Tuy nhiên, ñể ñánh giá ảnh hưởng của thức ăn và mật ñộ nuôi vỗ tới khả năng phát dục của nghêu Bến Tre trong ñiều kiện trại sản xuất giống ñến nay chưa ñược làm rõ.. Xuất phát từ thực tế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
- -
TRẦN VĂN ðỒNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỨC ĂN VÀ MẬT ðỘ ðẾN KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN TUYẾN SINH DỤC
CỦA NGHÊU BẾN TRE (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
TRONG ðIỀU KIỆN NUÔI VỖ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP
Chuyên ngành : Nuôi trồng thủy sản
Mã số : 60.62.03.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ XUÂN THU
Trang 2LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan ñây là công trình nghiên cứu của riêng tôi và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào
Tôi cũng xin cam ñoan rằng mọi sự giúp ñỡ cho việc thực hiên luận văn này ñã ñược cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Trần Văn ðồng
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tới Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, Viện Nghiêu cứu Nuôi trồng Thủy sản I, ñã tạo ñiều cho chúng tôi là những học viên lớp cao học nuôi trồng thủy sản khóa 20 tham gia khóa học này
ðồng thời tôi xin chân thành cảm ơn ñến các thầy cô ñã tận tình truyền ñạt cho tôi những kiến thức tâm huyết không chỉ trên lý thuyết mà còn còn cả trong thực tế
Lời cảm ơn sâu sắc nhất tôi gửi tới PGS.TS Nguyễn Thị Xuân Thu, là giáo viên hướng dẫn ñã ñịnh hướng và chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện ñề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ths Chu Chí Thiết, anh Nguyễn Văn ðức – Phân Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản Bắc Trung Bộ ñã giúp ñỡ, hỗ trợ tôi hoàn thành nội dung ñề tài
Tôi xin cảm ơn tập thể cán bộ Trại sản xuất Giống thủy sản thuộc Doanh nghiệp tư nhân Cửu Dung- xã Giao Xuân- huyện Giao Thủy- tỉnh Nam ðịnh
Cuối cùng xin ñược gửi lời cảm ơn ñến những người thân trong gia ñình, Phòng NN&PTNT huyện Nghĩa Hưng, bạn bè ñồng nghiệp ñã ñộng viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian thực hiện ñề tài./
Tác giả
Trần Văn ðồng
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam ñoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Danh mục ñồ thị vii
ðẶT VẤN ðỀ 1
PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 ðiều kiện khí hậu, tự nhiên của vùng nghiên cứu 3
1.1.1 Khí hậu 3
1.1.2 Thủy văn 4
1.1.3 ðộ pH 5
1.1.4 ðộ ñục 5
1.4.5 ðộ mặn 5
1.2 ðặc ñiểm sinh học của nghêu Bến Tre 6
1.2.1 Vị trí phân loại 6
1.2.2 ðặc ñiểm cấu tạo hình thái 7
1.2.3 ðặc ñiểm dinh dưỡng 8
1.2.4 ðặc ñiểm sinh trưởng 9
1.2.5 ðặc ñiểm phân bố 10
1.2.6 ðặc ñiểm sinh sản của nghêu 11
1.3 Một số công trình nghiên cứu về nghêu trên thế giới và trong nước 14
1.3.1 Trên thế giới 14
Trang 51.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 21
PHẦN II VẬT LIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
2.1 ðối tượng nghiên cứu 24
2.2 Thời gian, ñịa ñiểm nghiên cứu 24
2.3 Phương pháp nghiên cứu 24
2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 24
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.3.4 Xử lý số liệu 29
PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
3.1 Ảnh hưởng của mật ñộ ñến khả năng phát triển tuyến sinh dục của nghêu trong ñiều kiện nuôi vỗ 30
3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 30
3.1.2 Sự phát triển tuyến sinh dục 32
3.1.3 Tỷ lệ sống của nghêu ở các mật ñộ thí nghiệm 34
3.2 Ảnh hưởng của thức ăn ñến khả năng phát triển tuyến sinh dục của nghêu trong ñiều kiện nuôi vỗ 35
3.2.1 Một số chỉ tiêu theo dõi môi trường 35
3.2.2 Sự phát triển tuyến sinh dục 37
3.2.3 Tỷ lệ sống của nghêu ở các nghiệm thức thức ăn 39
PHẦN IV KẾT LUẬN, ðỀ XUẤT 41
4.1 Kết luận 41
4.2 ðề xuất 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHẦN PHỤ LỤC 45
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Số thứ tự Ký hiệu Chữ viết ñầy ñủ
1 Bộ NN&PTNT Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
3 Sở NN&PTNT Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1.1 Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam ðịnh theo các tháng
trong năm tính trung bình từ 2005-2011, 4
1.2 ðộ ñục trong nước biển Nam ðịnh theo mùa 5
1.3 ðộ mặn (‰) trung bình biển Nam ðịnh các tháng trong năm 6
3.1 Biến ñộng các yếu tố môi trường nuôi vỗ 30
3.2 Chỉ số thành thục tuyến sinh dục của nghêu ở ngày nuôi thứ 21 34
3.3 Tỷ lệ sống của nghêu sau 21 ngày nuôi vỗ 34
3.4 Theo dõi biến ñộng môi trường thí nghiệm thức ăn 36
3.5 Phát triển tuyến sinh dục nghêu ở các loại thức ăn khác nhau ở ngày thứ 21 38
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851) 7 Hình 1.2: Sự phát triển tuyến sinh dục nghêu cái qua các giai ñoạn 12 Hình 1.3: Sự phát triển tuyến sinh dục ñực qua các giai ñoạn 12
DANH MỤC ðỒ THỊ
Biểu ñồ 3.1 Sự phát triển tuyến sinh dục nghêu nuôi ở các mật ñộ khác
nhau 33 Biểu ñồ 3.2 Tỷ lệ sống (%) của nghêu sau 21 ngày nuôi vỗ 35 Biểu ñồ 3.3 Sự phát triển tuyến sinh dục nghêu với các loại thức ăn
khác nhau 37 Biểu ñồ 3.4 Tỷ lệ sống (%) của nghêu ñối với các loại thức ăn khác
nhau 39
Trang 9đẶT VẤN đỀ
Nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) là loại ựộng vật thân mềm hai mảnh
vỏ (Bivalvia) Ở Việt Nam chúng phân bố tự nhiện tại các khu vực vùng triều cửa sông ven biển các tỉnh Tây Nam Bộ như: Cầu Ngang, Duyên Hải (Trà Vinh), Gò Công đông (Tiền Giang), Bình đại, Ba Tri, Thạch Phú (Bến Tre), Vĩnh Châu (Sóc Trăng)Ầ (Nguyễn Chắnh, 1996) Từ những năm 1999, trong việc tìm kiếm ựối tượng nuôi phù hợp với ựiều kiện khắ hậu của miền Bắc, nghêu Bến Tre ựược người dân ựưa vào nuôi thử nghiệm ở một số vùng cửa sông ven biển các tỉnh như Thái Bình, Nam định và ựã cho kết quả tốt (Nguyễn Kim độ, 1999)
Nghêu Bến Tre là ựối tượng có giá trị dinh dưỡng cao, thịt thơm ngon chứa nhiều chất dinh dưỡng, trong ựó Protein chiếm 15,66%, Lipit chiếm 3,43%, chất khoáng chiếm từ 3 Ờ 13% (Nguyễn Chắnh và cs, 1999) Hiện nay diện tắch và sản lượng nghêu nuôi khá lớn, là ựối tượng nuôi thuỷ sản chủ lực
ở Việt Nam phục vụ cho xuất khẩu Một số vùng tập trung ựã ựáp ứng ựược tiêu chuẩn HCCP (Hazard Analysis Critical Controd Point) và chứng chỉ MSC của Hội ựồng Biển Quốc tế (Marine Stewardship Council) Nên sản phẩm ựược xuất khẩu sang nhiều thị trường trên thế giới, trong ựó có cả thị trường khó tắnh như EU, Nhật Bản, MỹẦ Bên cạnh ựó các biện pháp kỹ thuật nuôi nghêu ựơn giản, phù hợp với trình ựộ canh tác của người dân
