Phát triển KCN, KCX ở vùng KTTĐ phía Bắc khá thành công về thu hút vốn đầu tư và lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRAN HONG KY
PHAT TRIEN KHU CONG NGHIEP, KHU CHE XUAT GAN VOI HINH THANH, PHAT TRIEN DO THI CONG NGHIEP: KINH NGHIEM MOT
SỐ NƯỚC CHAU A VA VAN DUNG VAO VIET NAM
Chuyên ngành : Kinh tế Thế giới và Quan hệ Kinh tế quốc tế
Mã số : 62.3107.01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SỸ KINH TẾ
Hà Nội-2008
Trang 2
Công trình hoàn thành tại: Viện Kinh tế và Chính trị Thế giới thuộc Viện
Khoa hoc Xa hoi Viet Nam
Người hướng dẫn khoa học:
1.PGS TS Trần Quang Lâm
2 TS Nguyễn Trần Quế
Phản biện 1:GS.TS Đỗ Đức Bình
Phản biện 2: GS.TS Hoàng Văn Châu
Phản biện 3: TS Nguyễn Lê Trung
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp nhà nước, họp tại
vào hồi 08 giờ 30 ngày 04 tháng 5 năm 2008
Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện Quốc Gia và Thư viện Viện Kinh tế và
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ
CÓ LIÊN QUAN CỦA TÁC GIÁ LUẬN ÁN
1 Trần Hồng Kỳ (2001) “Giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam”, Luận án Thạc sỹ kinh tế
2.Trần Hồng Kỳ (2002) “Vẻ chiến lược phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam”, 1ïểm năng Việt Nam thế kỷ XAI, Nxb Thế giới Hà
Nội tr 251-257
3.Tran Hong Ky (2002) “Lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất và vấn đề di chuyển lao động”, Tạp chí Kinh tế dự báo, số 345 Hà Nội tr
15-16
4.Tran Hong Ky 2004) “Toa nha cong nghiép mo hinh thích hợp cho thành phố đông dân”, Kỷ yếu hội thảo khoa học: Phái triển khu công nghiệp, khu chế xuất ở các tỉnh Phía Bắc: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ươne, Tạp chí Cộng sản, Uỷ ban
nhân dân tỉnh Thanh Hoá (2004) Hà Nội tr.90 -92
5.Trần Hồng Kỳ (2006) “ Kết hợp phát triển vườn ươm với phát triển khu công
nghiệp, khu chế xuất”, Tạp chí Kinh tế dự báo, số 396 Hà Nội Tr 64-65
6.Tran Hong Kỳ (2006) ”Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và giải pháp phát
triển nhà ở và các tiện ích công cộng phục vụ người lao động làm việc tại
các khu công nghiệp ở các vùng kinh tế trọng điểm”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Kế hoạch và đầu tư ( Chủ nhiệm đề tài)
Trang 3KCX, KKT, tác giả đã phân tích vai trò và tác động của KCN, KCX như là một
cực phát triển trong việc hình thành và phát triển ĐTCN KCN, KCX đóng vai trò
là cực hút vốn đầu tư, lao động và làm thay đổi kết cấu hạ tầng kinh tế khu vực
cũng như chuyển đổi và sử dụng đất đai có hiệu quả Từ đó đã hình thành, phát
triển các ĐTCN, đặc biệt là ở những khu vực mới phát triển
Trên cơ sở phân tích, đánh gia việc xây dựng đặc KKTT ở Trung Quốc, KCN
ở Thái Lan và Ma-lai-xi-a cho thấy bằng việc phát triển KCN, KKT, các nước này
đã thu hút một lượng vốn đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, kinh tế khu vực
tăng trưởng mạnh mẽ, thu hút một lượng lao động lớn và làm thay đổi mạnh mẽ
khu vực xây dựng KCN, KCX Nhờ đó, sau một thời gian, khu vực phát triển các
KCN, KCX, KKT đã trở thành những ĐTCN hay mở rộng và phát triển đô thị hiện
hữu theo hướng ĐTCN Đồng thời, việc phát triển KCN, KKT cũng tạo nên
khoảng cách phát triển giữa các vùng, gây nên những khó khăn về xã hội do di cư
lao động và ô nhiễm môi trường, môi sinh Qua quá trình phát triển KKT, KCN,
KCX, khu thương mại tự do cho thấy vai trò quan trọng của công tác quy hoạch,
của nhà nước trong việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầne, đầu tư các dự án trọng
điểm cùng với những chính sách về ưu đãi và quản lý, bên cạnh đó, còn cho thấy
rõ vai trò của các cực đã phát triển tác động quan trọng đến phát triển KCN, KCX
và sự hình thành cực tăng trưởng
Luận án đã chỉ ra những thành tựu quan trọng về phát triển KCN, KCX ở
Việt Nam trong thời gian quavà phân tích những tác động, ảnh hưởng của việc
phát triển KCN, KCX tới hình thành, phát triển ĐTCN cũng như chỉ ra những hạn
chế của nó trong việc hình thành, phát triển
Trên cơ sở đó, Luận án đã đưa ra và phân tích các bài học có thể vận dụng
vào Việt Nam trong việc phát triển KCN, KCX dé hình thành và phát triển các
ĐTCN trong giai đoạn tới Một trong những bài học quan trọng đối với Việt Nam
là tầm quan trọng của KCN đối với việc hình thành và phát triển ĐTCN cần được
thể hiện trong công tác quy hoạch phát triển vùng, quy hoạch đô thị, quy hoạch
phát triển KCN Bên cạnh đó là những bài học về vai trò của nhà nước trong việc
đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình trọng điểm, xây dựng chính sách và vấn đề
bảo vệ môi trường
Việt Nam là quốc gia đang thực hiện công cuộc CNH, HĐH với những điều
kiện xuất phát khá giống với Trung quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, vì vậy, để sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển đất nước, việc vận dụng các kinh
nghiệm của các quốc gia đi trước trong phát triển KCN, KCX để hình thành, phát
triển ĐTCN là cần thiết và hữu ích Những kinh nghiệm này cũng có thể áp dụng
vào cho việc phát triển các mô hình khu kinh tế tương tự khác như khu công nghệ
cao, khu du lịch, khu đại học
24
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình công nghiệp hoá, hầu hết các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước có điểm xuất phát từ nông nghiệp lạc hậu, đều thực hiện chương trình phát triển công nghiệp tập trung thông qua việc phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX), khu kinh tế (KKTT), khu thương mai
