hợp này, hoạt động
tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định Luật các nước đều quy định cácCTCK phải dành một tỷ lệ % nhất định các giao dịch của mình (ở Mỹ là 60%)cho hoạt động bình ổn thị trường Theo đó, các CTCK có nghĩa vụ mua vào khigiá chứng khoán bị giảm và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm giữ giá chứngkhoán ổn định
III- CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
1- Các nhân tố chủ quan
1.1 Chính sách phát triển của công ty
Trong mọi nhân tố chủ quan, chính sách phát triển của công ty chứngkhoán có ảnh hưởng to lớn và quyết định nhất, thay đổi trong từng giai đoạn
Trang 24hoạt động, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh Chính sách phát triển củacông ty sẽ đưa ra các chỉ tiêu cần đạt được trong giai đoạn tiếp theo với nhữngchiến lược đầu tư khác nhau (nới lỏng hoặc thắt chặt), đồng thời cũng đưa ranhững thay đổi về tổng lượng vốn cho hoạt động đầu tư toàn công ty Bên cạnh
đó, với những mục tiêu phấn đấu khác nhau sẽ quyết định đến loại hình đầu tưcủa công ty và chính sách quản lý danh mục đầu tư Chính bởi vậy, chính sáchphát triển sẽ là yếu tố đầu tiên ảnh hưởng đến hoạt động tự doanh chứng khoáncủa CTCK
1.2 Khả năng về nguồn nhân lực
Yếu tố nhân lực luôn đóng vai trò to lớn trong hoạt động của mọi tổ chức.Cũng như vậy, CTCK là một định chế tài chính hoạt động trên TTCK, do đó conngười chính là tâm điểm của mọi hoạt động Đối với hoạt động tự doanh chứngkhoán , yếu tố nhân lực được đề cập ở đây bao gồm khả năng, trình độ chuyênmôn của các cán bộ tự doanh và cơ cấu tổ chức, phân bố công việc tại phòng tựdoanh (hay phòng đầu tư) của CTCK
Năng lực của người cán bộ thực hiện tự doanh không chỉ thể hiện việcngười đó có kiến thức về tài chính, có khả năng phân tích và có kinh nghiệmthực tế trên thị trường mà còn đòi hỏi đó là những con người có khả năng làmviệc trong áp lực và có đạo đức nghề nghiệp, và quan trọng hơn là sự nhạy cảmvới tín hiệu thị trường- một khả năng mà không phải ai cũng có được Nếu mộtngười cán bộ tự doanh không có khả năng tìm kiếm các cơ hội đầu tư, khôngquyết định thời điểm đầu tư hợp lý thì anh ta khó có thể đem lại lợi nhuận chocông ty mà trái lại còn gây ra thua lỗ
Tuy nhiên nếu có khả năng song họ lại không chịu đựng được một côngviệc áp lực thì sẽ là rất khó khăn để những người cán bộ tự doanh đó hoàn thànhtốt được công việc Và quan trọng hơn là đạo đức trong nghề nghiệp, nếu mộtcán bộ tự doanh giỏi về chuyên môn nhưng lại có động cơ vụ lợi riêng cho cánhân chứ không phải toàn tâm toàn ý vì lợi ích của công ty thì xung đột về lợi
Trang 25ích giữa hai bên sẽ không tránh khỏi, và kết cục sẽ không ai có thể lường trướcđược
Bên cạnh yếu tố về năng lực cán bộ, cơ cấu tổ chức cũng ảnh hưởng khálớn đến hoạt động tự doanh chứng khoán Cơ cấu tổ chức của CTCK phải đápứng được yêu cầu cơ bản là chuyên môn hóa ở mức độ cao, mỗi bộ phận chỉchuyên trách thực hiện một hoạt động cụ thể Hoạt động tự doanh bao gồmnhiều công việc, chuyên môn hóa các hoạt động sẽ giúp hoạt động này đượcthực hiện có hiệu quả hơn, rút ngắn thời gian triển khai nghiệp vụ, từ đó giúpcông ty phản xạ kịp thời và chính xác hơn đối với những biến động trên thịtrường
