BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI BÙI TRỌNG ANH NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ðẠM, PHÂN BÓN LÁ ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ LAI B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
BÙI TRỌNG ANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ðẠM,
PHÂN BÓN LÁ ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ LAI BIOSEED 9698 TRỒNG VỤ XUÂN TẠI TÂN LẠC - HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2014
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
BÙI TRỌNG ANH
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LƯỢNG PHÂN ðẠM, PHÂN BÓN LÁ ðẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ LAI BIOSEED 9698 TRỒNG VỤ XUÂN TẠI TÂN LẠC - HÒA BÌNH
CHUYÊN NGÀNH : KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ : 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ QUANG SÁNG
Trang 3LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng:
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng ñược sử dụng ñể bảo vệ một học vị nào khác
Mọi sự giúp ñỡ cho công việc thực hiện luận văn này ñã ñược cám ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn ñều ñược chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Bùi Trọng Anh
Trang 4Tập thể các thầy cô giáo bộ môn Sinh lý thực vật, Khoa Nông học, Trường ðại học Nông nghiệp Hà Nội, luôn giúp ñỡ và có những góp ý sâu sắc trong thời gian tôi học tập và thực hiện ñề tài
Các bạn sinh viên, những người ñã luôn tích cực cùng tôi tham gia, tiến hành thực hiện ñề tài Bà con nông dân, nơi tôi tiến hành các thí nghiệm, nghiên cứu khoa học ñã luôn nhiệt tình giúp ñỡ tôi
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, người thân và gia ñình ñã ñộng viên, giúp ñỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Bùi Trọng Anh
Trang 51.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới và Việt Nam 9
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 43
3.1.Ảnh hưởng của lượng ñạm bón ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống ngô lai Bioseed 9698 trồng vụ xuân 2013 tại huyện Tân
3.1.1 Ảnh hưởng của các mức bón ñạm ñến sự sinh trưởng và phát
3.1.2 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến ñộng thái tăng trưởng
3.1.3 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến ñộng thái ra lá của
3.1.4 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến diện tích lá (m2 lá/cây)
3.1.5 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến năng suất và các yếu tố
3.1.6 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến khả năng chống chịu
3.1.7 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các mức ñạm bón ñến giống ngô laiBioseed 9698 trồng vụ xuân 2013 tại Hòa Bình 65 3.2 Ảnh hưởng của một số phân bón lá ñến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô lai Bioseed 9698 vụ xuân 2013 tại huyện
3.2.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến sự sinh trưởng và
Trang 73.2.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái tăng
trưởng chiều cao của giống ngô lai Bioseed 9698 trồng vụ
3.2.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái ra lá
3.2.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến diện tích lá (m 2 lá/cây) và chỉ số diện tích lá (LAI- m2 lá/m2 ñất) 70
3.2.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñếnchiều cao ñóng
bắp, vị trí ñóng bắp của các giống ngô lai Bioseed 9698 72
3.2.6 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến các yếu tố cấu
thành năng suất và năng suất của giống ngô lai Bioseed 9698
3.2.7 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống ngô laiBioseed 9698 trồng vụ xuân 2013 75
3.2.8 Hiệu quả kinh tế của giống ngô lai Bioseed 9698 trồng vụ
xuân 2013 tại Tân Lạc - Hòa Bình khi sử dụng phân bón lá 76
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.2 Sản xuất ngô trên thế giới và mộtsố nước có diện tích trồng
Bảng 1.3 Lượng chất dinh dưỡng cây ngô lấy từ ñất ñể ñược 10 tấn
Bảng 1.4: Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai ñoạn sinh trưởng (%) 21 Bảng 1.5 Diện tích và năng suấtmột số giống ngô trồng tại Tân Lạc từ
Bảng 3.1 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến thời gian sinh trưởng của
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của các mức bón ñạm khác nhau ñến ñộng thái tăng
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của các mức bón ñạm khác nhau ñến ñộng thái ra lá
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến diện tích lá(m2lá/cây) và
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến chiều cao ñóng bắp và
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của mức ñạm bón ñến các yếu tố cấu thành
Bảng 3.7 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến năng suất giống ngô lai
Bioseed 9698 trồng vụ xuân 2013 tại Tân Lạc - Hòa Bình. 61
Trang 9Bảng 3.8 Ảnh hưởng của các mức ñạm bón ñến khả năng chống chịu
sâu bệnh hại của giống ngô laiBioseed9698 trồng vụ xuân tại
Bảng 3.9 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng các mức ñạm bón cho giống
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến thời gian sinh
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến ñộng thái ra lá của
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến diện tích lá
(m2lá/cây) và chỉ số diện tích lá (LAI- m2 lá/m2 ñất) của giống
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến chiều cao ñóng
Bảng 3.15 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến các yếu tố cấu
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến năng suất của giống
ngô lai Bioseed9698 trồng vụ xuân tại Tân Lạc – Hòa Bình 74 Bảng 3.17 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá ñến khả năng chống
Bảng 3.18 Hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân bón lá cho giống ngô
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Từ viết ñầy ñủ
(Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc)
Trang 12MỞ ðẦU
1 ðặt vấn ñề
Cây ngô (Zea mays L.) thuộc họ lúa Poaceae hay Gramineae, ngô ñược
coi là cây lương thực quan trọng ñứng vị trí thứ ba sau lúa mì và lúa nước, ñược trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, nhằm cung cấp lương thực cho người, thức ăn cho gia súc, gia cầm và nguyên liệu cho nhiều sản phẩm công nghiệp
Theo các phân tích hóa sinh cho thấy, hạt ngô chứa flagellat 38%, abscisin 18%, protein (7-12%) cùng lysine (1,8-4,45%) và tryptophan (0,4-1,0%) Ngô còn ñược chế biến làm thuốc trong y học như: Phối hợp với một
số thảo dược ñể làm thuốc giảm ñường trong máu, chữa chứng viêm gan B và
C Trong ñông y, râu ngô và ruột cây ngô vị ngọt, tính bình, có tác dụng lợi tiểu, thông mật, cầm máu