tự do Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a và nhiều nước đã khá thành công phát triển KCN, KCX, KKT về thu hút vốn đầu tư, tạo việc làm, tập trung phát
triển công nghiệp, tăng trưởng kinh tế, phân bố lực lượng sản xuất, dân cư Quá
trình phát triển này ở các nước trên cũng cho thấy việc xây dựng các loại hình khu này kéo theo những biến đổi kinh tế-xã hội, cơ cấu kinh tế, di dân, lan toả
và hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật-xã hội của một khu vực Từ đó đã thúc đẩy
sự hình thành, phát triển các đô thị công nghiệp (ĐTCN)
Ở Việt Nam, KCN, KCX, KKT ra đời cùng với chính sách đổi mới mở
cửa do Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 khởi xướng Nghị quyết Hội nghị
đại biểu giữa nhiệm kỳ khoá VII năm 1994, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII
năm 1996, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Dang
khoá VIII cũng đã chỉ rõ chủ trương, mục tiêu và định hướng phát triển các KCN, KCX, KKT trong cdc giai doan.Trong 15 nam qua, phat trién KCN, KCX, KKT ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn lao, tuy nhiên, xét về
khía cạnh hình thành, phát triển DTCN cho thấy còn nhiều bất cập từ quy hoạch, đầu tư, xây dựng cơ chế, chính sách đến quản lý nhà nước
Vì vậy việc nghiên cứu đề tài “ Phát triển KCN, KCX gắn hình thành, phái triển đô thị công nghiệp: kinh nghiệm một số nước Châu Á và vận dụng
vào Việt Nam” không chỉ đáp ứng đòi hỏi yêu cầu cấp thiết thực tiễn phát triển
KCN, KCX, KKT ở Việt Nam hiện nay mà còn góp phần bổ sung những lý luận về phát triển KCN, KCX, KKT trong quá trình thực hiện CNH
2.Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
Trong thời gian qua, ở Việt Nam, đã có nhiều công trình, nhiều luận án tiến sỹ và một số cuốn sách nghiên cứu cả về học thuật và tổng kết thực tiễn liên quan đến KCN, KCX, KKT Hầu hết các công trình này đều tập trung vào việc đánh giá hoạt động, vai trò, hiệu quả, thu hút đầu tư nước ngoài, cơ cấu ngành nghề, tổ chức quản lý nhà nước, xây dựng quy hoạch chỉ tiết, đầu tư xây dựng hạ tầng Điển hình là các công trình “Kinh nghiệm thế giới về phát triển KŒX và đặc KKT” ( Viện Kinh tế học, 1994);“ Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với KCX ở Việt Nam” (Nguyễn Xuân Trình, Luận án tiến sỹ kinh tế, 1994); “Đặc KKT trong chiến lược phát triển kinh tế quốc gia ”( Nguyễn
Thường Sơn, Luận án tiến sỹ kinh tế chính trị, 1996; “ Mô hình đặc KKT của
1
Trang 4Trung Quốc và những bài học cho phái triển đặc KKT ở Việt Nam "(Bạch Minh
Huyền, Phạm Mạnh Cường, 1998); “Giải pháp hoàn thiện chính sách phái triển
KCN, KCX ở Việt Nam” (Trần Hồng Kỳ, Luận án thạc sỹ quản trị kinh doanh
quốc tế, 2001); “Nghiên cứu mô hình tổ chức quản lý nhà nước KCN và KCX ở
Việt Nam” (Lê Công Huỳnh, Trần Hồng Kỳ, Vũ Văn Thái, Nguyễn Minh Sang,
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bộ Kế hoạch và Dau tư, 2002 Tuy nhiên,
chúng tôi thấy chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về phát triển KCN,
KCX, KKT gắn với việc hình thành, phát triển ĐTCN
3 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của luận án
Mục đích của Luận án:
Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của KCN, KCX, KKT ở Trung
Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a trong việc hình thành va phát triển ĐTCN Trên cơ
sở đó rút ra những bài học kinh nghiệm để vận dụng vào Việt Nam
Nhiệm vụ:
-Luận giải một số vấn đề lý luận và thực tiễn về KCN, KCX, KKT trong
quá trình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH), hình thành và phát triển
ĐTCN Trên cơ sở lý luận về CNH, HĐH và các lý thuyết liên quan, phân tích
tác động và vai trò của các khu này đến việc hình thành, phát triển ĐTCN
- Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển đặc KKT ở Trung Quốc, KCN
ở Thái Lan, Ma-lai-xi-a và Việt Nam gắn với hình thành, phát triển ĐTCN, Luận
án đưa ra những kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các KKT KCN, KCX
Phạm vi nghiên cứu của luận án giới hạn trong việc nghiên cứu về xây
dựng các KCN, KCX, KKTT ở Trung Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a và Việt Nam
gắn với việc hình thành, phát triển ĐTCN
4 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án là quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về mở cửa, hội nhập, CNH, HĐH
và phát triển KCN, đô thị ở Việt Nam
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, kết hợp lôgIc với lịch
sử, tác giả sử dụng các phương pháp thống kê và xử lý số liệu, tổng hợp, phân
tích hệ thống, mô tả, chứng minh và so sánh để nghiên cứu và trình bày các vấn
đề đặt ra
5 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án
Về lý luận:
- Khang định việc phát triển KCN, KCX, KKT như là cực tăng trưởng đối
với phát triển kinh tế, lãnh thổ, đặc biệt là nền kinh tế đang trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá như Việt Nam
2
3.3.5.Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi đủ sức hấp dẫn, phù hợp nhằm nhanh chóng phát triển KCN, KCX, KKT tạo tiền đề cho việc hình thành, phát triển DTCN
Việt Nam cần phải xây dựng chính sách ưu đãi theo hướng 1) Uu dai cao
cho các KCN, KCX, KKT ở những vùng cần thiết phải phát triển ; 2) Ưu đãi
cho công nghệ cao, mới, kiểm soát và bảo vệ môi trường làm cơ sở cho việc phát triển một thành phố công nghiệp sạch, hiện đại, bên ving; 3) Uu dai cho
các dự án đầu tư cơ sé ha tang; va 4) Tao điều kiện cho các nhà đầu tư yên tâm
đầu tư lâu dài như chính sách về đất đai, nhà ở (mua nhà lâu dai, chuyển