1.3 Tiềm lực tài chính
Khả năng tài chính luôn là yếu tố hàng đầu trong hoạt động tự doanh.Danh mục đầu tư, quy mô của danh mục cũng như chiến lược tự doanh đượcquyết định phần lớn bởi quy mô nguồn vốn dành cho hoạt động này lớn đến đâu,nguồn vốn đó là dài hạn hay ngắn hạn CTCK khi triển khai hoạt động tự doanhkhông chỉ mua một hoặc hai loại chứng khoán có triển vọng thu lời cao mà phảixây dựng cho mình một danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu thấp nhất các rủi ro,
vì vậy mà trong danh mục này thường bao gồm khá nhiều loại chứng khoánthuộc các ngành nghề khác nhau Số lượng chứng khoán trong danh mục cũngphải tương đối lớn để công ty có khả năng thu được lợi nhuận đề ra Tuy quy môvốn không tỉ lệ thuận với lợi nhuận nhưng quy mô vốn lớn bao giờ cũng hứa hẹnmột mức lợi nhuận thỏa mãn Trong trường hợp triển khai hoạt động tạo lập thịtrường, CTCK cũng cần nắm giữ một số lượng chứng khoán đủ lớn cũng nhưlượng tiền mặt dồi dào để sẵn sàng mua bán nhằm điều tiết được giá cả trên thịtrường Vì vậy khả năng tài chính tốt hoặc có một chỗ dựa tài chính vững chắc
là rất cần thiết
Tầm quan trọng của tiềm lực tài chính cũng được minh họa phần nào quaviệc yêu cầu về vốn pháp định đối với hoạt động tự doanh luôn luôn cao gấp
Trang 26nhiều lần các nghiệp vụ khác Luật Chứng khoán hiện hành đòi hỏi các công tychứng khoán muốn thực hiện nghiệp vụ tự doanh phải có số vốn điều lệ ít nhất
là 100 tỷ đồng, trong khi để tiến hành nghiệp vụ môi giới chỉ cần 25 tỷ đồng,còn nghiệp vụ tư vấn chỉ yêu cầu 10 tỷ đồng vốn pháp định
Ngoài ra, với nguồn vốn lớn cũng sẽ là một lợi thế vô cùng to lớn củacông ty so với các đối thủ khác Quy mô vốn đủ lớn có thể tạo ra một tác độngđáng kể, một vị thế vững chắc cho công ty trên thị trường
1.4 Quy trình tự doanh chứng khoán
Quy trình tự doanh là một quy trình trong đó phân bổ công việc, tráchnhiệm, quyền hạn và lợi ích của từng nhân viên thực hiện kinh doanh, đầu tưchứng khoán và nhiều đối tượng khác có liên quan đồng thời cũng quy địnhchính sách giám sát, kiểm tra hoạt động đầu tư của công ty Chỉ khi công ty xâydựng được một quy trình chặt chẽ và khoa học thì từng cán bộ tự doanh cũngnhư các cấp ra quyết định ở trên mới nhận thức rõ được trách nhiệm của mình,
từ đó hiệu quả của hoạt động tự doanh mới có thể nâng cao Thật vậy, nếu quytrình tự doanh không logic, không chặt chẽ, bị trùng lắp thì không chỉ dẫn đến
sự lãng phí nhân lực, thời gian và tiền bạc mà còn làm cho hoạt động kém hiệuquả thậm chí dễ dẫn đến rủi ro
1.5 Công nghệ
Trong thời đại hiện nay, công nghệ trở thành một yếu tố không thể thiếutrong tiến trình phát triển của nhân loại Để kinh doanh thành công, các CTCKluôn phải chạy đua để nắm bắt được thông tin một cách nhanh nhất, vì vậy màviệc áp dụng công nghệ thông tin đối với CTCK lại càng trở nên quan trọng
Bên cạnh phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật cũng hỗ trợ rất nhiều chocác CTCK trong quá trình ra quyết định tự doanh Việc thống kê số liệu, sửdụng số liệu trong những khoảng thời gian dài để phân tích và dự đoán nhữngbiến động giá trong tương lai của một loại chứng khoán là không hề đơn giản
Trang 27Chính vì thế mà việc ứng dụng kỹ thuật công nghệ để phân tích là rất hữu hiệu
