10 MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG THỜI GIAN QUA Ở NƯỚC TA SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
Trang 1ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA NGÂN HÀNG – TÀI CHÍNH
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại
và xu hướng phát triển đến năm 2020
Hà Nội, tháng 6 năm 2010
Trang 2BAN CHỈ ĐẠO
2 PGS.TS Phạm Quang Trung Phó Hiệu trưởng Phó trưởng ban
3 PGS.TS Phạm Hồng Chương Trưởng phòng QL Khoa học Ủy viên
4 PGS.TS Đàm Văn Huệ Trưởng phòng Tài chính – Kế toán Ủy viên
5 PGS.TS Nguyễn Thanh Hà Trưởng phòng Tổng hợp Ủy viên
6 ThS Nguyễn Đức Hiển Trưởng phòng TCCB Ủy viên
7 TS Lê Anh Tuấn Trưởng phòng CTCT&QLSV Ủy viên
8 PGS.TS Hoàng Xuân Quế Trưởng khoa NH-TC Ủy viên thường trực
HỘI ĐỒNG BIÊN TẬP KỶ YẾU
2 PGS.TS Phạm Quang Trung Phó Hiệu trưởng Phó chủ tịch
3 GS TS Cao Cự Bội Nguyên Trưởng Khoa NHTC Phó chủ tịch
4 GS TS Mai Ngọc Cường Tổng biên tập T/C Kinh tế & PT Ủy viên
5 PGS.TS Nguyễn Hữu Tài Nguyên Trưởng Khoa NH-TC Ủy viên
6 PGS TS Hoàng Xuân Quế Trưởng Khoa NH-TC Ủy viên
7 PGS.TS Nguyễn Thị Bất Bộ môn LTTCTT và Tài chính công Ủy viên
8 PGS.TS Lưu Thị Hương Bộ môn Tài chính doanh nghiệp Ủy viên
9 PGS.TS Nguyễn Thị Thu Thảo Bộ môn Tài chính Quốc tế Ủy viên
10 PGS.TS Trần Đăng Khâm Trưởng bộ môn TTCK Ủy viên
11 PGS TS Vũ Duy Hào Trưởng bộ môn Tài chính Doanh Nghiệp Ủy viên
12 PGS TS Phan Thị Thu Hà Trưởng bộ môn Ngân hàng Thương mại Ủy viên
13 TS Đặng Ngọc Đức Trưởng bộ môn Tài chính Quốc tế Ủy viên
14 TS Lê Quốc Hội Phó tổng biên tập Tạp chí Kinh tế & PT Ủy viên
BAN TỔ CHỨC
1 PGS.TS Hoàng Xuân Quế Trưởng khoa NH-TC Trưởng ban
2 TS Phan Hữu Nghị Phó Trưởng khoa NH-TC Phó trưởng ban
3 PGS.TS Trần Đăng Khâm Trưởng Bộ môn TTCK Phó trưởng ban
4 TS Đinh Ngọc Dinh Bộ môn Ngân hàng thương mại Ủy viên
5 ThS Trần Đức Thắng Phó GĐ Trung tâm NH-TC Ủy viên
6 GV Trần Phước Huy Bí thư LCĐ Khoa NH-TC Ủy viên
7 GV Trần Trọng Phong Bộ môn Ngân hàng thương mại Ủy viên
8 TS Lê Hương Lan Bộ môn Thị trường chứng khoán Ủy viên
9 ThS Trần Minh Tuấn Bộ môn Tài chính doanh nghiệp Ủy viên
10 ThS Phùng Thanh Quang Bộ môn Ngân hàng thương mại Ủy viên
Trang 3DANH MỤC BÀI VIẾT HỘI THẢO
PHẦN I: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
PGS TS Hoàng Xuân Quế
Trưởng Khoa Ngân hàng- Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
NHÌN LẠI CON ĐƯỜNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hoàng Thị Thanh Thuỳ
Phan Hoàng Diệu
Phòng Nghiên cứu và Tư vấn đầu tư - CTCP Chứng khoán Tân Việt
24
PHẦN II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
6
ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
TS Lê Văn Châu
Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán VN
29
7
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ LUẬT CHỨNG KHOÁN 2006
PGS.TS Trần Đăng Khâm
Khoa Ngân hàng – Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 410
MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THỊ TRƯỜNG TIỀN TỆ VÀ THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN TRONG THỜI GIAN QUA Ở NƯỚC TA
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY-THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Vũ Hoàng Nam
Phó Trưởng Phòng Quản Lý Kinh Doanh Vốn- Sở Giao Dịch NHNo&PTNT VN
Phụ trách nhóm đầu tư kinh doanh trái phiếu NHNo&PTNT VN
66
13
BÀN VỀ NGUYÊN NHÂN CÁC CÔNG TY CHỨNG KHOÁN CHƯA CHÖ TRỌNG
HOẠT ĐỘNG TẠO LẬP THỊ TRƯỜNG CỔ PHIẾU
ThS Nguyễn Hương Giang
Khoa Ngân hàng – Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
71
14
HIỂU THÊM VỀ RỦI RO HỆ THỐNG VÀ PHI HỆ THỐNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN: MÔ HÌNH CAPM VÀ APT
BÀN VỀ HOẠT ĐỘNG TRỰC TIẾP CỦA NHTM TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Th.S Nguyễn Thị Thanh Phương
Khoa Ngân hàng – Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
98
19
MỘT SỐ LỢI THẾ KHI PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP
TS Lê Thị Hương Lan
Khoa Ngân hàng – Tài chính Đại học Kinh tế Quốc dân
104
Trang 520
TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI – PHÂN TÍCH KIỂM
CHỨNG VỚI CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN HNX
TS Trần Thị Thanh Tú
Khoa Ngân hàng – Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
107
21
TÁC ĐỘNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
TRONG NGÀNH VẬN TẢI BIỂN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM-
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI
NCS ThS Phạm Long NCS ThS Nguyễn Thị Thuỳ Dương
ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CHỨNG KHOÁN GIAI ĐOẠN 2010-2020
PGS.TS Lê Hoàng Nga
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
139
25
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NHẰM PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
TS Nguyễn Thị Hoài Lê
Phó trưởng bộ môn Thị trường chứng khoán & Kinh doanh chứng khoán
TĂNG CƯỜNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NHÂN LỰC CHỨNG KHOÁN: KINH
NGHIỆM QUỐC TẾ VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM
TS Lê Thanh Tâm
Khoa Ngân hàng – Tài chính Đại học Kinh tế Quốc dân
150
Trang 628
BÀN VỀ MÔ HÌNH HỆ THỐNG TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG VÀ THỊ TRƯỜNG
Khoa Ngân hàng - Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TTCK VIỆT NAM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
VỚI QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH CHỨNG KHOÁN
Nhữ Đình Hoà
Tổng giám đốc Công ty CP chứng khoán Bảo Việt
165
31
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CÔNG TY CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
TS Nguyễn Văn Lâm
Giám đốc NHNo&PTNT Bình Phước
Khoa NH-TC, Đại học KTQD
174
34
KIỂM ĐỊNH HIỆU ỨNG "NGÀY GIAO DỊCH TRONG TUẦN" TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Ths Phạm Việt Hùng
Khoa NH-TC, Đại học KTQD
186
35
XÂY DỰNG ĐIỀU KIỆN ĐỊNH GIÁ DOANH NGHIỆP THEO PHƯƠNG PHÁP
CHIẾT KHẤU DÕNG TIỀN Ở VIỆT NAM
NCS ThS Trần Đức Thắng
Khoa Ngân hàng – Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 7LỜI GIỚI THIỆU
Tháng 07/2000, thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được thành lập và đi vào hoạt động So với lịch sử 200 năm của thị trường chứng khoán thế giới thì 10 năm hình thành
và phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam có thể được xem như điểm kết thúc của một sự khởi đầu Tuy còn non trẻ, nhưng thị trường chứng khoán Việt Nam đã sớm khẳng định tầm vóc và vị thế của mình Với hai sở giao dịch chứng khoán, 539 công ty niêm yết, có mức vốn hóa đạt khoảng 40% GDP, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đóng vai trò tích cực đối với sự phát triển của các doanh nghiệp, sự năng động của nền kinh tế và hình ảnh của một Việt Nam ngày càng phồn thịnh, phát triển và hoà nhập với nền kinh tế quốc tế
Sau mười năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển nhất định và đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu là hoạt động an toàn và hiệu quả Có thể khái quát một số thành tựu của thị trường chứng khoán Việt Nam như sau:
+ Cấu trúc của thị trường chứng khoán đang từng bước được hoàn thiện nhằm tăng khả năng quản lý và giám sát của Nhà nước
+ Hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và các chính sách quản lý thị trường tương đối đầy đủ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam
+ Các Sở giao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán (105 công ty) đã được trang bị công nghệ giao dịch hiện đại phù hợp với tốc độ phát triển của thị trường
+ Các định chế trung gian và dịch vụ thị trường ngày càng phát triển cả về số lượng, chất lượng hoạt động và năng lực tài chính
+ Hoạt động quản lý thị trường của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và các SGDCK ngày càng sâu sát và từng bước hoàn thiện
+ Nguồn nhân lực của thị trường chứng khoán nói chung được đào tạo cơ bản, đáp ứng được yêu cầu của thị trường hiện nay
Những thành tựu của thị trường chứng khoán là minh chứng thuyết phục cho quyết định mở cửa thị trường này là đúng đắn, là một bước đi tất yếu trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước Tuy nhiên, với những thăng trầm của thị trường, rất nhiều vấn đề đang đặt
ra cho sự ổn định và phát triển của thị trường chứng khoán trong thời gian tới
Khoa Ngân hàng – Tài chính là một trong những khoa lớn nhất của Đại học Kinh tế Quốc dân – trường trọng điểm quốc gia, trường hàng đầu trong khối các trường Đại học ở Việt Nam về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh Đại học Kinh tế Quốc dân cũng là trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam đào tạo chuyên ngành thị trường chứng khoán (từ năm 2000) Ý thức
về trách nhiệm trước sự vận hành của thị trường chứng khoán nói riêng, hệ thống tài chính và nền kinh tế đất nước nói chung, đồng thời nhân kỷ niệm 10 năm thị trường chứng khoán Việt
Trang 8Nam và cũng là 10 năm chuyên ngành thị trường chứng khoán của Đại học Kinh tế Quốc dân, Khoa Ngân hàng – Tài chính tổ chức triển khai hội thảo: “Thị trường chứng khoán Việt Nam –
10 năm nhìn lại và định hướng phát triển đến năm 2020”
Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm và tham gia rộng khắp của các nhà quản lý, nhà khoa học, ngân hàng, công ty chứng khoán, doanh nghiệp, các nghiên cứu sinh, cao học viên
và các em sinh viên Đến nay, Ban tổ chức hội thảo đã nhận được 37 bài tham luận Tất cả các bài tham luận đã tiếp cận vấn đề dưới các góc độ khác nhau, thể hiện những góc nhìn sâu sắc
và đa chiều về những thành công, hạn chế, nguyên nhân và xu hướng phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam cũng như những vấn đề đặt ra cho việc đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường
Đâu đó còn có những ý kiến khác nhau, thậm chí là trái chiều về nhận định và bình luận nhưng vượt lên tất cả, chúng ta thấy đằng sau các bài viết là sự trăn trở, là tất cả tâm huyết khoa học và nghề nghiệp của các tác giả!
Thay mặt Ban tổ chức, tôi xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học đã viết bài cho hội thảo và các quý vị đại biểu đã tham dự hội thảo hôm này
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm sâu sắc của lãnh đạo nhà trường và các phòng, ban chức năng trong trường
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm và hỗ trợ về mọi mặt của các cơ quan, của các công ty chứng khoán, các cơ quan thông tấn và báo chí trung ương và Hà Nội
Kính chúc quí đại biểu sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Chúc hội thảo thành công tốt đẹp!