nhượng quyền sử dụng đất )
3.3.6 Sử dụng đất tạo vốn đầu tư và mở rộng thị trường bất động sản cho
các nhà đầu tư Trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất và được đầu tư các công trình hạ tầng
quan trọng cho nhà đầu tư trone nước và nước ngoài được tham đấu giá, mua
quyền sử dụng đất ở các khu này để thu vốn đầu tư phát triển các công trình cơ
sở hạ tầng và đất đai; cho phép các nhà đầu tư được kinh doanh bất động sản,
mua, bán, sở hữu nhà
3.3.7 Xây dựng cơ chế quản lý hợp lý đảm bảo cho sự phát triển KCN, KCX, KKT thuận lợi để thúc đẩy hình thành, phát triển ĐTCN
Xây dựng một cơ quan quản lý đầu tư chung cho các nguồn vốn đầu tư ở cấp tỉnh với cơ chế phối hợp thích hợp giữa các co quan
3.3.8 Chú trọng đến kiểm soát, bảo vệ môi trường nhằm đảm bảo cho sự
phát triển lâu dài của ĐTCN
Các KCN, KCX cần được bố trí tại những địa điểm thích hợp và có vùng
đệm cây xanh cách ly, được xây dựng các nhà máy xử lý nước thải tập trung Đối với nơi tập trung nhiều KCN, cần có quy hoạch khu vực xử lý chất thải rắn, chất thải độc hại Khuyến khích công nghệ sạch, xây dựng chế tài, tiêu chuẩn
về môi trường, khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn các nước tiên tiến
KẾT LUẬN
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xu thế tất yếu của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước có xuất phát điểm từ một nước nông nghiệp lạc hậu Các nước này thực hiện ƠNH, HĐH trong bối cảnh thiếu vốn, công nghệ, tích luỹ nội bộ nền kinh tế thấp và điều kiện cơ sở hạ tầng kinh tế còn thấp kém
Chính vì vậy, họ đã sử dụng mô hình phát triển tập trung công nghiệp vào một
khu vực nhất định được đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tốt và có những ưu đãi
vượt trội cùng chính sách quản lý riêng biệt, thuận lợi
Trong luận án này, trên cơ sở lý luận và thực tiễn về KCN, KCX, KKT,
lý luận cơ bản về CNH, HĐH và các lý thuyết liên quan đến phát triển KCN,
23
Trang 5Một là, Hài hoà với phát triển vùng, lãnh thổ, ĐTCN, sử dụng hiệu quả,
phân bố hợp lý các nguồn lực, giảm thiểu chênh lệch vùng
Hai là, Thực hiện tốt công tác quy hoạch và triển khai, phối hợp thực
hiện tốt các quy hoạch vùng, lãnh thổ, ngành, KCN, KCX, KKT, đô thị và phân
bố lực lượng sản xuất
Ba là, Tập trung vốn đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng trọng điểm và có
kế hoạch thực hiện hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải
Bốn là, Tập trung thu hút đầu tư vào KCN, KCX, KKT; dau tư các dự án
trọng điểm làm động lực cho phát triển kinh tế và đô thị
Năm: là, Tiếp tục hoàn thiện và triển khai tốt hệ thống các văn bản pháp
luật điều chỉnh hoạt động KCN, KCX, KKT
3.3.Vận dụng kinh nghiệm một số nước Châu Á về xây dựng KCN,
KCX, KKT gắn với hình thành, phát triển ĐTCN ở Việt Nam hiện nay
3.3.1 Phát triển KCN, KCX là tạo cực để hình thành, phát triển ĐTCN,
phát triển vùng
Nhận thức sâu, rộng rằng phát triển KCN, KCX, KKT là tạo cực phát triển
ĐTCN, vùng và được sử dụng trong quy hoạch, lựa chọn địa điểm, kế hoạch
phát triển, kế hoạch đầu tư cơ sở hạ tầng, công trình trọng điểm, hoạch định cơ
chế, chính sách, luật pháp
3.3.2 Quy hoạch phát triển KCN, KCX, KKT phải là bộ phận của quy
hoạch đô thị
KCN, KCX cần được quy hoạch, xây dựng và phát triển một cách thích
hợp để tạo cực phát triển các ĐTCN Quy hoạch KCN, KCX cần được xác định
là một bộ phận của quy hoạch phát triển ĐTCN, quy hoạch vùng
3.3.3 Nhà nước đóng vai trò quan trọng đầu tư các công trình cơ sở hạ
tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đảm bảo cho sự phát triển của KCN, KCX, KKT
va DTCN
Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc đầu tư các công trình cần
thiết cho sự phát trién cha KCN, KCX, KKT, DTCN và tập trung đầu tư các
công trình trọng điểm, then chốt, nhất là đối với các khu vực mới bắt đầu phát
triển Trong bối cảnh hạn chế về vốn, đầu tư này cần được thực hiện một hợp lý
đáp ứng yêu cầu phát triển chung nhưng cũng phải có trọng điểm để đáp ứng sự
phát triển của các vùng được ưu tiên trong những giai đoạn nhất định
3.3.4 Nhà nước đóng vai trò quan trọng trone đầu tư các chương trình, dự
án trọng điểm để thúc đẩy nhanh việc hình thành cực tăng trưởng tạo tiên đề cho
hình thành, phát triển ĐTCN
Nhà nước cần tập trung đầu tư những dự án lớn để khởi động nhằm tạo
điều kiện ban đầu và lâu dài để các nhà đầu tư khác đầu tư tiếp theo, góp phần
quan trọng vào việc tạo điều kiện nhanh chóng hình thành cực tăng trưởng
22
- Chi ra sự tác động của các KCN, KCX, KKT trong việc tạo cực tăng
trưởng trong phát triển kinh tế-xã hội, vùng, lãnh thổ, hình thành và phát triển
ĐTCN như là một khách quan kinh tế được rút ra từ lý luận và thực tiễn
Về giá trị thực tiễn:
Thông qua việc phân tích thực trạng phát triển KCN, KCX, KKT ở Trung
Quốc, Thái Lan, Ma-lai-xi-a và Việt Nam trong hình thành, phát triển DTCN
để rút ra những bài học kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam; góp phần tổng kết thực tiễn, cung cấp cơ sở lý luận và cứ liệu phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ
đạo, điều hành
6 Kết cấu của Luận án Luận án có 192 trang Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo,
phụ lục, Luận án được kết cấu thành 3 chương, 9 tiết
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VỀ KCN, KCX, KKT TRONG HÌNH
THÀNH, PHÁT TRIÊN ĐTCN
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về KCN, KCX, KKT trong hình thành,
phát triển DTCN
1.1.1 Khái niệm về KCN, KCX, KKT và các đặc trưng của nó