và việc phát triển công nghệ đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu củacác CTCK
1.6 Sự phát triển của các hoạt động khác
Các hoạt động của một CTCK có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau MộtCTCK với nghiệp vụ môi giới chuyên nghiệp được sự tín nhiệm của khách hàng
sẽ dễ dàng cho các cán bộ tự doanh thu thập thông tin và phân tích, đánh giá thịtrường Các công ty đạt tỷ suất lợi nhuận tự doanh cổ phiếu cao trên thị trường
là những công ty có hoạt động tư vấn cổ phần hoá phát triển Điều này là hoàntoàn đúng đắn bởi lẽ khi thực hiện tư vấn cổ phần hoá cho các doanh nghiệp thìchính CTCK là những người đầu tiên đánh giá được tiềm năng phát triển cũngnhư những thách thức mà doanh nghiệp đó sẽ phải đối mặt, từ đó công ty sẽ tiếnhành đầu tư vào các doanh nghiệp mà họ thấy có tiềm năng và triển vọng
2- Các nhân tố khách quan
2.1 Tình hình kinh tế trong nước và quốc tế
Thị trường chứng khoán là bộ phận cấu thành quan trọng của thị trườngtài chính, là kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế Thông qua TTCK ,vốn được tích tụ, tập trung và phân phối hiệu quả Rõ ràng, TTCK có những tácđộng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế Đây không chỉ đơn thuần là tác động mộtchiều mà là tương tác hai chiều, có nghĩa là TTCK mỗi nước cũng chịu nhữngảnh hưởng rất lớn không chỉ từ nền kinh tế nước mình mà còn từ kinh tế trongkhu vực và trên toàn thế giới Mỗi biến động về tỷ giá ngoại tệ, lãi suất hay giá
cả của một số hàng hóa cơ bản sẽ trực tiếp hay gián tiếp tác động lên TTCK, qua
đó ảnh hưởng tới giá trị danh mục đầu tư và cả các quyết định đầu tư của CTCK
2.2 Tình hình chính trị- xã hội
Trang 28Môi trường xã hội và chính trị luôn có những tác động nhất định đến hoạtđộng của TTCK nước đó, thậm chí có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động củaTTCK nước khác hoặc tác động tới TTCK toàn cầu Những sự kiện lớn nhưchiến tranh, biến động chính trị hay hệ thống pháp luật trong, ngoài nước có thểtạo ra những thay đổi về môi trường kinh doanh, làm tăng thêm sự bất ổn định
về thu nhập mong đợi và làm cho người đầu tư thay đổi mức quan tâm đếnkhoản tiền bù đắp rủi ro Tình hình chính trị có ảnh hưởng rất lớn đến TTCK,thay đổi chính trị làm cho nhiều quy định và sự kiểm soát của Chính phủ trongmột số ngành được thắt chặt và một số quy định trong các ngành khác lại đượcnới lỏng Chúng đều có tác động tới kết quả sản xuất kinh doanh của từngngành, từng công ty
2.3 Các quy định pháp lý
Môi trường pháp lý có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động tự doanh củacác CTCK Tùy theo luật quy định ở mỗi nước khác nhau mà các CTCK cónhững chiến lược khác nhau trong hoạt động tự doanh để đáp ứng các quy định
về mức vốn pháp định để triển khai hoạt động tự doanh, quy định về tỷ lệ vốnkhả dụng, quy định về tỷ lệ giao dịch dành cho tạo lập thị trường… Các quyđịnh của pháp luật còn quyết định loại nghiệp vụ mà công ty chứng khoán đượcthực hiện và quyết định quy mô của những nghiệp vụ đó
Hơn thế nữa, môi trường pháp lý còn ảnh hưởng đến sự thành bại tronghoạt động tự doanh của các CTCK Sự thiếu chặt chẽ, thiếu nhất quán trong luật