Nuôi nghêu Bến Tre ở nước ta hiện nay chủ yếu theo phương thức quảng canh và quảng canh cải tiến, dựa vào nguồn giống tự nhiên Việc khai thác con giống một cách ồ ạt, thiếu trách nhiệm ựã làm cho nguồn lợi tự nhiên ngày càng suy giảm Vì vậy vấn ựề bức thiết ựược ựặt ra hiện nay là nghiên cứu sản xuất nhân tạo giống nghêu Bến Tre ựể ựáp ứng nhu cầu nuôi của người dân và góp phần vào việc bảo vệ nguồn lợi tự nhiên
Trang 10Trong những năm gần ñây, tại Nam ðịnh, các trại sản xuất giống ñã cho sinh sản nhân tạo một số lượng nghêu giống lớn, ñáp ứng ñược một phần nhu cầu của nghề nuôi nghêu thương phẩm trong vùng Tuy nhiên, ñể ñánh giá ảnh hưởng của thức ăn và mật ñộ nuôi vỗ tới khả năng phát dục của nghêu Bến Tre trong ñiều kiện trại sản xuất giống ñến nay chưa ñược làm rõ
Xuất phát từ thực tế trên, nhằm bổ sung thêm những thông tin cần thiết
ñể xây dựng quy trình sản xuất nghêu Bến Tre theo quy mô hàng hoá, chúng
tôi tiến hành thực hiện ñề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn và mật
ñộ ñến khả năng phát triển tuyến sinh dục của nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby.1851 ) trong ñiều kiện nuôi vỗ”
Mục tiêu ñề tài:
* Mục tiêu chung: Góp phần hoàn thiện công nghệ sản xuất giống
nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851)
*Mục tiêu cụ thể:
- Xác ñịnh ñược thức ăn và mật ñộ nuôi vỗ phù hợp ñối với nghêu Bến
Tre (Meretrix lyrata Sowerby, 1851) nhằm góp phần hoàn thiện quy trình sản
xuất giống ở quy mô hàng hóa
Nội dung nghiên cứu của ñề tài:
1 Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn ñến tỷ lệ và tốc ñộ thành
thục tuyến sinh dục ñối với nghêu Bến Tre trong quá trình nuôi vỗ
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật ñộ ñến tỷ lệ và tốc ñộ thành thục tuyến sinh dục ñối với nghêu Bến Tre trong quá trình nuôi vỗ
Trang 11
PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 điều kiện khắ hậu, tự nhiên của vùng nghiên cứu
1.1.1 Khắ hậu
Khắ hậu Nam định mang tinh chất vùng nhiệt ựới gió mùa, có mùa đông lạnh với các ựặc trưng của khắ hậu của vùng ựồng bằng ven biển miền Bắc Hàng năm có hai mùa rõ rệt: mùa Hè (mùa mưa) từ tháng 5 ựến tháng 10 thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt ựộ nước mùa hè dao ựộng từ 23-30oC
tương ựối thuận lợi cho việc sản xuất giống và nuôi nghêu M lyrata; mùa
đông (mùa khô) thường kéo dài từ tháng 11,12 năm trước ựến tháng 4 năm sau, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa ựông bắc, ựặc ựiểm chắnh là khô, lạnh hay mưa phùn Trong mùa này, nhiệt ựộ xuống thấp, nên không thuận lợi ựối với sản xuất giống và nuôi thương phẩm các ựối tượng hải sản như nghêu, tôm, cua
Nhiệt ựộ không khắ trung bình hàng năm tại vùng biển Nam định- Thái Bình vào khoảng 23,8oC, sự chênh lệch nhiệt ựộ giữa các vùng ven biển miền Bắc là không ựáng kể (Vũ đình Thịnh, 2001) Theo TTKTTVQG (2010), số giờ nắng hàng năm ở các tỉnh ven biển miền Bắc là 1.596 giờ Tháng có nắng cao nhất là tháng 5 (184,4 giờ) Tháng có nắng thấp nhất là tháng 2 (45,9 giờ) Lượng mưa trung bình hàng năm là 1689,2 mm; trung bình tháng là 129,9
mm Tháng có lượng mưa cao nhất thường là 9 (301,3 mm, tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1 (17 mm) Nói chung, lượng mưa trung bình hàng năm lớn, nhưng phân bố không ựề trong năm , thường tập trung từ tháng 4 ựến tháng 10 Lượng mưa trong mùa mưa chiếm 80 % lượng mưa hàng năm Theo Sở NN&PTNT tỉnh Nam định (2010) hiện tượng nghêu nuôi ngoài bãi triều chết hay gặp nhất vào thời gian mùa mưa
Trang 121.1.2 Thủy văn
ðặc ñiểm thủy văn cơ bản của hệ thống sông Hồng là: Mực nước trung bình 1,52 m, mực nước cao nhất tới 5,77 m (lũ năm 1971) Mực nước tối thiểu 0,32 m Lưu lượng trung bình 896 m3//giây
Bảng 1.1: Tổng hợp tình hình khí tượng thủy văn Nam ðịnh
theo các tháng trong năm tính trung bình từ 2005-2011,
( o C)
Lượng mưa (mm)
Giờ nắng (giờ)
ðộ ẩm (%)
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Nam ðịnh, 2011)
Thủy triều vùng biển Nam ðịnh là chế ñộ nhật triều tương ñối thuần nhất, hầu như mỗi ngày chỉ có một lần nước lớn và một lần nước ròng Tuy vậy, trong tháng số ngày có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng có khoảng 5-7 ngày Kỳ nước cường thường xảy ra 2-3 ngày sau ngày mặt trăng có ñộ xích vĩ lớn nhất: mực nước lên xuống nhanh, có thể 0,5 m/1 giờ ðộ cao thủy triều tới 3,6 m, ñộ chênh lệch thủy triều có thể tới 3m Do ảnh hưởng của thủy
Trang 13Hồng), vào mùa mưa cạn, nước mặn có thể xâm nhập sâu vùng sông Hồng hàng chục km, gây bất lợi cho việc lấy nước trong trồng trọt, nhưng lại thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản nước lợ vùng cửa sông, ven biển (Sở NN&PTNT tỉnh Nam định, 2010)
1.1.3 độ pH
Qua số liệu của ựoàn khảo sát của Viện NCNTTS 1& Sở NNPTNT tỉnh Nam định (2009) cho thấy pH của nước biển vùng ven biển Nam định biến thiên từ 7,30-7,88 vùng nước trong ựầm một số khu vực là 7,5-8,2 Với ngưỡng pH này thắch hợp ựối với sự sinh trưởng của ựộng vật thuỷ sinh nói chung và nghêu nói riêng
1.1.4 độ ựục
Theo đỗ Văn Khương (1991), nước vùng biển Nam định (nhất là cửa sông đáy và cửa sông Ninh Cơ) chịu ảnh hưởng của vùng châu thổ sông Hồng nên có ựộ ựục cao Theo số liệu ựiều tra của Sở NN&PTNT tỉnh Nam định (2009) cho thấy, hàm lượng phù sa trung bình tại vùng biển như sau:
Bảng 1.2: độ ựục trong nước biển Nam định theo mùa
(đơn vi tắnh: mm)
(Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Nam định, 2009)
độ ựục cao, hàm lượng các muối dinh dưỡng lớn ựã tạo nguồn thức ăn
ựa dạng cho nghêu M.lyrata phát triển tốt tại các ựịa ựiểm hiện ựang nuôi ở Nam định (Sở NN&PTNT tỉnh Nam định)
1.4.5 độ mặn
độ mặn các tỉnh ven biển phắa Bắc nhìn chung biến thiên rộng Vào mùa mưa từ tháng 5 ựến tháng 10 độ mặn vùng cửa sông thấp, thường chỉ
Trang 14ñạt từ 5-15‰ (Nguyễn Hữu Phụng, Võ Sĩ Tuấn & Nguyễn Huy Yết, 2001) Theo Trạm thủy văn Văn Lý năm 2011, ñộ mặn trung bình các tháng trong năm tại bờ biển Nam ðịnh các tháng như sau:
Bảng 1.3: ðộ mặn (‰) trung bình biển Nam ðịnh các tháng trong năm
ðộ mặn 29,9 28,9 30,2 29,7 24,7 20,2 20,0 20,1 19,7 23,6 27,2 28,5
(Nguồn: Sở NN&PTNT tỉnh Nam ðịnh, 2011)
Tóm lại, với việc thuận lợi về ñiều kiện tự nhiên, khí hậu, thủy văn và các ñiều kiện kỉnh tế, xã hội khác, tạo ñiều kiện thuận lợi cho phát triển nghề nuôi trồng thủy sản nói chung, nghề nuôi nghêu ở tỉnh Nam ðịnh nói riêng Theo Bộ NN&PTNT (2010) Nam ðịnh có 1.500 ha bãi triều, Nam ðịnh hiện