Khu công nghiệp là một khu vực địa lý có ranh giới xác định, được đầu
tư xây dựng cơ sở hạ tầng sẵn có, được cung ứng các dịch vụ cần thiết cho các
hoạt động sản xuất, kinh doanh; được dành những ưu đãi vượt trội hơn các khu
vực khác và có chính sách quản lý riêng KCN có những đặc trương cơ bản là
1) Vị trí địa lý thuận lợi cho sản xuất công nghiệp; 2) Được đầu tư cơ sở hạ
tầng sẵn có, thuận lợi; 3) Uù đãi vượt trội và quản lý thuận lợi; và 4) được tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa
Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ xuất khẩu KCX tương tự như KCN, nhưng khác biệt là đứng ngoài chế độ mậu
dịch của nước thành lập và bị hạn chế tiêu thụ sản phẩm tại thị trường nội địa Khu kinh tế là khu vực có không gian kinh tế riêng biệt với môi trường đầu tư và kinh doanh đặc biệt thuận lợi, có ranh giới địa lý xác định; có thể được phân ra ba nhóm là nhóm mang tính chất thương mại, nhóm mang tính chất công nghiệp và nhóm mang tính tổng hợp
1.1.2 Sự hình thành KCN, KCX, KKT là độne lực kích thích hình thành, phát triển ĐTCN
1.1.2.1 Những nhân tố ngoại lai thúc đẩy sự ra đời KCN, KCX, KKT
Xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá thúc đẩy mạnh mẽ quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư Các nước tư bản phát triển cao xuất hiện hiện tượng
3
Trang 6"thừa" vốn và giá nhân công cao, khan hiếm về nguồn tài nguyên Trong khi đó,
các nước đang phát triển gặp khó khăn trong phát triển kinh tế, thất nghiệp gia
tăng, thiếu vốn, ngoại tệ, kỹ thuật công nghệ tiên tiến, cán bộ quản lý và công
nhân lành nghề trình độ cao, từ đó, tạo nên sự dịch chuyển dòng vốn đầu tư từ
các nước phát triển sang các nước đang phát triển
Trong thời gian qua, Việt Nam đã thu hút được lượng vốn đầu tư nước
ngoài (ĐTNN) lớn cho đầu tư phát triển Các KCN, KCX, KKT được xây dựng
và trở thành công cụ quan trọng trong việt thu hút vốn tYƑNN và trong nước
1.1.2.2 Những nhân tố nội sinh thúc đẩy sự ra đời các KCN, KCX, KKT
tạo động lực hình thành các ĐICN
Tích luỹ vốn trong nước để phát triển sản xuất, tăng thu nhập, cải thiện
môi trường đầu tư, tăng cường hội nhập quốc tế, khu vực và xây dựng tốt cơ sở
hạ tầng để tập trung thu hút đầu tư góp phần quan trọng cho sự ra đời KCN,
KCX, KKT Từ đó tạo tiên đề vật chất cho sự ra đời, phát triển ĐTCN
1.1.3 Vai rò KCN, KCX, KKT trong hình thành và phát triển DTCN
1.1.3.1.Mội số tiền đề cơ bản về hình thành các ĐICN hiện nay
Trong giai đoạn phát triển công nghiệp, theo chức năng sử dụng, đất đô
thị được phân thành 5 loại là đất công nghiệp, đất kho tàng đô thị, đất giao
thông, đất dân dụng đô thị, đất đặc biệt khác
1.1.3 2 Phát triển KCN, KCX, KKT tạo tiên đề thúc đẩy sự hình thành,
phái triển ĐICN
Phát triển KCN, KCX, KKT tạo địa bàn với cơ chế chính sách thuận lợi
để thu hút vốn đầu tư theo quy hoạch, đồng thời có tác dụng mở rộng hoạt động
ngoại thương, tạo việc làm, du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, học tập kinh
nghiệm quản lý, làm cầu nối hội nhập với thế giới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
trong nước
KCN, KCX, KKT là công cụ thu hút vốn đầu tư tập trung, đặc biệt là
ĐTNN, tạo năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng nhu cầu hàng hoá trong
nước, thế giới và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời, tạo nên sự thay đổi một
cách căn bản về hạ tầng kỹ thuật và xã hội trong và ngoài khu, tiết kiện đất đai
và vốn Bên cạnh đó, nó đã tạo ra nhiều chỗ việc làm, thu hút lao động ở khắp
mọi vùng đến làm việc lâu đài và làm chuyển biến tính chất lực lượng lao động
sang sản xuất công nghiệp và dịch vụ, tạo liên kết với các cơ sở kinh tế trong
nước, phát huy tác dụng lan toả, dẫn dắt, phân bố lực lượng sản xuất hợp lý,
chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, có tác dụng lan toả về kinh
tế, văn hoá, lối sống công nghiệp, trước hết là khu vực xung quanh Như vậy xây
dựng các khu này là tạo tác nhân tổng hợp hình thành và phát triển ĐTCN
4
3.1.6.4 Thực trạng phát triển các KCN và việc hình thành, phát triển ĐỊCN dọc trục quốc 16 51 (Déng Nai-Viing Tau)
Khu vực này gần một số cảng biển, sân bay quốc tế đã và sé được xây dựng, gần khu vực khai thác dầu khí ngoài khơi, đất đai thuận lợi cho phát triển
công nghiệp Trong những năm qua, nhiều công trình cơ sở hạ tầng quan trọng
ở đây được nâng cấp và xây dựng mới như đường cao tốc 51, đường ống dẫn
khí, nhà máy điện
Tính đến hết năm 2005, khu vực này có 20 KCN được thành lập với tổng
điện tích 7.481 ha tập trung vào 3 cụm chính là Cự Biên Hoà, Đồng Nai-4 KCN, dién tich 1.161 ha; Cum Long Thanh, Déng Nai-6 KCN, dién tich 2.137
ha va Cum Phu MY, Ba Ria-Viing Tau - 6 KCN, diện tích 3.166 ha
Bên cạnh đó, một số KCN khác, cơ sở công nghiệp, cụm công nghiệp đã
và đang được triển khai xây dựng nhưng phân tán Nhìn chung, đa số KCN được quy hoạch khá tốt và gắn với việc xây dựng đô thị mới, phát triển đô thị hiện có Tuy nhiên, sự phát triển các KCN chưa tập trung trọng điểm vào khu
vực quy hoạch phát triển đô thị mới
Phát triển KCN, KCX, KKT ở Việt Nam trong thời gian qua đã có những tác động đến hình thành, phát triển đô thị như sau:
Những tác động thuận lợi là 1) Thu hút lượng vốn lớn và khá tập trung; 2) Thu hút nhiều lao động và tập trung, tạo nên di cư lao động từ khu vực nông thôn ; và 3) Các
công trình cơ sở hạ tầng được đầu tư và bước đầu phát triển
Những tác động không thuận lợi là 1) Quy hoạch chưa gắn chặt với hình thành, phát triển ĐTCN; 2) Mức độ tập trung KCN chưa cao, chưa có những dự án trọng