sẽ tạo ra những rủi ro khiến cho hiệu quả hoạt động tự doanh của CTCK bị ảnhhưởng nghiêm trọng Vì vậy mà hoạt động tự doanh của CTCK phụ thuộc mộtphần lớn vào yếu tố pháp lý do các cơ quan quản lý và giám sát thị trường banhành
2.4 Sự phát triển của thị trường chứng khoán
Trang 29Sự phát triển của TTCK là nhân tố khách quan quan trọng nhất ảnhhưởng tới hoạt động tự doanh của các công ty chứng khoán Đối với một TTCKphát triển thì hàng hóa để giao dịch trên thị trường sẽ phong phú và đa dạng, do
đó có nhiều sự lựa chọn dành cho các công ty chứng khoán khi triển khai hoạtđộng tự doanh Không những thế, đặc trưng nổi bật nhất ở các TTCK phát triển
là có rất nhiều công cụ tài chính mà công ty chứng khoán có thể sử dụng nhưcác công cụ phòng vệ, bao gồm các chứng khoán phái sinh như Hợp đồng tươnglai (Futures), Quyền chọn mua hoặc bán (Options) Các công cụ phòng vệ cóchức năng giúp CTCK phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra cũng như sử dụngvốn một cách hiệu quả nhất
Một TTCK phát triển có hệ thống thông tin, báo cáo minh bạch hơn, điềunày có ý nghĩa lớn đối với hoạt động tự doanh của một CTCK Thực hiện hoạtđộng tự doanh tự doanh luôn cần một lượng thông tin lớn, cập nhất, chính xác
về thị trường, về các loại chứng khoán cũng như về các khách hàng, đối tác Vìthế có hệ thống thông tin chính xác, khách quan sẽ là một thuận lợi lớn cho việcphân tích, đánh giá ra quyết định đầu tư trong hoạt động tự doanh
Qua những nội dung đã trình bày trên đây, khóa luận đã đưa ra những vấn
đề lý luận cơ bản nhất về hoạt động tự doanh của công ty chứng khoán Tại
Chương 2 với nội dung " Thực trạng họat động tự doanh chứng khoán tại Công
ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam" khóa luận sẽ tiếp tục nghiên cứu về hoạt động tự doanh chứng khoán ởmột công ty cụ thể
Trang 30CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HỌAT ĐỘNG TỰ DOANH CHỨNG KHOÁN TẠI CÔNG
TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
I - CÔNG TY TNHH CHỨNG KHOÁN NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM
1- Quá trình hình thành và phát triển
Từ ngày 20/7/2000 đánh dấu một sự kiện lớn cho nền kinh tế Việt Vam,
đó là sự thành lập của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minhvới chức năng chủ yếu là giao dịch các loại cổ phiếu và trái phiếu có đủ điềukiện niêm yết TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động trong khuôn khổ
Sự hình thành thị trường tập trung đã dẫn tới sự phát triển của các CTCK , mộtthành viên không thể thiếu của thị trường, có vai trò cung cấp các dịch vụ tronglĩnh vực chứng khoán tới các nhà đầu tư Cùng với nhu cầu của thị trường cũngnhư tình hình phát triển toàn xã hội, xu thế mới của thời đại, sự ra đời của cácCTCK là một quá trình tất yếu
Công ty TNHH chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn Việt Nam (Agriseco) được thành lập vào ngày 20/12/2000 theo hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với quy mô vốn ban đầu là 60 tỷđồng Agriseco là đơn vị thành viên 100% vốn của Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT VN)
Tên đầy đủ: Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển Nông thôn Việt Nam
Tên giao dịch quốc tế: Agribank Securities Company, Ltd
Tên viết tắt: Agriseco