là tỉnh có diện tích nuôi nghêu lớn nhất ở miền Bắc, tập trung tại hai huyện Giao Thủy và Nghĩa Hưng
1.2 ðặc ñiểm sinh học của nghêu Bến Tre
Giống nghêu: Meretrix
Loài nghêu: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Tên tiếng anh: Hard Clam, Lyrate Asiatic
Tên khoa học: Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Trang 15Hình 1.1: Nghêu Bến Tre Meretrix lyrata (Sowerby, 1851)
Họ nghêu (Veneridae) có khoảng 500 loài, phân bố rộng rãi khắp nơi trên thế giới Trong ựó, ở Việt Nam có khoảng 40 loài thuộc 7 giống và phân
bố dọc bờ biển từ phắa Bắc vào Nam (Lương đình Trung và CTV, 1997) Có
3 loài ngao, nghêu ựược nuôi chủ yếu là ngao dầu (Meretrix meretrix), ngao mật (Meretrix lusoria) và nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata) để phân biệt giữa
ba loài này, người ta chủ yếu dựa vào hình thái cấu tạo vỏ, màu sắc và kắch thước ngoài (Nguyễn Thị Xuân Thu, 2005)
1.2.2 đặc ựiểm cấu tạo hình thái
Các tác giả Nguyễn Chắnh (1996), Kappner&Bieler (1997), Trương Quốc Phú (1999), ựã mô tả hình thái bên ngoài của nghêu như sau: Cơ thể nghêu ựược bao bọc bởi 2 mảnh vỏ bằng nhau có dạng hình tam giác (gần
tròn), vỏ dày chắc, cạnh trước ngắn hơn (chỉ bằng 2/3 chiều dài cạnh sau), dắnh
chặt nhau bằng một bản lề và góc vỏ có răng khớp rất khắt Mặt trong của vỏ nghêu có màu trắng, vết cơ khép vỏ trước hình bán nguyệt, vết cơ khép vỏ sau hình bầu dục Hai tấm màng áo mỏng bao phủ toàn bộ nội tạng của nghêu Phắa mép của 2 màng áo gần bụng dắnh lại hình thành 2 ống xiphong (hút vào và xả
Trang 16của nghêu to và ngắn Chân nghêu to hình lưỡi, dùng ựể ựào cát, chân nằm ở
phắa bụng Nghêu M lyrata có miệng là một rãnh nằm ngang ở phắa trước cơ
thể Trong miệng có tấm môi ngoài, môi trong và tiêm mao ựể vận chuyển và lựa chọn thức ăn Mang là cơ quan hô hấp chủ yếu Ngoài ra các vi mạch trên môi và màng áo ngoài cũng có tác dụng bổ trợ cho quá trình hô hấp
Theo Nguyễn đình Hùng (2000), nghêu có hình dạng rất giống ngao dầu M meretrix, nhưng kắch thước nhỏ hơn ngao dầu Nghêu M lyrata lớn
có chiều dài 40 - 50 mm, chiều cao 40 - 45 mm và chiều rộng 30 -3 5 mm Mặt trong vỏ nhẵn trơn, màu trắng, có các vết in của cơ khớp vỏ trước và sau, vết in của cơ màng áo và vết in của cơ và vết in của cơ ựiều khiển ống hút thoát nước; bên ngoài vỏ có màu trắng ngà, trắng xám hoặc nâu, trên mặt vỏ
có nhiều hình gân lồi gần như song song với nhau uốn cong theo miệng vỏ và thưa gần về phắa mặt bụng là những vòng sinh trưởng ựồng tâm
1.2.3 đặc ựiểm dinh dưỡng
Các nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phụng và CTV (2001); Trương Quốc Phú (1999), ựều cho thấy, nghêu là loài ăn lọc, thành phần thức ăn của nghêu là mùn bã, các mảnh vụn hữu cơ lơ lửng trong nước khoảng 70-90%, thực vật phù
du chiếm tỷ lệ thấp khoảng 10-25% về số lượng cũng như tần số bắt gặp, chủ yếu là tảo silic (tảo khuê) Theo Trần Thái Bái và CTV (1978) thì nhóm Bivalvia bắt mồi theo cách lọc nhờ hoạt ựộng của các tấm mang trong quá trình hô hấp hút nước qua mang Quá trình bắt mồi diễn ra một cách thụ ựộng, chỉ có những hạt thức ăn có kắch thước phù hợp ựược chọn lọc (Quayle&Newkirk,1989)
Theo Purchon (1977), thức ăn cua giai ựoạn ấu trùng của nhóm Bivalvia
là vi khuẩn, tảo khuê, mùn bã hữu cơ và nguyên sinh ựộng vật có kắch thước nhỏ Nghiên cứu của Võ Sĩ Tuấn (1999) cho thấy, sinh vật phù du hiện diện trong ống tiêu hóa chiếm khoảng 10%, trong khi hàm lượng mùn bã hữu cơ chiếm 90% Các giống tảo thường bắt gặp trong ống tiêu hóa của nghêu phải kể
Trang 17ñến Coscinnodiscus(9 loài), Pleurosigma(3 loài), Cyclotella(3 loài), Rhizosolenia (3 loài)
Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) khi nghên cứu thành phần thức ăn của nghêu giai ñoạn ñã trưởng thành ñược nuôi ở Trà Vinh thì thành phần thức ăn chính của nghêu là mùn bã hữu cơ chiếm 75-90%, tảo chiếm 10-25 % Trong thành phần tảo thì tảo silic (Baciloriophyta) chiếm 90-95 %, tảo giáp (Pyrophyta) chiếm 3,3-6,6%, tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (Chlorophyta) và tảo vàng ánh (Chrysophyta) chiếm 0,8-1%
1.2.4 ðặc ñiểm sinh trưởng
Theo Gosling (1999) thì sự sinh trưởng của nhuyễn thể hai mảnh vỏ có
sự thay ñổi theo loài, vị trí ñịa lý phân bố, thời tiết, vùng trung triều hay hạ triều, cũng như là sự khác nhau của mỗi cá thể mà do di truyền tạo ra sự sinh trưởng có thể thay ñổi từ năm này ñến năm khác ở các khu vực mà có nhiệt
ñộ biến ñổi theo mùa Vào mùa xuân và mùa hè khi nhiệt ñộ nước ấm lên, thức ăn dư thừa thì sinh trưởng tăng lên nhanh chóng Thường như sinh trưởng thường dừng vào mùa ñông khi nhiệt ñộ xuống thấp, nguồn dinh dưỡng trong nước kém
Angel (1986) chỉ ra rằng trong ñiều kiện ñầy ñủ thức ăn thì tốc ñộ sinh trưởng nhanh khi nhiệt ñộ tăng Kết quả nghiên cứu của Quayle& Newkirk (1989) cũng chỉ ra rằng vào mùa xuân và mùa hè khi nhiệt ñộ nước ấm lên, thức ăn cũng dư thừa thì sinh trưởng tăng lên nhanh chóng Sự sinh trưởng thường dừng lại vào mùa ñông khi nhiệt ñộ xuống thấp và nguồn dinh dưỡng trong nước kém Nghêu phân bố tự nhiên ở vùng biển miền Bắc Việt Nam sinh trưởng nhanh từ tháng 5-9 và sinh trưởng chậm từ tháng 10- 4 năm sau
và tốc ñộ sinh trưởng về khối lượng nhanh hơn sinh trưởng về chiều dài (Trương Quốc Phú, 1999)
Các tác giả Nguyễn Ánh và CTV (1999); Nguyễn Tác An; Nguyễn Văn
Trang 18Lục (1994) tiến hành thắ nghiệm so sánh tốc ựộ sinh trưởng riêng theo ngày ở các kắch cỡ nghêu khác nhau và cũng có cùng kết quả ở kắch cỡ nhỏ, nghêu có tốc ựộ sinh trưởng riêng theo ngày (SGR) lớn hơn so với nghêu thắ nghiệm ở kắch cỡ lớn Kết quả nghiên cứu tốc ựộ sinh trưởng tuyệt ựối và tương ựối của
nghêu M lyrata của các tác giả Trần Quang Minh (1999) và Ngô Trọng Lư
(2006) cũng có cùng nhận ựịnh trên
1.2.5 đặc ựiểm phân bố
Phân bố theo ựịa lý:
Theo Nguyễn Chắnh và Nguyễn Hữu Phụng (1996) thì vùng phân bố rộng ở vùng bãi triều ven biển các nước ôn ựới và nhiệt ựới Tây Thái Bình Dương, từ đài Loan ựến Việt Nam Ở Việt Nam, nghêu phân bố chủ yếu ở các tỉnh ven biển ựồng bằng sông Cửu Long như: Bến Tre và Tiền Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Cần Giờ (Thành phố Hồ Chắ Minh) Tuy nhiên, vùng có sản lượng lớn nhất tập trung ở Bến Tre và Tiền Giang Nghêu phân
bố tập trung ở các khu vực có chất ựáy cát bùn, thường là ở trung triều ựến hạ triều ở các vùng cửa sông lớn và phân bố rải rác ở các cồn cát nhỏ ven biển