điểm, chưa phát huy được tác dụng là cực hút vốn đầu tư ; 3) Các công trình cơ sở hạ tầng xã hội chưa được quan tâm về quy hoạch và đầu tư xây dựng: 4) Đầu tư các công trình cơ sở hạ tầng quan trọng, giao lưu với các vùng, khu vực còn hạn chế; và 5) Bắt đầu tạo ảnh hưởng bất lợi đến môi trường
3.2.Phương hướng phát triển KCN, KCX, KKT để hình thành, phát triển ĐTCN ở Việt Nam
3.2.1 Những định hướng cơ bản về phát triển đô thị ở Việt Nam Mục tiêu tổng quát phát triển đô thị ở Việt Nam đến năm 2020 là từng bước xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đô thị cả nước, cơ cơ sở hạ tầng kinh tế, xã
hội và kỹ thuật hiện đại, có môi trường đô thị trong sạch, phân bố và phát triển
hợp lý trên địa bàn cả nước, đảm bảo đô thị phát triển ổn định, cân bằng, vững chắc và trường tồn, sóp phần thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa
và bảo vệ tổ quốc và đẩy manh CNH, HDH
3.2.2 Những định hướng phát triển KCN, KCX, KKT gắn với sự hình
thành, phát triển ĐTCN ở Việt Nam
21
Trang 73.1.6.2 Thực trang phat trién KCN, KCX trong hình thành, phát triển
ĐTCN ở vùng KTTĐ phía Bắc
Vùng KTTĐ phía Bắc là vùng thuận lợi về địa lý, kết cấu hạ tầng, nguồn
nhân lực có trình độ kỹ thuật, có nhiều cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ,
thị trường rộng lớn, các dịch vụ phát triển thuận lợi để phát triển kinh tế Cho
đến hết năm 2005, vùng này có 22 KCX, KCN được thành lập với diện tích
3.802 ha, thu hút 539 dự án với tổng vốn đầu tư 17.461ty VND, 2.235 triéu
USD, lấp đầy 53% diện tích đất, tạo 110 nghìn chỗ việc làm
Theo điều chỉnh quy hoạch phát triển các KCN đến năm 2010, vùng này
sẽ có 42 khu có tổng diện tích 8.607 ha Các KCN, KCX trong vùng chủ yếu bố
trí pần Hà Nội và dọc sát theo các trục giao thông chính, nhưng chưa tập trung
để có thể phát triển thành những đô thị vệ tỉnh mới cho Hà Nội Trong những
năm qua, nhiều công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật của vùng được cải tạo, nâng
cấp và xây dựng mới đã làm cho g1ao lưu giữa các địa phương trong vùng và với
bên ngoài vùng, kể cả với nước ngoài, trở nên thuận lợi hơn
Tóm lại phát triển KCN, KCX ở vùng KTTĐ phía Bắc khá thành công về
thu hút đầu tư và lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, nhưng chưa đóng lớn trong GDP một cách tương xứng với tiềm năng, bố
trí phát triển KCN chưa tính hết các điều kiện, yếu tố đảm bảo phát triển thành
công các KCN, bế trí lại dân cư, hình thành các khu đô thị mới, mà mới chỉ tác
động làm phát triển mở rộng các đô thị hiện có
3.1.6.3 Phái triển KKT Dung Quất sắn với hình thành ĐICN mới
KKT Dung Quất 10.300 ha được thành lập năm 1998, tại tính Quảng
ngãi, miễn Trung Việt Nam, có vị trí sát bờ biển, có thể phát triển một cảng biển
tổng hợp trung chuyển và đất đai thuận lợi cho quy hoạch, xây dựng các công
trình mới Đây là khu tổng hợp đa ngành gồm các khu chức năng dành cho công
nghiệp, dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, giáo dục, nhà ở,
vui chơi, giải trí, du lịch với dân số dự kiến năm 2010 là 100 nghìn và năm 2020
là 200 nghìn
Trong hơn 5 năm qua, vốn đầu tư cho các công trình hạ tầng đạt hơn
2.200 tỷ VND, tập trung vào các công trình cơ bản Các công trình liên kết với
các khu vực khác và bên ngoài chưa có tiềm lực để đầu tư Đến hết năm 2005,
KKT Dung Quất đã thu hút được 92 dự án với tổng vốn 67.500 tỷ VND (4,5 tỷ
USD), trong đó có nhiều nhà máy lớn như nhà máy lọc dầu số 1 mới được cấp
phép hoặc đang triển khai xây dựng Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp đạt
210 tỷ VNĐ, xuất khẩu 15,5 triệu USD, thu hút 4.000 chỗ việc làm
Đã gần 10 năm kể từ khi quyết định phát triển KKT Dung Quất, nhưng
đến nay, kết quả cho thấy phát triển KKT Dung Quất là quá chậm
20
Tóm lại, phát triển KCN, KCX, KKT có tác động nhiều mặt đến phát
triển kinh tế-xã hội của khu vực như tổ chức cơ cấu lại kinh tế, bố trí dân cư, môi trường, mức sống, phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội cho sự hình thành, phát triển của các ĐTCN
1.2 Một số lý thuyết cơ bản về phát triển KCN, KCX, KKT tác động đến
việc hình thành, phát triển ĐTCN
1.2.1 Một số quan điểm cơ bản trong các lý thuyết liên quan đến sự phát triển
DTCN
1.2.1.1 Một số quan điểm trong lý thuyết về “Điểm trung tâm” của W.Christaller liên quan đến phái triển ĐICN
Theo W Christaller va A Losch, thành phố như là cực hút, hạt nhân của sự phát
triển và chi phối nông thôn Hai ông đã khám phá quy luật phân bố không gian
tương quan giữa các điểm dân cư, một trật tự được tính toán trong sự phân bố thành phố và nông thôn để áp dụng trong quy hoạch các điểm dân cư trên lãnh
thổ mới khai phá; nghiên cứu các hệ thống không gian cơ sở để xác định các nút trọng điểm Do đó, việc xây dựng KKT, KCN, KCX chính là để cấy mầm hình thành và phát triển, mở rộng ĐTCN
1.2.1.2.Lý thuyết cực của Francoi Perroux
Ta biết rằng, một vùng không thể phát triển kinh tế đều đặn toàn lãnh thổ trong cùng một thời gian, mà có xu hướng phát triển nhất ở một hoặc vài điểm
nóng còn ở những nơi khác lại chưa phát triển hoặc bị trì trệ Nhà kinh tế học người Pháp, Francoi Perroux cho rằng những thay đổi trong khuôn khổ một
vùng, lãnh thổ làm phát sinh sự tăng trưởng kinh tế của nó Theo đó, công nghiệp và dịch vụ có vai trò to lớn đối với sự tăng trưởng của vùng Ngành công nghiệp then chốt phát triển và phát đạt thì lãnh thổ cũng phát triển và phát đạt,
việc làm và sức mua cũng tăng lên, thu hút các ngành công nghiệp và các hoạt