Trụ sở chính: Toà nhà C3, Phương Liệt, Quận Thanh Xuân, Hà Nội
Điện thoại: (04)8687217
Fax: (04)8687219
Website: www.agriseco.com.vn
Trang 31Sứ mệnh của Agriseco là xây dựng công ty trở thành một tập đoàn đầu tư
và dịch vụ tài chính có uy tín hàng đầu Việt Nam và khu vực - có khă năng pháttriển và luôn đổi mới để cung cấp các sản phẩm dịch vụ chuyên nghiệp nhất,chất lượng nhất để có thể cạnh tranh trực tiếp với các định chế tài chính quốc tếlớn mạnh trên thế giới
Agriseco được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam cấp vốn lần đầu là 60 tỷ đồng Tháng 01/2004, tháng 11/2005 và tháng6/2007, Agriseco lần lượt được NHNo&PTNT VN bổ sung vốn điều lệ lên
100, 150 và 700 tỷ đồng NHNo&PTNT VN cũng đã cam kết tăng vốn choAgriseco lên 1.200 tỷ đồng Hiện tại Agriseco là công ty chứng khoán có vốnđiều lệ lớn nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam Với số vốn điều lệ nhưtrên, Agriseco được phép thực hiện đầy đủ 4 nghiệp vụ kinh doanh chứng khoántheo luật định, bao gồm môi giới chứng khoán , tư vấn đầu tư chứng khoán , tựdoanh chứng khoán và bảo lãnh phát hành chứng khoán
Không chỉ có vốn điều lệ lớn nhất, Agriseco còn là CTCK có quy mô hoạtđộng lớn nhất Việt Nam tính theo tiêu chí Tổng tài sản:
Trang 32Bảng 1 Quy mô một số công ty chứng khoán Việt Nam
Hệ thống đại lý nhận lệnh có mặt trên hầu khắp các tỉnh trên toàn quốc,Agriseco phối hợp với NHNo&PTNT VN để đặt các điểm nhận lệnh, hiện có
29 đại lý nhận lệnh trên 29 tỉnh thành như: Thanh Hóa, Nam Định, Hà Nam, ĐàNẵng… Bên cạnh việc phát triển mạng lưới đại lý nhận lệnh về các địa phương,Agriseco cũng đang tích cực mở hàng loạt phòng giao dịch và đại lý nhận lệnhtrên địa bàn Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh
Trang 33Trải qua hơn 6 năm thành lập và phát triển, Agriseco đã chứng kiến nhiềuthời khắc quan trọng, có ảnh hưởng to lớn và lâu dài đến toàn bộ hoạt động củacông ty Có thể tóm tắt một số mốc lịch sử quan trọng trong quá trình phát triểncủa Agriseco trong bảng sau:
Bảng 2 Các sự kiện quan trọng của Agriseco
20/12/2000 NHNO&PTNT VN quyết định thành lập Agriseco với số vốn
điều lệ 60 tỷ đồng04/05/2001 UBCKNN cấp Giấy phép kinh doanh
05/11/2001 Khai trương hoạt động tại Hà Nội
30/11/2001 Khai trương hoạt động Chi nhánh Agriseco tại Tp.HCM
05/2003 Đưa sản phẩm Repo ra thị trường
30/10/2003 Khai trương hoạt động Phòng Giao dịch Ngọc Khánh
01/2004 Nâng vốn điều lệ lên 100 tỷ đồng
11/2005 Nâng vốn điều lệ lên 150 tỷ đồng
06/2007 Nâng vốn điều lệ lên 700 tỷ đồng
(Nguồn: Agriseco)
Ra đời và đi vào hoạt động trong lúc TTCK Việt Nam bước vào giai đoạnkhó khăn, thế mạnh của Agriseco không phải là hoạt động môi giới mà chính làhoạt động tự doanh, đặc biệt là tự doanh trái phiếu Agriseco cũng là công tychứng khoán tiên phong đưa ra nhiều sản phẩm mới cho thị trường, góp phầntích cực trong việc xây dựng và phát triển TTCK non trẻ của Việt Nam
2- Cơ cấu tổ chức và nhân sự
Agriseco là đơn vị thành viên của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn Việt Nam , nên mô hình tổ chức và hoạt động của Agriseco chịu sựđiều chỉnh của hai nguồn chính:
Trang 34Chính sách của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ViệtNam.