Trưởng Khoa Ngân hàng – Tài chính
Đại học Kinh tế Quốc dân
Trang 9
PHẦN I
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 10THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM Quá trình chuyển biến từ nhận thức đến thành công
TS Lê Văn Châu
Nguyên Chủ tịch UBCKNN
Tư duy - xuất phát điểm
Mười năm để phát triển một thị trường không là quãng đường dài, so với bề dày lịch sử vài trăm năm của thị trường chứng khoán thế giới Với những kỳ vọng vào sự phát triển lâu dài của thể chế thị trường bậc cao trong nền kinh tế Việt Nam thì mọi thành công cũng mới bắt đầu, và chúng ta cũng chỉ qua giai đoạn sơ khởi Người ta từng nói "vạn sự khởi đầu nan", điểm khởi đầu nào cũng đầy những khó khăn, bỡ ngỡ, nhưng để vượt qua được những thử thách khó khăn đó lại càng cần nhiều hơn đến sự
nỗ lực của từng tập thể cá nhân, thậm chí cả toàn xã hội
Việc chuẩn bị ra đời thị trường chứng khoán Việt Nam là cả quá trình chuyển biến từ nhận thức đến việc hoạch định chính sách trong công cuộc cải cách kinh tế của Việt Nam, nhất là của những người đã tham gia vào công cuộc cải cách kinh tế mà đặc biệt là việc cải cách ngành tà chính ngân hàng Từ những năm 1990, khi Việt Nam đã tiến hành cải cách hệ thống ngân hàng, chuyển hệ thống ngân hàng một cấp sang ngân hàng hai cấp, đó là chức năng và nhiệm vụ của Ngân hàng Trung ương là quản lý nhà nước và những chức năng, nhiệm vụ mà trong Luật Ngân hàng Nhà nước đã quy định và
hệ thống ngân hàng thương mại làm nhiệm vụ hoạt động kinh doanh Như vậy, chúng ta đã tách bạch
hệ thống chính sách với hệ thống kinh doanh trong ngân hàng Trên thế giới, bất cứ nước nào cũng cần đến hệ thống ngân hàng để cung cấp vốn cho nền kinh tế Tuy nhiên, trên thực tế, hệ thống ngân hàng không thể có đủ khả năng cung cấp được lượng vốn cần thiết, chính vì thế, để phát triển nền kinh tế của một quốc gia, cần đòi hỏi phải có một kênh khác để tạo vốn cho nền kinh tế, nhằm đảo bảo sự phát triển của thị trường vốn trung và dài hạn Chính ở hai từ "dài hạn" này mà ý tưởng cho sự ra đời thị trường chứng khoán đã chính thức được hình thành Tuy nhiên, phải nói thêm rằng sự hình thành ý tưởng về thị trường chứng khoán lúc đó dựa trên những cơ sở thực tiễn vững chắc, mà cơ sở đầu tiên chính là những kết quả đổi mới kinh tế vượt ngoài sự mong muốn, thậm chí, ngoài sức tưởng tượng, của nhiều người Chính những kết quả đó đã tạo nên mảnh đất màu mỡ nuôi dưỡng và kích thích mạnh
mẽ tinh thần tiếp tục đổi mới tư duy theo hướng thị trường - mở cửa
Công cuộc đổi mới kinh tế đất nước chính thức bắt đầu vào giữa năm 1980 của thế kỷ trước và chỉ 5 - 6 năm sau đó, vào những năm đầu của thập kỷ 90, đã bắt đầu xuất hiện những ý tưởng về khả năng xây dựng thị trường chứng khoán ở Việt Nam Cần phải nói thêm về bối cảnh đất nước ta lúc đó
là đang bị bao vây kinh tế, tức là không thể vay vốn nước ngoài (bao gồm các tổ chức quốc tế) để phát triển sản xuất kinh doanh như hiện nay, càng không thể bàn đến chuyện Việt Nam được nước ngoài tài trợ cho các mục tiêu phát triển Khởi nguồn của hành động bao vây kinh tế đối với Việt Nam được bắt nguồn từ năm 1979, khi chúng ta giúp cho Campuchia giải phóng khởi sự thảm sát diệt chủng của chế
độ Pônpốt Mỹ là một trong những nước cầm đầu cùng một số quốc gia khác đã bao vây kinh tế Việt Nam Đến tháng 10/1993, các tổ chức kinh tế quốc tế là Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) mới nối lại quan hệ tín dụng với Việt Nam và cũng từ đó các nước khác cũng mới bắt đầu cho chúng ta vay vốn trở lại Tôi nhớ, thời gian tiếp đó có khoảng 15 đến 2 Quốc gia dự Hội nghị Câu lạc bộ Paris để giải quyết nợ Chính phủ của Việt Nam tại Paris, và tại Hội nghị này các nước đã quyết định xoá 50% nợ cho Việt Nam (khoảng 500 triệu USD) Tiếp đó là Hội nghị tài trợ cho Việt Nam lần đầu tiên cũng được tổ chức tại Paris và các tổ chức tài chính quốc tế cùng một số quốc gia đã cam kết tài trợ cho Việt Nam trên 2 tỷ USD để thực hiện các dự án phát triển kinh tế Mấu chốt của vấn đề trong bối cảnh đất nước đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ mở cửa chính là ở chỗ làm thế nào để có thể huy động vốn ở trong nước và quốc tế để phát triển kinh tế, và câu chuyện về một thị trường chứng khoán bắt đầu được nhen nhóm lên cũng chính là từ đó
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020
Trang 11Những cột mốc thời gian đáng nhớ
Vào một buổi chiều đầu năm 1991, đồng chí Đỗ Mười là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã mời mấy anh em chúng tôi gồm các anh Đậu Ngọc Xuân - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác & Đầu tư, anh Đỗ Ngọc Sam - Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước kiêm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác & Đầu tư, anh Hồ Tế - Bộ trưởng Bộ Tài chính, và tôi là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lúc bấy giờ Trong buổi trao đổi này, chúng tôi đã đề nghị đồng chí
Đỗ Mười cân nhắc và quyết định sớm để xây dựng thị trường chứng khoán, đây là cách duy nhất để có thể tự mình vươn lên phát triển Ngay sau đó, một số cơ quan cũng bắt đầu tìm hiểu về thị trường chứng khoán, trong đó Ngân hàng Nhà nước đã nhận nhiệm vụ nghiên cứu về thị trường chứng khoán Trong ký ức của tôi, đồng chí Võ Văn Kiệt lúc đó trên cương vị Thủ tướng Chính phủ là một trong những người ủng hộ đầu tiên cho việc chuẩn bị ra đời thị trường chứng khoán Trong cuộc họp đầu tiên để Chính phủ báo cáo với Bộ Chính trị mà tôi được Thủ tướng Võ Văn Kiệt giao nhiệm vụ trình bày phương án phát triển thị trường chứng khoán tại Việt Nam, có một ký ức mà không bao giờ quên, đó là ngay trong cuộc họp đó, tôi còn chưa kịp trình bày thì nguyên cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng Phạm Văn Đồng đã hỏi tôi: "Bây giờ đồng chí hãy nói cho các đồng chí trong Bộ Chính trị nghe là tại sao chúng ta là nước xã hội Chủ nghĩa lại phải xây dựng thị trường chứng khoán?" và tiếp
đó là Tổng Bí thư Đỗ Mười hỏi: "Tính chất giai cấp của thị trường chứng khoán là gì?" Thực ra đây là những câu hỏi mà không phải các đồng chí lãnh đạo không biết mà thực chất là các đồng chí muốn biết câu trả lời của người trực tiếp tham gia xây dựng thị trường chứng khoán là như thế nào Tôi đã trả lời:
"Báo cáo các đồng chí trong Bộ Chính trị, về hai câu hỏi của đồng chí Tổng bí thư và đồng chí Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thực ra hôm nay tôi được giao nhiệm vụ báo cáo với Bộ Chính trị về
Đề án chuẩn bị xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng giờ các đồng chí hỏi tôi một vài câu hỏi ngoài sự chuẩn bị của tôi, nhưng cũng nhân câu hỏi này, cho phép tôi nói lên nhận thức của mình một cách ngắn gọn như sau: thực ra, thị trường chứng khoán là sản phẩm của loài người, nếu bất kỳ chế độ xã hội nào biết vận dụng thị trường chứng khoán để tạo ra nguồn huy động vốn trung
và dài hạn cho chế độ xã hội đó nhằm mục đích phát triển kinh tế, thì thị trường chứng khoán sẽ đưa lại lợi ích phục vụ đúng theo mục tiêu và yêu cầu của chế độ xã hội từng quốc gia đó Việt Nam là nước
Xã hội chủ nghĩa, chúng ta hoàn toàn có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm để xây dựng thị trường chứng khoán theo mô hình kinh tế thị trường có định hướng Xã hội chủ nghĩa để phục vụ cho nền kinh
tế của đất nước" Từ buổi báo cáo đó, sau đó đã được các đồng chí Bộ Chính trị chỉ đạo và quyết tâm xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng làm cách nào để thành hình hài thị trường chứng khoán thì lại cần bàn thảo Lúc đó có nhiều chuyên gia nghiên cứu về vấn đề này nhưng tiến độ lại khá chậm bởi những tư liệu viết về thị trường chứng khoán, thị trường vốn trên thế giới đã có hàng trăm năm, trong khi tài liệu chúng ta có lại khá thiếu thốn và là những tài liệu có từ nhiều năm trước đó Ngày 06/11/1993, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra quyết định số 207/QĐ-TCCB thành lập Ban Nghiên cứu Xây dựng và Phát triển thị trường vốn, lúc bấy giờ, với cương vị là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, tôi đã trực tiếp nhận tham gia và chỉ đạo Ban này, các anh Nguyễn Đoan Hùng (nay là Phó chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước) làm trưởng ban, anh Vũ Bằng (nay là Chủ tịch
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước) làm Phó Ban và chị Vũ Thị Kim Liên (nay là Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước) làm Phó ban Ba anh chị em này trước đây đều là cán bộ Vụ Quản lý Kinh tế Ngoại tệ đầu tiên của Ngân hàng Nhà nước, có trách nhiệm học tập và nghiên cứu về thị trường vốn, nhất là cách tiếp cận với thị trường chứng khoán thế giới để từ đó tìm ra hướng đi riêng của Việt Nam Đến tháng 9/1994, chưa đầy 01 năm sau khi Ban Nghiên cứu Xây dựng và Phát triển thị trường vốn ra đời, được sự trợ giúp của Công ty Tài chính Quốc tế (IFC) thuộc Ngân hàng Thế giới chuẩn bị soạn thảo Pháp lệnh về chứng khoán và thị trường chứng khoán Đây là bước đi mang tính chính thức, tạo cơ sở pháp lý cho sự hiện diện một lĩnh vực hoạt động kinh tế mới, một thể chế thị trường mới bậc cao Vào khoảng thời gian sau đó, nhiều cơ quan như Viện Nghiên cứu Kinh tế Tp.Hồ Chí Minh cũng
đã xây dựng đề án phát triển thị trường chứng khoán; Hội đồng tài chính tiền tệ quốc gia của Văn phòng Chính phủ cũng tiến hành nghiên cứu và đưa ra một đề án Bộ Tài chính cũng tổ chức nghiên cứu các vấn đề về thị trường chứng khoán… Sau này, Chính phủ thành lập Ban soạn thảo do một Thứ trưởng Bộ tài chính làm Trưởng ban, với các thành viên là Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Ban Soạn thảo được Thủ tướng giao sứ mệnh xây dựng Đề án thành lập thị trường chứng khoán Việt Nam Với Đề án đó, thị trường chứng khoán từng bước tiến gần hơn đến hiện thực phát triển kinh tế của Việt Nam, có hình hài và cấu trúc
Trang 12ngày càng đầy đủ và rõ nét
Đề án cuối cùng về mô hình của thị trường chủ yếu được dựa vào đề án đầu tiên của Ngân hàng Nhà nước làm sườn chung Sau khi xây dựng được bộ khung của mô hình, chúng tôi đã báo cáo với Chính phủ và Thủ tướng Võ Văn Kiệt Bản báo cáo này được coi như là một cái sườn để phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam và chúng tôi là những người trực tiếp thay mặt nhóm nghiên cứu báo cáo trước thành viên của Chính phủ về mô hình phát triển thị trường chứng khoán của Việt Nam Thực tế là mô hình thị trường chứng khoán Việt Nam được soạn thảo và thiết kế cho Việt Nam không theo mô hình cụ thể của quốc gia nào, càng không theo mô hình thị trường chứng khoán của
Mỹ, Pháp hay Trung Quốc Có người nói Việt Nam đang áp dụng theo mô hình của Trung Quốc, nhưng thực tế lại không hẳn vậy Vào năm 1989, Trung Quốc mở ra hai thị trường chứng khoán ở Thâm Quyến và Thương Hải, mang sắc màu và đặc thù riêng của Trung Quốc Trung Quốc phân biệt
cổ phiếu thành hai loại cổ phiếu A và cổ phiếu B, nếu như cổ phiếu A chỉ dành cho nhà đầu tư nước ngoài, thì cổ phiếu B dành cho nhà đầu tư trong nước Cho nên những buổi họp Chính phủ sau đó đã có rất nhiều ý kiến khác nhau Cũng phải nói thật là ở vào thời điểm đó, các nghiên cứu của chúng ta về thị trường chứng khoán vẫn còn chưa tập trung Cứ thử ví thị trường chứng khoán là một con voi và những người nghiên cứu là những người sờ voi thì sẽ xảy ra hiện tượng người thì sờ được tai voi, người sờ được đuôi voi, người thì sờ đầu voi, người thì sơ được vòi voi hay có người chỉ sờ được lưng voi, ai cũng có quyền nói là mình đã sờ được voi, nhưng thực sự một con voi hoàn chỉnh như thế nào thì chưa ai biết được một cách đầy đủ, chính xác và với thị trường chứng khoán lúc đó cũng thế Do đó, chúng tôi đã phát biểu rằng muốn xây dựng thị trường chứng khoán Việt Nam thì phải có đề án và nội dung cụ thể, cần nghiên cứu và ra đời một tổ chức chuyên trách để có thể đảm nhận lo hết những câu chuyện về thị trường chứng khoán Đề án trình Chính phủ chuẩn bị thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được ra đời là nguyên do như thế Trước lúc thị trường chứng khoán hoạt động, đã có nhiều
ý kiến khác nhau về vị thế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Có ý kiến cho rằng Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nên thuộc Bộ Tài chính, có ý kiện lại cho rằng Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nên thuộc Ngân hàng Nhà nước, và ý kiến khác lại là Uỷ ban Chứng khoán nhà nước nên độc lập ngay từ đầu là cơ quan trực thuộc Chính phủ Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, Mỹ cũng chưa có Uỷ ban Chứng khoán chính thức ngay từ đầu mà là tổ chức tự phát, sau đó Mỹ nhận ra rằng nếu không có một cơ quan chuyên trách lo về pháp luật và quản lý thì sẽ gây ra nhiều nguy cơ tiềm ẩn cho thị trường, do đó năm
1929 Uỷ ban Chứng khoán Hoa Kỳ ra đời với chức năng quản lý thị trường về mặt pháp luật Trung Quốc trước đây cũng để hai thị trường Thâm Quyến và Thượng Hải tự xây dựng quy chế hoạt động riêng, nhưng sau này Trung Quốc cũng phải thành lập ra Uỷ ban Giám quản trực thuộc Quốc Vụ viện
để quản lý thị trường mà nay là Bộ Giám quản Việt Nam với đầy đủ kinh nghiệm đã được Bộ Chính trị và Chính phủ chấp thuận thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trực thuộc Chính phủ
Những chặng đường đầu tiên của thị trường chứng khoán
Những ký ức về chặng đường đầu tiên của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước không phải là những
ký ức có thể lãng quên Để cho một bộ máy ra đời và đi vào hoạt động là cả một sự nỗ lực lớn để vượt qua biết bao khó khăn và thử thách Về bộ máy nhân sự của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tôi không phải là người được giao đảm nhận chức vụ lãnh đạo đầu tiên Bởi tính chất liên ngành, liên bộ trong hoạt động quản lý thị trường và xứng tầm với vị thế của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước lúc đó, cũng