động mới Tăng trưởng không xuất hiện ở tất cả các vùng, cường độ không giống nhau, mà xuất hiện ở một vài điểm và thông qua các con đường khác nhau khuyếch tán ra ngoài, tạo những ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Từ đó
có thể thấy, tạo lập cực tăng trưởng bằng hình thành KKT hoặc KCN, KCX có thể gây ra tác động lôi cuốn và thúc đẩy nhanh việc ra đời DTCN
1.2.1.3 Mô hình chữ “U ” ngược và vấn đề xác định chênh lệch vùng
Nhà nước chú trọng hiệu ích về kinh tế và thực hiện phát triển kinh tế thông qua hàng loạt sự không cân bằng về lãnh thổ Trong giai đoạn đầu của
phát triển kinh tế, tồn tại chênh lệch phát triển kinh tế giữa các vùng trong một quốc gia là một tất yếu và sẽ không ngừng mở rộng Sau một thời kỳ phát triển
nhất định, sức cân bằng sẽ làm cho chênh lệch đó ổn định Sau khi kinh tế đi
vào giai đoạn chín muồi, theo đà tăng trưởng tổng thể, chênh lệch giảm dần
Trang 8Như vậy, không thể giải quyết ngay chênh lệch vùng mà phải đợi đến khi kinh tế
phát triển đến độ chín muồi thì mới có thể giải quyết cơ bản được
1.2.2 Đẩy mạnh CNH, HĐH thúc đẩy sự ra đời các KCN, KCX, KKT tạo điều
kiện hình thành, phát triển ĐTCN
1.2.2.1.CNH, HDH hoá xu thế tất yếu đối với các nước đang phái triển
Theo quan điểm của Đảng, CNH, HĐH là quá trình cách mạng chuyển
đổi căn bản và toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý
xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng phổ biến sức lao
động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa
trên sự phát triển công nghiệp, tiến bộ khoa học công nghệ Để thực hiện CNH,
HĐH cần phải có và tạo ra được nguồn vốn lớn, có công nghệ sản xuất tiên tiến,
các cơ sở khoa học kỹ thuật phát triển và trình độ quản lý phù hợp với cơ chế
mới và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
Sau chiến tranh thế giới thứ II, có 2 mô hình CNH, một của nền kinh tế
đóng cửa của các nước xã hội chủ nghĩa và một của nền kinh tế mở cửa của các
nước tư bản chủ nghĩa Để trở thành nước công nghiệp phát triển, bất cứ quốc
gia nào cũng phải trải qua thời kỳ lâu dài xây dựng, phát triển CNH, HĐH và
các nước đi sau, cần dựa vào đặc điểm của nên kinh tế của mình và thế giới,
thành quả của khoa học-công nghệ để lựa chọn mô hình cho phù hợp
Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển công nghiệp và đã đạt
được những thành tựu đáng kể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước
Quan điểm CNH được đổi mới và thể hiện rõ trong nghị quyết Hội Nghị Trung
uong Dang lần thứ 7 khoá VII với các đặc trưng: CNH, HĐH được xem xét một
cách toàn diện trên mọi mặt sản xuất kinh doanh, dịch vụ, quản lý kinh tế, xã
hội; có nên tảng là phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học kỹ thuật; lực
lượng tiến hành CNH, HĐH bao gồm mọi thành phần kinh tế; mở rộng và đa
phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại
Thực hiện CNH, Việt Nam phải đương đầu với nhiều thách thức như sức
cạnh tranh của nền kinh tế quá thấp; những điều kiện tiền dé để nâng cao sức
cạnh tranh rất hạn chế (vốn, công nghệ, trình độ lao động, thị trường, bạn
hàng ) Để thực hiện chiến lược, quy hoạch phát triển và phân bố công nghiệp,
Việt Nam chủ trương phát triển công nghiệp tập trung vào KCN, KCX nhằm tạo
đà tăng trưởng công nghiệp, tăng cường xuất khẩu, tạo việc làm và từng bước
phát triển công nghiệp theo quy hoạch, tránh tự phát, phân tán, tiết kiệm đất, sử
dụng có hiệu quả vốn đầu tư hạ tầng, hạn chế ô nhiễm, đồng thời làm cơ sở phát
triển các vùng công nghiệp, phân bố hợp lý lực lượng sản xuất
1.2.2.2 Thực tiễn thúc đấy quá trình CNH dân đến hình thành, phái triển
đô thị ở các nước đang phái triển
6
Vùng KTTĐ phía Nam có nhiều điều kiện thuận lợi, có tiềm lực kinh tế lớn, nhiều lợi thế so sánh, phát triển năng động nhất cả nước Trong thời gian
qua nhiều công trình cơ sở hạ tầng quan trọng như đường giao thông, cảng
biển, hàng không được xây dựng và nâng cấp tạo thuận lợi cho phát triển kinh
tế và KCN Tuy nhiên, việc phát triển các công trình này gặp nhiều khó khăn do thiếu sự phân công trách nhiệm một cách rõ ràng, vốn đầu tư hạn chế
Tính đến hết năm 2005, vùng này có 63 KCN và KCX đã được thành lập
với tổng diện tích 15.880 ha, thu hút được 2.786 dự án, trong đó có 1.663 dự án
ĐTNN, với tổng vốn 13,6 tỷ USD và 64.643 tỷ VND, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất
gần 53%, tạo việc làm 536 nghìn lao động Theo điều chỉnh quy hoạch đến năm
2010, vùng sẽ có 95 khu với tổng diện tích 28.865 ha Như vậy, hiện nay và trong tương lai sẽ hình thành một vành đai các KCƠN, KCX xung quanh thành
phố Hồ Chí Minh Nhìn chung các KCN phân bố chưa thực sự gắn với việc
hình thành các ĐTCN
Hoạt động các KCN ở vùng này đạt kết quả khả quan, doanh thu chiếm
trên 80% doanh thu các KCN, KCX cả nước, góp phần quan trọng vào tăng
trưởng kinh tế chung, đã làm cho cơ cấu kinh tế chuyển đổi nhanh chóng theo
hướng công nghiệp, mức độ tập trung công nghiệp khá cao Tuy nhiên, nhiều
KCN, KCX da bat dau gây ô nhiễm, ảnh hưởng đến môi trường
Điểm nổi bật đối với các KCN và KCX ở vùng này là lao động từ các nh khác chiếm tỷ lệ cao, nên nhu cầu về nhà ở là rất lớn Nhưng đầu tư nhà ở cho
công nhân và các công trình hạ tầng xã hội khác chưa thực sự được quan tâm về quy hoạch và thực hiện theo hướng hình thành đô thị
Tóm lại, xét về khía cạnh phát triển KCN gắn với hình thành, phát triển ĐTCN, vùng KTTĐ phía Nam có thể đánh giá là thành công nhất ở Việt Nam ở