Ở Việt Nam, ñiều kiện ñất ñai, khí hậu rất thuận lợi cho cây ngô phát triển Theo số liệu thống kê của Bộ NN & PTNT, năng suất ngô tăng từ 2,7 tấn lên 4,5 tấn/ha, diện tích ngô ở Việt Nam tăng 730,2 triệu ha lên 1170,9 triệu ha giai ñoạn 2000-2010 Tuy nhiên, trong thời gian hiện nay do nhu cầu tiêu thụ ngô ngày càng tăng, dẫn ñến cung và cầu có ñộ chênh lệch, diện tích ngô không tăng nhiều so với tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm ngô trên thị trường hiện nay Do vậy, nước ta phải nhập một lượng ngô lớn mới ñáp ứng phần nào nhu cầu tiêu thụ trên thị trường Theo số liệu của Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, ước tính năm 2010, nước ta phải nhập khoảng 1,6 triệu tấn ngô, tăng
350 nghìn tấn so với năm 2009 Trong tháng 4/2011, Việt Nam ñã chi 14,4 triệu USD ñể nhập khẩu ngô hạt
ðể giải quyết bài toán tăng diện tích và năng suất ngô tại các ñịa phương, ñáp ứng ñủ nhu cầu tiêu thụ trên thị trường hiện nay, chúng ta cần có
Trang 13sự ñột phá trong sản xuất ngô nhằm tăng năng suất thông qua việc chọn tạo giống mới có cấu thành năng suất cao, sử dụng các loại phân bón và các biện pháp kỹ thuật khác ñể tạo năng suất cao Ở Việt Nam rất thành công trong chọn và lai tạo ra nhiều giống ngô lai cho năng suất cao, tạo ra một sự thay ñổi rất lớn trong những năm gần ñây về sản xuất ngô Tuy nhiên, những giống ngô mới chọn tạo ñể ñưa vào sản xuất ñại trà tại các ñịa phương cần phải ñược ñánh giá khả năng thích ứng của chúng
Tân Lạc là một huyện nông nghiệp của tỉnh Hòa Bình, sản xuất nông lâm nghiệp, thủy sản của tỉnh Hòa Bình, thuộc vùng núi phía Bắc ðất ñai không bằng phẳng, chủ yếu là ruộng bậc thang hoặc ñồi có ñộ dốc từ 5-30o
Do sự chi phối của ñịa hình, sự tác ñộng của các ñiều kiện tự nhiên và quá trình khai thác sử dụng ñất của cộng ñồng dân cư trong huyện, nên trên ñịa bàn huyện có nhiều loại ñất, trong ñó ñất ñồi núi chiếm gần 85%, ñất bằng phẳng thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp không nhiều (khoảng 3,5%) Do cấu trúc ñịa hình ñã tạo nên sự ña dạng về tài nguyên sinh vật nông nghiệp trên ñịa bàn huyện Có khoảng 30 loại cây trồng nông nghiệp ñược ñồng bào các dân tộc của huyện ñưa vào sản xuất, trong ñó có cây ngô Tuy nhiên người dân ñịa phương còn rất hạn chế trong việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật và các giống ngô mới vào sản xuất ngô, nhất là sử dụng phân bón lá nên sản lượng thu hoạch thấp ðể ñảm bảo ñủ lượng thức ăn cho chăn nuôi người dân tại ñịa phương thường xuyên phải thu mua thêm một lượng ngô lớn ðồng thời, tại tỉnh Hòa Bình trong những năm gần ñây nhiều nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi ñược xây dựng, do vậy nhu cầu nguyên liệu cho sản xuất thức ăn chăn nuôi rất lớn, là ñiều kiện thuận lợi cho việc ñưa các giống ngô mới có năng suất cao và áp dụng những tiến bộ Khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nhằm tăng năng suất ngô trên ñịa bàn tỉnh Hòa Bình
Trang 14Xuất phát từ thực tiễn ựó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu ựề tài:
ỘNghiên cứu ảnh hưởng lượng phân ựạm, phân bón lá ựến sinh trưởng
phát triển và năng suất của giống ngô lai Bioseed 9698 trồng vụ xuân tại Tân Lạc - Hòa BìnhỢ
2 Mục ựắch yêu cầu của ựề tài
2.1 Mục ựắch
Xác ựịnh ựược lượng ựạm bón phù hợp và loại phân bón lá hiệu quả nhằm góp phần vào việc xây dựng quy trình thâm canh tăng năng suất cho giống ngô lai Bioseed 9698 trồng vụ xuân tại huyện Tân Lạc- Tỉnh Hòa Bình
2.2 Yêu cầu:
- đánh giá ựược ảnh hưởng của lượng ựạm bón ựến các chỉ tiêu sinh trưởng, phát triển và năng suất ựối với giống lai Bioseed 9698
- Xác ựịnh ựược loại phân bón lá hiệu quả cho giống ngô lai Bioseed
9698 trồng vụ xuân tại huyện Tân Lạc- Hòa Bình
- Tìm hiểu ảnh hưởng của lượng ựạm bón và phân bón lá ựến khả năng chống ựổ, sâu bệnh hại ựối với giống ngô lai Bioseed 9698
- đánh giá ựược hiệu quả kinh tế của việc sử dụng phân ựạm và phân bón qua lá cho giống ngô lai Bioseed 9698 trồngvụ xuân tại huyện Tân Lạc- Hòa Bình
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của ựề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của ựề tài sẽ cung cấp các dữ liệu khoa học về ảnh hưởng của lượng ựạm bón và phân bón lá thắch hợp ựến sinh trưởng phát triển cũng như năng suất giống ngô lai Bioseed 9698 trồngvụ xuân tại huyện Tân Lạc- Hòa Bình
Trang 15- Kết quả nghiên cứu ñề tài sẽ bổ sung thêm những dẫn liệu khoa học
về cây ngô phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu và chỉ ñạo sản xuất
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của ñề tài sẽ góp phần vào việc hoàn thiện quy trình
kỹ thuật thâm canh ngô lai năng suất cao, mang lại hiệu quả kinh tế cho người sản xuất ngô là ñộng lực cơ bản ñể mở rộng diện tích gieo trồng và xóa ñói giảm nghèo ñối với các hộ dân huyện Tân Lạc nói riêng, tỉnh Hòa Bình nói chung
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Vai trò của cây ngô trên thế giới và Việt Nam
1.1.1 Vai trò của cây ngô trên thế giới
Ngô là một trong ba cây ngũ cốc chủ yếu, cung cấp lương thực cho loài người trên toàn thế giới Ngô là cây lương thực nuôi sống gần 1/3 số dân trên toàn thế giới, ở một số nước như Mexico, Peru, Kenia… sử dụng ngô là lương thực chính (FAO, 1995)
Ngoài ra ngô còn cung cấp phần lớn thức ăn cho ngành chăn nuôi và cung cấp nguyên liệu cho nhà máy sản xuất cồn, tinh bột, dầu, glucoza, bánh kẹo… Những năm gần ñây cây Ngô ñược coi là cây thực phẩm, người ta sử dụng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp (Ngô Hữu Tình và CS, 1997)
Cây ngô là cây có nền di truyền rộng thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau, do vậy ngô ñược trồng hầu hết các nước trên thế giới Trên thế giới khoảng 75 nước trồng ngô bao gồm cả các nước công nghiệp và các nước ñang phát triển, mỗi nước trồng ít nhất 100.000 ha ngô (Ngô Hữu Tình và CS, 1997) Theo số liệu FAO, năm 2003 tổng diện tích trồng ngô là 142.331.335
ha, ñem lại sản lượng 637.444.480 tấn ngô ngũ cốc một năm, trị giá trên 65 tỷ
$ (giá bán quốc tế 2003 là 108$/tấn)
Vào cuối thế kỷ 20 và những năm ñầu thế kỷ 21, cây ngô vượt lên ñứng ñầu về năng suất và sản lượng trên phạm vi toàn cầu, bình quân sản lượng ba năm 2002 - 2004 ñạt 654,91 triệu tấn/năm, ñứng ñầu trong các cây lương thực
và năm 2005 sản lượng ngô tiếp tục duy trì vị trí của mình, ñạt 692 triệu tấn chiếm 31% tổng sản lượng lương thực (CIMMYT, 1999)
Thực tế, ngô ñã cung cấp lương thực nuôi sống 1/3 dân số thế giới, các nước trồng ñều sử dụng ngô làm lương thực hay thực phẩm nhưung ở mức ñộ khác nhau theo thống kê trên thế giới sử dụng 21% sản lượng ngô làm lương thực cho người (Akhtar, 1999) Trong ñó các vùng Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi dùng ngô làm
Trang 17lương thực chắnh Các nước vùng đông Nam Phi sử dụng 85% sản lượng ngô làm lương thực Trung Mỹ và Caribe sử dụng 61% sản lượng ngô làm lương thực (CIMMYT, 2000) Vùng đông Nam Á và Thái Bình Dương sử dụng 39% còn vùng đông Âu và các nước trong SNG sử dụng 40% sản lượng ngô làm lương thực (Ngô Hữu Tình, 2003) Hàng năm trung bình mỗi người dân Mexico tiêu thụ trên