có ý kiến nên để một Phó Thủ tướng kiêm nhiệm là tốt nhất vì liên quan đến các cơ quan quản lý nhà nước như Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Ngân hàng Nhà nước và vấn đề cổ phần hóa các doanh nghiệp Do đó để một Phó Thủ tướng làm Chủ tịch Uỷ ban mới có thể chỉ đạo điều hành được các Bộ, ngành nêu trên Phương án tiếp theo là đề nghị Bộ trưởng hoặc Thứ trưởng Bộ Tài chính giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và cuối cùng thì cũng không ai đứng ra nhận chức
vụ này Lúc đó, đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Võ Văn Kiệt mới gọi tôi lên và động viên tôi đứng ra cáng đáng nhiệm vụ này Tôi báo cáo với các đồng chí lãnh đạo là tôi không từ chối nhiệm vụ này Nếu tôi nhận nhiệm vụ này thì tôi có khả năng hoàn thành được trọng trách được giao phó, nhưng tôi cũng
có một điều kiện với các đồng chí là phải để tên của đơn vị này là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước thay
vì là Uỷ ban Chứng khoán Việt Nam, và kiến nghị để giữ vị thế cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, cần phải có bốn Thứ trưởng của bốn Bộ ngành cùng phối hợp với chúng tôi để xây dựng một bộ máy quản lý hoàn chỉnh Các nhân sự này gồm có Thứ trưởng Bộ kế hoạch & Đầu tư, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và Thứ trưởng Bộ Tư pháp Bốn vị Thứ trưởng này sẽ đảm nhận nhiệm vụ là Uỷ viên kiêm nhiệm của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Như vậy, nhìn vào vị thế
Trang 13của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước lúc bấy giờ, người ta dễ dàng nhận thấy sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Chính phủ đối với tổ chức này Thời gian đầu làm Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, tôi vẫn kiêm nhiệm làm Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Bên Bộ Tài chính lúc đầu tham gia Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có đồng chí Nguyễn Sinh Hùng, sau này là đồng chí Lê Thị Bằng Tâm Bộ
Kế hoạch & Đầu tư có đồng chí Lại Quang Thực, Bộ Tư pháp là đồng chí Hà Hùng Cường (nay là Bộ trưởng Bộ tư pháp) tham gia Những đồng chí này đồng thời còn làm đầu mối chịu trách nhiệm các vấn
đề cần phối hợp giữa Bộ của mình với Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Thị trường chứng khoán là bộ phận quan trọng của thị trường tài chính và trong hệ thống chính sách tài chính quốc gia Do đó, xây dựng bộ máy nhân sự ban đầu của Uỷ ban là vô cùng quan trọng, mang tính quyết định về phương thức quản lý và hoạt động thị trường sau này
Là một cơ quan trực thuộc Chính phủ nên Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước có thẩm quyền hoạch định các chính sách và quyết định mọi chuyện để trình Chính phủ Khi đã có được bộ máy trên hai trăm cán bộ để chuẩn bị cho sự ra đời thị trường chứng khoán, rất nhiều cán bộ lúc đó được đưa đi học tập và khảo sát ở nước ngoài
Việc hình thành các Vụ, Cục của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng là một câu chuyện khá thú vị Sau khi nghiên cứu từ mô hình quản lý của Mỹ cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, chúng tôi mới thành lập ra 12 Vụ, Cục, nhưng điều quan trọng nhất chính là con người và nhiệm vụ được giao như thế nào Phương châm của chúng tôi lúc bấy giờ rất rõ ràng, chúng tôi được báo cáo với Chính phủ đây là một ngành kinh tế bậc cao đòi hỏi trí tuệ trẻ, cần có sự nhanh nhạy và tiếp thu nhanh, thì mới có thể tham gia điều hành được thị trường Vì thế, ngay từ đầu, tôi chỉ lấy một số nhân sự ở các Bộ, ngành
về làm nòng cốt, còn lại chủ yếu là các cán bộ trẻ qua tuyển chọn công chức đầu tiên (khoảng 30 người) Tiếp đó còn có rất nhiều đợt thi tuyển vào Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước nữa, và tiêu chí của chúng tôi là phải chọn toàn cán bộ giỏi, ngoại ngữ thông thạo, nghiệp vụ tài chính ngân hàng cũng rất chắc Vì thế, trong đội ngũ ban đầu, có những Vụ trưởng, vụ phó chỉ khoảng trên 30 tuổi; Trưởng, Phó phòng chỉ khoảng 25 đến 30 tuổi Từ đội ngũ này, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã dần dần phát triển trên 200 cán bộ Cũng trong thời gian thị trường chưa ra đời, trên 200 cán bộ này được cử đi nước ngoài liên tục vì ngành Chứng khoán đòi hỏi sự tiếp cận với thị trường thế giới một cách thường xuyên; đồng thời, chúng tôi cũng mời các chuyên gia nước ngoài về đào tạo cán bộ tại chỗ Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đã giúp ta nhiều như Hàn Quốc đã tài trợ dự án hơn 1 triệu USD cho Việt Nam, trong đó các chuyên gia bắt tay chỉ việc cho cán bộ mình, đồng thời cũng đưa khoảng 30 - 40 máy tính chuyên dụng về lắp ráp như một Sở Giao dịch Chứng khoán giả định để học tập Các chuyên viên đều phải vào Sở, ngồi trước máy để học cách khớp lệnh hay tìm hiểu nhiều hơn về kinh nghiệm của nước ngoài Đài Loan, Pháp, Anh, Cộng hoà Liên bang Đức, Mỹ, Nhật Bản, Thái Lan… đã cử các chuyên gia đào tạo miễn phí cho ta rất nhiều Có thể nói, chưa bao giờ một ngành mới ra đời mà lại nhận được
sự giúp đỡ lớn như vậy
Lúc đầu nói về thị trường chứng khoán thì không mấy người Việt Nam hiểu, đến những năm
2010, khi cụm từ thị trường chứng khoán đã phổ biến hơn thì số người hiểu về thị trường này cũng không tăng lên là mấy Tôi còn nhớ mãi rất nhiều bạn bè tôi lúc bấy giờ đã khuyên tôi: "Nếu muốn đóng góp cho đất nước thì có nhiều cách để làm Nếu vẫn ngồi vị trí cũ (Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) cũng có thể cống hiến được chứ đâu nhất thiết phải chui vào bụi rậm (thị trường chứng khoán) để rồi hoàn toàn có thể thất bại" Tôi rất hiểu bạn bè mình đã lo lắng nên mới khuyên như thế, nhưng một khi Đảng và Chính phủ đã giao thì mình cần phải cố gắng phấn đấu thực hiện Cũng có thể thời gian đầu chưa đạt được những kết quả to lớn, nhưng chí ít cũng phải được những kết quả ban đầu, đặt nền móng cho sự phát triển kinh tế thị trường Việt Nam Trong nền kinh tế thị trường mà không có thị trường chứng khoán thì không thể gọi là kinh tế thị trường
Ngày 20/07/1997, Việt Nam đã tuyên bố với thế giới sự thành lập Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước Ngay sau khi Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập, trong quá trình gấp rút chuẩn bị khung pháp lý cho sự ra đời thị trường chứng khoán cũng có nhiều ý kiến khác nhau về việc Việt Nam chỉ nên thành lập một Trung tâm Giao dịch Chứng khoán hay hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Sau khi báo cáo lên Chính phủ và Bộ Chính trị đồng ý cho thành lập hai Trung tâm giao dịch Chứng khoán Sở dĩ gọi là Trung tâm Giao dịch Chứng khoán mà không phải là Sở Giao dịch Chứng khoán như các nước khác, là vì chúng ta vừa làm vừa thí điểm, vừa rút kinh nghiệm, rồi sau đó mới có lộ trình chuyển từ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán lên Sở Giao dịch chứng khoán Thời gian đó, có một số lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ lo lắng rằng nếu mở thị trường chứng khoán như các nước Tư
Trang 14bản Chủ nghĩa thì mình không thể quản lý được Nhưng chúng tôi đã báo cáo với Chính phủ là chúng
ta đang làm theo cách riêng của Việt Nam, khi mình đã có một đơn vị chuyên trách là Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước quản lý việc này, thì sau này dù các Sở Giao dịch Chứng khoán có chuyển đổi theo
mô hình công ty TNHH một thành viên hay Công ty cổ phần thì lúc đó chúng ta đã có đầy đủ cơ sở pháp lý để quản lý, điều hành
Về công tác thông tin, tuyên truyền đối với một cơ quan mới, một ngành kinh tế mới thì ngay đúng ngày khai trương hoạt động của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, Số Tạp chí đầu tiên của Uỷ ban
đã được xuất bản kịp thời vào ngày đáng nhớ đó - Tạp chí Chứng khoán Việt Nam số đầu tiên Ấn phẩm đặc biệt này đến nay vẫn còn nhiều người lưu giữ như một kỷ vật với nhiều bài viết sâu sắc của các vị lãnh đạo các Bộ, ngành tại thời điểm bấy giờ
Đến nay, Tạp chí Chứng khoán Việt Nam đã có được vị thế nhất định trong lòng bạn đọc, nhà đầu tư trong nước
Ngày trước vốn doanh nghiệp không nhiều, do đó đã có quy định doanh nghiệp có vốn trên 80 tỷ đồng thì lên niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh, còn doanh nghiệp nào có vốn dưới 80 tỷ đồng thì niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Ý tứ của chúng ta lúc
đó là mong muốn xây dựng Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội theo mô hình của thị trường Nasdaq (Mỹ) trước đây (thị trường OTC) Còn Tp Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế và tài chính của cả nước thì Sở Giao dịch Chứng khoán được đặt ở đây sẽ có cơ hội phát triển hơn Khi đó, việc mở ra hai Trung tâm tại hai đầu Nam - Bắc cũng có nhiều ý kiến trái ngược Nhưng chúng tôi đã cân nhắc nhiều thị trường trên thế giới như ở Mỹ, nói tới Phố Wall là nói tới thị trường tài chính quốc tế, toàn bộ các tập đoàn tài chính đều tập trung vào phố Wall Do đó chúng ta mới yên tâm hình thành hai Trung tâm ở 2 thành phố lớn nhất nước là điều hợp lý
Có được thị trường rồi, việc tiếp theo là cần động viên các doanh nghiệp lên sàn niêm yết Nhiều doanh nghiệp đã thực hiện cổ phần hoá vẫn không biết niêm yết là gì Chúng tôi phải đi khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước để tuyên truyền và động viên các doanh nghiệp lên sàn Chúng tôi đã nói chuyện cho nhiều lãnh đạo các Tỉnh, Thành phố, nhưng đa phần họ và doanh nghiệp đều chưa hiểu về thị trường chứng khoán, càng không thể bàn đến vấn đề niêm yết do nhận thức về lợi ích lúc đầu của doanh nghiệp còn rất mờ nhạt Sau này, thực tế đã chứng minh được lợi ích của thị trường chứng khoán Lúc đầu có 14 công ty được Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước tư vấn và chuẩn bị lên sàn niêm yết, nhưng đến gần ngày khai trương thị trường (20/07/2000) chỉ vẻn vẹn 2 công ty là REE và SAM lên sàn Khoảng 5 năm sau, các doanh nghiệp lại đua nhau lên sàn Có thể nói, sự phát triển của thị trường chứng khoán là sự chuyển biến về mặt tư duy là chính Việc lên sàn của các doanh nghiệp là cả một quá trình chuyển biến tư duy, bởi sau khi thị trường chứng khoán ra đời, tình hình hoạt động của thị trường mấy năm đầu vô cùng ỳ ạch Thậm chí có một số người kiến nghị tạm đình chỉ giao dịch một thời gian Thời điểm đó số lượng công ty chứng khoán cũng rất ít Đến năm 2006, thị trường chứng khoán mới thực sự phát triển mạnh mẽ Nếu như từ đầu, chúng ta dự kiến thị trường chứng khoán phát triển đến năm 2010 chiếm khoảng từ 10% đến 15% GDP, thì thực tế năm 2006 con số này đã lên đến trên 40% GDP
Câu chuyện về trụ sở của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và hai Trung tâm Giao dịch Chứng khoán cũng là một trong những ký ức còn nguyên vẹn trong tôi Đây là sự ưu ái đặc biệt của Chính phủ
và các địa phương dành cho ngành Chứng khoán Khi đặt vấn đề lấy trụ sở tại 164 Trần Quang Khải,
Hà Nội làm trụ sở cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, trước đây là một khu công thự thời Pháp được
Bộ Thuỷ Lợi (cũ) dùng làm trụ sở Chỉ trong vòng một tháng kể từ khi có quyết định, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã được giao lại ngay trụ sở đó Trong Tp Hồ Chí Minh, chúng tôi đã cùng với đồng chí Bảy Thanh, Chủ tịch UBND Tp Hồ Chí Minh thời đó gặp gỡ trao đổi và bàn thảo nhiều lần, và sau
đó UBND Tp Hồ Chí Minh đã đồng ý giao cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước trụ sở ở số 45-47 Bến Chương Dương, Quận I với vị trị và khuôn viên đẹp Chính phủ cấp 50 tỷ đồng chuyển cho UBND Tp
Hồ Chí Minh để đền bù giải toả, và cải tạo thành Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Tp Hồ Chí Minh
mà trước đây là trụ sở thượng viện của chế độ nguỵ quyền Sài Gòn Đối với Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội, để tìm được trụ sở ở đầu phố Tràng Tiền và phố Phan Chu Trinh đắc địa như hiện nay, chúng tôi và đồng chí Chủ tịch UBND Tp Hà Nội Hoàng Văn Nghiên đã đi khắp Hà Nội, đến chỗ bây giờ là trụ sở Bộ Tài chính (số 28 Trần Hưng Đạo, Hà Nội), rồi đến cả toà nhà Vincom hiện nay (Phố Bà Triệu,Hà Nội) Tuy nhiên lúc đó, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước mới ra đời, kinh phí
Trang 15nghèo nàn nên chỉ có thể lựa chọn Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội được nơi làm việc đã có sẵn phòng ốc, không phải mất quá nhiều công sức và phí tổn vào công việc sửa sang, xây cất, đó là toà nhà ở phố Tràng Tiền và phố Phan Chu Trinh bây giờ, vừa đẹp và vừa trung tâm thành phố nhất Đừng nhìn hiện tại nó đẹp đẽ và hoành tráng, thực ra trước đây, nơi đó chỉ là một chuỗi cửa hàng kim khí điện máy Bây giờ nhìn hai Trung tâm (nay đã là Sở) ở hai vị trí thuộc loại đẹp nhất hai thành phố lớn, tôi thực sự rất hài lòng với công sức mà chúng tôi đã bỏ ra
Để thực hiện việc đào tạo cán bộ cho thị trường chứng khoán Việt Nam, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã quyết định thành lập ngay từ đầu Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo chứng khoán, đồng thời tôi cũng đặt vấn đề với UBND Tp Hà Nội cấp 12.000m2 đất để hình thành một trung tâm đào tạo khang trang Lúc đó chúng tôi còn phải bàn với xã Trung Văn, huyện Từ Liêm về chuyện đền bù giải toả, và còn xin Chính phủ kinh phí để xây dựng cho địa phương một trạm biến thế điện trên hai tỷ đồng Bây giờ Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Đào tạo Chứng khoán lại nằm ở vị trí đắc địa trong bản đồ khu quy hoạch các cơ quan hành chính tại phía Tây Thủ đô Hà Nội - một vị thế được xem
là trung tâm của Thủ đô Hà Nội trong tương lai không xa
Hành trình cho một quãng đường 10 năm chưa phải là dài, nhưng thấm đẫm vào đó là không ít gian nan và vất vả Nhưng như câu thành ngữ: "Có công mài sắt, có ngày nên kim", thị trường chứng khoán Việt Nam với bao tâm huyết của nhiều thế hệ chắc chắn sẽ phát triển nhanh hơn, mạnh hơn và bền vững hơn nữa!