Hiện nay, nghêu Bến tre ựược du nhập và nuôi ở các tỉnh phắa Bắc, khu vực Bắc Trung Bộ Các tỉnh có sản lượng lớn như Nam định, Thái Bình, Thanh Hóa, Nghệ An
Phân bố theo sinh thái:
Theo Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) cho rằng nghêu phân
bố ở vùng triều có thời gian phơi bãi 2-8 giờ/ngày độ sâu tìm thấy nghêu lúc nước ròng là 2,5 m Nghêu phân bố ở vùng có nền ựáy cát mịn ựến cát trung
có pha lẫn hàm lượng bùn lỏng và xác hữu cơ (10-18%) Vào mùa mưa, bùn lỏng bao phủ nền ựáy bãi nghêu (1,5 - 2,5 cm) độ mặn ựặc trưng của bãi nghêu dao ựộng từ 7- 25Ẹ; pH từ 6,5-8,5 và nhiệt ựộ là 26-32oC
Theo Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999), bãi nghêu thường phân bố ở
Trang 19vùng gần cửa sông có gió nhẹ, có nguồn nước ngọt chảy vào Chúng phân bố
ở vùng trung triều cho ñến ñộ sâu 1,2 m nước, có khi bắt gặp cả ở ñộ sâu 2-4
m (Nguyễn Chính, 1996)
1.2.6 ðặc ñiểm sinh sản của nghêu
Tuyến sinh dục của nghêu thường phân tính, cũng có một số trường
hợp lưỡng tính Nghiên cứu của Appeldorn (1984) trên Myarenaria từ 25 cá
thể khác nhau cho thấy tỷ lệ ñực là 48% và cái là 52%
ðối với nhóm Bivalvia thì nhìn hình dạng bên ngoài rất khó phân biệt giới tính, chỉ có thể nhận biết giới tính khi quan sát tuyến sinh dục, ở con cái thường có màu vàng nhạt, vàng cam nhạt, tuyến sinh dục con ñực có màu trắng ñục
Khi nghiên cứu tiêu bản lát cắt trên ñối tượng như Mytilus, Crassostrea, Pecten, Pinctada…Nguyễn Chính (1974), Imai (1977), Quayle & Newkirk (1989), Gervis & Sims (1992) và Trương Quốc Phú (1998) ñều phân chia sự phát triển của tuyến sinh dục thành 5 giai ñoạn (từ giai ñoạn 0 ñến giai ñoạn 4) Các giai ñoạn phát triển của tuyến sinh dục có thể tóm tắt như sau:
+ Giai ñoạn 0 (Không xác ñịnh): Tuyến sinh dục không rõ ràng, chưa
có sự hiện diện của nang follicule Ở giai ñoạn này, không xác ñịnh ñược giới tính Mô leydig chiếm toàn bộ tuyến sinh dục
+ Giai ñoạn 1 (Tiền giao tử): Quá trình tạo giao tử bắt ñầu với sự xuất hiện của các nang follicule chen lẫn trong các mô leydig Tế bào sinh dục phát triển trên vách nang
+ Giai ñoạn 2 (Phát triển tích cực, sắp chín): Nang follicule phình to chiếm gần hết khối nội tạng, mô leydig giảm nhanh, các giao tử hình thành nhưng chưa chín Noãn bào gia tăng kích thước và ñạt giai ñoạn chín
+ Giai ñoạn 3 (Chín, sinh sản): Nang tinh phồng lên và hầu hết chứa trứng và tinh trùng, vách nang mỏng dần, tuyến sinh dục ở trạng thái chín Trứng sẵn sàng thụ tinh và tinh trùng có khả năng hoạt ñộng
Trang 20+ Giai ñoạn 4 (Giai ñoạn nghỉ): Sau khi sinh sản, vách nang bị rách, bên trong còn sót lại một ít tinh trùng và trứng Giai ñoạn này mô sinh dục bị thay thế dần bởi mô leydig Mùa vụ sinh sản của các loài Bivalvia có liên quan ñến các yếu
tố môi trường như: Nồng ñộ muối, thủy triều, dòng chảy… ñặc biệt biệt là nhiệt
ñộ Vùng ôn ñới mùa sinh sản thường là mùa xuân Trong thủy vực vùng ôn ñới chu kỳ phát triển tuyến sinh dục theo sự gia tăng nhiệt ñộ vào ùa xuân, tuyến sinh dục hoàn toàn chín khi nhiệt ñộ ñạt ñến ngưỡng sinh sản
Hình 1.2: Sự phát triển tuyến sinh dục nghêu cái qua các giai ñoạn
Hình 1.3: Sự phát triển tuyến sinh dục ñực qua các giai ñoạn
Trang 21Ở vùng nhiệt ñới, nồng ñộ muối biến ñộng lớn, sự thay ñổi này kích thích quá trình sinh sản ñối với lớp 2 mảnh vỏ ðộng vật thân mềm hai mảnh
vỏ ở vùng nhiệt ñới có mùa sinh sản kéo dài và kém tập trung hơn so với vùng ôn ñới (Quayle & Newkirk, 1989) Jayabal & Kalyani (1986) theo dõi
chu kỳ sinh sản của 3 loài kinh tế: M meretrix, M casta và Katelysia opima ở
cửa sông Vellar (Ấn ðộ) Kết quả cho thấy, mùa sinh sản của 3 loài kể trên kéo dài từ tháng 2-9; tỉ lệ con ñực nhiều hơn con cái nhưng cả hai thành thục cùng thời gian và ấu trùng Veliger xuất hiện từ tháng 3-5
Khi thành thục sinh dục Bivalvia ñẻ trứng và tinh trùng vào môi trường nước, sự thụ tinh xảy ra trong nước Sự sinh sản có thể xảy ra một hoặc nhiều lần, thời gian có thể ngắn hoặc dài (một ngày hoặc nhiều tuần) tùy theo loài, ñộ chín của tuyến sinh dục và ñiều kiện môi trường (Quayle
& Newkirk, 1989)
Nghiên cứu của Kalyanasumdaram & Ramamoorthi (1987) cho thấy
trứng của nghêu M meretrix có ñường kính khoảng 60-70 mm Sau khi thụ
tinh 15-20 phút cực cầu xuất hiện, phân chia thành 2 tế bào không ñều nhau trong 1 giờ, lần phân chia thứ 2 và 3 cách nhau sau mỗi 10 phút Sáu ñến tám giờ sau thụ tinh, phôi phát triển thành ấu trùng Trochophore sống phù du và
10 giờ sau ñó ấu trùng Trochophore phát triển thành ấu trùng dạng chữ D (straight-hinge stage), dài khoảng 80µm (cao 60µm) và chúng tiếp tục sinh trưởng 90-100µm Vào ngày thứ năm ñỉnh vỏ ñược hình thành trên ñường bản
lề (umbo stage) lúc này ấu trùng dài 110µm, ngày thứ 9 ấu trùng ñạt 150µm Ngày thứ 10 chân ấu trùng phát triển và hình thành ấu trùng Veliger dài 160µm (cao 140µm) Ngày thứ 12 ấu trùng Veliger biến thành ấu trùng bám (spat) và chuyển sang sống ñáy Trong quá trình biến thái, vòm miệng (velum) của ấu trùng bị thoái hóa, mang và chân phát triển hoàn thiện
Theo nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1998), nghêu cỡ 1,6 cm (500
Trang 22mg) sau 12 tháng nuôi ñạt 3,5 cm (trung bình) có thể tham gia sinh sản lần ñầu tiên, sức sinh sản trung bình tuyệt ñối ñạt 2,747,000 - 4,031,000 trứng/ cá thể Mùa vụ sinh sản của nghêu tự nhiên vào khoảng tháng 2-9 hàng năm, trong ñó tập trung chủ yếu vào tháng 6
Tỷ lệ tuyến sinh dục ở giai ñoạn 3 thường rất thấp (không quá 40%) ở mùa vụ sinh sản chứng tỏ rằng nghêu sinh sản kém tập trung và mùa sinh sản kéo dài
Các nhân tố ảnh hưởng ñến sự thành thục và sinh sản của nghêu: Nhân
tố quan trọng nhất là nhiệt ñộ và nồng ñộ muối trong nước biển quyết ñịnh ñến sự thành thục của nghêu, vào mùa xuân, khi nền nhiệt ấm dần lên thì sự hình thành trứng cũng bắt ñầu Khi nhiệt ñộ và nồng ñộ muối thay ñổi cũng góp phần kích thích nghêu sinh sản
Hàm lượng vật chất lơ lửng trong nước cũng góp phần kích thích sự phát dục của nghêu bố mẹ (Trương Quốc Phú 1999) Nghiên cứu của Trương Quốc Phú cũng chỉ ra rằng các yếu tố thủy hóa không ảnh hưởng nhiều ñến sự phát triển tuyến sinh dục của nghêu
1.3 Một số công trình nghiên cứu về nghêu trên thế giới và trong nước
1.3.1 Trên thế giới
Trên thế giới, có nhiều tài liệu ñược công bố liên quan ñến kết quả nghiên cứu sản xuất giống và nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và ngao, nghêu nói riêng Các loài ñã nghiên cứu thành công là hầu Thái Bình