Pháp luật liên quan đến tổ chức công ty và tài chính của Việt Nam
Agriseco là công ty TNHH một thành viên, được tổ chức theo mô hìnhChủ tịch và Giám đốc công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999.Tương tự như các ngân hàng thương mại quốc doanh khác, Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam cử Tổng Giám đốc kiêm Uỷ viên Hộiđồng quản trị của mình đảm nhiệm vị trí Chủ tịch công ty chứng khoán trựcthuộc Giám đốc Agriseco là người đại diện theo pháp luật của công ty
Mô hình tổ chức của Agriseco được thể hiện ở sơ đồ dưới đây
Biểu đồ 1 Mô hình tổ chức của Agriseco
Trang 35Về nhân sự, tính đến thời điểm 31/12/2006, Agriseco có 72 cán bộ, nguồnnhân lực khá nhỏ so với một số CTCK khác và không thể đảm bảo yêu cầu pháttriển trong giai đoạn tới.
CHỦ TỊCH CÔNG TY
GIÁM ĐỐC CÔNG TY
PGĐ TÀI CHÍNH
PGĐ KINH DOANH
P
NGHIÊN CỨU&
PHÁT TRIỂN
CHI NHÁNH
TP HỒ CHÍ MINH
P KẾ
TOÁN
LƯU KÝ
P KIỂM SOÁT
P HÀNH CHÍNH P KINH DOANH
P.MÔI GIỚI &
DVTC
P GIAO DỊCH NGỌC KHÁNH
Trang 36Bảng 3 Cơ cấu cán bộ của Agriseco thời điểm 31/12/2006
Bộ máy nhân sự của Agriseco có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, số lượng ít Agriseco thường xuyên không đủ người làm việc,chỉ đủ duy trì các hoạt động tối thiểu, chưa nói đến dành người cho đào tạo dàihạn và phát triển nghiệp vụ mới Cũng vì thiếu nhân lực nên đa số cán bộ làkiêm nhiệm, chuyên môn hoá không cao nên mức độ đầu tư thời gian và côngsức cho một số mảng hoạt động bị giới hạn
Thứ hai, cơ cấu chưa hợp lý Tỷ trọng cán bộ kinh doanh trong tổng sốnhân sự của Agriseco còn thấp do các bộ phận hỗ trợ chiếm khá nhiều nhân lực
Thứ ba, chế độ lương bổng vẫn thực hiện bình quân chủ nghĩa, không gắnvới kết quả lao động của nhân viên Chế độ khen thưởng còn mang nặng tínhhình thức, lại không kịp thời, chưa trở thành một động lực thúc đẩy hiệu quả làmviệc của đội ngũ cán bộ Agriseco
Tuy còn nhiều bất cập, trong thời gian qua đội ngũ cán bộ nhân viên đãđóng góp một phần không nhỏ trong thành công của Agriseco Ngược lại,Agriseco cũng luôn chú trọng việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ, vận dụng chế
độ để đảm bảo thu nhập hợp lý cho nhân viên, xây dựng môi trường làm việcthân thiện và chuyên nghiệp để gắn kết nhân viên với công ty Việc Agriseco
Trang 37duy trì được đội ngũ cán bộ, hầu như không hề hao hụt trong khi nạn “chảy máuchất xám” trở nên phổ biến trong giai đoạn bùng nổ thành lập các CTCK (cuối
2006, đầu 2007) là minh chứng rõ rệt cho sự thành công trong chính sách nhân
sự của Agriseco
3- Kết quả kinh doanh chủ yếu