100 kg ngô hạt làm lương thực chủ yếu dưới dạng bánh từ bột
Ngô ngoài sử dụng làm lương thực, những năm gần ựây ngô còn là cây thực phẩm, người ta dùng bắp ngô bao tử làm rau cao cấp, nghề này phát triển rất mạnh ở Thái Lan và đài Loan (CIMMYT, 2000) Sở dĩ ngô rau ựược ưa chuộng như vậy là vì nó sạch, an toàn và có hàm lượng sinh dưỡng cao: chất béo 0,2%, hàm lượng protein 1,9% so với khối lượng tươi, hydrat cacbon 8,2 mg/1kg ngô tươi cao hơn hẳn các loại rau cao cấp khác Ngoài ra ngô rau còn chứa nhiều Vitamin, khoáng chất: Ca, F2, PẦ (Ngô Hữu Tình, 1997)
Theo dự báo của Viện Nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (IFPRI, 2003), nhu cầu ngô trên thế giới vào năm 2020 lên tới 852 triệu tấn (sản lượng năm 2005 chỉ mới ựạt 705,3 triệu tấn), tăng 45% so với năm
1997, chủ yếu ở các nước ựang phát triển (72%), riêng đông Nam Á tăng 70%
Như vậy, nhu cầu về ngô trên thế giới ngày càng tăng từ năm 1997 ựến
2020 nhu cầu cần tăng thêm 45%, trong ựó số lượng tăng nhiều ở các nước
Trang 18ựang phát triển (năm 1997 nhu cầu 295 triệu tấn lên 508 triệu tấn vào năm 2020), sự thay ựổi lớn nhất thuộc về các nước đông Á với sự tăng thêm 85% vào năm 2020
đặc biệt, từ 10 năm trở lại ựây cùng với những thành tựu trong chọn tạo giống lai nhờ kết hợp phương pháp truyền thống và công nghệ sinh học thì việc ứng dụng công nghệ cao trong canh tác ựã góp phần ựưa sản lượng ngô thế giới vượt lên trên lúa mì và lúa nước (Trần Hồng Uy, 2001)
Dân số thế giới ngày càng tăng nhanh, trong khi ựó diện tắch ựất canh tác ngày càng thu hẹp do sa mạc hóa và xu thế ựô thị hóa Nền nông nghiệp thế giới ngày nay luôn phải trả lời làm thế nào ựể giải quyết ựủ năng lượng cho 8 tỷ người vào năm 2021 và 15,3 tỷ người vào năm 2030 để giải quyết ựược câu hỏi này, ngoài biện pháp phát triển nền nông nghiệp nói chung thì phải nhanh chóng chọn ra những giống cây trồng trong ựó có các giống ngô năng suất cao, ổn ựịnh có khả năng chống chịu tốt với ựiều kiện khắ hậu ngày càng biến ựổi phức tạp Một trong những thành tựu quan trọng trong chọn tạo giống sinh vật nói chung và cây ngô nói riêng là việc nghiên cứu thành công và phát triển nhanh giống biến ựổi gen Với cây ngô, chỉ sau 12 năm áp dụng, năm 2008, diện tắch trồng ngô chuyển gen trên thế giới ựã ựạt 37,3 triệu ha, riêng ở Mỹ ựã lên ựến 30 triệu ha, chiếm 85% trong tổng số 35,2 triệu ha ngô của nước này (GMO-COMPASS, 2009) Nhờ chuyển gen kháng thuốc trừ cỏ và kháng sâu ựục thân, việc sản xuất ngô ựược thuận tiện hơn, giảm thuốc bảo vệ thực vật từ
ựó giảm sự ô nhiễm môi trường và tăng hiệu quả kinh tế
Những nghiên cứu về chuyển gen chịu hạn, chịu rét, chịu chua, chịu mặn, chịu ựất nghèo ựạm và kháng một số bệnh do virut ở ngô cũng ựã những kết quả bước ựầu Khi những nghiên cứu trên ựược ứng dụng vào thực tiễn
sẽ góp phần khai thác tối ựa tiềm năng năng suất ở ngô điều ựó sẽ có một ý nghĩa vô cùng lớn ựối với ngành sản xuất ngô thế giới, ựặc biệt ở các nước
Trang 19ựang phát triển việc sản xuất ngô phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên, trong ựó
có Việt Nam
1.1.2 Vai trò của cây ngô ở Việt Nam
Cây ngô ựược ựưa vào trồng ở Việt Nam cách ựây khoảng 300 năm và ựược coi là cây màu chắnh, thắch ứng rộng, chịu thâm canh cao, là loại cây ựứng ựầu về năng suất trong các loại cây lương thực (Trần Văn Minh, 2004)
Cây ngô ựược mở rộng diện tắch gieo trồng nhanh chóng do mang nhiều ựặc ựiểm quý báu như hiệu suất quang hợp cao, sử dụng nước tiết kiệm mà cây ngô sớm ựược ựưa vào trồng với diện tắch lớn và ựược coi là cây lương thực chắnh quan trọng nhất là ở những vùng núi cao nơi có tỷ lệ dân nghèo và sản xuất chủ yếu dựa vào nước trời (Trần Hồng Uy, 2000)
Hiện nay, cả nước ựã hình thành 8 vùng sản xuất ngô Trong ựó 5 vùng có diện tắch lớn nhất cả nước là Tây Nguyên chiếm 21,8%, đông Bắc 21,9%, Tây Bắc 15,35%, Bắc Trung bộ 14,36% và đông Nam bộ 12,11% Tổng diện tắch 5 vùng này chiếm 84,71% Còn lại là ựồng bằng sông Hồng 7,69% duyên hải Nam Trung bộ 4,14% và ựồng bằng sông Cửu Long 3,47% (Phan Xuân Hảo, 2007) Trong những năm gần ựây nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng cao, cùng với sự phát triển cao của nền chăn nuôi ựại công nghiệp ựòi hỏi một khối lượng lớn ngô dùng cho chế biến thức ăn gia súc Do ựó, diện tắch trồng ngô không ngừng ựược mở rộng và sản lượng không ngừng tăng lên để ựạt ựược năng suất và sản lượng ngô ựáp ứng ựược nhu cầu thực tế thì không thể không nói tới ngô lai Với những ưu thế về năng suất, hàm lượng dinh dưỡng cao hơn rất nhiều so với các giống ngô truyền thống và các giống ngô thụ phấn tự do Các giống ngô lai ngày càng ựược sử dụng rộng rãi và ngày càng ựược phổ biến nhiều trong sản xuất Năm 1991 diện tắch ngô lai mới chỉ có
500 ha (Trần Hồng Uy, 2000), năm 2005 diện tắch ngô lai ựã tăng 840.000 ha(Viện Nghiên cứu Ngô, 2005) ựến năm 2010 diện tắch là 1.126.900 ha
Trang 20Qua ựiều tra ựánh giá ựiều kiện kinh tế xã hội, ựiều kiện tự nhiên thì rất nhiều vùng sinh thái của nước ta có khả năng mở rộng diện tắch ngô lai như: Vùng Tây Bắc diện tắch trồng ngô lai có thể lên tới 70- 80% (Nguyễn Văn Bảo, 1996) đông Bắc 60%, Bắc Trung bộ 70% Kế hoạch ựặt ra trong thời gian tới
tỷ lệ sử dụng giống ngô lai trên toàn quốc ựạt 90% và 10% ựể trồng giống thụ phấn tự do ở những vùng ựặc biệt khó khăn (Nguyễn Thế Hùng, 2002)
1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu ngô trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới
Một trong những tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp thành công rực rỡ nhất ở thế kỷ 20 là ngô lai Nghề trồng ngô trên thế giới vào những năm cuối của thế
kỷ 20 ựã có những bước tiến nhảy vọt nhờ ứng dụng rộng rãi công nghệ ưu thế lai, kỹ thuật nông học tiên tiến và những thành tựu to lớn của công nghệ sinh học, công nghệ chế biến và bảo quản, công nghệ tin họcẦgóp phần giải quyết nhu cầu lương thực và protein ựộng vật cho hơn 6 tỷ người trên hành tinh chúng ta Ngô lai ựã phát triển nhanh chóng và hấp dẫn như vậy là do ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về ưu thế lai, các biện pháp kỹ thuật liên hoàn Chắnh ngô lai
ựã kắch thắch các nhà khoa học mở rộng ựối tượng và phạm vi nghiên cứu nhằm thu ựược các giống lai có ưu thế lai lớn hơn và phong phú hơn (Trần Hồng Uy, 2001)
Trong những năm gần ựây, xu hướng sử dụng ngô làm lương thực giảm dần, sử dụng làm thức ăn gia súc tăng nhanh Qua ựiều tra thức ăn tổng hợp cho gia súc có tới 70% hàm lượng chất tinh lấy từ ngô Theo thống kê của Cao đắc điểm (1988)cho thấy các nước có nền nông nghiệp phát triển hầu hết sử dụng ngô làm thức ăn gia súc như: Pháp 90%, Mỹ 89%, Rumani 69% còn các nước SNG trồng khoảng 20 triệu ha ngô trong ựó chỉ sử dụng 3 triệu ha ựể lấy hạt còn lại lấy thân lá ủ chua làm thức ăn cho gia súc (David L; Beck, CIMMYT, 2002)