Trang 16MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ VỀ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trưởng khoa Ngân hàng – Tài chính Đại học Kinh tế Quốc dân
Nếu như thị trường chứng khoán (TTCK) đến sớm ở một số nước đang trong quá trình chuyển đổi, như Hungary - TTCK Budapest (1990), Trung Quốc - TTCK Thượng Hải (1992), Cộng hoà Séc - TTCK Praha (1993) thì phải đến năm 2000 TTCK mới được hình thành ở Việt Nam
I Tổng quan quá trình hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam
1.1 Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1997, Uỷ ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) được thành lập, triển khai các công việc chuẩn bị cho việc ra đời và đưa vào hoạt động TTCK ở Việt Nam, đó là xây dựng cơ sở pháp lý, đào tạo cán bộ, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật,… Ba năm sau khi UBCKNN thành lập, thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 20/7/2000, SGDCK Tp HCM đã chính thức khai trương hoạt động và tổ chức phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên vào ngày 28/07/2000 Đây là điểm mốc quan trọng đánh dấu sự hiện diện của thị trường giao dịch chứng khoán tập trung đầu tiên ở Việt Nam sau quá trình khẩn trương và tích cực chuẩn bị các điền kiện cần thiết về khung pháp lý, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ và cơ sở vật chất liên quan
Tên gọi ban đầu, địa điểm mở thị trường đã được cân nhắc rất kỹ trong Mô hình TTCK Việt Nam và văn bản của UBCKNN trình lãnh đạo Đảng và Nhà nước cho phép thành lập SGDCK Tên gọi
"Trung tâm giao dịch Chứng khoán" mà chưa phải là "Sở giao dịch chứng khoán" gián tiếp nói lên định hướng về bước đi, quy mô, trình độ, phương thức tổ chức giao dịch chứng khoán ban đầu của thị trường Đặc điểm khác biệt của Việt Nam với các nước khác trên thế giới trong giai đoạn ban đầu hình thành và phát triển TTCK là Việt Nam chưa có nền kinh tế thị trường thực sự, hàng hoá trên thị trường chủ yếu là cổ phiếu từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được cổ phần hoá (CPH) và trái phiếu chính phủ (TPCP) được Bộ Tài chính phát hành; doanh nghiệp và công chúng lần đầu tiên được tiếp cận với khái niệm và hình thức huy động vốn, đầu tư trên TTCK Nhà nước đã đầu tư toàn bộ cơ sở vật chất, đào tạo nhân lực, ban hành quy định về thiết lập và đưa SGDCK đầu tiên vào hoạt động; về mặt tổ chức Trung tâm là đơn vị trực thuộc UBCKNN
Để hình dung cụ thể về hoạt động của thị trường giao dịch chứng khoán tập trung, có được những quy chế hoạt động của SGDCK để tham khảo chọn lọc áp dụng cho Việt Nam, nhiều lượt cán
bộ của UBCKNN đã tham gia các đoàn khảo sát, học tập tại SGDCK, các công ty chứng khoán (Cty CK), TTLKCK của các nước bạn trong những năm 1997 - 1999 theo các dự án trợ giúp kỹ thuật được thoả thuận cấp Chính phủ 2 nước Để hỗ trợ đưa SGDCK Tp HCM đi vào hoạt động, UBCKNN đã biệt phái các cán bộ chủ chốt, các cán bộ trẻ được đào tạo và có năng lực tốt của UBCK vào nắm giữ các vị trí Giám đốc SGDCK, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ quan trọng của Trung tâm trong những năm hoạt động đầu tiên
Trong 10 năm qua, SGDCK Tp HCM đã tổ chức được hơn 2300 phiên giao dịch; việc công bố thông tin, giám sát giao dịch ngày càng có chất lượng và hiệu quả, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển của thị trường; hoạt động và quản trị điều hành của Trung tâm ngày càng chuyên nghiệp hơn Từ tháng 10/2007, SGDCK TP HCM (SGDCK Tp HCM chuyển thành SGDCK từ tháng 8/2007) bắt đầu thực hiện khớp lệnh liên tục bên cạnh việc chỉ thực hiện phương thức khớp lệnh định kỳ trong hơn 7 năm trước đó Từ 2 công ty niêm yết cổ phiếu trong phiên giao dịch đầu tiên, đến cuối tháng 5/2010 đã có
237 cổ phiếu và 4 chứng chỉ quỹ đầu tư chứng khoán được niêm yết và giao dịch, gấp 2 lần so với cuối năm 2007 Quy mô thị trường cổ phiếu niêm yết trên SGDCK Tp HCM tăng lên rất ấn tượng từ mức chi hơn 1% GDP thời điểm cuối năm 2005 đến tháng 10/2007 đã đạt mức 32% GDP và hiện nay cũng vào khoảng gần 40% GDP Sở đã kết nạp thành viên giao dịch thứ 62 so với 5 thành viên lúc ban đầu Những con số đó cho thấy một nỗ lực vô cùng lớn lao và bền bỉ của Trung tâm trong điều kiện hạ tầng công nghệ và nguồn nhân lực còn rất hạn chế
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020
Trang 171.2 Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
Sự chuyển biến tích cực và toàn diện của TTCK Việt Nam cùng với những kinh nghiệm tích luỹ được sau 5 năm tổ chức và vận hành TTCK là cơ sở, tiền đề quan trọng để Chính phủ cho phép khai trương SGDCK Hà Nội vào ngày 8/3/2005 Theo Chiến lược phát triển TTCK Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, định hướng hoạt động của SGDCK Hà Nội là tổ chức thị trường giao dịch trái phiếu chuyên biệt; cổ phiếu của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường Tp HCM… theo phương thức giao dịch linh hoạt phù hợp với nhu cầu của thị trường
và trên cơ sở công nghệ hiện đại Việc ra đời và hoạt động của SGDCK Hà Nội theo định hướng trên
đã góp phần hoàn thiện cấu trúc TTCK, tổ chức các thị trường với tiêu chuẩn niêm yết đa dạng hơn, từng bước thu hẹp dần hoạt động của thị trường tự do không có sự quản lý, đa dạng hoá kênh huy động vốn và đầu tư cho doanh nghiệp cũng như cho nhà đầu tư chứng khoán Tính đến tháng 5 năm 2010, SGDCK Hà Nội đã tiến hàng được 1130 phiên giao dịch Hơn 2 năm trước chỉ có 6 công ty niêm yết
cổ phiếu với tổng giá trị tính theo mệnh giá là 1.500 tỷ đồng, đến tháng 10/2007 đã có 91 công ty với tổng trị giá niêm yết đạt gần 11.000 tỷ đồng và đến cuối tháng 5-2010 có 297 công ty niêm yết, với tổng giá trị đạt trên 30.000 tỷ đồng Số lượng Cty CK là thành viên của SGDCK Hà Nội đã tăng từ 11 thành viên ban đầu lên 58 công ty Giá trị giao dịch bình quân từ 2 tỷ đồng/phiên vào tháng 7/2005 đã tăng hơn 250 lần, đạt khoảng 500 - 600 tỷ đồng/phiên thời điểm tháng 10/2007 và những tháng đầu năm 2010 đạt khoảng 1.500 tỷ đồng/ngày Giá trị thị trường cổ phiếu niêm yết tại Trung tâm đạt khoảng 20% GDP Đặc biệt, phương thức giao dịch kết hợp giữa báo giá và thoả thuận, biên độ dao động giá lớn hơn của SGDCK Hà Nội được đánh giá là có tính linh hoạt, mang đến nhiều tiện ích và sự quan tâm đối với nhà đầu tư Theo quyết định của Bộ tài chính, từ tháng 7/2006 chỉ tổ chức đấu thầu và niêm yết TPCP, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương để tiến tới hình thành thị trường trái phiếu chuyên biệt tại Trung tâm Kết quả huy động và giao dịch trái phiếu gia tăng rất mạnh mẽ, đến cuối tháng 5/2010 đã có gần 300 loại trái phiếu với giá trị hơn 120.000 nghìn tỷ đồng được niêm yết và giao dịch tại SGDCK Hà Nội
II Một số nhận xét về quá trình phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Nhìn nhận lại trong 10 năm ra đời, hoạt động và phát triển của TTCK Việt Nam có thể chia làm 4 giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1: từ tháng 7-2000 đến hết năm 2001: Đây là thời kỳ đầu phát triển của TTCK Số
lượng cổ phiếu còn quá ít, số lượng người tham gia đầu tư và quan tâm, theo dõi TTCK không nhiều
Trong những ngày đầu thành lập, mặc dự có rất nhiều khó khăn, TTCK Việt Nam vẫn chứng tỏ tiềm năng phát triển mạnh VN Index tăng vọt từ 100 điểm (ngày 28/07/2000) lên 571,04 điểm vào ngày 25/06/2001 Giá cổ phiếu biến động khá, một số người thu được lợi nhuận đáng kể trên thị trường
Giai đoạn 2: từ đầu năm 2001 đến cuối năm 2004: TTCK trầm lắng, giá cổ phiếu giảm trong
thời gian đầu và biến động không nhiều trong khoảng thời gian tiếp theo Một số loại cổ phiếu mới tiếp tục được niêm yết, đưa ra thị trường Thị trường OTC cũng bắt đầu hình thành và giao dịch chưa sôi động Số lượng nhà đầu tư và số lượng người quan tâm đến TTCK cũng gia tăng nhưng mức độ cũng chưa nhiều
Đây vẫn thuộc giai đoạn đầu tiên hình thành thị trường Tính bền vững của thị trường cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố chính sách, cơ sở vật chất cũng như tính phổ cập của TTCK đến với dân chúng Cung - cầu trên thị trường giai đoạn này cũng yếu ớt Hơn thế nữa, quá trình cổ phần hoá của doanh nghiệp diễn ra quá chậm không thể tạo ra lượng hàng hoá cho thị trường Hầu như nhà đầu tư nước ngoài không được tham gia TTCK
TTCK để lại nỗi ám ảnh cho nhà đầu tư tham gia thị trường khi thị trường suy thoái ở dưới 140 điểm Thời kỳ này kéo dài hơn 3 năm
Giai đoạn 3: từ đầu năm 2005 đến tháng 4-2007: Đây là giai đoạn biến động mạnh của chỉ số
chứng khoán Việt Nam Một điều may mắn là sau một thời kỳ trầm lắng, TTCK lại vươn mình đi lên
Vn Index tăng ngoạn mục từ 300 điểm cuối năm 2005 lên đến 632 điểm vào 25/04/2006 Thế nhưng, đến 01/08/2006, TTCK chỉ còn 400 điểm Đến tháng 11/2006, thị trường tăng đạt mức kỷ lục 665,53
Trang 18điểm Và tiếp tục theo chiều thẳng đứng đi lên với đỉnh cao là chỉ số VnIndex đạt mức đỉnh là 1.170 điểm vào ngày 19/3/2007
Giá cổ phiếu trên cả thị trường chính thức và thị trường OTC đều tăng mạnh Số lượng cổ phiếu niêm yết, giao dịch cũng tăng mạnh Quy mô giao dịch trên thị trường ngày càng lớn Sự phát triển thị trường chứng khoán giai đoạn này đã thúc đẩy quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, phát triển công ty cổ phần, thu hút vốn đầu tư gián tiếp vào nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt là thu hút nhiều cổ đông chiến lược, có uy tín, có tiềm lực tài chính của nước ngoài đầu tư vào các Ngân hàng thương mại cổ phần, tập đoàn bảo hiểm và doanh nghiệp khác của Việt Nam Kèm theo đó, số lượng nhà đầu tư, số lượng người quan tâm đến TTCK cũng gia tăng mạnh Số lượng Cty CK phát triển nhanh Không chỉ như vậy lĩnh vực đào tạo về chứng khoán cũng hết sức sôi động
Giai đoạn này TTCK đó có những trưởng thành về chất và về lượng thể hiện qua giá trị khớp lệnh bình quân của cổ phiếu qua mỗi phiên tăng lên rõ rệt và số lượng nhà đầu tư tham gia đạt mức kỷ lục Nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng này:
- Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO, tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC 14,
- Những dự báo lạc quan về tình hình kinh tế và phát triển của các doanh nghiệp
- Khả năng tăng cường vốn đầu tư của các quỹ nước ngoài thông qua việc tăng cường đặt lệnh mua một số cổ phiếu tốt của một số tổ chức, kế hoạch giải ngân của một số quỹ nước ngoài
- Thông tin về việc mở room, phát hành cổ phiếu thưởng của các doanh nghiệp
Chỉ riêng trong năm 2007, TTCK Việt Nam đã huy động được 90.000 tỷ đồng cho các DN, bao gồm cả hoạt động phát hành, đấu giá trên thị trường chính thức Tính đến hết năm 2007, mức vốn hoá toàn thị trường chiếm 43,4% GDP
Cuối năm 2006 vẫn được coi là thời kỳ hoàng kim của thị trường nhưng số tài khoản cũng chỉ trên dưới 100.000 tài khoản, trong đó NĐT nước ngoài khoảng 1.700 tài khoản Số liệu của trung tâm lưu ký năm 2007 đã cho thấy một bức tranh khác: Tổng số tài khoản đã tăng lên gần 308.000, trong đó NĐTNN đạt trên 8.140 tài khoản, với 177 tổ chức đầu tư Giá trị danh mục đầu tư của nguồn vốn ngoại trên thị trường chính thức vào khoảng 7,6 tỷ USD và nếu tính cả thị trường không chính thức lên tới 20 tỷ USD Giới đầu tư quốc tế quan tâm đến các cơ hội đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam
vì một nền kinh tế đang chuyển đổi có tốc độ tăng trưởng cao hàng đầu thế giới Những cam kết quốc tế khi Việt Nam hội nhập một cách đầy đủ giúp niềm tin của họ tăng lên Lần đầu tiên TTCKVN xuất hiện trên hàng loạt các phương tiện truyền thông đại chúng quốc tế Chỉ số VN -Index, HaSTC-Index được xuất hiện trên hệ thống số liệu thị trường của những kênh thông tin tài chính toàn cầu như Bloomberg Các định chế tài chính hàng đầu thế giới như Merry Lynch, HSBC,
JP Morgan, Citi Group cũng đều đặn cung cấp báo cáo nghiên cứu về thị trường Việt Nam, thể hiện
sự quan tâm đặc biệt của nhà đầu tư quốc tế
Cùng với những con số khả quan, năm 2007 cũng không phải là năm hoàn toàn suôn sẻ Từ góc độ thị trường huy động tiết kiệm thành đầu tư, năm 2007 lại ghi một dấu ấn như một giai đoạn thăng trầm chưa từng có và có lẽ cũng khó lặp lại Thị trường đã có những đợt sóng cao với biên độ tăng tối đa tới 56%, gần gấp đôi mức tăng trung bình của năm 2007 Nếu tính một "con sóng" dài hơn
từ cuối năm 2006 thì đầu năm 2007 thị trường diễn biến bất thường nhất khi tăng trưởng với tốc độ chưa từng có: 126% chỉ trong vòng 4 tháng CK thực sự là mỏ vàng và làn sóng đầu tư dâng cao đến mức số lượng tài khoản mở mới tăng gấp 3 lần số lượng của suốt 6 năm cộng lại Nguyên nhân chính của sự tăng trưởng quá nóng đó là tình trạng mất cân đối cung cầu nghiêm trọng trong từng thời điểm Nguồn cung trên thị trường tại thời điểm đầu năm 2007 chỉ có trên 100 CK niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP HCM và 80 CK niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội Trong khi đó sức hút lợi nhuận chóng mặt đã lôi kéo một bộ phận không nhỏ nhà đầu tư tìm kiếm các nguồn tiết kiệm khác nhau, các nguồn vốn khác nhau tham gia Chính sự "hiếu chiến" của những dòng tiền khổng