Bắt đầu hoạt động từ năm 2001, đến năm 2002 Agriseco đã có lãi Doanhthu và lợi nhuận cũng liên tục tăng theo thời gian Điều đáng nói ở đây là tốc độtăng trưởng rất thuyết phục, thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 4 Một số chỉ tiêu tăng trưởng của Agriseco
Đơn vị: Triệu đồng
Doanh thu 4.473 10.720 31.850 231.476 259.401 594.242Chi phí 5.176 7.919 27.738 219.707 243.022 543.141Lợi nhuận -703 2.801 4.112 11.769 16.379 51.101(Nguồn: Agriseco)
Cả doanh thu, chi phí và lợi nhuận của Agriseco đều có mức tăng trưởngcao Đặc biệt, các chỉ tiêu của năm 2004 đều gấp 7-8 lần mức thực hiện của năm
2003, thể hiện bước đột phá lớn trong hoạt động kinh doanh của Agriseco Năm
2006, doanh thu và chi phí cao gấp 2,2 – 2,3 lần năm 2005 song lợi nhuận lạităng 3,1 lần, chứng tỏ chất lượng kinh doanh của Agriseco có cải tiến rõ rệt
Biểu đồ dưới đây sẽ minh họa tốc độ tăng trưởng lợi nhuận của Agrisecoqua các năm:
Trang 39Biểu đồ 2 Tăng trưởng lợi nhuận của Agriseco giai đoạn 2001-2006
để tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững Đây cũng là vấn đề Agriseco cần tậptrung khắc phục trong thời gian tới
Ta cùng xem xét mức độ đóng góp của các nghiệp vụ kinh doanh vào kếtquả hoạt động của Agriseco qua bảng số liệu sau:
Bảng 5 Doanh thu từ các nghiệp vụ kinh doanh của Agriseco
Đơn vị: Triệu đồng
Trang 40Chỉ tiêu 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Tự doanh 4.466 9.636 23.946 217.756 238.341 572.203Bảo lãnh
Năm 2001 là năm đầu tiên Agriseco đi vào hoạt động Do phải đầu tư cho
cơ sở vật chất ban đầu, lại chưa triển khai được nhiều nghiệp vụ nên nguồn thuchủ yếu từ phí môi giới và lãi tiền gửi ngân hàng Trong năm này, Agriseco bị lỗ
703 triệu đồng
Đến năm 2002, cùng với sự phát triển của thị trường, hoạt động củaAgriseco cũng tiến triển theo chiều hướng tích cực, không những bù đắp đượcchi phí bỏ ra mà đã có lãi Cơ cấu doanh thu có sự chuyển biến đáng kể, trong
đó phải kể đến khoản thu lớn từ việc làm đại lý phát hành kỳ phiếu choNHNo&PTNT VN
Năm 2003, mức lợi nhuận đã tăng lên rất nhiều so với các năm trước,doanh thu đột biến tăng 7 lần so với năm 2001 Trong năm này nguồn thu củaAgriseco đã đa dạng hơn rất nhiều, do hầu hết các nghiệp vụ đã được triển khai,nhưng chủ yếu là từ nghiệp vụ Tự doanh và Bảo lãnh phát hành Lợi nhuậncũng tăng đến 46,8% so với mức lợi nhuận thực hiện năm 2002
Năm 2004, lợi nhuận của Agriseco đạt 11,769 tỷ đồng, tăng 186,2% sovới năm 2003 Doanh thu từ nghiệp vụ tự doanh và bảo lãnh phát hành vẫnchiếm tỷ trọng cao, các nghiệp vụ môi giới, tư vấn, quản lý danh mục đầu tư chỉdừng ở mức độ khiêm tốn