Dương (Crassostrea gigas), hầu ñá Sedney (Saccostrea commercialis), ngao dầu (M meretrix), ngao mật (M lusoria), nghêu Manila (M mercenaria)
Tuy nhiên, tài liệu hay công trình nghiên cứu ñược công bố liên quan ñến việc
sản xuất giống ñối với loài nghêu M lyrata, ít ñược công bố, chỉ tìm thấy ít
tài liệu về hệ thống phân loại và sự phân bố của nó
Trang 23* Nghiên cứu về sinh học và công nghệ sản xuất giống nhân tạo:
Nghêu bắt ñầu sinh sản vào cuối mùa xuân, khi nhiệt ñộ nước ấm dần lên, sau thời gian tích luỹ dinh dưỡng và phát triển tuyến sinh dục ở mùa ñông ðầu tiên, con ñực phóng tinh ra ngoài môi trường, tinh dịch ñóng vai trò là feromol kính thích con khác trong quần thể phóng trứng và tinh theo, trứng ñược thụ tinh bên ngoài môi trường nước (Whetstone và CTV, 2005) Theo Quayle và cs (1989) việc biến ñổi một số yếu tố môi trường theo mùa góp phần kích thích quá trình thành thục và sinh sản của nhuyễn thể hai mảnh
vỏ, yếu tố quan trọng là nhiệt ñộ và nồng ñộ muối
Vào mùa xuân, nhiệt ñộ ấm áp hơn, ñộ mặn có chiều hướng thay ñổi
ñã thúc ñẩy quá trình phát triển của tuyến sinh dục Vì vậy, trong thực tế sản xuất, việc tạo sự thay ñổi nhiệt ñộ nước, ñộ muối ñược mô phỏng theo tự nhiên là phương pháp ñang sử dụng ñể kích thích quá trình phát triển, sự chín của tuyến sinh dục và kích thích sinh sản ñối với các ñối tượng nhuyễn thể
ðối với nghêu Manila, nghêu bố mẹ ñược lựa chọn những cá thể tăng trưởng nhanh (thể hiện qua gờ tăng trưởng trên vỏ), trong ñộ tuổi từ 2 – 3 năm Chúng ñược nuôi vỗ tích cực ở nhiệt ñộ 180C trong thời gian từ 6 ñến 9 tuần, với thức ăn ñược sử dụng là nguồn thức ăn tự nhiên và bổ sung hỗn hợp
các loài tảo Isochrysis galbana, Nanochloropsis oculata, Chaetoceros gracilis, Tahitial isochrysis, với hàm lượng1lít/0,5 kg nghêu/1 giờ (Whetstone
và CTV, 2005) Tuy nhiên, theo Whetstone và CTV (2005), không giống như
loài hàu Thái Bình Dương (C.gigas), nghêu Manila không có lớp glycogen ñể
chuyển hoá thành tuyến sinh dục trong thời gian nuôi vỗ Số lượng và chất lượng trứng của chúng phụ thuộc vào số lượng và chất lượng tảo ñược sử dụng ñể nuôi vỗ Vì thế, cần thiết phải bổ sung một lượng lớn hỗn hợp các loài tảo vào trong nguồn nước tự nhiên ñể nuôi vỗ nghêu
Liu và CTV (2006) ñã thí nghiệm nhằm xác ñịnh mật ñộ ấu trùng
Trang 24nghêu M meretrix phù hợp trong ương nuôi Thí nghiệm ñã tiến hành ở các
mật ñộ 5, 10, 20, 40 và 60 ấu trùng/ml, trong 8 ngày, từ giai ñoạn ấu trùng chữ D-veliger ñến ấu trùng chuyển giai ñoạn xuống ñáy (pediveliger) Kết quả cho thấy, tại mỗi thời ñiểm thu mẫu, ấu trùng ương ở mật ñộ cao nhất thì
có kích thước nhỏ nhất và ngược lại Sự sai khác này có ý nghĩa thống kê bắt ñầu từ ngày ương nuôi thứ 2 Thời gian xuống ñáy kéo dài và kích thước ấu trùng khi xuống ñáy nhỏ hơn theo tỷ lệ nghịch với mật ñộ ương Tuy nhiên, tỷ
lệ sống (từ 74,8 -79,1%) lại không phụ thuộc vào mật ñộ ương nuôi ấu trùng Trong thí nghiệm này, ở mật ñộ cao có thể phù hợp với ương nuôi ấu trùng Nhưng nếu xét về hiệu quả kinh tế và mức ñộ an toàn thì tác giả khuyến cáo nên sử dụng mật ñộ 10 ñến 20 ấu trùng/ml trong sản xuất ở quy mô lớn
Một số kết quả nghiên cứu của Yan và CTV (2006) ñã ñược tiến hành
trên nghêu Ruditapes philippinarum nhằm ñánh giá sự ảnh hưởng của thức
ăn, mật ñộ ương nuôi ấu trùng, các yếu tố môi trường ñến sinh trưởng, tỷ lệ
sống và biến thái của ấu trùng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: tảo Chlorella
sp có thể thay 50% tảo Isochrysis spp trong việc sử dụng làm thức ăn cho ấu
trùng nghêu mà không ảnh hưởng ñến sinh trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của chúng
Nghiên cứu về mật ñộ ương nuôi ấu trùng cho thấy, ở khoảng mật ñộ từ
5 – 10 con/ml, ấu trùng phát triển bình thường Nghiên cứu về chế ñộ chiếu sáng chỉ ra rằng: Trong ñiều kiện che mát một phần (cường ñộ ánh sáng từ
1000 – 5000 lx) và che mát toàn phần (cường ñộ ánh sáng < 500 lx) ấu trùng phát triển nhanh hơn dưới ñiều kiện ánh sáng tự nhiên Chế ñộ thay nước trong ương nuôi với tỷ lệ 50% bể sau 2 ngày/lần là ñiều kiện thích hợp cho sự phát triển của ấu trùng nghêu và ấu trùng phát triển nhanh hơn trong ñiều kiện nước không qua lọc cát Nhưng nền ñáy ảnh hưởng ñáng kể ñến biến thái của
ấu trùng nghêu Tuy nhiên, hình dáng và kích thước hạt cát làm giá thể không
Trang 25ảnh hưởng ñến tỷ lệ biến thái của chúng
ðộ mặn của nước trong quá trình sản xuất giống cũng hết sức quan trọng, mặc dù bản thân nghêu có thể ñiều chỉnh ñược áp suất thẩm thấu ñể thích nghi với môi trường ðối với nghêu Manila, trong khoảng ñộ mặn từ 20 – 300/00 là khoảng phù hợp với chức năng sinh lý của chúng Trong khoảng ñộ mặn này, tốc ñộ lọc, thu nhận, hấp thụ thức ăn và các hoạt ñộng khác của chúng diễn ra một cách tối ña nhất (Baker và CTV, 2007) Tốc ñộ biến thái
của ấu trùng ngao M meretrix lại liên quan ñến nhiệt ñộ nước theo hàm sỗ
mũ Tuy nhiên, mối liên hệ giữa tốc ñộ biến thái của nghêu với nhiệt ñộ không chặt chẽ bằng nó với trọng lượng tươi của nghêu (Zhuang, 2005)
Theo Zhuang và CTV (2004), tốc ñộ lọc (CR) và tốc ñộ tiêu hoá (IR)
của ngao M meretrix theo hàm số mũ ñối với kích thước cơ thể (W) của
chúng, theo công thức CR=0,47 W0,63 và IR=0,95 W0,60 Kích thước cơ thể nghêu không ảnh hưởng tới hiệu quả lọc ở nhiệt ñộ 10, 16 và 220C, nhưng trong khoảng nhiệt ñộ này, hiệu suất lọc tăng theo sự tăng của nhiệt ñộ Nền ñáy cũng ảnh hưởng ñến tốc ñộ lọc, tốc ñộ tiêu hoá thức ăn của ngao M
meretrix Ngao nuôi ở biển có nền ñáy cát, tốc ñộ lọc, tốc ñộ tiêu hoá thức ăn
cao hơn từ 2-3 lần so với chúng nuôi ở nơi ñáy trơ (ñáy bể) Ngao M meretrix
nuôi trong bể có ñáy cát ở nhiệt ñộ 220C, thì tốc ñộ lọc và tiêu thụ thức ăn là cao nhất
Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại thức ăn tới sinh trưởng và tỷ lệ
sống của ngao M meretrix ñã ñược tiến hành bởi Tang và CTV (2006), với
việc sử dụng 5 loài tảo khác nhau làm thức ăn ñơn và phối hợp với nhau Kết
quả thí nghiệm cho thấy, ấu trùng ngao M meretrix sinh trưởng tốt nhất với việc chỉ sử dụng một loài tảo Isochrysis galbana làm thức ăn Giá trị dinh
dưỡng của các loài tảo khác ñược nghiên cứu ñối với ấu trùng ngao
M meretrix thể hiện qua tốc ñộ sinh trưởng và tỷ lệ biến thái ñược xếp theo
Trang 26thứ tự Dunaliella sp >Phaeodactylum tricornutum >Platymonas subcordiformis >Pavlova viridis ðối với hỗn hợp các loài dinh dưỡng lần
lượt là 50% I.galbana/50%Dunaliellasp,50%I.galbana/P.tricornutumvà50% I.galbana/P.subcordiformis ñối chứng là sử dụng loài I.galbana