Trang 21Theo Cao ðắc ðiểm, có khoảng 95 nước trồng ngô, tỷ lệ sử dụng các giống ngô lai bình quân trên thế giới là 63 - 65%, nhóm các nước ñang phát triển là 38% và các nước phát triển là 100% (Cao ðắc ðiểm, 1988)
Vào cuối thế kỷ 20 và những năm ñầu thế kỷ 21, cây ngô vượt lên ñứng ñầu về năng suất và sản lượng trên phạm vi toàn cầu, bình quân sản lượng các năm 2002, 2003, 2004 ñạt 654,91 triệu tấn/năm, ñứng ñầu trong các cây lương thực và năm 2005 sản lượng ngô tiếp tục duy trì vị trí của mình, ñạt
692 triệu tấn chiếm 31% tổng sản lượng lương thực (Stuber.C.W, 1994)
Ở Châu Á, Bắc Triều Tiên ñã sử dụng 100% là giống ngô lai trong sản xuất tiếp sau ñó là Trung Quốc, là nước ñứng ñầu Châu Á về năng suất, sản lượng và thứ hai trên thế giới về diện tích và sản lượng ngô với diện tích 24,8 triệu ha tổng sản lượng 121,3 triệu tấn, năng suất bình quân ñạt 4,85 tấn/ha (Choi H.C, 2001)
Bảng 1.2 Sản xuất ngô trên thế giới và mộtsố nước có diện tích trồng ngôlớn
Trang 22Những thành tựu về ngơ mà thế giới đạt được trong những năm gần đây
cĩ thể nĩi là đã vượt ngồi mọi dự đốn lạc quan nhất Sản lượng ngơ thế giới tăng mạnh từ năm 2000 đến năm 2010
1.2.2 Tình hình nghiên cứu ngơ trên thế giới
1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu ngơ lai trên thế giới
Hàng năm lượng ngơ lưu thơng trên thị trường thế giới khoảng 70 triệu tấn, các nước xuất khẩu chính là Mỹ, Pháp, Agentina, Trung Quốc và Thái Lan ðiều này cho thấy ngơ đứng hàng đầu trong các mặt hàng nơng sản cĩ tỷ
lệ lưu thơng trao đổi lớn trên thị trường quốc tế (CMMYT, 2002)
Theo số liệu của ðại học tổng hợp Nebrask (2005) lý do năng suất ngơ ở
Mỹ tăng lên trong 50 năm qua là:
- 50% do cải tạo nền di truyền của các giống lai
- Khoảng 50% do áp dụng các biện pháp canh tác cải tiến:
+ Bĩn N hợp lý (tăng hiệu quả sử dụng đạm, giảm bay hơi đạm, khơng làm ơ nhiễm nguồn nước, cân bằng dinh dưỡng với P và K)
+ Mật độ gieo trồng hợp lý
+ Cải thiện khả năng giữ ẩm của đất
+ Giảm mức rửa trơi đất canh tác ngơ
+ Mở rộng diện tích ngơ cĩ tưới và cải thiện phương pháp tưới
1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu nhu cầu phân bĩn cho cây ngơ trên thế giới
Cây ngơ là một cây ngũ cốc quang hợp theo chu trình C4, là cây ưa nhiệt, cĩ hệ thống rễ chùm phát triển Cây ngơ là cây cĩ tiềm năng năng suất lớn Trong các biện pháp thâm canh tăng năng suất ngơ, phân bĩn giữ vai trị quan trọng nhất Phân bĩn ảnh hưởng tới 30,7% năng suất ngơ cịn các yếu tố khác như mật độ, phịng trừ cỏ dại, đất trồng cĩ ảnh hưởng ít hơn Sự hút các chất dinh dưỡng thay đổi theo các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của ngơ Dựa vào biến đổi hình thái của cây để xác định nhu cầu dinh dưỡng từng thời kỳ cho ngơ
Trang 23Với vai trò quan trọng trong cơ cấu cây trồng Vì vậy, ñã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về phân bón cho ngô và những kết quả này ñã ñược
ñưa vào áp dụng trong sản xuất
Theo nghiên kết quả cứu của Viện nghiên cứu về lân - kali ở Atlanta -
Mỹ ñể tạo ra 10 tấn ngô hạt/ha cây ngô lấy ñi lượng dinh dưỡng như sau:
Bảng 1.3 Lượng chất dinh dưỡng cây ngô lấy từ ñất ñể ñược
10 tấn hạt/ha
(kg)
K20 (kg)
Mg(kg)
S(kg)
Theo nhiều tác giả nước ngoài thì ñể sản xuất 100 kg ngô hạt cần 4,8-
5,3 kg tổng cộng các loại NPK nguyên chất, trong ñó N chiếm 2,0- 2,2 kg,
P205 là 0,8- 0,9 kg, K20 là 2,0- 2,2 kg và tỷ lệ N:P:K là 2:1:2
Ở các nước trồng nhiều ngô trên thế giới, cây ngô là cây lương thực
quan trọng nên họ ñầu tư nghiên cứu rất nhiều về phân bón hợp lý cho ngô
nhằm ñạt năng suất, hiệu quả kinh tế cao và ổn ñịnh trong nhiều vụ
Ở Brazin, người nông dân áp dụng mức phân bón cho ngô ñể ñạt năng
suất 160 tạ/ha là 485 kg N + 485 kg P205 + 510 kg K20 + 440 kg S + 1 kg B +
6,9 kg Zn
Viện Kỹ thuật Cây ngũ cốc và Thức ăn gia súc (Pháp) chia quá trình sinh
trưởng phát triển của cây ngô ra làm 4 giai ñoạn:
- Giai ñoạn tăng trưởng chậm: Từ khi mọc ñến khi 7 - 8 lá: ðây là giai
ñoạn hình thành và phát triển bộ rễ ðây cũng là giai ñoạn phân hoá tạo bông
cờ Giai ñoạn này lượng dinh dưỡng cây hút không lớn chỉ bằng 1 - 4% tổng
lượng dinh dưỡng so với cả vòng ñời cây hút
Trang 24Sự hút chất dinh dưỡng ở thời kỳ ñầu tuy chậm nhưng rất quan trọng cho ngô, bao gồm các dạng dễ hấp thu của các hợp chất chứa NPK so với tổng lượng dinh dưỡng và tổng chất khô ñã tích luỹ ñược Sau mọc 20 - 30 ngày ngô tích luỹ ñược 4% chất khô, 9% lân, 10% ñạm, 14% kali; sau 60 ngày: 45% chất khô, 57% lân, 66% ñạm, 92% kali
- Giai ñoạn tăng trưởng nhanh: Từ 7 - 8 lá ñến sau trỗ 15 ngày: Ở giai ñoạn này các bộ phận trên mặt ñất (thân lá) và dưới mặt ñất ñều tăng trưởng rất nhanh Các cơ quan sinh trưởng phát triển mạnh, lượng tinh bột và chất khô trong bắp tăng nhanh ðây là giai ñoạn cây hấp thu tối ña dinh dưỡng bằng 75 - 95% tổng lượng dinh dưỡng so với cả vòng ñời cây hút Thiếu chất dinh dưỡng ở thời kỳ 8 - 11 lá sẽ cản trở sinh trưởng của lá và giảm từ 10 - 20% năng suất, ñặc biệt ở thời kỳ trỗ cờ phun râu cây ñòi hỏi dinh dưỡng rất gay gắt, nếu thời kỳ này một nửa số lá héo khô lúc này sẽ làm giảm 25 - 30% năng suất (Arnon.I, 1974)
- Thời kỳ nở hoa, ngô ñã hút gần như toàn bộ số kali cần thiết và lượng lớn ñạm và lân
- Giai ñoạn chín: Quá trình tích luỹ chất khô ñã hoàn thành, ngô bắt ñầu mất nước nhanh, các bộ phận sinh trưởng sinh dưỡng chuyển sang màu vàng Hầu hết các giống ñều cần khoảng 60 ngày ñể hoàn thành hạt; trong
ñó các giống ngắn ngày cần ít hơn, khoảng 35 - 40 ngày trong thời gian hình thành hạt, mỗi ngày bình quân tạo thành 2,5 - 3% khối lượng hạt khi chín hoàn toàn
Trong giai ñoạn chín cây ngô thực hiện các chức năng phân phối lại lượng dinh dưỡng ñã hấp thụ Lượng dinh dưỡng cây hấp thụ ñược không chỉ tích luỹ ở hạt mà còn một lượng lớn ở thân lá (GreenWood D.J, 1986)
ðể ñạt năng suất cao và ổn ñịnh, ngô cần ñược bón phân cân ñối, ñặc biệt là giữa các yếu tố NPK ðiều này ñược chứng minh rất rõ qua các thí
Trang 25nghiệm bón các tổ hợp phân cho ngô trong suốt 28 vụ của Viện Kali quốc tế cho thấy chỉ có bón cân bằng NPK năng suất ngô mới cao và ổn ựịnh Mức bón phân ựược khuyến cáo cho ngô ở đài Loan là 175 kg N + 95 kg P2O5 + 70 kg
K2O/ha (GreenWood D.J, 1986)