lồ này đã biến TTCK- một thị trường tài chính cao cấp, trụ cột của nền kinh tế
Tuy nhiên, thị trường đã nhanh chóng trở lại quỹ đạo vốn có của nó sau khi "giữ lại" khoảng vài chục ngàn tỉ đồng của NĐT "say máu" trong 18 phiên giao dịch từ mức 1.100 điểm trở lên VN - Index chỉ trong vòng chưa đầy 2 tháng sau đó đã rơi thẳng xuống mức 900 điểm, một mức mà có lẽ là phù hợp hơn với tốc độ tăng trưởng có giới hạn của doanh nghiệp Những đợt sóng tháng 5 và tháng 10
Trang 19-2007 sau đó cũng là bài học đắt giá TTCK là một thị trường cao cấp với những yêu cầu khắt khe Tiếp đến thị trường liên tục điều chỉnh sâu và đến cuối tháng 3-2008 chỉ số VN – Index giảm xuống còn 496 điểm và chỉ số HaSTC – Index giảm còn 166 điểm Khi thị trường càng mở rộng, càng thu hút nhiều định chế tài chính tham gia thì sự khốc liệt càng cao và sẽ thực hiện quá trình đào thải những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm Một bằng chứng rõ ràng nhất là lại các điểm đỉnh cao nhất, giá trị giao dịch lên tới hàng ngàn tỉ đồng Quanh điểm đỉnh đó, những ai đủ thông minh, bản lĩnh để rời khỏi thị trường
và những ai hăng say nhưng thiếu kiến thức lại hăm hở lao vào Trong một thị trường ngày càng chuyên nghiệp, những người đầu tư CK theo phong trào sẽ sớm gánh chịu thua lỗ, thậm chí phá sản
"Cuộc chơi" bất thường khi bà bán rau, anh xe ôm đổi đời nhờ CK sẽ qua mau nhưng đó là sự đào thải cần thiết để thị trường trở nên lành mạnh và bền vững hơn
Việc gia nhập WTO và lộ trình mở TTCK cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài tạo điều kiện cho nhà đầu tư (NĐT) được hưởng các lợi ích đáng kể từ giá cả cạnh tranh đến chất lượng dịch
vụ Ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài được thành lập văn phòng đại diện và công ty liên doanh với đối tác trong nước, trong đó tỷ lệ vốn góp của phía nước ngoài không vượt quá 49% Sau 5 năm kể từ khi gia nhập, sẽ cho phép thành lập CTCK 100% vốn nước ngoài và các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài cũng sẽ được thành lập chi nhánh
Việc mở cửa thị trường cho NĐT có tổ chức nước ngoài như các quỹ đầu tư, các công ty quản
lý quỹ sẽ mang lại các công cụ đầu tư tập thể mới Bên cạnh đó, các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán của các nước phát triển có thể mang đến các sản phẩm chứng khoán mới như sản phẩm phái sinh, bao gồm hợp đồng tương lai và quyền chọn và các hàng hoá đa dạng khác, cho phép NĐT có được sự lựa chọn đầu tư khác nhau trên TTCK Bên cạnh đó, số lượng các thành viên trên TTCK sẽ tăng đáng kể với sự tham gia của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài Điều này sẽ tạo nên một hệ thống các nhà trung gian thị trường lớn mạnh Với sự tham gia của họ thông qua liên doanh, TTCK trong nước sẽ có được lợi ích về kiến thức và chuyển giao công nghệ Đồng thời, sự cạnh tranh của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài sẽ là áp lực khiến các nhà cung cấp dịch vụ trong nước nâng cao năng lực hoạt động
Tuy nhiên việc gia nhập WTO cũng mang lại sự cạnh tranh khốc liệt, có thể dẫn đến mất thị phần, phá sản của các CTCK trong nước và làn sóng sáp nhập, thâu tóm của các nhà cung cấp dịch vụ chứng khoán nước ngoài Hiện tượng đang diễn ra trên TTCK Việt Nam là NĐT cá thể trong nước chỉ theo các NĐTNN để mua và bán cổ phiếu Do thiếu kinh nghiệm và chuyên môn, họ hầu như không có chiến lược kinh doanh và hành động theo bầy đàn Các NĐTNN chuyên nghiệp hơn có thể lợi dụng điều này và thao túng TTCK, đặt NĐT trong nước vào vị thế những người theo đuôi và chịu rủi ro Chỉ tính riêng trong năm 2007, có tổng số 179 công ty được chào bán 2,46 tỷ cổ phiếu ra công chúng, tương ứng với khoảng 48.000 tỷ đồng, gấp 25 lần năm 2006 UBCKNN cũng tổ chức phát hành được 3,468 triệu trái phiếu, tương đương 3.750 tỷ đồng cho 3 NHTM cổ phần; 25 triệu chứng chỉ quỹ, tương đương 250 tỷ đồng cho Quỹ đầu tư tăng trưởng Manulife Cũng tính đến hết tháng 12-2007, TTCK thu hút hơn 500 triệu trái phiếu các loại, bao gồm: trái phiếu Chính phủ, Trái phiếu đô thị, Trái phiếu công trình, Trái phiếu Ngân hàng thương mại Tổng giá trị vốn hoá Trái phiếu lên tới 82.000 tỷ đồng, chiếm 8,4% GDP năm 2006 Kết quả đấu giá tại hai nơi này ngày càng đạt kết quả cao Đặc biệt trong năm 2007 đã trở nên đa sắc màu hơn khi mà việc tổ chức đấu giá đã có những cải cách đấu giá đã
có những cải cách cơ bản, chuyển sang đấu giá 2 cấp thay vì chỉ một cấp như trước đây Tuy nhiên, cùng với việc giảm tải cho SGDCK Tp.HCM và SGDCK Hà Nội trong tổ chức đấu giá thì hiện nay hoạt động này lại đang phải đối mặt với một thực tế khác, đó là ngày càng có nhiều phiên đấu giá thất bại, thể hiện ở số lượng người đăng ký quá ít và không phát hành hết cổ phần
Theo thống kê của Trung tâm GDCK Hà Nội, trong năm 2007, Trung tâm đã tổ chức được 47 phiên đấu giá với 324,7 triệu cổ phần chào bán Tổng số cổ phần bán được là 279,6 triệu cổ phần, đạt khoảng 86% tổng số cổ phần chào bán Tổng giá trị cổ phần bán được: 14.608 tỷ đồng, chênh lệch so với mệnh giá 11.819 tỷ đồng và so với giá khởi điểm là 6.540 tỷ đồng Trong đó, nhiều cuộc đấu giá có
số lượng cổ phần chào bán rất lớn, có nhiều điểm đăng ký tham gia Cuộc đấu giá Tổng công ty Bảo Việt có 20.368 nhà đầu tư đăng ký, thu hút 13 đại lý tham gia, tổng số nhà đầu tư trúng giá lên tới 3.741 Qua 47 cuộc đấu giá của năm 2007 đã thu thêm cho ngân sách nhà nước hơn 11.819 tỷ đồng so với mệnh giá và so với giá khởi điểm hơn 6.540 tỷ đồng
Trang 20Giai đoạn 4: từ cuối tháng 4-2007 đến nay: TTCK điều chỉnh mạnh và hoạt động không ổn
định Sau khi đạt được đỉnh cao 1.170 điểm vào tháng 3-2007, TTCKVN liên tục điều chỉnh sâu Đến đầu năm 2008 chỉ số VN – Index giảm xuống chỉ còn xoay quanh mức 250 điểm và chỉ số HNX – Index giảm xuống còn dưới 180 điểm Trên thị trường OTC giá cổ phiếu cũng sụt giảm thảm hại Giá một loạt cổ phiếu NHTM CP, như MB, VPB, VIB, HBB,… giảm tới 10 lần, đang từ mức 125.000 đồng – 140.000 đồng/cổ phiếu, giảm xuống còn 12.000 – 15.000 đồng/cổ phiếu nhưng cũng không có
ai mua Sau đó đến quý I và Quý II – 2009 cổ phiếu lại tăng khá trở lại Đến hết quý II – 2009 chỉ số VN-Index tăng lên mức trên 600 điểm,… sau đó là giai đoạn điều chỉnh và hiện nay chỉ xoay quanh mức 500 điểm Trên thị trường OTC một số loại cổ phiếu đã tăng giá nhẹ và có giao dịch trở lại Trong giai đoạn này có một số đặc điểm đáng chú ý sau đây:
- Mặc dù thị trường không phục hồi được như năm 2006 và quý I-2007, nhưng vẫn có thêm nhiều loại cổ phiếu được niêm yết mới trên cả hai sàn giao dịch chứng khoán Thực tế này cho thấy sức sống của thị trường cũng như tiềm năng phát triển của TTCKVN
- Quy mô giao dịch của thị trường diễn biến bất thường nhưng nhiều thời điểm đạt tới doanh số giao dịch lên tới trên 6.000 tỷ đồng/phiên giao dịch trên cả hai sàn, bình quân cũng đạt gần 3.000 tỷ đồng/phiên giao dịch Thực tế này cho thấy TTCK vẫn thu hút sự quan tâm lớn của các nhà đầu tư
- Nguồn tiền "đổ" vào TTCK không bắt nguồn trực tiếp từ tín dụng ngân hàng như trước đây, nhưng điều hành chính sách tiền tệ, hoạt động tín dụng ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến qua mô giao dịch cũng như sự biến động của chỉ số chứng khoán, đặc biệt là vấn đề lãi suất, thanh khoản của các NHTM, tin đồn thất thiệt về phá giá Đồng Việt Nam, siết cho vay thoả thuận, cho vay tiêu dùng,…
- Có sự phân hoá lớn của nhóm cổ phiếu các ngành khác nhau dựa trên hiệu quả kinh doanh và
kỳ vòng vào lợi nhuận thu được khi đầu tư vào nhóm cổ phiếu đó Nếu như cổ phiếu nhóm ngân hàng hiện nay giảm tới 30% - 40% so với cuối tháng 6-2009 thì cổ phiếu nhiều nhóm bất động sản, khai khoáng,… lại biến động khá
- Xuất hiện ngày càng nhiều các giao dịch nội gián, hành động làm giá cổ phiếu, thổi giá cổ phiếu tăng cao,… thao túng TTCKVN
- Hoạt động hỗ trợ tài chính của các Cty CK cho các nhà đầu tư ngày càng phát triển Hoạt động này mang tính hai mặt thúc đẩy TTCK phát triển, nhưng nhiều nhà đầu tư cũng thiệt hại không nhỏ
- Giao dịch chứng khoán ngày càng phức tạp Các Cty CK thông đồng với nhà đầu tư thực hiện nhiều gian lận trong giao dịch cổ phiếu, làm giảm tính minh bạch, sự phát triển vững chắc của thị TTCK
Trang 21THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM MƯỜI NĂM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội
Việc mở cửa thị trường chứng khoán vào tháng 7/2000 là một quyết định lớn thể hiện quyết tâm của Đảng và Chính phủ trong việc tạo thêm một kênh mới nhằm huy động vốn phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước, góp phần hoàn thiện hệ thống các thị trường tài chính và tạo lập đồng bộ các yếu tố của một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Sau mười năm hoạt động và phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có những bước phát triển theo đúng phương châm chỉ đạo của Chính phủ và đã đạt được mục tiêu đề ra ban đầu là hoạt động an toàn và hiệu quả, phát triển thị trường từng bước từ thấp đến cao, hoạt động chứng khoán đã trở thành một ngành của khu vực tài chính nói riêng,của nền kinh tế quốc dân nói chung Cho tới nay, những thành tựu của TTCK đã chứng
tỏ rằng việc mở cửa thị trường chứng khoán là một quyết định đúng đắn của Đảng và Chính phủ, là một bước đi tất yếu trong công cuộc xây dựng kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN
Trải qua 10 năm hoạt động, quy mô và chất lượng của TTCK đã ngày càng được khẳng định,
cụ thể như sau:
- Về hàng hoá cho thị trường: Đã tập trung được một khối lượng hàng hoá nhất định cho hoạt động chứng khoán trên thị trường tập trung SGDCK TP Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội Tính đến 31/5/2010, tổng số lượng DNNY trên 2 SGDCK là 529 công ty với tổng giá trị cổ phiếu niêm yết là khoảng 168 nghìn tỷ đồng tính theo mệnh giá Nếu tính theo giá trị thị trường, toàn bộ thị trường chứng khoán niêm yết trên 2 SGDCK đạt khoảng 680 nghìn tỷ đồng, tương đương 37,6% GDP Nhìn chung các công ty niêm yết đều hoạt động có hiệu quả, có lãi và tình hình tài chính lành mạnh Về trái phiếu, các SGDCK đã phối hợp với Bộ Tài chính, tổ chức đấu thầu 284 đợt trái phiếu Chính phủ do Kho bạc
và Quỹ hỗ trợ đầu tư phát triển phát hành với giá trị trái phiếu trúng thầu là hơn 50 nghìn tỷ đồng Hiện nay, tổng số trái phiếu chính phủ niêm yết là trên 500 mã, giá trị vào khoảng 120 nghìn tỷ đồng, tập trung tại Sở GDCK Hà Nội
- Về vận hành giao dịch tại các SGDCK, Trung tâm Lưu ký chứng khoán: đã tổ chức vận hành
an toàn hệ thống giao dịch ban đầu tại SGDCK TpHCM (nay là SGDCK TpHCM) từ tháng 7/2000 và SGDCK Hà nội (nay là SGDCK Hà nội) từ tháng 7/2005 Tính đến hết tháng 5/2010, SGDCK TpHCM
đã tổ chức được 2.292 phiên; SGDCK Hà nội đã tổ chức được 1.129 phiên giao dịch Tổng giá trị giao dịch chứng khoán bình quân mỗi phiên của cả thị trường vào thời điểm 31/5/2010 đã gấp gần 4.000 lần
so với giá trị giao dịch bình quân từ khi thị trường mới hoạt động năm 2000 Trong thời gian đầu SGDCK TpHCM chỉ giao dịch 3 phiên một tuần và đã nâng lên 5 phiên một tuần kể từ ngày 1/08/2002, quy trình thanh toán đã được dần cải tiến, giảm thời gian thanh toán từ 4 ngày xuống còn 3 ngày Biênđộdaoo động giá được điều chỉnh theo thị trường, thời gian đầu thực hiện 2%, có lúc đã tăng lên 3% (1/8/2002), và đến nay là 5% tại SGDCK TpHCM và 7% tại SGDCK Hà Nội, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư có cơ sở lựa chọn mức giá Hệ thống giao dịch trải qua nhiều lần nâng cấp, đến nay đã triển khai giao dịch trực tuyến trên cả 2 sàn rất tiện lợi cho nhà đầu tư Trung tâm Lưu
ký chứng khoán Việt Nam cũng đã hình thành và phát triển từ năm 2006, phục vụ tốt cho phần đăng
ký, thanh toán bù trừ tiền và chứng khoán sau giao dịch, bảo đảm các hoạt động này nhịp nhàng và ổn định, tiện lợi cho các doanh nghiệp và nhà đầu tư
- Về xây dựng hệ thống các tổ chức tài chính trung gian thị trường: tính đến 31/5/2010, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã cấp phép hoạt động cho 105 công ty chứng khoán với tổng vốn điều lệ của các công ty này là gần 30.000 tỷ đồng, với các nghiệp vụ môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, và tư vấn đầu tư Mười năm qua, từ chỗ chỉ có 4 công ty chứng khoán khi thị trường đi vào hoạt động, hiện nay, hơn 100 công ty đã tập trung hoàn thiện bộ máy tổ chức của mình, mở rộng địa bàn hoạt động bằng việc mở thêm các chi nhánh, phòng giao dịch tại các tỉnh, thành phố như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Đà Nẵng Bên cạnh đó Uỷ ban Chứng khoán đã chỉ định Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam làm ngân hàng chỉ định thanh toán, thực hiện thanh toán tiền cho các giao dịch chứng khoán Ngoài ra, để tạo điều kiện cho người nước ngoài tham gia thị
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020