Baojun và CTV (2006) cũng ñã tiến hành thí nghiệm bỏ ñói ấu trùng
ngao M meretrix trong thời gian dài ñể theo dõi sinh trưởng bù từ giai ñoạn
bắt ñầu của phát triển, ở 250C Kết quả chỉ ra rằng ngao M meretrix có thể
sống trong thời gian dài không cho ăn, thậm chí chúng còn sống ñến giai ñoạn biến thái, mặc dù sự “bỏ ñói” rất ảnh hưởng ñến sinh trưởng Kết quả này có
thể khẳng ñịnh rằng ngao M meretrix có khả năng chịu “bỏ ñói” thông qua
việc sử dụng nguồn năng lượng khác ðiều này có thể khẳng ñịnh rằng, sinh
trưởng, tỷ lệ sống và tỷ lệ biến thái của ngao M meretrix còn bị ảnh hưởng
bởi nhiều yếu tố khác bên cạnh chất lượng và số lượng thức ăn
Các nghiên cứu về sinh sản nhân tạo nghêu trên thế giới ñã ñược tiến hành một cách bài bản, có hệ thống từ việc thiết kế, vận hành trại sản xuất giống ñến các khâu kỹ thuật như tuyển chọn, nuôi vỗ con bố mẹ; lưu giữ và nuôi sinh khối tảo; kích thích sinh sản; ương nuôi ấu trùng trôi nổi; thu ấu trùng xuống ñáy và ương con giống cấp 1 lên cấp 2
Các trại sản xuất giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ xuất hiện tại châu Âu, châu Úc và châu Mỹ từ những năm 1960 Khi có những hiểu biết về ñặc ñiểm sinh học của các loài chủ yếu trong nuôi trồng thuỷ sản trên thế giới thì công nghệ sử dụng ñể sản xuất chúng ñược phát triển và tiếp tục cải tiến Trại sản xuất giống nằm ở vị trí không có nguồn nước thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông thuận tiện, có nguồn ñiện chủ ñộng và thuận tiện trong việc trao ñổi thông tin, liên lạc (Helm và CTV, 2004) Trong tính toán thiết kế, ngoài việc xây dựng trại giống hiệu quả kinh tế, thuận tiện trong vận hành sử dụng, người ta cũng tính ñến việc dự phòng ñể mở rộng, nâp cấp trại trong tương lai
Trang 27Theo Jones và CTV (1993), một số giai ñoạn quan trọng trong quy trình sản xuất và thiết kế, vận hành trại sản xuất giống nghêu Manila như sau:
- Hệ thống nuôi vỗ nghêu bố mẹ: ðược thiết kế với 2 lựa chọn là hệ
thống nước chảy và hệ thống nước tĩnh, mỗi hệ thống ñều có tính ưu việt riêng ðối với hệ thống nước chảy: Nghêu ñược nuôi trong ñiều kiện tuần hoàn nên môi trường sạch hơn, dòng chảy của nước là một trong những nhân
tố kích thích ñến sự chín của tuyến sinh dục nên nghêu có thời gian thành thục nhanh hơn Tuy nhiên, trong hệ thống nước tĩnh, việc theo dõi nhằm loại
bỏ những cá thế sinh sản không mong muốn dễ dàng hơn, việc duy trì nhiệt
ñộ và quản lý thức ăn và các thao tác kỹ thuật khác cũng dễ dàng hơn Như ñã
ñề cập, không giống như hàu Thái Bình Dương (C gigas), nghêu Manila
không có lớp glycogen ñể chuyển hoá thành mô tuyến sinh dục trong ñiều
kiện nuôi vỗ Chất lượng, số lượng của trứng và tinh trùng liên quan trực tiếp tới chất lượng và hàm lượng tảo cho ăn trong nuôi vỗ Kết quả thu ñược sẽ rất tốt nếu trong quá trình nuôi vỗ cung cấp ñược lượng tảo tự nhiên kết hợp với các loài tảo sản xuất ñược trong trại sản xuất, bởi vì tính ña dạng về thức ăn sẽ tạo nên sự ña dạng về nguồn dinh dưỡng cho nghêu phát triển tuyến sinh dục
- Hệ thống ương ấu trùng: nước cấp vào hệ thống ương ấu trùng ñược
lắng, sau ñó qua thiết bị lọc cát và lọc tinh 5µm Ấu trùng nghêu Manila ñược ương trong ñiều kiện ñộ mặn tối ưu là 250/00 và nhiệt ñộ tối ưu 230C, nhưng
có thể tồn tại trong khoảng 18 ñến 280C Hiện tại, có hai phương pháp ương
ấu trùng cùng với 2 hệ thống bể ương: Ấu trùng ñược ương trong hệ thống nước chảy và ấu trùng ñược ương trong hệ thống nước tĩnh Cũng như nuôi
vỗ bố mẹ, hệ thống ương nước tĩnh với chế ñộ thay nước 100% trong 2 ngày/lần, thao tác kỹ thuật ñơn giản, chi phí lắp ñặt, vận hành thấp hơn so với
hệ thống nước chảy liên tục
Cho ấu trùng ăn từ ngày thứ 2, ấu trùng chuyển hoàn toàn sang giai ñoạn
Trang 28ñỉnh vỏ thẳng (chữ D- veliger) Thức ăn cho ấu trùng là hỗn hợp các loài tảo: Nanochloropsis oculata, Tahitian isochrysis, Isochrysis galbana và Chaetoceros calcitrans cho ấu trùng kích thước nhỏ hơn 150µm và bổ sung thêm loài Chaetoceros gracilis cho ấu trùng cỡ lớn hơn 150µm Trong ñiều kiện thức ăn và các yếu tố môi trường phù hợp, ấu trùng nghêu Manila thường tăng trưởng bình quân10µm/ngày Trong khoảng 10 – 14 ngày ương nuôi, ấu trùng nghêu Manila ñạt kích cỡ 180 – 210 µm chuyển sang giai ñoạn biến thái (ấu trùng pediveliger)
- Hệ thống thu ấu trùng xuống ñáy: Ấu trùng nghêu ñến giai ñoạn biến
thái (pediveliger) xuất hiện chân ñào ñược lọc và thu bằng rây lọc có mắt lưới 150µm, ñược chuyển qua hệ thống xuống ñáy, ñược thiết kế giống cái bàn ñựng nước với hệ thống khay lưới ở ñáy, tạo mặt thoáng ñể ấu trùng có thể bò trên bề mặt hoặc bơi lội tự do
Nước biển ñã qua xử lý cấp trực tiếp vào hệ thống rây, từ phía trên miệng khay và thoát qua ñáy khay (Downwelling system), hoặc nước ñược cấp vào khay từ dưới ñáy và thoát ra ngoài ở phía trên miệng khay (Upwelling system) Nền ñáy không ảnh hưởng ñến tỷ lệ sống của ấu trùng nghêu ở giai ñoạn này, khay có nền ñáy cho kết quả tương tự như khay không có nền ñáy (ñáy trơ) Các yếu tố ảnh hưởng ñến kết quả xuống ñáy của ấu trùng là:
+ Mật ñộ ấu trùng: Giao ñộng từ 150 – 200 ấu trùng/cm2 ñáy khay + Nhiệt ñộ: Tương ñương với nhiệt ñộ trong bể ương ðối với nghêu Manila, nhiệt ñộ dao ñộng trong khoảng 20 – 240C
+ Phát sinh vi khuẩn có hại và các chất bẩn: Trong quá trình biến thái, ấu trùng tăng sự trao ñổi chất, làm phát sinh các chất bẩn là môi trường thuận lợi cho
vi khuẩn có hại phát triển nhanh Vì thế, việc thay nước và vệ sinh ấu trùng trong khi ương phải ñược lưu ý nhằm giảm tỷ lệ chết của chúng
+ Thức ăn (tảo) và chế ñộ cho ăn: Cho ăn lượng thức ăn ñủ về số lượng
và dinh dưỡng sẽ tăng tỷ lệ sống của ấu trùng giai ñoạn này Nếu dư thừa thức
Trang 29ăn sẽ làm cho môi trường ương nuôi bị ô nhiễm, tạo ñiều kiện thuận lợi cho mầm bệnh phát triển
- Hệ thống thuần hoá con giống spat: Hệ thống này có thể nằm tách rời
khỏi trại sản xuất Nó ñược thiết kế ña dạng, trên nguyên tắc vận hành của hai
hệ thống giống như thu ấu trùng xuống ñáy (Downwelling system và Upwelling system) và có thể ñược lắp ñặt trong trại sản xuất hoặc ngoài ao ương Nguyên lý hoạt ñộng của hệ thống này là việc thay ñổi một cách từ từ ñiều kiện ương nuôi ñể cho con giống quen dần với môi trường bên ngoài và cuối cùng là sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn tự nhiên ðây là công ñoạn hết sức quan trọng trước khi chuyển con giống từ trại sản xuất ra vùng nuôi thương phẩm, bời vì con giống sẽ bị stress nếu chúng bị thay ñổi môi trường ñột ngột, ñặc biệt là từ môi trường ñược kiểm soát sạch sẽ sang môi trường ít sạch hơn