Theo Sinclair và Muchow (1995), hàng thập kỷ gần ựây, năng suất ngô tăng lên có liên quan chặt chẽ với mức cung cấp N cho ngô đạm ựược cây ngô hút với một lượng lớn và ựạm có ảnh hưởng khác nhau rõ rệt ựến sự cân bằng cation và anion ở trong cây Khi cây hút N Ờ NH4+ sự hút các cation khác chẳng hạn như K+, Ca2+, Mg2+ sẽ giảm trong khi sự hút anion ựặc biệt là Photpho sẽ thuận lợi Xảy ra chiều hướng ngược lại, khi cây hút N nitrat (Mengel, 1968) (dẫn theo Arnon, 1974) Tùy thuộc vào tuổi của cây, với cây ngô non sự hút amonium-N nhanh hơn sự hút ựạm nitrat, trái lại các cây ngô già dạng ựạm hút chủ yếu là ựạm nitrat và có thể chiếm tới hơn 90% tổng lượng ựạm cây hút (Coic, 1964) (dẫn theo Arnon, 1974) đạm cũng là thành phần cấu trúc của vách tế bào (William, 1993) đạm là yếu tố cần thiết cho sự sinh trưởng của cây và là thành phần của tất cả các protein đạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng nhất ựể xác ựịnh năng suất ngô Khi thiếu N chồi lá mầm sẽ không phát triển ựầy ựủ, sự phân chia tế bào ở ựỉnh sinh trưởng bị kìm hãm và kết quả là giảm diện tắch lá, kắch thước của cây và năng suất giảm Phân ựạm có thể tạo ra sự tăng diện tắch lá hiệu quả ngay từ ựầu vụ và duy trì một diện tắch lá xanh lớn vào cuối vụ ựể quá trình ựồng hóa quang hợp ựạt cực ựại (Wolfe và
CS, 1988)
Mức ựạm thấp làm giảm số hạt và năng suất hạt Các giống ngô lai khác nhau có thể sử dụng phân ựạm ở mức ựộ khác nhau, năng suất cây trồng cao cần phải cung cấp một lượng lớn phân bón, ựặc biệt là ựạm (Debreczeni, 2000)
để ựạt ựược năng suất cao một lượng ựạm hữu hiệu phải ựược cây hút Từ 50 - 60% ựạm trong hạt ựã ựược lấy từ ựạm ựồng hoá ở trong lá và
Trang 26thân, trước thời kỳ ra hoa (Crowford và CS, 1982; Mitsuru và CS, 1991) (Mitsuru, 1995)
Dự trữ ñạm ở cây ngô có ảnh hưởng rất lớn ñối với sự sinh trưởng và phát triển lá, sự tích luỹ sinh khối và sự tăng trưởng của hạt, ảnh hưởng về sau của ñạm là quan trọng khi ñánh giá phản ứng của cây trồng ñối với phân N
Số liệu dẫn ra ở một thí nghiệm ngô tưới nước theo rãnh cho thấy: Năng suất ngô 1.200 kg/ha khi không bón ñạm và 6.300 kg/ha khi bón 224 kg/ha N trên ñất chưa bao giờ trồng ngô và năm trước ñó không bón ñạm Ở năm tiếp theo năng suất ngô là 4.400 kg/ha khi không bón ñạm và 7.000 kg/ha khi bón N ở mức 224 kg/ha
Năng suất ngô vùng Nhiệt ñới thấp hơn năng suất ngô vùng Ôn ñới bởi
số hạt/ diện tích ñất và chỉ số thu hoạch (HI) của ngô Nhiệt ñới thấp hơn ngô của vùng Ôn ñới (Mitsuru, 1995) Nhìn chung, cây ngô quang hợp theo chu trình C4 và nó phù hợp nhiệt ñộ cao, người ta thừa nhận là ngô có thể ñạt năng suất chất khô cao ở vùng Nhiệt ñới (Mitsuru, 1995)
Lân cũng là yếu tố ña lượng quan trọng ñối với cây ngô Lân ñược cây hút và tích luỹ nhiều trong hạt thấp hơn trong thân lá Theo một số thí nghiệm cho thấy, lân có trong hạt ngô ở tỷ lệ 0,55- 0,60% và trong thân lá là 0,30- 0,35% Lân trong cây có vai trò quan trọng trong quá trình trao ñổi chất, hút chất dinh dưỡng và vận chuyển các chất ñó trong cây Tác dụng chủ yếu của lân ñối với cây ngô là :
- Thúc ñẩy phân chia tế bào
- Thúc ñẩy quá trình trao ñổi chất béo và prôtêin
- Thúc ñẩy việc ra hoa và hình thành hạt và quyết ñịnh phẩm chất hạt
- Thúc ñẩy việc ra rễ và góp phần tạo dựng bộ rễ khoẻ mạnh
- Tăng cường sức sống và khả năng chống chịu với ñiều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, ñặc biệt là nhiệt ñộ thấp và thiếu nước
Trang 27- Thúc ñẩy ra hoa sớm, giảm tác hại của thừa ñạm
Lân có vai trò quan trọng ñối với cây ngô nhưng khả năng hút lân ở giai ñoạn cây non lại rất yếu Thời kỳ 3- 4 lá, cây ngô không hút ñược nhiều lân nên ñó là thời kỳ khủng hoảng lân của cây ngô Nếu thiếu lân giai ñoạn này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng ñến năng suất ngô Cây ngô hút nhiều lân nhất khoảng 62% tổng lượng lân ngô cần ở thời kỳ 6- 12 lá, sau ñó giảm ñi ở các thời kỳ sau
Kali ñược cây ngô hút mạnh ngay từ giai ñoạn ñầu Từ khi cây mọc cho ñến khi trỗ cờ hút khoảng 70% lượng kali cây cần Khi thiếu kali rễ cây ngô
có xu hướng ăn ngang nhiều hơn nên cây dễ ngã ñổ Các chóp lá khô dọc xuống mép lá rồi chuyển dần thành màu nâu Bắp ngô nhỏ, tỷ lệ ñuôi chuột cao, năng suất ngô thấp
Nghiên cứu ñánh giá ảnh hưởng vai trò của phân ñạm và S ñến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống ngô lai, tác giả Hussain và CS (1999), cho rằng sự cung cấp phân bón ở các mức 150 N + 30 S và 150 N + 20
S (kg/ha) làm tăng một cách tương ứng khối lượng chất khô/cây, số hạt/ bắp và khối lượng hạt/ bắp so với các xử lý khác Năng suất ngô ñạt cao nhất (5,59 tấn/ ha) ở công thức bón 150 N + 30 S (kg/ha)
Khi bón cho ngô với liều lượng: 40 kg N/ha năng suất thu ñược 12,11 tạ/ha; 80 kg N/ha năng suất thu ñược 15,61 tạ/ha; 120 kg N/ha năng suất thu ñược 32,12 tạ/ha; 160 kg N/ha năng suất thu ñược 41,47 tạ/ha; 200 kg N/ha năng suất thu ñược 52,18 tạ/ha
Lượng dinh dưỡng mà ngô hút như sau:
- Ngô lai năng suất 4,5 tấn/ha tổng lượng hút 115 kg N; 20 kg P2O5; 75
kg K2O; 9 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha
- Ngô ñịa phương năng suất 2,5 tấn/ha tổng lượng hút 65 kg N; 11 kgP2O5; 42 kg K2O; 5 kg Ca; 16 kg Mg; 12 kg S/ha
Trang 28Ở tỉnh Jinlin - Trung Quốc, bón 150 - 169 kg K2O tăng năng suất ngô từ 1,2 - 1,6 tấn/ha (tăng từ 12 - 21%) Ở tỉnh Liaoning, trên nền NP bón 112,5
kg K2O/ha tăng năng suất ngô từ 17,3 - 23,2%, bón 225 K2O/ha tăng năng suất ngô từ 20,1 - 26,2 % (Liang Xiaoling, 1998)
Ở Brazin, người nông dân áp dụng mức phân bón cho ngô ñể ñạt năng suất 160 tạ/ha là 485 kg N + 485 kg P205 + 510 kg K20 + 440 kg S + 1 kg B + 6,9 kg Zn
Ở Canada, ñể ñạt năng suất 184 tạ/ha, người ta bón phân cho ngô với
tỷ lệ 640 kg N + 240 kg P205 + 432 kg K20 + Ca + Mg + S + Zn + Mn + Cu +
B với mật ñộ từ 90.000 cây ñến 103.000 cây/ha
1.2.3 Tình hình nghiên cứu ngô ở Việt Nam
1.2.3.1 Tình hình nghiên cứu ngô lai ở Việt Nam
Giống ngô lai có ñặc ñiểm là năng suất cao, ñộ thuần cao ở hầu hết các tính trạng như chiều cao cây, ñộ ñóng bắp, kích thước bắp, màu sắc hạt, giữ ñược ổn ñịnh trong ñiều kiện ñất ñai thích hợp và kỹ thuật chăm sóc ñồng ñều Khả năng chống chịu các ñiều kiện bất thuận như hạn, úng, ñất xấu, thiếu phân bón thường thấp hơn các giống ngô thụ phấn tự do
Giống ngô lai có thể tạo ra ñược chia làm 2 loại là ngô lai không quy ước và ngô lai quy ước
- Các giống ngô lai không quy ước là giống ngô lai trong ñó ít nhất có một bố hoặc mẹ không thuần Giống ngô lai không quy ước ước gồm giống lai giữa giống, lai giữa dòng thuần với giống (lai ñỉnh), lai giữa các gia ñình, lai giữa một lai ñơn và một giống (lai ñỉnh kép) Trong các lai trên thì lai ñỉnh
và lai ñỉnh kép ñược sử dụng rộng rãi hơn Các giống lai không quy ước phổ biến hiện nay ở nước ta là LS4, LS5, LS6, LS8,
- Các giống ngô lai quy ước là những giống ngô lai các dòng tự phối thuần với nhau Ngô lai quy ước gồm các kiểu lai sau:
Trang 29Lai ựơn: là giống ựược tạo ra từ lai 2 dòng tự phối thuần (A x B) Các giống phổ biến hiện nay là DK888, LN10, LVN12, LVN20, LVN25, LVN4, P3011, P3012, Bioseed 9797, B06
Lai ba: là giống ựược tạo ra từ lai 3 dòng tự phối thuần (A x B) x C Các giống phổ biến hiện nay là Uniseed38, T1, LVN11, LVN17, T9
Lai kép: là giống tạo ra từ lai 4 dòng tự phối thuần (A x B) x (C x D) Các giống phổ biến hiện nay là P11, P60, B9681, LVN12, T3, T4, T5, T7ẦBộ NN&PTNN, 2007)