Trang 22trường chứng khoán Việt Nam, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cũng đã cấp phép cho 6 ngân hàng nước ngoài thực hiện lưu ký chứng khoán cho người đầu tư nước ngoài Bên cạnh đó 38 tổ chức kiểm toán độc lập được chấp thuận làm nhiệm vụ kiểm toán báo cáo tài chính của các tổ chức phát hành và
tổ chức kinh doanh chứng khoán
- Về xây dựng khuôn khổ pháp luật cho hoạt động của thị trường: Năm 2006 đã đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho TTCK, đó là Luật chứng khoán lần đầu tiên đã được Quốc hội thông qua Hệ thống văn bản pháp luật về chứng khoán và các chính sách quản
lý thị trường tương đối đầy đủ, phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam Trên cơ sở Nghị định 14 quy định việc thực hiện một số điều của Luật Chứng khoán, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã trình
Bộ Tài chính ban hành các văn bản hướng dẫn như: các Thông tư về phát hành cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng, Quy chế giám sát giao dịch chứng khoán, Quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán, Quy chế đăng ký, lưu ký và thanh toán bù trừ, Quy chế về tổ chức và hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán và đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành các chính sách về thuế, kế toán, quản lý tài chính, quản lý ngoại hối v.v Các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, tuy còn những hạn chế nhất định, song về cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu và nguyên tắc quản lý, vận hành hoạt động của thị trường chứng khoán Các Quy chế về thành viên, niêm yết, công bố thông tin và giao dịch chứng khoán đã được các Sở GDCK ban hành phù hợp với quy định của pháp luật
- Về hoạt động quản lý thị trường: Hoạt động quản lý thị trường của UBCKNN và các SGDCK
đã ngày càng sâu sát và từng bước hoàn thiện trên cơ sở rút kinh nghiệm từ hoạt động thực tiễn Sau 10 năm đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn hoạt động thị trường, Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước đã đề ra những biện pháp, chính sách thích hợp, kịp thời, nhằm đảm bảo cho thị trường hoạt động ổn định, công khai, công bằng và hiệu quả, ổn định tâm lý và hướng dẫn cho các nhà đầu tư, không để xảy ra những hậu quả bất ổn đáng tiếc thường gặp ở các thị trường mới phát triển Bên cạnh công tác quản lý thì công tác đào tạo, tuyên truyền, phổ cập kiến thức, thông tin cho các đối tượng tham gia thị trường và các đối tượng quan tâm đến thị trường cũng đã đạt được nhiều kết quả khả quan Việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thị trường chứng khoán luôn được chú trọng và đóng góp đáng kể trong việc phát triển thị trường về mọi mặt
- Về tham gia của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài: Ngay từ ngày đầu mới được hình thành, TTCK Việt nam đã thu hút được sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Tính đến 31/5/2010, tổng số tài khoản mở cho các nhà đầu tư, bao gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu
tư nước ngoài và nhà đầu tư tổ chức tham gia đầu tư trên thị trường là trên 900.000, trong đó, số lượng tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài đạt 13.000 tài khoản Tuy số lượng tài khoản trên mới chỉ chiếm xấp xỉ 1% dân số, nhưng chính sự tham gia của các nhà đầu tư đã mang lại cho thị trường chứng khoán
sự sôi động, tính thanh khoản, và là nhân tố quan trọng để phát triển thị trường trong tương lai
- Về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: trong những năm đầu, vai trò, vị thế của UBCKNN theo Nghị định 75/CP là cơ quan trực thuộc Chính phủ thực hiện chức năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán Đến năm 2004, Chính phủ đã quyết định chuyển UBCKNN vào Bộ Tài chính tại Nghị định 66/2004/NĐ-CP, qua đó bộ máy của UBCKNN đã đi vào ổn định Dưới sự chỉ đạo của Bộ Tài chính, việc phối hợp trong công tác thúc đẩy phát triển thị trường giữa UBCKNN và các Bộ, ngành khác đã ngày càng trở nên hiệu quả hơn Nguồn nhân lực là nhân tố
cơ bản và mang tính quyết định đối với sự thành công của bất cứ một chương trình, dự án, hoặc một chiến lược Nguồn nhân lực đang hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung được đào tạo cơ bản, đáp ứng được nhu cầu hiện tại trong bối cảnh thị trường hiện nay
Tuy nhiên, trong mười năm qua, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã bộc lộ một số hạn chế và gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển Các yếu tố cơ bản của một thị trường chứng khoán từ hệ thống pháp lý, các chủ thể tham gia thị trường (Cơ quan quản lý các cấp, Sở giao dịch chứng khoán, Trung tâm lưu ký, Công ty chứng khoán, Công ty niêm yết và nhà đầu tư), cơ sở vật chất
kỹ thuật, đặc biệt là hệ thống công nghệ… đã được hình thành ngay từ đầu nhưng tính đồng bộ và mức
độ gắn kết cũng còn một số hạn chế nhất định, cụ thể như sau:
a) Hàng hoá còn hạn chế về quy mô và cơ cấu
- Hiện nay, trên 2 SGDCK thị trường chỉ có 535 cổ phiếu và một số ít trái phiếu doanh nghiệp
Số lượng như vậy là tương đối nhỏ so với tiềm năng của nền kinh tế Ngược lại, thị trường giao dịch
Trang 23trái phiếu chính phủ chuyên biệt tại SGDCK Hà nội có trên 500 mã trái phiếu các loại, theo thông lệ quốc tế số mã trái phiếu là tương đối nhiều nên độ sâu và tính thanh khoản của thị trường còn hạn chế
- Giao dịch trên thị trường chủ yếu tập trung vào cổ phiếu, tuy lượng cổ phiếu được đưa vào lưu ký để giao dịch chỉ chiếm khoảng hơn 60% lượng cổ phiếu được niêm yết Giao dịch trái phiếu còn khá hạn chế, mặc dù số lượng có khả năng giao dịch rất lớn
- Tuy các công ty niêm yết đã được lựa chọn đều là những công ty có tình hình tài chính lành mạnh, hoạt động có hiệu quả, làm ăn có lãi, nhưng đa phần các công ty này quy mô vốn còn chưa lớn
Ở một số công ty tỷ lệ phần vốn thuộc sở hữu nhà nước hoặc cổ đông lớn còn khá cao do vậy khối lượng cổ phiếu thực sự đưa vào giao dịch rất thấp Bên cạnh đó, do hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán chưa đầy đủ, cộng thêm với việc các công ty niêm yết chưa nhận thức đúng về ý nghĩa của công khai thông tin trên thị trường nên chưa chủ động, tự giác cung cấp thông tin cho công chúng đầu
tư đã khiến các nhà đầu tư chưa thực sự tin tưởng khi bỏ vốn ra đầu tư
b) Hoạt động của SGDCK, Trung tâm LKCK còn hạn chế về kỹ thuật
Những yếu tố bất cập chính liên quan chủ yếu đến tính năng các hệ thống bao gồm: hệ thống giao dịch, hệ thống thông tin thị trường, hệ thống thanh toán - bù trừ, hệ thống lưu ký, hệ thống giám sát Mức tự động hoá của các hệ thống chưa cao, chủ yếu được thực hiện thủ công hoặc bán thủ công, dẫn đến công suất và hiệu quả chưa cao, dễ gây lầm lẫn, sai sót, thậm chí là chưa thể thực thi một số chức năng cần thiết thị trường
c) Hoạt động của các tổ chức trung gian và hỗ trợ thị trường còn nhiều hạn chế
- Đội ngũ nhân viên hành nghề còn yếu về trình độ, kinh nghiệm và kỹ năng nghề nghiệp; Văn hoá kinh doanh tại nhiều công ty vẫn chưa được hình thành
- Các công ty chứng khoán mới chủ yếu triển khai được nghiệp vụ môi giới và tự doanh Nghiệp vụ bảo lãnh phát hành mới được thực hiện ở một vài công ty và chủ yếu là bảo lãnh phát hành trái phiếu Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chủ yếu triển khai được ở khâu tư vấn niêm yết, còn tư vấn đầu tư chứng khoán cho người đầu tư có chất lượng chưa cao Nhìn chung chất lượng dịch vụ cung cấp chưa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư
- Chi nhánh của các công ty chứng khoán và thành viên lưu ký hầu như chỉ tập trung ở hai thành phố lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh, chưa xây dựng được mạng lưới rộng các công ty chứng khoán và thành viên lưu ký ở các tỉnh, thành phố lớn khác, nên chưa thu hút được rộng rãi các nhà đầu
tư
- Một số loại hình tổ chức như quỹ đầu tư chứng khoán, công ty định mức tín nhiệm, đại lý đăng ký chuyển nhượng chứng khoán, là các định chế có vai trò quan trọng trên thị trường chứng khoán, số lượng vẫn còn quá khiêm tốn hoặc vẫn chưa được thành lập
d) Chưa thực sự có thị trường phát triển cho các công ty đại chúng chưa niêm yết,
Mục tiêu của thị trường chứng khoán là thu hút cổ phiếu vào giao dịch tại thị trường có sự quản lý của nhà nước, qua đó dần đi đến xoá bỏ thị trường xám tại Việt nam nhằm tạo ra được một mức độ bảo vệ cao nhất cho các nhà đầu tư Hiện nay, Luật CK và các văn bản dưới luật chưa tạo được một cơ chế để khuyến khích và chế tài các công ty thuộc dạng công ty đại chúng phải đăng ký với UBCK và tham gia thị trường UPCoM Số DN sẵn sàng tuân thủ những quy định chung nhất mới khoảng 1000 (là số DN đăng ký làm công ty đại chúng với UBCK tính đến tháng 12/2009) trong khi Việt Nam hiện ước tính có khoảng trên 4,000 CTCP thuộc đối tượng công ty đại chúng (vốn điều lệ từ
10 tỷ đồng trở lên, có trên 100 cổ đông) Như vậy tổng số DN niêm yết trên cả 2 sàn chính thức và đăng ký giao dịch trên UPCoM (600 DN) mới chỉ chiếm khoảng 15% số công ty đại chúng và số DN đăng ký tại UBCKNN (1000 DN) mới chiếm khoảng 25% số DN thuộc diện công ty đại chúng Do đó,
có thể thấy TTCK được quản lý tuy đã có bước phát triển mạnh trong mấy năm gần đây, nhưng vẫn còn rất nhỏ
Những tồn tại, hạn chế nêu trên là do một số nguyên nhân như sau:
- Tuy đã trải qua gần 10 năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt nam vẫn còn đang ở giai đoạn đầu phát triển và không thể tránh khỏi hạn chế; đặc biệt trong năm 2008, TTCK Việt nam phải
Trang 24chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu Bên cạnh đó, kinh nghiệm trong quản lý giám sát thị trường còn hạn chế, nên chưa kịp thời xử lý các tình huống, đặc biệt là lúc thị trường lên xuống thất thường Việc quản lý công bố thông tin của các tổ chức niêm yết, giám sát hoạt động của các công ty chứng khoán chưa có đủ kinh nghiệm Các nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ chiếm đa số, nên tâm
lý chưa ổn định Khi thị trường biến động mạnh thì tỏ ra hoang mang Đội ngũ cán bộ của các tổ chức trung gian tham gia hoạt động thị trường chứng khoán vẫn còn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm, đặc biệt về góc độ đạo đức nghề nghiệp chưa được chú trọng tại một số công ty nên chưa thực sự phát huy đúng vai trò trung gian môi giới
- Sự nghiệp phát triển thị trường là nhiệm vụ chung của các Bộ, ngành, các cấp Tuy vậy, vẫn còn tồn tại các nhận thức khác nhau về vai trò của thị trường chứng khoán trong nền kinh tế Việt Nam Trong những năm tới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đòi hỏi phải huy động một nguồn vốn rất lớn kể cả trong nước và ngoài nước một cách tối ưu, chỉ sử dụng vốn ngân sách, vốn ngân hàng vẫn không đủ và thiếu hiệu quả nếu không có sự tham gia tích cực của TTCK trong huy động vốn
- Tuy đã có hơn 20 năm phát triển kinh tế theo đường lối “Đổi mới” do Đảng và Nhà nước đề
ra, đặc biệt là đổi mới doanh nghiệp, nhưng việc cải cách khối doanh nghiệp Nhà nước thực sự chưa tiến triển mạnh, khu vực doanh nghiệp tư nhân chưa thực sự được khuyến khích, hỗ trợ phát triển để tạo môi trường cung cấp hàng hoá cho thị trường chứng khoán; Hệ thống tài chính, ngân hàng và các yếu tố thị trường trong nền kinh tế chưa thực sự phát triển và chưa đồng bộ
- Môi trường pháp lý theo cơ chế thị trường chưa được xây dựng đầy đủ, đồng bộ Hệ thống các văn bản pháp luật chung và chuyên ngành tuy đã được ban hành, nhưng còn nhiều bất cập với thực tiễn, thiếu tính đồng bộ, hệ thống và bao quát, thậm chí còn mâu thuẫn, chồng chéo
- Môi trường cơ sở hạ tầng vật chất - kỹ thuật chưa phát triển để có thể xây dựng một thị trường có kỹ thuật hiện đại và phạm vi rộng trên toàn quốc
- Môi trường về văn hoá, tâm lý xã hội, đặc biệt là văn hoá của một nền kinh tế thị trường,
chưa được phát triển ở Việt nam, xuất phát từ bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội đặc thù của Việt nam Ngoài ra tâm lý của các đối tượng tham gia thị trường chưa ổn định, từ các nhà quản lý, công ty phát hành, kinh doanh đến các nhà đầu tư rất bỡ ngỡ, thụ động tham gia thị trường, dù đã trải qua gần 10 năm thăng trầm của thị trường Các nhà đầu tư và các doanh nghiệp chưa hiểu và sử dụng thị trường hiệu quả Tâm lý trông chờ, ỷ lại Nhà nước còn phổ biến
Vì vậy, để TTCK Việt Nam phát triển đúng hướng, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế
xã hội mà Đảng và Chính phủ đã đặt ra, trong giai đoạn 10 năm tới cần phải xây dựng được một chiến lược phát triển toàn diện TTCK với các mục tiêu tổng quát như sau:
+ Phát triển thị trường chứng khoán phải dựa trên chuẩn mực chung của thị trường và các thông lệ quốc tế tốt nhất, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, tích cực hội nhập với thị trường tài chính khu vực và quốc tế
+ Phát triển TTCK đồng bộ, toàn diện, hoạt động hiệu quả, vận hành an toàn, lành mạnh, vừa góp phần huy động vốn cho đầu tư phát triển của xã hội vừa tạo ra những cơ hội đầu tư sinh lợi, góp phần nâng cao mức sống và an sinh xã hội