* Nghiên cứu về bệnh : Các nghiên cứu về bệnh ñối với ngao M meretrix cũng ñã bắt ñầu ñề cập từ năm 2007, do xảy ra hiện tượng nghêu chết hàng loạt tại tỉnh Jiangsu (Trung Quốc) Kết quả phân tích PCR ñã tìm
thấy loài vi rút Vibrio parahaemolyticus ñược xem là nguyên nhân gây chết nghêu M meretrix hàng loạt quốc gia này (Yue và CTV, 2009)
Mặc dù các thông tin về loài nghêu M lyrata nghiên cứu còn ít, nhưng
những thông tin tổng quan về công nghệ sản xuất giống các loài nhuyễn thể 2
mảnh vỏ, ñặc biệt là các loài nghêu trong giống Meretrix rất có ý nghĩa, là cơ
sở khoa học và thực tiễn ñể áp dụng vào nghiên cứu, cải tiến trong sản xuất ở ñiều kiện Việt Nam, nhằm gia tăng sản lượng và giảm giá thành sản xuất
giống cho loài nghêu M lyrata
1.3.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, kỹ thuật sinh sản nhân tạo, nghêu (Meretrix sp) ñược biết ñến từ năm 2003, do Viện nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I và II tiến hành, dựa trên việc nghiên cứu thành công kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo tu hài,
Trang 30vẹm xanh, hàu cửa sông, ñiệp Nhưng, sản lượng con giống sản xuất ñược còn ít, giá thành sản phẩm cao, chưa ñáp ứng ñược yêu cầu của nghề nuôi thương phẩm Bên cạnh ñó, hiện có ít chương trình nghiên cứu, cũng như
công bố kết quả nghiên cứu về sản xuất nhân tạo giống nghêu Meretrix lyrata
Một vài kết quả nghiên cứu ñược tìm thấy như: Kỹ thuật nuôi ngao, nghêu, sò huyết, trai ngọc (Ngô Trọng Lư, 1996), ðặc ñiểm sinh học và kỹ thuật ương
nuôi nghêu Meretrix lyrata (Nguyễn Hữu Phụng, 1996); Nghiên cứu một số
ñặc ñiểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi nghêu (Meretrix lyrata Sowerby,1851)) ñạt năng suất cao (Trương Quốc Phú, 1998); Nuôi nghêu thương phẩm ở ñồng bằng Sông Mêkông Việt Nam (Trương Quốc Phú, 1996)
và tài liệu kỹ thuật sản xuất giống nghêu Bến Tre (Meretrix lyrata Sowerby,
1851) (Chu Chí Thiết và Kumar, 2008) Các tài liệu này sẽ cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản làm cơ sở cho những nghiên cứu tiếp theo về sinh học sinh sản, công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm , ñặc biệt sẽ áp dụng vào nghiên cứu hoàn thiện quy trình sản xuất giống ở quy mô hàng hóa như mục tiêu ñề ra trong ñề tài
Quy mô sản xuất giống nghêu nói riêng và nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung ở Việt Nam hiện tại chủ yếu tiến hành trong các trại giống quy mô nhỏ, với các loại bể composite hoặc xi măng thể tích 2 – 5 m3 Thức ăn cho ấu trùng là các loài vi tảo ñơn bào ñược ñược sản xuất trong các túi nilon hoặc bể ngoài trời Với hệ thống trại sản xuất hiện tại, năng lực sản xuất ñược tối ña khoảng 30 – 80 triệu con giống dạng bám giá thể (ngọc trai, hàu, vẹm xanh) hoặc khoảng 20 triệu con giống sống ñáy (ngao/nghêu, tu hài) trong một vụ sản xuất, không thể ñáp ứng ñủ nhu cầu con giống cho nuôi thương phẩm Bên cạnh ñó, công nghệ sản xuất giống hiện tại ñang bị hạn chế do phụ thuộc vào lượng thức ăn (tảo sinh khối) nuôi trong túi hoặc bể với mật ñộ thấp, không ổn ñịnh và thường xuyên bị thiếu hụt Hơn nữa, chi phí vận hành qua
Trang 31mỗi mẻ ương ấu trùng cao, do phải sử dụng một lượng nước lớn ñể thay trong quá trình ương nuôi Một hạn chế nữa về công nghệ, ñó là các trại giống nhuyễn thể hai mảnh vỏ nói chung và trại giống nghêu nói riêng, hầu hết không quan tâm ñến giai ñoạn ương nuôi và thuần hoá con giống với môi trường tự nhiên trước khi chuyển ñến vùng nuôi thương phẩm, nên tỷ lệ sống của con giống sau khi nuôi thả thường thấp
Trong những năm vừa qua, công nghệ sinh sản nhân tạo ngao, nghêu ñược Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I chuyển giao cho các tỉnh Nam ðịnh, Ninh Bình, Thanh Hoá, Bến Tre, Tiền Giang… ñã giúp các ñơn vị hoàn thiện ñược quy trình công nghệ, góp phần chủ ñộng nguồn giống cho ñịa phương và bước ñầu sản xuất ñược hơn 30 triệu con nghêu giống cấp hai cung cấp cho thị trường với các chỉ tiêu ñạt ñược khá cao
Hiện nay, công nghệ sản xuất giống nghêu (M lyrata) ñang tiếp tục
ñược hoàn thiện ở quy mô hàng hoá, thông qua ñề tài nghiên cứu cấp Bộ do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản I tiến hành Chuyên ñề nghiên cứu này
là một trong những nội dung nghiên cứu của ñề tài Vì vậy, kết quả của chuyên
ñề sẽ góp phần vào việc hoàn thiện công nghệ sản xuất giống nghêu ở quy mô
hàng hoá trong thời gian tới
Trang 32PHẦN II VẬT LIÊU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 ðối tượng nghiên cứu
ðối tượng nghiên cứu là nghêu (Meretrix lyrata) nuôi thương phẩm tại bãi nuôi trong vùng, khoảng 18 tháng, có tuyến sinh dục phát triển chủ yếu ở giai ñoạn I, kích cỡ từ 2,5 - 3 cm (45-50 con/kg)
2.2 Thời gian, ñịa ñiểm nghiên cứu
* Thí nghiệm 1: Xác ñịnh mật ñộ phù hợp trong nuôi vỗ nghêu:
- Thí nghiệm ñược tiến hành trong 9 ao hình chữ nhật, diện tích ñáy
100 m2, có hệ thống sục khí 24/24 ñảm bảo việc cung cấp ôxy hoà tan cho nghêu trong suốt quá trình thí nghiệm Ao có hệ thống cấp và thoát nước, bảo ñảm việc nước vào, ra thuận lợi trong vận hành
- Nghêu thí nghiệm ñược lựa chọn từ bãi nuôi thương phẩm trong tại ñịa phương, kích cỡ từ 45-50 con/kg, có tỷ lệ quần ñàn dưới 10% tuyến sinh dục ñang phát triển ở giai ñoạn II, còn lại bắt ñầu ở giai ñoạn phát triển (giai ñoạn I) Mật ñộ các nghiệm thức thí nghiệm là: 50 con/m2; 150 con/m2; 250 con/m2, ñược bố trí lặp lại 3 lần
- Thức ăn ñược sử dụng ñể nuôi vỗ nghêu thí nghiệm là hỗn hợp của thức ăn gây màu tự nhiên trong ao, mật ñộ tảo giao ñộng từ 900.000 – 1.100.000 tế bào/ml, bằng việc cấp nước chảy tràn và bổ sung 2 lần/ngày 2
loài tảo thuần (Nanochloropsis oculata và Chaetoceros calcitrans) tỷ lệ 1/1,
Trang 33với hàm lượng tương ñương 500.000 tế bào tảo/nghêu/ngày
- Thời gian tiến hành thí nghiệm 21 ngày
- Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm:
+ Sự phát triển của tuyến sinh dục nghêu thể hiện tỷ lệ (%) giai ñoạn phát triển của trứng hoặc tinh trùng
+ Tỷ lệ sống (%) của nghêu sau quá trình thí nghiệm
Nghiệm thức 3 (250 con/m2)
-Theo dõi các yếu tố môi trường
- Sự phát triển tuyến sinh dục
- Tỷ lệ sống
Tìm ra mật ñộ nuôi vỗ phù hợp
Trang 34* Thí nghiệm 2: Xác ñịnh loại thức ăn phù hợp trong nuôi vỗ nghêu:
- Thí nghiệm ñược tiến hành trong 09 bể hình chữ nhật, diện tích ñáy 6
m2 Nền ñáy ñược sử dụng là ñáy cát lấy ở bãi nuôi nghêu thịt Hệ thống sục khí 24/24 ñảm bảo việc cung cấp ôxy hoà tan cho nghêu trong suốt quá trình thí nghiệm