đây là các giống ngô lai có khả năng cho năng suất cao nhất nhưng ựòi hỏi ựiều kiện thâm canh tốt Trong các phép lai trên, lai ựơn thường ựược phát triển nhiều trên thế giới vì nó cho năng suất cao và ựồng ựều nhưng nó rất khó nhân dòng bố mẹ và sản xuất hạt lai (Nguyễn Văn Hiển, 2000)
Trong những năm gần ựây nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng cao, cùng với sự phát triển cao của nền chăn nuôi ựại công nghiệp ựòi hỏi một khối lượng lớn ngô dùng cho chế biến thức ăn gia súc Do ựó, diện tắch trồng ngô không ngừng ựược mở rộng và sản lượng không ngừng tăng lên
Phân theo diện tắch, nước ta có các nhóm giống sau: nhóm có diện tắch lớn hơn 10.000 ha là LVN10, CP888, CP999, C919, G49, P11, B9681, CP989; nhóm có diện tắch 5.000- 10.000 ha là LVN4, B9797, P60, 9698 và
3 Q Nù, Tẻ ựịa phương; nhóm có diện tắch 1.000- 5.000 ha là HQ2000, VN4, TSB1, NK46, LVN17, 9698 và 3Q Vàng, P848, LVN2, VN2, MX4, MX2, B9999
Với khả năng thắch nghi rộng, ngô lai ựã ựược trồng trên hầu hết các vùng sinh thái nông nghiệp nước ta Nếu như Việt Nam có 8 vùng nông nghiệp chắnh thì cả 8 vùng ựều trồng ựược ngô lai, tập trung chủ yếu ở ựồng bằng sông Hồng, Bắc Trung bộ, đông Nam bộ và Tây Nguyên Trong ựó vùng ựồng bằng sông Hồng là vùng có nhiều lợi thế ựể phát triển ngô lai, ựến
Trang 30năm 2004 diện tắch ngô lai chiếm 96,2% tổng diện tắch trồng ngô toàn vùng
và tập trung chủ yếu ở các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Bắc Giang,Ầ tỷ lệ sử dụng ngô lai ở các tỉnh này ựạt tới 95- 100%
Con người biết sử dụng ngô lai cách ựây gần 1 thế kỷ, ựể ựạt ựược những thành công như ngày nay quá trình phát triển ngô lại ựược chia làm ba thời kỳ (Nguyễn Thế Hùng, 2002)
Thời kỳ 1: từ lúc con người biết lợi dụng ưu thế lai trong chọn giống ngô (1900) kéo dài ựến những năm 1920 Giai ựoạn này do hiểu biết còn hạn chế, trình ựộ kinh tế kỹ thuật còn thấp, ngô lai tồn tại như một loại giống lai cải lương giữa các giống với nhau (giống ngô thụ phấn tự do OPV) đặc ựiểm của các giống ngô thời kỳ này là năng suất ựạt thấp 1,5-1,6 tấn/ha, hiệu quả sản xuất ngô không cao Ngô lai thời kỳ này chủ yếu ựược trồng ở Mỹ, các nước Châu Âu (Nguyễn Thế Hùng, 2002)
Thời kỳ 2: (1920-1960) đặcựiểm chắnh của thời kỳ này là nhờ các kết quả thu ựược trong quá trình chọn tạo dòng thuần, các giống lai kép ựược sử dụng rộng rãi Năng suất ngô tăng nhanh, vào cuối giai ựoạn, tại nước Mỹ năng suất bình quân 3 tấn/ha, nhờ trồng các giống lai kép, năng suất ngô ở nước Mỹ tăng trung bình 60 kg/ha/năm trong suốt thời gian dài khoảng 30 năm Giai ựoạn này ngô lai kép ựược sử dụng rộng rãi tại Mỹ, Canada, các nước Châu Âu và vùng đông Á
Thời kỳ 3: (từ 1960 ựến nay) Nhờ tác ựộng của các nghiên cứu mới và nhu cầu của sản xuất hàng hóa, hàng loạt giống ngô lai ựơn ra ựời, thay thế dần các giống ngô lai kép năng suất thấp, ựộ ựồng ựều kém Tại nước Mỹ nhờ
sử dụng các giống ngô lai mới, mức tăng năng suất ngô hàng năm tăng gấp hai lần thời kỳ trước, ựạt mức 118kg/ha/năm Cùng với việc tạo ra các giống ngô mới, ngô lai trở thành một loại hàng hóa quan trọng nhất trong sản xuất ngô, ựiều này kắch thắch các cơ sở nghiên cứu, các công ty tư nhân tham gia
Trang 31vào việc chọn tạo, phân phối hạt giống ngô lai, nhờ vậy ngô lai ñược sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới, với diện tích ngày càng lớn, ñem lại cho loài người lượng sản phẩm khổng lồ (Nguyễn Thế Hùng, 2002)
1.2.3.2 Tình hình nghiên cứu nhu cầu phân bón cho cây ngô ở Việt Nam
- Nghiên cứu về bón ñạm
ðối với cây ngô, ñạm là yếu tố dinh dưỡng quan trọng ñối với việc tạo năng suất và chất lượng ðạm tham gia tích cực vào quá trình sinh trưởng và phát triển của cây ngô Nhiều kết quả nghiên cứu ñã chỉ ra rằng cây ngô phản ứng rất rõ với yếu tố ñạm, nếu có ñủ ñạm cây ngô sinh trưởng khoẻ, lá xanh, cây mập.Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ có bón cân ñối NPK năng suất ngô mới ñạt cao và ổn ñịnh Nếu chỉ bón riêng phân ñạm thì năng suất ngô ñạt tương ñối khá ở 1 hoặc 2 vụ ñầu, các vụ sau năng suất giảm nhanh và rất thấp Các tổ hợp NP, NK cho năng suất khá hơn và sự suy giảm chậm hơn Khi bón cân ñối NPK thì năng suất ngô ñạt cao và ổn ñịnh suốt 28 vụ trồng ngô ñộc canh liên tục (Nguyễn Như Hà, 2006)
Một vài nghiên cứu gần ñây xem xét tỷ lệ phân ñạm tối ưu cho ruộng sản xuất hạt ngô chỉ ra rằng, lượng bón từ 56- 112 kg N/ha cho năng suất hạt
và chất lượng tốt nhất Một số loại phân bón vi lượng cũng rất quan trọng ñối với ngô như Mg cần thiết cho sự nảy mầm của cây ngô, Zn cần thiết cho quá trình hình thành hạt và Mo cần cho sự phát triển nội nhũ của cây ngô (Võ Minh Kha, 1996)
Những vùng ñất nghèo dinh dưỡng, ñạm là yếu tố quyết ñịnh chủ yếu ñến năng suất của cây Vì thế cần bổ sung ñạm bằng phân bón cho cây ñể ít nhất ñảm bảo ñược nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu (Cao ðắc ðiểm, (1998); Ngô Hữu Tình, (2003)
Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, Tạ
Trang 32Văn Sơn (1995)ựã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng ựồng bằng sông Hồng, thu ựược kết quả như sau:
- để tạo ra 1 tấn hạt, ngô lấy ựi từ ựất trung bình một lượng ựạm, lân, kali là: N = 22,3 kg; P2O5 = 8,2 kg; K2O = 12,2 kg
- Lượng NPK tiêu tốn ựể sản xuất ra 1 tấn ngô hạt là: N = 33,9 kg; P2O5 = 14,5 kg; K2O = 17,2 kg
- Tỉ lệ nhu cầu dinh dưỡng NPK là: 1: 0,35: 0,45
- Tỉ lệ N: P: K thay ựổi trong quá trình sinh trưởng phát triển như sau:
Bảng 1.4: Nhu cầu dinh dưỡng của cây ngô trong giai ựoạn sinh trưởng (%)
Nguồn: Tạ Văn Sơn (1995)
Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu của nước ngoài và thể hiện rõ là hút kali ựược hoàn thành sớm trước phun râu, còn các chất dinh dưỡng khác như ựạm và lân còn tiếp tục ựến lúc ngô chắn
Theo tác giả Ngô Hữu Tình (1997), trên ựất phù sa sông Hồng tỷ lệ nhu cầu dinh dưỡng của N, P, K cho cây ngô ựạt năng suất cao là 1 : 0,35 : 0,45
và liều lượng bón phân cho năng suất cao là: 180 N Ờ 60 P2O5 Ờ 120 K2O; ở Duyên hải miền Trung: 120 N Ờ 90 P2O5 Ờ 60 K2O; miền đông Nam bộ: 90 N Ờ 90 P2O5 Ờ 30 K2O
Theo Nguyễn Văn Bộ (2007), lượng phân bón khuyến cáo cho ngô phải tuỳ thuộc vào ựất, giống ngô và thời vụ Giống có thời gian sinh trưởng dài hơn, có năng suất cao hơn cần phải bón lượng phân cao hơn đất chua phải bón nhiều lân hơn, ựất nhẹ và vụ gieo trồng có nhiệt ựộ thấp cần bón nhiều kali hơn Liều lượng khuyến cáo chung cho ngô là:
Trang 33+ đối với giống chắn sớm:
- Trên ựất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kgP2O5 ; 60 - 90 kg K2O/ha
- Trên ựất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 120 - 150 kg N; 70 - 90 kg
P2O5;100 - 120 kg K2O/ha
+ đối với giống chắn trung bình và chắn muộn:
- Trên ựất phù sa: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kgP2O5 ; 80 - 100 kg K2O/ha