+ Phát triển TTCK nhiều cấp độ, bảo đảm các chứng khoán được tổ chức giao dịch theo nguyên tắc thị trường, có sự quản lý, giám sát của Nhà nước; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và có chính sách khuyến khích các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán
+ Đa dạng hoá các sản phẩm, nghiệp vụ của thị trường, đảm bảo cho các tổ chức kinh doanh, dịch vụ chứng khoán hoạt động an toàn, hiệu quả dựa trên nền tảng quản trị rủi ro và phù hợp với các chuẩn mực chung và thông lệ quốc tế Từng bước hoàn thiện hệ thống các trung gian thị trường trên nguyên tắc không gây xáo trộn lớn và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các thành viên thị trường
+ Phát triển TTCK theo hướng gắn kết với việc cải cách, sắp xếp khu vực DNNN và tạo động lực cho các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế huy động được các nguồn vốn đầu tư trung và dài hạn cho đầu tư phát triển
Trang 25+ Phát triển TTCK trong mối tương quan với việc phát triển thị trường tiền tệ, thị trường bảo hiểm, nhằm tạo ra một hệ thống thị trường tài chính thống nhất, đồng bộ có sự quản lý, giám sát của nhà nước Hoạt động quản lý, giám sát, điều hành và phát triển của các cơ quan quản lý nhà nước phải thống nhất về mục tiêu, mục đích, định hướng và giải pháp thực hiện
+ Chủ động hội nhập thị trường tài chính quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh, từng bước thu hẹp về khoảng cách phát triển giữa TTCK Việt Nam so với các thị trường khác trong khu vực và trên thế giới
Để thực hiện các mục tiêu tổng quát nêu trên, trong giai đoạn 2011-2020 cần có các giải pháp trên TTCK bám sát vào các mục tiêu cụ thể như sau:
1) Tăng quy mô, củng cố tính thanh khoản cho thị trường chứng khoán, phấn đấu đưa tổng giá trị vốn hoá thị trường cổ phiếu đạt mức tương đương các thị trường trong khu vực
2) Tăng tính hiệu quả của thị trường trên cơ sở hoàn chỉnh cấu trúc TTCK thông qua việc mở ra các sản phẩm mới - thị trường mới, hiện đại hoá cơ sở hạ tầng, chuyên nghiệp hoá việc tổ chức
và vận hành hạ tầng công nghệ thông tin
3) Nâng cao sức cạnh tranh của các định chế trung gian thị trường và các tổ chức phụ trợ, sẵn sàng đối mặt với thách thức hội nhập và sức ép từ các tổ chức kinh doanh chứng khoán nước ngoài Chủ động hội nhập quốc tế, có lộ trình và phù hợp với trình độ phát triển của thị trường 4) Tăng cường năng lực quản lý, giám sát, thanh tra, xử lý vi phạm và cưỡng chế thực thi của cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán
5) Tăng cường năng lực của các nhà đầu tư thông qua các chương trình đào tạo, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, thúc đẩy phát triển các nhà đầu tư có tổ chức, nâng cao nhận thức của xã hội về hoạt động trên TTCK, qua đó thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao vào ngành chứng khoán
Có thể nói, mười năm qua đã ghi nhận sự phát triển nhanh chóng và có chất lượng của TTCK Việt Nam Chúng ta đã có thể tự tin bước vào giai đoạn củng cố và tiếp tục nâng cao chất lượng và sự
đa dạng của thị trường Tuy vậy, còn rất nhiều công việc phải làm để đạt được các mục tiêu nói trên, phát triển TTCK trở thành một cấu phần quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, đóng góp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội nói chung của nước ta
Trang 26THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - MƯỜI NĂM NHÌN LẠI
PGS.TS Đinh Xuân Hạng
Học viện Tài chính
Mười năm, chặng đường đầu của thị trường chứng khoán(TTCK) Việt Nam Phát huy những thành quả chuyển đổi nền kinh tế, TTCK đã gặt hái được nhiều thành công - biểu hiện sinh động của một nền kinh tế đang đi lên Bên cạnh mặt tồn tại như là một tất yếu, khi còn thiếu những điều kiện cho
sự phát triển bền vững TTCK, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu
1 MỘT SỐ THÀNH CÔNG CHỦ YẾU
- Chuyển đổi mô hình tổ chức thị trường
+ Khai trương hoạt động Trung tâm giao dịch chứng khoán (SGDCK) thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 năm 2000 và SGDCK Hà Nội vào tháng 3 năm 2005 Đây là hai SGDCK tập trung và là GDCK thứ cấp Đến tháng 5 năm 2007 SGDCK thành phố Hồ Chí Minh chuyển đổi thành Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) và đến cuối năm 2007 SGDCK Hà Nội cũng được chuyển đổi thành SGDCK theo định hướng xây dựng thành thị trường OTC Cả hai SGDCK đều thực hiện chức năng tổ chức và giám sát GDCK tập trung và chuyển đổi hoạt động theo mô hình công ty TNHH một thành viên (theo quy định tại Luật chứng khoán) Hiện tại cổ phiếu niêm yết có quy mô vốn lớn được niêm yết và giao dịch trên SGDCK thành phố Hồ Chí Minh, các cổ phiếu niêm yết có quy mô vốn nhỏ và vừa được niêm yết và giao dịch trên SGDCK Hà Nội
+ Việc đưa vào vận hành thị trường UPCoM trên SGDCK Hà Nội từ ngày 24 tháng 6 năm 2009 cho pháp cổ phiếu của các Công ty đại chúng chưa niêm yết được giao dịch qua hệ thống có quản lý, hạn chế rủi ro cho các nhà đầu tư và bước đầu thu hẹp thị trường tự do
+ Các giao dịch thanh toán chứng khoán được thực hiện trên một hệ thống tập trung thông qua trung tâm lưu ký chứng khoán đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư
+ Thị trường trái phiếu đang dần được hoàn thiện trên cơ sở đẩy mạnh việc phát triển thị trường trái phiếu chính phủ (TPCP) tạo tiền đề cho thị trường trái phiếu công ty phát triển Sau một thời gian chuẩn bị cơ sở pháp lý và xây dựng hệ thống thị trường TPCP chuyên biệt được đưa vào hoạt động ngày 26/9/2009 đã tách bạch hoàn toàn giao dịch trái phiếu với giao dịch cổ phiếu cho phép các NHTM
đủ tiêu chuẩn trực tiếp tham gia giao dịch tự doanh TPCP
Với các mô hình tổ chức hoạt động thị trường nêu trên đã đáp ứng được các yêu cầu đặt ra
Phát huy hiệu quả mức độ trang bị công nghệ giao dịch sát với tốc độ phát triển của thị trường
Từng bước hoàn chỉnh cấu trúc của TTCK làm nâng cao khả năng quản lý, giám sát của Nhà nước
Thị trường cổ phiếu được xây dựng và phát triển theo nhiều cấp độ để đáp ứng nhu cầu phát hành cổ phiếu, niêm yết, giao dịch của nhiều loại hình doanh nghiệp
Thị trường trái phiếu hoàn thiện là để thúc đẩy phát triển cả thị trường TPCP và trái phiếu công ty Đồng thời các giao dịch ryso TPCP được ghi nhận và tách bạch trên hệ thống giúp minh bạch hoá các thông tin về giao dịch
- Mức độ vốn hoá thị trường tăng nhanh
Sau 10 năm phát triển TTCK Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc và đã có lúc được đánh giá là một trong những thị trường có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới; đặc biệt là mức độ, tỷ lệ và tốc độ tăng vốn hoá được thể hiện qua bảng số liệu sau:
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020
Trang 27(%) 33,44 52,76 -5,19 60,75 141,51 2263,79 123,62 -55,56 179,69
Nguồn: UBCKNN
Sau 5 năm hoạt động, TTCK Việt Nam vẫn ở giai đoạn phát triển sơ khai Đến 31/12/2005 tổng giá trị chứng khoán niêm yết đạt 9.356 tỷ đồng, tổng giá trị vốn hoá toàn thị trường mới đạt 1,1% GDP năm 2005
Năm 2006 thị trường cổ phiếu đạt mức tăng trưởng nhanh chóng, tổng giá trị vốn hoá thị trường đạt 221.156 tỷ đồng, chiếm 22,7% GDP
Năm 2007, tổng khối lượng giao dịch chứng khoán trên HoSE đạt hơn 2,389 tỷ chứng khoán, tương đương giá trị 245.485 tỷ đồng, trên HaSTC là hơn 1,364 tỷ chứng khoán, tương ứng với giá trị 140.943 tỷ đồng, mức vốn hoá thị trường đạt 43,23%
Năm 2008 trước bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu, TTCK Việt Nam chịu nhiều tác động Mặc dù số lượng cổ phiếu niêm yết đã tăng lên 338 và trái phiếu niêm yết tăng lên 596, song giá trị vốn hoá chỉ đạt 219.774 tỷ đồng, bằng khoảng 18,08% GDP
Năm 2009, mặc dù TTCK Việt Nam vẫn tiếp tục suy giảm mạnh trong quý I, song sau đó thị trường đã hồi phục và có sự tăng trưởng nhanh vào những tháng cuối năm Mức vốn hoá thị trường đạt 614.692 tỷ đồng, tương đương với 55% GDP
- Phát triển các định chế trung gian
Các định chế trung gian và dịch vụ thị trường ngày càng phát triển cả về số lượng, chất lượng hoạt động và năng lực tài chính
+ Tính từ thời điểm cuối năm 2005 đến nay, số lượng CTCK tăng gấp 7,5 lần lên 105 công ty, với tổng số vốn điều lệ tăng khoảng 3 lần Trong khi đó số lượng CTQLQ cũng đã tăng gấp gần 3 lần
từ 16 công ty cuối năm 2005 lên 47 công ty tính đến 31/12/2009 Các công ty ngày càng chú trọng năng lực quản trị, nâng cao hiệu quả hoạt động cung cấp dịch vụ
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong cung cấp dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao Trang thiết bị máy móc phục vụ cho kinh doanh được các công ty đầu tư loại mới và hiện đại Cùng với việc triển khai giao dịch trực tuyến, các loại hình dịch vụ cung cấp trên thị trường ngày càng đa dạng và có chất lượng, đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường, đáp ứng yêu cầu nhà đầu
tư trong và ngoài nước
+ Đối với hệ thống lưu ký thanh toán chứng khoán: ngày 27/7/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 189/2005/QĐ-TTg thành lập TTLKCK Đây là đơn vị sự nghiệp có thu trực thuộc UBCKNN có nhiệm vụ thực hiện đăng ký, lưu ký, bù trừ, thanh toán chứng khoán và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ giao dịch CK Sự ra đời của TTLKCK tác động rất lớn đến việc hỗ trợ hoạt động giao dịch trên TTCK Việt Nam, tạo niềm tin cho các chủ thể tham gia thị trường
Trang 282 MỘT SỐ HẠN CHẾ TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- Chỉ số chứng khoán biến động không ổn định
Sau 5 năm phát triển đến 31/12/2005 chỉ số VN-index mới đạt 307,5 điểm và chỉ số index đạt 96,24 điểm Giai đoạn 2006 - 2009 chỉ số chứng khoán tăng lên nhanh chóng Tháng 3/2007 các chỉ số VN-index đạt được mức cao nhất 1.170,76 điểm và HaSTC-index đạt 459,36 điểm
HaSTC-Tuy nhiên, do tác động của lạm phát diễn ra đầu năm 2008 nên đến ngày 20/6/2008 chỉ số index giảm nhanh chỉ còn 366,02 điểm (tức giảm 71% so với đầu năm); HaSTC-index giảm còn 105,12 điểm (tức 81%) Sau giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 chỉ số VN-index đã xuống tới mức thấp nhất là 251,44 điểm và HaSTC-index giảm còn 88,64 điểm vào ngày 13/3/2009
VN-Từ quý II/2009 TTCK Việt Nam đã có sự tăng trưởng mạnh trở lại Chỉ số VN-index đạt mức cao nhất là 624,1 điểm vào ngày 22/10/2009, tăng gần 150%
Từ cuối năm 2009 chỉ số chứng khoán trên 2 SGDCK biến động giảm, từ tháng 02/2010 đến nay biến động lúc tăng, lúc giảm, chỉ số VN-index trên dưới 500 điểm Đến ngày 16/6/2010 chỉ số VN-index là 510,72 điểm, HaSTC-index là 163,63 điểm
Một đặc điểm dao động của chỉ số CK ở Việt Nam là rất lớn, chỉ số VN-index biến động tăng hoặc giảm một phiên có thể lên đến 25 điểm, trong khi đó chỉ số CK trên thị trường CK thế giới chỉ từ
2 đến 3 điểm
Với sự biến động của chỉ số CK như trên càng thể hiện sự tăng trưởng không ổn định và bền vững của TTCK Việt Nam
- Hàng hoá còn thiếu và yếu
Nhìn chung, chất lượng của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam hiện nay chưa cao Điều này thể hiện trên một số khía cạnh như sau:
Một là chất lượng quản trị doanh nghiệp nói chung, bao gồm cả quản trị doanh nghiệp, quản trị tài chính, quản trị nhân sự… còn thấp Nguồn nhân lực nhất là nhân lực đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt như HĐQT, ban giám đốc… có trình độ chưa cao, chưa đáp ứng yêu cầu của loại hình doanh nghiệp cổ phần có tham gia niêm yết chứng khoán trên SGDCK Quản trị tài chính của các doanh nghiệp còn rất nhiều vấn đề, trong đó tình trạng doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhưng lại đầu
tư tài chính lớn, vấn đề báo cáo tài chính hợp nhất… rất phức tạp và chưa được quản lý một cách có hiệu quả
Hầu hết các doanh nghiệp chưa phải là các doanh nghiệp hàng đầu của nền kinh tế
Nhiều doanh nghiệp niêm yết là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, quy mô vốn thấp, chất lượng kinh doanh chỉ đạt mức trung bình, cơ hội mở rộng và phát triển không cao Chính vì vậy, vấn đề huy động vốn qua TTCK của các doanh nghiệp đã niêm yết còn hạn chế
+ Nhiều doanh nghiệp có chất lượng tốt, doanh nghiệp hàng đầu của nền kinh tế chưa muốn tham gia thị trường niêm yết
+ Chưa đánh giá một cách trung thực , chính xác chất lượng doanh nghiệp tham gia niêm yết:
Bản thân chất lượng hoạt động thu thập và xử lý thông tin, nhất là công tác kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, doanh nghiệp niêm yết nói riêng chưa được thực hiện tốt
Chất lượng công tác kiểm toán, hoạt động thanh tra, giám sát của các SGDCK, UBCKNN cũng chưa cao, chưa đánh giá được một cách chính xác chất lượng của doanh nghiệp niêm yết
Tổ chức dịch vụ chuyên về đánh giá chất lượng của các doanh nghiệp niêm yết chưa phát triển
- Nhà đầu tư cá nhân còn nhỏ lẻ
Đây là hạn chế không thể tránh khỏi đối với TTCK mới hình thành và phát triển như Việt Nam Các nhà đầu tư nhỏ lẻ quá lớn, thiếu kinh nghiệm cũng như kiến thức trong hoạt động đầu tư chứng khoán nên thường đầu tư theo phong trào, đầu tư bầy đàn theo xu hướng thị trường Chính vì vậy, diễn