- Nghêu thí nghiệm cỡ từ 45-50 con/kg ñược lựa chọn ở bãi nuôi trong vùng nuôi thường phẩm tại ñịa phương, thời gian nuôi từ 16- 18 tháng, tuyến sinh dục ở giai ñoạn bắt ñầu phát triển (giai ñoạn I) và một tỷ lệ nhở hơn 10% tuyến sinh dục ở giai ñoạn II trong quần ñàn, ñược nuôi với mật ñộ 120 con/m2 bể
- Thời gian thí nghiệm ñược tiến hành trong 21 ngày
Các nghiệm thức thí nghiệm thức ăn bao gồm:
+ Nghiệm thức 1 (NT1): Sử dụng tảo thuần (Nanochloropsis occulata,
Chaetoceros calcitrans với tỷ lệ 1:1), làm thức ăn cho nghêu bố mẹ với khẩu phần ăn từ 2,5-3x109 tế bào tảo/nghêu/ngày, chia thành 2 lần/ngày (tham khảo
Nancy H Hadley và Jack M Whetstone (2007) ñối với 2 loài nghêu M mercenaria và M.campechiensis)
+ Nghiệm thức 2 (NT2): Sử dụng tảo trong các ao gây màu bằng phân
bón gây màu (theo Michael M Helm và Neil Bourne, 2004) với mật ñộ tảo ñạt từ 900.000 ñến 1.100.000 tế bào/ml
+ Nghiệm thức 3 (NT3): Sử dụng tảo gây tự nhiên ñược gây màu trong
ao kết hợp với việc bổ sung thêm hai loài tảo thuần Nanochloropsis occulata, Chaetoceros calcitrans Tỷ lệ 2 loài tảo bổ sung là 1/1 với hàm lượng 1x109
tế bào/nghêu/ngày, chia thành 2 lần/ngày
Bể có hệ thống cấp và thoát nước, bảo ñảm việc nước vào, ra thuận lợi trong vận hành Thí nghiệm ñược thực hiện trong ñiều kiện nước chảy tràn
Nghiệm thức 1: Nước ñược lọc qua lõi lọc 2 và 5 µm, sử dụng chloril
Trang 355ppm trước thí nghiệm 5 ngày ñể hạn chế nguồn thức ăn tự nhiên
Nghiệm thức 2 và 3: Nước và thức ăn ñược cấp trực tiếp từ ao gây màu tự nhiên
Nghiệm thức 3: Tảo ñược cấp bổ sung 2 lần/ngày vào 8 -10 giờ và 16-18 giờ Trong thời gian này, ngừng việc cấp nước từ ao tảo tự nhiên theo chế ñộ chảy tràn
- Các chỉ tiêu theo dõi trong thí nghiệm:
+ Sự phát triển của tuyến sinh dục nghêu thể hiện tỷ lệ (%) giai ñoạn phát triển của trứng hoặc tinh trùng
+ Tỷ lệ sống (%) của nghêu sau quá trình thí nghiệm
Sơ ñồ thí nghiệm thức ăn
Nghêu M lyrata
Nghiệm thức 1
( TA1)
Nghiệm thức 2 (TA2)
Nghiệm thức 3 (TA3)
-Theo dõi các yếu tố môi trường
- Sự phát triển tuyến sinh dục
- Tỷ lệ sống
Tìm ra loại thức ăn nuôi vỗ phù hợp
Trang 362.3.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp thu số liệu về mơi trường:
+ Nhiệt độ (0C): ðo hàng ngày, mỗi ngày 2 lần bằng nhiệt kế thủy ngân với độ chính xác 0,10C;
+ pH: ðo hàng ngày bằng máy đo pH cĩ độ chính xác đến 0,1
+ DO (mg/l): ðo hàng ngày bằng máy đo điện tử
+ ðộ trong (cm): Xác định bằng đĩa Secchi cĩ độ chính xác đến cm + ðộ mặn (0/00): ðo bằng máy khúc xạ kế
+ NH4+: Dùng test
- Phương pháp đánh giá tốc độ và tỷ lệ phát triển tuyến sinh dục nghêu:
Kiểm tra định kỳ sự phát triển tuyến sinh dục của nghêu nuơi vỗ 7 ngày/lần Mẫu được lấy ngẫu nhiên từ các ao, bể thí nghiệm với số lượng 15 con/bể Quan sát sự phát triển tế bào sinh dục bằng cách giải phẫu nghêu, lấy dịch chảy từ tuyến sinh dục trải lên lam kính và quan sát trên kính hiển vi quang học với độ phĩng đại 100 lần Dựa vào hình dạng của trứng và khối nỗn hồng cĩ thể ước đốn giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục con cái ðối với nghêu đực, vì kích thước tế bào sinh dục bé nên rất khĩ xác định các giai đoạn phát triển, chỉ cĩ thể xác định giai đoạn chín của tuyến sinh dục Ở giai đoạn chín, tinh trùng sẽ cử động khi cho vào nước ðây là phương pháp
cĩ thể đánh giá mức thành thục của tuyến sinh dục nghêu một cách tương đối Xác đinh sự phát triển tuyến sinh dục nghêu theo cách phân chia quá trình phát triển tuyến sinh dục của nhĩm động vật thân mềm hai mảnh vỏ
(Bivalvia) làm 5 giai đoạn (0-4) theo Quayle & Newkirk (1988) và Gervis & Sims (1992)
- Xác định tỷ lệ thành thục của nghêu dựa vào cơng thức:
Mi (%) = (Ni/N) x 100
Trong đĩ:
Trang 37- ðịnh lượng tảo trong ao nuôi cấy tự nhiên:
Lấy nước tại 5 ñiểm trong ao (4 ñiểm xung quanh và 1 ñiểm ở giữa ao, trộn chung 5 mẫu này (trong xô 40l), lọc qua lưới 2 µm rồi cho vào lọ 110 ml,
Trang 38PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Ảnh hưởng của mật ñộ ñến khả năng phát triển tuyến sinh dục của nghêu trong ñiều kiện nuôi vỗ
3.1.1 Các yếu tố môi trường trong thí nghiệm
Nhiệt ñộ tối ưu cho sự phát triển của nghêu bố mẹ là 25 -30oC, trong khoảng này, nhiệt ñộ càng cao thì sự trao ñổi chất diễn ra càng mạnh và nghêu sinh trưởng tốt nhất Trong thí nghiệm này, nhiệt ñộ nước ao nuôi biến ñộng từ 25 - 29oC, nền nhiệt cao và ít biến ñộng rất phù hợp với yêu cầu nuôi
(mg/l)
TB 26,44±1,07 6,35±0,25 8,08±0,12 26,90±1,08 22,20±0,50 0,46±0,13
+ Hàm lượng ôxy hòa tan (DO-mg/l):
Hàm lượng ôxy hòa tan 6,3 mg/l, là thích hợp cho hoạt ñộng hô hấp của nghêu bố mẹ, hàm lượng này nằm trong khoảng tối thích ñối với yêu cầu sinh
Trang 39trưởng và phát dục của con nghêu, mặt khác sự biến ñộng hàm lượng ôxy trong nước là không nhiều, chỉ từ 5,9 -7,2 mg/l, trong khi ñó ngưỡng gây chết ñối với nghêu thấp hơn 3 mg/l
+ ðộ pH
Sự biến ñộng của pH trong thí nghiệm này khá lớn do sự biến ñộng hàm lượng CO2 trong nước theo ngày và ñêm khi trong nước có mật ñộ tảo khá lớn Tuy nhiên, sự biến ñộng này chưa gây ảnh hưởng xấu ñến sự trao ñổi chất cũng như phát dục của con nghêu
+ ðộ trong
ðộ trong phản ảnh sự phong phú của các vật chất hữu cơ, phù sa lơ lửng
có trong nước cũng như hàm lượng tảo và thực vật phù du khác, về cơ bản ñộ trong càng thấp thể hiện ao giàu dinh dưỡng và ngược lại Tuy nhiên khi ñộ trong này quá cao sẽ dẫn ñến trình trạng thiếu ôxy cục bộ ñặc biệt là về ban ñêm, cần khống chế ñộ trong ở khoảng thích hợp từ 20-30 cm Trong thí nghiệm này
ñộ trong biến ñộng từ 24 -30cm là thích hợp với việc nuôi vỗ nghêu bố mẹ
+ ðộ mặn
ðộ mặn có tác ñộng trực tiếp ñến sự sinh sản của nghêu, sự biến ñộng ñộ mặn theo mùa là nhân tố kích thích quá trình hình thành và chín của tuyến sinh dục, trong thí nghiệm này sự biến ñộng của ñộ muối ñược khống chế từ 21 -23‰, là khoảng biến ñộng trong phạm vi thích nghi của nghêu bố mẹ, ñồng thời cũng không gây ra những tác ñộng quá lớn dễ gây việc kích ñẻ thụ ñộng
+ NH 4 +
NH4+ phản ảnh hàm lượng nito có trong nước, ñánh giá sự ô nhiễm và chỉ số NH3, hàm lượng này biến thiên phụ thuộc vào pH nước, theo nghiên cứu của Trương Quốc Phú (1998) hàm lượng Amonia trong ñiều kiện nước tĩnh có thể gây chết LD50 ở nồng ñộ 1,08 mg/lit khi nuôi từ 18 - 24 giờ Trong thí nghiệm này, hàm lượng NH4+ biến ñộng dưới 0,78 mg/l là khoảng an toàn ñối với nghêu bố mẹ và sự sinh trưởng bình thường của chúng