- Trên ựất bạc màu: 8 - 10 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 70 - 90 kg
P2O5 ; 120 - 150 kg K2O/ha
Theo Trần Hữu Miện (1987)thì trên ựất phù sa sông Hồng lượng phân bón phù hợp là: 120 N Ờ 90 P2O5 Ờ 60 K2O cho năng suất 40 - 50 tạ/ha; 150
N Ờ 90 P2O5 Ờ 100 K2O cho năng suất 50 - 55 tạ/ha; 180 N Ờ 90 P2O5 Ờ 100
K2O cho năng suất 65 - 75 tạ/ha
Theo Phạm Kim Môn (1991), với ngô đông trên ựất phù sa sông Hồng liều lượng phân bón thắch hợp là: 150 - 180 kg N; 90 kg P2O5; 50 - 60 kg
K2O/ha
Tác giả Vũ Cao Thái cũng cho rằng liều lượng và tỷ lệ phân bón cho ngô khác nhau trên các loại ựất khác nhau Theo ông, trên ựất phù sa nên bón 120
kg N - 60 kg P2O5 - 90 kg K2O/ha, tỷ lệ N:P:K là 1:0,5:0,75 Trên ựất xám bạc màu bón 100 kg N - 100 kg P2O5 - 150 kg K2O/ha với tỷ lệ là 1:1:1,5
Theo Viện Khoa học Nông nghiệp miền Nam, liều lượng phân bón cho
1 ha ngô ở vùng đông Nam bộ và Tây Nguyên là: 120 kg N - 90 kg P2O5 - 60
kg K2O cho vụ hè thu, còn vụ thu ựông (vụ 2) có thể tăng lượng K2O lên 90
kg (dẫn theo Ngô Hữu Tình, 2003)
Theo Nguyễn Văn Bào (1996), liều lượng phân bón thắch hợp cho ngô
ở các tỉnh miền núi phắa Bắc (Hà Giang) là 120 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kg
Trang 34K2O/ha cho các giống thụ phấn tự do và 150 kg N - 60 kg P2O5 - 50 kg
K2O/ha cho các giống lai
Theo Lê Quý Tường và Trần Văn Minh, lượng phân bón thắch hợp cho ngô lai trên ựất phù sa cổ ở duyên hải Trung bộ trong vụ ựông xuân là 10 tấn phân chuồng + 150-180 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ lệ NPK là 1,7:1:0,7 hoặc 2:1:0,7), tiêu tốn lượng ựạm từ 22,6 - 28,8 kg N/1 tấn ngô hạt;
vụ hè thu bón 10 tấn phân chuồng + 150 kg N + 90 kg P2O5 + 60 kg K2O/ha (tỷ
lệ NPK là 1,7:1:0,7), tiêu tốn lượng ựạm từ 27,9 - 28,4 kg N/1tấn ngô hạt (dẫn theo Trần Văn Minh, 2004)
Bón phân vô cơ kết hợp phân hữu cơ cho ngô ựã làm tăng năng suất ngô
và giúp cải thiện ựộ phì trong ựất Theo Bùi đình Dinh (1988, 1994) ựể ựảm bảo cho cây trồng có năng suất cao, ổn ựịnh, bón phân hữu cơ chiếm 25% tổng số dinh dưỡng, còn 75% phân hoá học (Bùi đình Dinh, 1999)
Bón cân ựối ựạm - kali có hiệu lực cao hơn nhiều so với lúa Bội thu do bón cân ựối (trung bình của nhiềuliều lượng ựạm) có thể ựạt 33 tạ/ha trên ựất phù sa sông Hồng; 37,7 tạ/ha trên ựất bạc màu; 11,7 tạ/ha trên ựất xám và 3,9 tạ/ha trên ựất ựỏ vàng Xét về hiệu quả kinh tế thì bón phân cân ựối cho ngô trên ựất bạc màu, ựất xám có lãi hơn nhiều so với ựất phù sa và ựất ựỏ vàng (Nguyễn Văn Bộ, 2007)
Theo tác giả Bùi Huy Hiền (2002), từ năm 1985 ựến nay tình hình sử dụng phân ựạm ở nước ta tăng trung bình là 7,2%/năm, phân lân là 13,9%/năm, phân kali là 23,9%/năm Tổng lượng N + P2O5 + K2O trong 15 năm qua tăng trung bình 9,0%/năm Tỷ lệ N : P2O5 : K2O trong 10 năm qua
ựã cân ựối hơn với tỷ lệ tương ứng qua các năm 1990, 1995 và 2000 là 1 : 0,12 : 0,05; 1 : 0,46 : 0,12 và 1 : 0,44 : 0,37 Lượng phân bón/ha cũng ựã tăng lên qua các năm 1990, 1995, 2000 với tổng lượng N : P2O5 : K2O tương ứng là 58,7; 117,7 và 170,8 kg/ha, tỷ lệ này còn thấp so với các nước
Trang 35phát triển như Mỹ, Hàn Quốc, Pháp, Nhật với tổng lượng N : P2O5 : K2O khoảng 240 - 400 kg/ha
Theo Vũ Hữu Yêm (1995), ảnh hưởng của bón ựạm như sau: Không bón năng suất ựạt 40 tạ/ha; bón 40 kg N năng suất ựạt 56,5 tạ/ha; bón 80 kg N năng suất ựạt 70,8 tạ/ha; bón 120 kg N năng suất ựạt 76,2 tạ/ha; bón 160 kg N năng suất ựạt 79,9 tạ/ha
Trên ựất phù sa cổ, ựối với giống ngô lai LVN4 bón ựạm ở các liều lượng nền 1 + 150 N, nền 1 + 180 N, nền 1 + 210 N ựều làm năng suất hơn ựối chứng 1 (không bón phân) từ 26,64 - 32,48 tạ/ha trong vụ đông Xuân và 28,43 - 30,98 tạ/ha trong vụ hè thu Lượng ựạm tăng từ 120 Ờ 210 N thì năng suất ngô cũng tăng theo, nhưng hiệu quả kinh tế cao nhất là bón 10 tấn phân chuồng + 150 N + 90 P2O5 + 60 K2O/ha (Lê Quý Tường và CS, 2001)
Hiệu quả của phân bón chỉ có thể phát huy ựầy ựủ khi có chế ựộ phân bón hợp lý, bón cân ựối giữa các nguyên tố Bón phân cho ngô ựể ựạt hiệu quả kinh tế cao phải căn cứ vào ựặc tắnh của loại giống ngô, yêu cầu sinh lý của cây ngô qua các thời kỳ sinh trưởng, tình trạng của cây trên ựồng ruộng, tắnh chất ựất, ựặc ựiểm loại phân bón, kỹ thuật trồng trọt và ựiều kiện khắ hậu thời tiết Nghiên cứu về phân bón cho ngô trên ựất bạc màu, Nguyễn Thế Hùng (2002)ựã chỉ ra rằng phân N có tác dụng rõ ựối với ngô trên ựất bạc màu, song lượng bón tối ựa là 225 kg/ha, ngưỡng bón N kinh tế là 150 kg/ha trên nền cân ựối P - K
Kết quả nghiên cứu của Lê Quý Kha (2001) ựã cho thấy, mặc dầu trong ựiều kiện ắt có khả năng ựầu tư ựạm và thiếu nước, vắ dụ như nhờ nước trời, tốt hơn hết vẫn phải chia nhỏ lượng ựạm làm nhiều lần ựể bón thì hiệu quả
sử dụng ựạm của cây ngô mới cao Vai trò của lân ựối với sự sống có một nghĩa lớn vì lân tồn tại trong tế bào của ựộng thực vật, nó có trong nhân tế bào, enzim, vitamin Lân tham gia vào việc tạo thành và chuyển hoá hidrat
Trang 36Cacbon, chất chứa nitơ, tắch luỹ năng lượng tế bào sống Lân còn ựóng vai trò quan trọng trong hô hấp và lên men Hiệu lực phân lân ựối với ngô bội thu 8 - 10 kg ngô hạt/kg P2O5, trong nhiều trường hợp hiệu lực lân không
rõ hoặc làm giảm năng suất do kỹ thuật bón không phù hợp hoặc nhất là lượng bón lân quá cao so với lượng ựạm hoặc bón không kèm kali (Nguyễn Văn Bộ, 1993)
Kali có khả năng ựiều khiển quá trình thẩm thấu nước vào tế bào, cây nên liên quan ựến hút khoáng Kali còn có khả năng ựiều khiển ựóng mở của khắ khổng liên qua ựến khả năng quang hợp Làm tăng tắnh cứng cho thân Làm tăng khả năng chống chịu rét cho cây Kali là nguyên tố có vai trò quan trọng bậc nhất ựến dòng vận chuyển hợp chất hữu cơ huy ựộng từ lá về cơ quan kinh tế nên liên quan trực tiếp ựến năng suất kinh tế (Nguyễn Văn Bộ, 1993)
Theo Nguyễn Vy (1998), Vũ Hữu Yêm và CS (1999), trên ựất phù sa Sông Hồng hiệu lực phân kali tăng dần chứng tỏ việc trồng ngô liên tục trong ựất phù sa trong ựê làm ựất kiệt dần kali Ngô rất cần bón kali, kali trong ựất rất linh ựộng, ựất trồng ngô liên tục thường bị thiếu, bởi kali có mặt chủ yếu trong thân, lá ngô sẽ bị lấy ựi khi người dân thu hoạch cây ra khỏi ruộng Trên ựất bạc màu ngô rất cần bón kali, bón ựến 150 kg/ha hiệu suất vẫn còn cao Trên ựất bạc màu, không bón kali, cây trồng chỉ hút ựược 80 - 90 kgN/ha trong khi ựó bón kali làm cây trồng hút ựược tới 120 - 150 kg N/ha (Nguyễn Văn Bộ, 2007)
Theo tác giả đỗ Tuấn Khiêm (1996), thắ nghiệm ở vùng đông Bắc cho thấy sử dụng các chế phẩm phân bón sinh học như Komix BFC, Thiên Nông, Agrofil có tác dụng làm tăng năng suất ngô từ 8 - 14%
Theo Nguyễn Tất Cảnh, ựề tài nghiên cứu sử dụng phân viên nén trong thâm canh ngô trên ựất dốc tại tỉnh Sơn La, làm tăng năng suất 17% ựối với sản xuất ngô giống và tăng 11% ựối với ngô thương phẩm