các mặt sau 1) Hoạt động hiệu quả, thu hút vốn đầu tư lớn và góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội, phát triển công nghiệp, thuận lợi cho hình
thành các ĐTCN: 2) Cơ sở hạ tầng kỹ thuật được xây dựng và phát triển cơ bản đáp ứng sự phát triển hiện nay của KCN, KCX và hình thành, phát triển ĐTCN;
3) Thu hút được một lượng lao động lớn và từ đó làm hạt nhân cho sự hình
thành và phát triển ĐTCN
Bên cạnh đó, còn có một số tồn tại như 1) Mức độ tập trung KCN, KCX chưa cao, kế hoạch phát triển trong từng giai đoạn chưa hợp lý và chưa gắn liền với sự phát triển các ĐTCN; 2) Sự chỉ đạo thống nhất trong quy hoạch và triển khai thực hiện phát triển KCN, đô thị chưa tốt; 3) Quy hoạch và xây dựng các
công trình cơ sở xã hội chưa được quan tâm đúng mức; 4) Vấn đề môi trường
và phát triển bên vững chưa được chú trọng; và 5) Công tác xúc tiến đầu, phối
hợp giữa các địa phương thực hiện chưa tốt
19
Trang 9Biểu đồ 3-5: Tỷ lệ lao động theo nguồn cung cấp (rong KCN, KCX
ở Việt Nam 37%
Lao động trong tỉnh, thành phố Lao động từ tỉnh, thành phố khác
Nguồn : Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tu
Các KCN, KCX ở Việt Nam đã trở thành cực hút lao động có mức độ tập trung
cao, tạo hiện tượng di cư lao động từ vùng nông thôn làm tiền đề cho việc ra đời các
ĐTCN Mặc dù, chủ trương phát triển KCN, KCX gắn với phát triển vùng, lãnh
thổ đã được xác định song việc phát triển các công trình hạ tầng xã hội phục vụ
KCN và KCX chưa được quan tâm đúng mức kể cả về quy hoạch và triển khai
thực hiện
3.1.5 Về xây dựng chính sách ưu đãi, cơ chế quản lý về KCN, KCX, KKT hiện
nay ở Việt Nam
Việt Nam đã ban hành ưu đãi về thuế các loại dành cho đầu tư vào KCX,
KCN, KKT và được từng bước sửa đổi thống nhất, không phân biệt đầu tư trong
nước và đầu tư nước ngoài Tuy vậy, ưu đãi này còn mang tính đồng đều, do vậy
chưa tạo thuận lợi để thu hút đầu tư vào KCN ở vùng khó khăn Trên thực tế,
một số nơi đã ban hành chính sách ưu đãi riêng làm phá vỡ chính sách chung,
tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các địa phương và ảnh hưởng đến
việc thực hiện các cam kết quốc tế Tuy nhiên, qua đó cũng cho thấy, chính sách
ưu đãi hiện nay là chưa phù hợp với thực tế
Hệ thống Ban quản lý KCN cấp tỉnh được thành lập và trao quyền quản lý
nhà nước trực tiếp đối với KCN đã phát huy những tác dụng tích cực Tuy nhiên,
ở cấp tỉnh sẽ tồn tại ít nhất hai cơ quan cấp phép, thành lập và quản lý doanh
nghiệp đã tạo khó khăn thống nhất quản lý lãnh thổ, bộ máy céng kénh, khong
phát huy hết khả năng
Tóm lại, Việt Nam đã ban hành những chính sách điều chỉnh các hoạt
động của KCN, KCX và đã phát huy những tác dụng tích cực.Tuy nhiên, qua
thực tiễn, những chính sách đó đã bộc lộ những bất cập, không phù hợp với
tình hình hiện nay
3.1.6.Thực trạng phát triển KKT, KCN, KCX trong việc hình thành, phát triển
ĐTCN ở một số khu vực điển hình
3.1.6.1 Thực trạng phát triển KCN, KCX trong việc hình thành, phát
triển ĐICN ở vùng KTTĐ phía Nam
18
Phát triển công nghiệp làm cho số người chuyển từ lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp ngày càng nhiều và tạo nên hiện tượng đô thị hoá
Sự hình thành và phát triển của đô thị liên quan chặt chẽ với xây dựng và phát
triển công nghiệp và có thể cho rằng người bạn đồng hành của đô thị hoá là
CNH Day là điểm khác cơ bản của đô thị trong giai đoạn này với các giai đoạn trước đó và đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển thực hiện CNH,
nhất là các nước có điểm xuất phát từ một nước nông nghiệp
1.3 KCN, KCX, KKT với tư cách là cực tăng trưởng trong việc kích thích
hình thành, phát triển ĐTCN
1.3.1 KCN, KCX, KKT- Cực hút vốn đầu tư, từ đó hình thành các ĐTCN
KKT, KCN, KCX với những điều kiện thuận lợi và chính sách vượt trội
sẽ là cực hút các nguồn vốn cho phát triển sản xuất và điều kiện vật chất xã hội
để hình thành và phát triển ĐTCN Ngược lại, sự phát triển ĐTCN sẽ tạo điều kiện phát triển của các khu này ở mức độ cao hơn
1.3.2 KCN, KCX, KKT- Cực hút lao động và tập trung dân cư tạo tiền đề để hình thành, phát triển ĐTCN
Sự tập trung các cơ sở sản xuất tại KCN, KCX, KKT sẽ đòi hỏi một lượng lao động lớn và tạo di cư lao động từ vùng nông thôn khó khăn đổ về Ban
đầu là làm tăng dân số cơ học, tiếp theo là tăng dân số tự nhiên và dần dần làm thay đổi thành lao động công nghiệp Như vậy, sự phát triển ngày càng lớn
mạnh của các khu này đã tạo nên cực hút lao động và đi liên với nó là nảy sinh các nhân tố ra đời ĐTCN Khi đô thị phát triển với những điều kiện thuận lợi ở
mức cao, một lực lượng lao động có chất lượng cao được dần dần hình thành và phát triển sẽ đáp ứng với nhu cầu phát triển mới của KCN, KCX, KKT
1.3.3 Phát triển KCN, KCX, KKT làm thay đổi kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội,
sử dụng hiệu quả đất đai, tạo điều kiện hình thành, phát triển ĐTCN
Khi sản xuất tập trung càng nhiều, quy mô ngày càng lớn, lượng hàng
hoá luân chuyển tăng lên rất nhanh, từ đó tạo nên yêu cầu cần thiết phải xây
dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật và xã hội, tạo các cơ sở cần thiết cho việc hình thành, phát triển ĐTCN Và ngược lại, đô thị sẽ cung ứng các dịch vụ cần
thiết, tạo điều kiện cho sản xuất ngày càng phát triển ổn định ở mức cao hơn
Như vậy, việc đầu tư công nghiệp tập trune đã tạo thành cực hút các yếu
tố sản xuất Với vai trò này, hoạt động của KCN, KCX, KKT dần dần làm thay đổi bản chất của vùng Từ đó đã hình thành, phát triển ĐTCN, song cũng tạo
nên khoảng cách sIữa các vùng.