Trang 37Theo hướng dẫn của Cục Trồng trọt (2006) ñể ñạt năng suất ngô trên 7 tấn/ha ở các tỉnh miền Bắc, thì lượng phân bón như sau:
- ðối với loại ñất tốt: 10 - 15 tấn phân chuồng; 150 - 180 kg N; 100 - 120
Theo Phạm Sỹ Tâm (Viện Lúa ñồng bằng sông Cửu Long), hiện nay, các nhà khoa học ñang tập trung chủ yếu nghiên cứu và ñề xuất hướng nghiên cứu ñể làm tăng hiệu quả của sử dụng phân bón cho cây trồng theo phương pháp như:
- Sử dụng phân urê chậm tan
- Dùng các chất phụ gia bọc urê ñể ngăn không cho urê tan nhanh trong nước
- Dùng urê viên bón chôn sâu trong ñất ñể giảm thiểu bốc hơi amonia
- Dùng các chất ức chế men ureaza hoạt ñộng ñể hạn chế thất thoát do bốc hơi amoniac
- Dùng các chất ức chế vi sinh vật phản nitrat hoá hoạt ñộng ñể hạn chế thất thoát nitrat trong ñất
- Bón chia nhỏ ra làm nhiều lần, mỗi lần bón một lượng nhỏ cho cây sử dụng triệt ñể sẽ hạn chế sự thất thoát
Một trong các hướng ñó là dựa theo nguyên lý: phân ñược giải phóng chậm (CRN) có tác dụng thúc ñẩy tối ña sinh trưởng và làm giảm sự mất ñạm
ñã ñược nghiên cứu nhiều trong hai thập kỷ gần ñây
Trang 38- Nghiờn cứu về phõn bún lỏ cho ngụ
Thụng thường bộ rễ của cõy làm nhiệm vụ hỳt nước và hỳt khoỏng là chớnh song lỏ cũng ủúng vai trũ quan trong trong việc hấp thu chất dinh dưỡng thụng qua khớ khổng và cỏc lỗ siờu nhỏ trờn tầng cutin của lỏ nhưng cơ bản hấp thu dinh dưỡng qua lỏ là quỏ trỡnh hấp thu bị ủộng Cõy trồng cú tổng diện tớch bề mặt lỏ tiếp xỳc với cỏc chất dinh dưỡng cao gấp 8 – 10 lần diện tớch tỏn cõy che phủ Vỡ vậy, cõy trồng cú khả năng hấp thu chất dinh dưỡng qua lỏ rất cao (ủạt 90 – 95%), trong khi nếu bún qua ủất cõy chỉ sử dụng ủược
40 – 45% lượng phõn bún
Tuy nhiờn, sự hấp thu cỏc nguyờn tố khoỏng dưới dạng ion từ dung dịch gặp khú khăn hơn vỡ tầng cutin của lỏ cản trở Tầng cutin này cú thể dày, mỏng khỏc nhau thay ủổi theo từng loại cõy cũng như tuổi của cõy Cỏc ion khoỏng cú khả năng xõm nhập qua lỗ siờu nhỏ trờn tầng cutin, ủường kớnh cỏc
lỗ này lớn hơn 1nm và mật ủộ cỏc lỗ rất cao 1010 lỗ/dm2 lỏ, những phõn tử cú kớch thước lớn như ure, chất hữu cơ qua lỗ siờu nhỏ này khú khăn hơn Nhỡn chung cỏc cation qua cỏc lỗ nhỏ này theo gradient nồng ủộ hấp thu mạnh hơn cỏc anion (NH4+ hấp thu tốt hơn N03- , hay Mg2+, K+> cỏc anion)
Chất dinh dưỡng đi vào lá nhiều hay ít phụ thuộc vào tốc độ thâm nhập, vào tốc độ khô của dinh dưỡng trên mặt lá và khả năng tan lại của các muối khoáng trên mặt lá
Tốc độ thấm qua của dung dịch dinh dưỡng vào lá là do thành phần của muối, nồng độ của dung dịch và tuổi lá quyết định, phạm vi biến đổi là rất lớn, cùng là một nguyên tố, nhưng tốc độ thấm qua lá sẽ không giống nhau nếu chúng ta sử dụng ở các dạng khác nhau Gần đây, trong sản xuất người ta áp dụng phổ biến phương pháp dinh dưỡng ngoài rễ, chủ yếu là bằng cách phun lên lá Phương pháp này có những ưu điểm sau:
+ Tiết kiệm được phân;
+ Tiết kiệm được nhiên liệu;
Trang 39+ Tiết kiệm được thời gian và sức lao động
Thường phun vào lúc cây còn non khi màng lớp cutin chưa thật phát triển, hoặc vào lúc cây sắp đạt được cường độ cực đại của quá trình trao đổi (Vũ Quang Sỏng và CS, 2007)
Thực tế cho thấy, khi sử dụng phân bón qua lá giúp cây sinh trưởng, phát triển tốt, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện thời tiết bất thuận ðặc biệt, bón phân qua lá giúp cây mau chóng phục hồi, đồng thời cho hiệu quả kinh tế trên đơn vị diện tích cao hơn bón vào đất hoặc không bón Việc bón phân qua lá cần tiến hành thường xuyên nhất là giai đoạn khi cây bắt
đầu ra nụ đến nở hoa Việc bón phân qua lá giúp cây sinh trưởng ổn định, chắc khỏe, ít sâu bệnh và cho năng suất cao hơn (Nguyễn Văn Uyển, 1995) Việc
sử dụng phân bón lá đang ngày càng phổ biến trong nền nông nghiệp việt Nam, bởi nó làm tăng năng suất và chất lượng cây trồng Các loại phân bón lá hiện nay rất đa dạng và phong phú, bao gồm các loại phân khoáng đa lượng,
vi lượng, chất kích thích sinh trưởng thực vật hoặc loại phân hỗn hợp nhiều thành phần, giúp cây trồng có khả năng hấp thu, đồng hóa các chất dinh dưỡng .(Hoàng Minh Tấn, Nguyễn Quang Thạch, 1993) Các nguyên tố vi lượng chỉ chiếm 0,05% vật chất sống của cây, nhưng nó lại đóng vai trò sinh
lý đặc biệt quan trọng trong cây (Hoàng Đức Cự và Cs, 1995) Các nguyên tố
vi lượng có vai trò quyết định đối với cây trồng là hoạt hóa hệ thống enzym Nguyên tố vi lượng làm thay đổi đặc tính lý hóa của nguyên sinh chất như làm thay đổi độ nhớt và khả năng thủy hóa của keo nguyên sinh chất nên ảnh hưởng đến tốc độ và chiều hướng các phản ứng hóa sinh Nguyên tố vi lượng
có khả năng làm thay đổi tính chống chịu của cây với các điều kiện bất thuận của môi trường như chịu hạn, chịu nóng, chịu lạnh, chịu sâu bệnh (Hoàng Minh Tấn và cs, 2006) Để bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡng cho cây trồng ngoài phương pháp bón hữu cơ, phân chuồng kết hợp với các phân khoáng Người ta còn áp dụng phương pháp bón phân qua lá để tạo điều kiện cho cây
Trang 40trồng hấp thu dinh dưỡng dễ dàng và sinh trưởng phát triển tốt Phân bón qua lá được chia làm 2 dạng chính:
+ Sử dụng các chất sinh trưởng giúp cây tăng trưởng, từ đó tăng khả năng hấp thu các chất dinh dưỡng đa lượng
+ Không chứa các chất sinh trưởng mà chỉ dựa vào các nguyên tố vi lượng, đa, trung lượng được phối trộn theo một tỷ lệ hợp lý giúp cây trồng sinh trưởng phát triển tốt
Bón phân qua lá là một giải pháp chiến lược an toàn dinh dưỡng cây trồng, khả năng hấp thu dinh dưỡng qua lá được phát hiện vào đầu thế kỷ XIX bằng phương pháp đồng vị phóng xạ cho thấy cây trồng ngoài bộ phận lá, các bộ phận khác như thân cành đều có thể hấp thụ được dinh dưỡng Mặt khác diện tích lá của cây bằng 15-20 lần diện tích đất do lá che phủ, do đó cây được nhận dinh dưỡng bằng phun qua lá nhiều hơn là bón qua đất Biện pháp bón phân qua lá là một biện pháp có tính chiến lược của ngành nông nghiệp Nếu xét về khía cạnh bền vững, lành mạnh môi trường thì phân vi sinh, phân hóa sinh hữu cơ bón qua lá, các phân tương tự khác được khuyến khích nghiên cứu và đưa vào sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa lớn trong lịch
sử phát triển nền nông nghiệp bền vững (Viện nghiờn cứu ngụ, 2007)
* Tỡnh hỡnh sử dụng phõn bún cho cõy ngụ trờn thế giới và Việt Nam
Trong lịch sử nụng nghiệp thế giới, cỏc hệ thống nụng nghiệp khỏc nhau,
do trỡnh ủộ thõm canh khỏc nhau mà chủ yếu là do khả năng bồi dưỡng ủất khỏc nhau ủó cho năng suất khỏc nhau
Sang thế kỷ XX, nền nụng nghiệp hiện ủại nhờ sự phỏt triển của cụng nghệ sản xuất phõn húa học ủó khiến cho năng suất tăng gấp ủụi so với năng suất của nền nụng nghiệp truyền thống, chỉ dựa vào chăn nuụi
Từ năm 2003 - 2008 nhu cầu sử dụng phõn bún trờn thế giới duy trỡ ở mức ổn ủịnh vỡ thế nguồn phõn bún của thế giới vẫn cú thể cung cấp ủủ cho cỏc nước trờn thế giới ủến năm 2013 Năm 2008, tổng lượng phõn bún ủược