Trang 10CHƯƠNG 2 KINH NGHIEM MOT SO NUGC CHAU A VE XAY DUNG KCN, KCX,
KKT GAN VOI HINH THANH, PHAT TRIEN DTCN
2.1 Kinh nghiệm về xây dựng đặc khu kinh tế gắn với hình thành, phát
triển ĐTCN ở Trung Quốc
2.1.1 Sự hình thành các đặc KKT tạo điều kiện ra đời ĐTCN
2.1.1.1 Quá trình ra đời và phái triển các đặc KKT
Để thử nghiệm chính sách mở cửa và lấy đó làm cơ sở, động lực thúc đẩy
các vùng khác phát triển, Trung Quốc xây dựng một số đặc KKT như Thâm
Quyến, Chu Hải, Sán Đầu (tỉnh Quảng Đông), Hạ Môn (tỉnh Phúc Kiến) và Hải
Nam VỊ trí xây dựng các đặc khu là những khu vực rất sơ khai, nghèo nhưng có
điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế như có thể xây dựng được cảng nước
sâu và có khả năng giao lưu với bên ngoài và nội địa
Xây dựng đặc KKT ở Trung Quốc được tiến hành qua 3 giai đoạn là giai
đoạn 5 năm đầu (xây đựng cơ sở hạ tầng, tạo môi trường tốt dé thu hit dau tu),
giai đoạn 15-20 năm tiếp theo (khai thác, phát huy tác dụng của đặc KKT) và
giai đoạn thứ 3 (nâng cấp, hoàn thiện, phát triển thành thành phố hiện đại)
Bảng 2-1: Quy mô diện tích năm đặc KKT ở Trung Quốc
Nguồn: Vụ Quản lý Khu công nghiệp &Khu chế xuất, Bộ Kế hoạch và Đầu tu, 2005
Sự thành công xây dựng đặc KKT ở Trung Quốc đã trở thành mô hình tốt
cho việc phát triển các khu vực khác ở ven biển, vùng châu thổ sông Ngọc, sông
Dương Tử, châu thổ Minnan và miền Tây
2.1.1.2 Một số chính sách quan trọng để phái triển đặc KKT liên quan
đến sự ra đời các ĐICN
-Tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, gồm chi phi
xây dựng cơ sở hạ tầng, chi phí liên quan phát triển đô thị
-Tạo ưu đãi vượt trội về thuế để nhanh chóng thu hút đầu tư, phát triển
kinh tế, chính nhờ vậy đã thu hút được một lượng vốn lớn, kinh tế phát triển,
xuất khẩu tăng nhanh
Trong thời kỳ 2001-2005, tổng giá trị sản xuất công nghiệp của các
KCN, KCX đạt 45 tỷ USD, xuất khẩu 21,3 tỷ USD (tăng 23,6%/năm); nhập
khẩu 26,3 tỷ USD (tăng 29,5%/năm), nộp ngân sách 2 tý USD Tại nhiều địa phương, phát triển KCN đã làm thay đổi đáng kể cơ cấu kinh tế
Tóm lại, phát triển KCN, KCX trong thời gian qua đã tạo thêm vốn đầu
tư xã hội, tăng năng lực sản xuất mới, tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế xã hội và tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng công nghiệp và dịch vụ, tác động quan trọng đến sự hình thành,
phát triển của các đô thị Tuy nhiên, phát triển các KCN cũng đã làm xuất hiện
chênh lệch vùng, gây ô nhiễm môi trường, chưa tạo được trung tâm công nghiệp lớn
3.1.4 Thu hút lao động và những vấn đề liên quan đến hạ tầng xã hội trong phát triển KCN, KCX ở Việt Nam hiện nay
Tính đến hết năm 2005, các KCN, KCX ở Việt Nam thu hút gần 86 vạn
lao động, chưa kể đến hàng vạn lao động gián tiếp Dự kiến khi 130 KCN, KCX
đã thành lập được lấp đây, số lao động trong các KCN, KCX vào khoảng 1,5 đến 2 triệu Lao động thu hút vào các KCN, KCX chủ yếu là lao động trẻ, lao
động nữ, lao động giản đơn và từ địa phương khác
Hình 3-3: Tỷ lệ lao động theo độ tuổi trong KCN, KCX ở Việt Nam
Ka
mm Lao động 35 tuổi trở lên m= lao dộng từ I8 đến 35 tuổi Nguồn : Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
90%
Biểu đô 3-4: Tỷ lệ lao động theo trình d6 dao tao trong KCN,
KCX ở Việt Nam
4.5% 31%
= Đại học và trên đại học == (Công nhân kỹ thuật
mes K9 thuậi viên m= Ìao động phổ thông Nguồn : Vụ Quản lý KCN và KCX, Bộ Kế hoạch và Đầu tư
17