Trang 29biến thị trường thường theo một chiều, hoặc cùng mua hoặc cùng bán, nhất là trong những năm
2005-2007 khi hàng hoá trên thị trường còn ít
Đây đồng thời cũng là một thách thức đối với vấn đề hình thành và phát triển các loại tổ chức đầu tư chuyên nghiệp như quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán… Bên cạnh đó đây cũng là thách thức lớn đối với sự phát triển ổn định và bền vững của TTTC khi các nhà đầu tư lớn, nhất
là các quỹ đầu tư CK nước ngoài thao túng thị trường Bởi nguồn lực tài chính và kinh nghiệm đầu tư của các tổ chức đầu tư này là rất mạnh trên một thị trường nhỏ bé của Việt Nam, nên mỗi khi thao túng, gây nhiễu giá hoặc một số mã CK sẽ gây ra sự biến động trên thị trường
Thực tế những năm vừa qua đã chứng minh vấn đề này, đã có thời điểm do hàng hoá quá ít, quỹ đầu tư nước ngoài vào nhanh nên thị trường đã tăng rất nóng, song sau đó lại giảm mạnh
- Hệ thống quản lý chưa hoàn thiện
Do là thị trường đang trong quá trình xây dựng và phát triển nên điều này không thể tránh được Song hệ thống quản lý lại thay đổi khá nhiều và nhanh trong thời gian ngắn cho thấy mức độ hoàn thiện thấp và khả năng dự báo cũng như xây dựng hệ thống quản lý đáp ứng mục tiêu phát triển lâu dài thấp Điều này thể hiện trên một số khía cạnh sau:
+ Thứ nhất là hệ thống luật pháp liên tục được thay đổi, sửa đổi, bổ sung, song cho đến thời điểm này vẫn chưa hoàn thiện Còn thiếu rất nhiều các quy định cũng như cần phải sửa đổi, bổ sung nhiều quy định cho phù hợp với tình hình phát triển mới
+ Hệ thống quản lý cũng chưa ổn định, UBCKNN khi mới thành lập là cơ quan độc lập, mới được sáp nhập vào Bộ Tài chính song lại có những ý kiến đề nghị xem xét tách ra độc lập Nhất là các SGDCK phát triển nhanh, song chưa theo định hướng và vẫn chưa đảm bảo sự thống nhất, đầy đủ của các cấu trúc thị trường, đảm bảo sự hoạt động có hiệu quả của toàn bộ thị trường cũng như triển vọng phát triển trong tương lai
+ Hệ thống giám sát, phòng ngừa rủi ro, phòng ngừa khủng hoảng chưa phát triển tương ứng với
sự phát triển của thị trường
- Cấu trúc thị trường chưa hợp lý
Hiện nay Việt Nam có hai sở GDCK là HOSE và HNX Ngoài ra còn nhiều thị trường GDCK khác được hình thành một cách tự phát, bao gồm:
+ Hoạt động giao dịch thứ cấp tại các công ty CK – một hình thức của thị trường OTC tự phát do các công ty CK đứng ra thực hiện
+ Hoạt động mua bán qua mạng không chính thức
+ Hoạt động cầm cố trái phiếu (chủ yếu là TPCP) và hoạt động mua bán trên thị trường tự do… Trong bản thân HNX hiện có tới ba (03) bảng giao dịch khác nhau bao gồm:
Bảng giao dịch cổ phiếu niêm yết
Bảng giao dịch TPCP chuyên biệt
Bảng giao dịch cho thị trường UpCom – thị trường cho các công ty đại chúng chưa niêm yết Đối với hoạt động chào bán CK trên thị trường sơ cấp được thực hiện hết sức đa dạng dưới nhiều hình thức bao gồm: đấu giá, đấu thầu, tự phát hành, bảo lãnh phát hành…
3 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán
Để thị trường hoạt động một cách hiệu quả, an toàn đòi hỏi phải có lòng tin từ phía các nhà đầu
tư, muốn thế quyền và lợi ích hợp pháp của công chúng đầu tư phải được đảm bảo an toàn Điều đó có nghĩa là các quy định pháp lý tiếp tục phải được chỉnh sửa cho phù hợp với thực trạng thị trường Hoàn thiện hệ thống pháp luật về TTCK cần đi vào những nội dung:
Trang 30 Hoàn thiện khung pháp lý theo thông lệ quốc tế, phù hợp với điều kiện thực tế và định hướng phát triển kinh tế – xã hội Trong đó, quan trọng nhất là sửa đổi bổ sung Luật chứng khoán theo hướng
mở rộng phạm vi điều chỉnh và đối tượng điều chỉnh của Luật phù hợp với hội nhập Quốc tế
Xây dựng và ban hành các quy định về CK hoá
Ban hành các quy định ở mức độ cao hơn về Quỹ đầu tư
Tiếp tục ban hành các văn bản hướng dẫn hoạt động nghiệp vụ trong lĩnh vực chứng khoán
- Tái cấu trúc thị trường chứng khoán
Cấu trúc TTCK hợp lý có tác động mạnh mẽ đến các thành viên tham gia thị trường Cần tái cấu trúc TTCK theo các định hướng:
Thực hiện cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu SGDCK và TTLKCK
Thành lập công ty quản lý vốn đầu tư và phát triển TTCK thuộc sở hữu Nhà nước để nắm giữ cổ phần chi phối các SGDCK, TTLKCK
Cấu trúc lại các SGDCK bằng việc phân loại SGDCK theo phương thức giao dịch, không phân biệt quy mô của tổ chức niêm yết
Phát triển hệ thống các nhà đầu tư, chú trọng nhà đầu tư có tổ chức, khuyến khích nhà đầu tư nước ngoài có mục tiêu đầu tư dài hạn, tiếp tục phát triển các nhà đầu tư tư nhân
Hoàn thiện chính sách và biện pháp bảo vệ nhà đầu tư
Phát triển các tổ chức cung ứng vốn, như các DNBH, BHXH, Quỹ hưu trí, tiết kiệm bưu điện, FDI…
- Củng cố và phát triển các tổ chức tham gia TTCK
Việc củng cố hệ thống các tổ chức trung gian CK đảm bảo tính chuyên nghiệp có đủ năng lực và tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực để cạnh tranh với các tổ chức KDCK trong khu vực Xu hướng
đó là:
Tăng cường năng lực của các tổ chức trung gian theo hướng chuyên nghiệp
Củng cố quy mô, năng lực quản trị rủi ro
Củng cố hoạt động của các công ty Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán
Trang 31TTCK là thị trường bậc cao, cho nên công tác này càng trở nên quan trọng Trong thời gian tới cần chú ý đến nội dung công việc sau:
Tăng cường năng lực quản lý TTCK của UBCKNN
Tăng cường giám sát TTCK, như hoàn thiện mô hình hệ thống giám sát TTCK, hoàn thiện hoạt động của UB giám sát tài chính quốc gia, thành lập cơ quan giám sát dịch vụ tài chính độc lập, kiểm soát các giao dịch tài chính ngầm trong nền kinh tế
Trang 32NHÌN LẠI CON ĐƯỜNG CỦA THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hoàng Thị Thanh Thuỳ, Phan Hoàng Diệu
Phòng Nghiên cứu và Tư vấn đầu tư - CTCP Chứng khoán Tân Việt
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam sau 10 năm hình thành và phát triển đã có những bước tiến nhất định, song vẫn còn những hạn chế không thể tránh khỏi của một thị trường non trẻ so với nhiều TTCK phát triển trên thế giới
Tăng trưởng về số lượng công ty niêm yết, TTCK Việt Nam thành 1 kênh huy động vốn hiệu quả cho DN
Với sự hình thành ban đầu chỉ là trung tâm giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (thành lập ngày 20/7/2000) và chỉ có 2 công ty niêm yết giao dịch là REE và SAM; đến nay đã có 237 cổ phiếu và
4 chứng chỉ quỹ được niêm yết Cùng theo đó, sau một thời gian dài chuẩn bị ngày 8/3/2005 trung tâm giao dịch chứng khoán thứ hai đặt tại Hà Nội được khai trương với 5 doanh nghiệp được niêm yết và tới thời điểm này đã có 298 doanh nghiệp niêm yết trên sàn Như vậy, số lượng cổ phiếu niêm yết trên thị trường hiện nay đã lên tới con số 539, giá trị vốn hoá thị trường tại ngày 15/6/2010 chiếm khoảng 42.62% GDP của năm 2009 Nhiều cổ phiếu lớn thuộc ngành ngân hàng, bất động sản, dầu khí không ngừng đăng ký niêm yết trên cả hai SGD với số lượng lớn như: VCB, PVX, CTG, LCG, D2D, OGC, VPH, PVG, PXI, PXM… – đánh dấu một bước tiến cho sự phát triển về lượng của TTCK Việt Nam
Sự chuyển biến về lượng thể hiện rõ qua số lượng các công ty niêm yết và giao dịch trên sàn Trong 4 năm đầu (2000 – 2005) số lượng các công ty tham gia vào thị trường khá khiêm tốn, chỉ có 27 công ty niêm yết thể hiện thị trường chứng khoán vẫn chưa thực sự là một kênh thu hút vốn hiệu quả
và hấp dẫn đối với các doanh nghiệp Hiệu quả huy động vốn của kênh trung gian tài chính này chỉ thực sự bùng nổ vào năm 2007 Nhiều đợt IPO lớn điển hình là của Bảo Việt và Vietcombank thời gian này đã thu hút được sự quan tâm khá lớn của các tổ chức nước ngoài, nguồn vốn gián tiếp từ nước ngoài ngày một nhiều thêm, thông qua góp vốn của các quỹ đầu tư nước ngoài trong những năm gần đây
Quy mô NY trên TTCK VN
Nguồn: TVSI tổng hợp, số liệu 2010 tính tới ngày 15/6/2010
Thông qua việc hình thành thêm trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội vào ngày 8/3/2005, thị trường chứng khoán từng bước thâm nhập, đóng góp phần nào vào sự phát triển của nền kinh tế Phương thức giao dịch trên thị trường cũng dần chuyển đổi từ sơ khai chỉ có 2 phiên giao dịch trong tuần lên 5 phiên giao dịch một tuần, các quy định về luật chứng khoán cũng dần được ban hành nhằm đảm bảo tính minh bạch cho thị trường hoạt động, hướng tới sự phát triển bền vững Nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư, phương thức giao dịch định kỳ và liên tục được đưa ra, tăng tính
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020
Trang 33thanh khoản trên thị trường Cũng trong năm nay, thị trường giao dịch trái phiếu tập trung cũng bắt đầu
đi vào hoạt động cùng với sự thành lập của SGDCK Hà Nội
Các chuyển biến về chất của thị trường cổ phiếu niêm yết
Một sự kiện khác đánh dấu sự trưởng thành của thị trường chứng khoán Việt Nam là SGDCK
Hồ Chí Minh chính thức chuyển thành Sở GDCK Hồ Chí Minh vào ngày 11/5/2007 và SGDCK Hà Nội chuyển thành SGDCK Hà Nội ngày 17/1/2009 Thông tin trên thị trường ngày càng minh bạch hơn khi UBCK NN yêu cầu các công ty niêm yết phải soát xét báo cáo tài chính định kỳ nửa năm một lần thay vì một năm một lần như trước, đồng thời cũng ra quy định tách biệt quyền kiểm soát tiền gửi của khách hàng giữa Ngân hàng và CTCK từ ngày 1/10/2008
Để tăng tính thanh khoản, hàng loạt các cơ chế, biện pháp được thực thi như HOSE triển khai giao dịch trực tuyến 12/1/2009, HNX vào 8/2/2010; UBCK NN dự định sẽ tăng thời gian giao dịch sang cả buổi chiều; Cơ chế khớp lệnh cũng thay đổi từ 3 đợt khớp lệnh định kỳ trên HOSE thành 2 đợt khớp lệnh định kỳ xác định giá mở cửa và giá đóng cửa và 1 lần khớp lệnh liên tục, chia nhỏ lô giao dịch từ 100 cổ phiếu xuống còn 10 cổ phiếu Ngoài ra UBCK cũng cho phép các CTCK thực hiện các nghiệp vụ repo, margin sau khi tỷ lệ ký quỹ tiền mua giảm từ 100% xuống 70%, tăng tỷ lệ sở hữu của NĐTNN từ 20% lên 49% riêng cổ phiếu ngân hàng vẫn giữ ở mức 30%
Hệ thống giao dịch trực tuyến giữa sở giao dịch và CTCK đã góp phần đẩy mạnh tính thanh khoản trên thị trường từ 8/2 khi SGDCK Hà Nội cũng triển khai giao dịch trực tuyến Tuy nhiên, diễn biến thị trường vẫn phụ thuộc khá nhiều vào tâm lý nhà đầu tư
Chất lượng hàng hoá của thị trường cũng được nâng cao khi yêu cầu với các công ty được niêm yết trên 2 sở giao dịch được thắt chặt hơn và hướng tới sự phân hoá về quy mô đối với công ty niêm yết tại 2 sở Theo đó, những công ty đang niêm yết tại HSX mà có vốn điều lệ dưới 80 tỷ đồng sẽ phải làm thủ tục chuyển sang niêm yết tại HNX như ALT, BPC, DXP, DPC, RHC, SAF, SJ1, CSG…
Với sự tham gia thị trường của các tổng công ty và tập đoàn lớn, hàng hoá trên giao dịch trên TTCK đang ngày càng đa dạng hoá với chất lượng dần được nâng lên Sự phát triển cả lượng và chất của thị trường chứng khoán sẽ thúc đẩy thị trường hoạt động hiệu quả hơn Tuy nhiên, quy mô của TTCK Việt Nam vẫn còn khá nhỏ so với các thị trường phát triển trên thế giới Quy mô vốn hoá nhỏ làm tăng nguy cơ lũng đoạn giá cổ phiếu trên thị trường Có thể quan sát thấy hiện tượng này trên TTCK Việt Nam với một số mã bị đẩy giá tăng liên tục dù không có đột biến gì trong hoạt động kinh doanh và triển vọng
Trang 34Biểu đồ: Diễn biến VN index từ 2000 đến nay
Nguồn: TVSI tổng hợp
Thị trường trái phiếu
Cùng với sự hình thành và phát triển của thị trường cổ phiếu niêm yết, thị trường trái phiếu cũng đang có những tiến triển Từ tháng 9/2009, hệ thống giao dịch chuyên biệt trái phiếu chính phủ đi vào hoạt động đánh dấu bước phát triển mới của thị trường trái phiếu Sau khi thực hiện thành công việc tập trung đấu thầu (2006) và tập trung niêm yết về SGDCK (2008), hiện nay tất cả các trái phiếu chính phủ được phát hành qua đấu thầu và bảo lãnh đều được giao dịch trên hệ thống giao dịch mới này
Tuy nhiên huy động vốn sơ cấp trên thị trường trái phiếu chưa đạt được kết quả mong đợi thời gian qua khi tỷ lệ thành công của các đợt phát hành trong năm 2009 chỉ đạt 3.6% so với mức 22.2% năm 20081 Một nguyên nhân có thể kể đến là do trên thị trường sơ cấp vẫn áp dụng cơ chế lãi suất trần chưa thực sự linh hoạt và chưa đáp ứng được kỳ vọng lãi suất của NĐT
Ngoài TPCP, trái phiếu doanh nghiệp cũng là một loại hàng hoá tiềm năng được nhiều tổ chức tài chính lớn chú ý Trong năm 2009 đã có 15 đợt các doanh nghiệp phát hành trái phiếu thay vì 2 – 3 doanh nghiệp như năm 2008 Tổng giá trị huy động được lên tới 20,000 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần so với năm 2008 Trong đó có sự góp mặt của các đơn vị quốc doanh như EVN, Vinacomin, Vinasteel, còn lại
là các doanh nghiệp ngoài quốc doanh như KBC, HAG, FPT, Techcombank, VIB…
Mặc dù các doanh nghiệp đã có sự linh động trong việc tìm kiếm nguồn vốn từ kênh huy động thị trường nợ song thị trường TPDN ở Việt Nam vẫn còn hạn chế, cơ cấu trái phiếu doanh nghiệp cũng mới chỉ dừng ở con số 10% thị trường trái phiếu Việt Nam và không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng làm được Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do sự thiếu minh bạch trong công
bố thông tin của doanh nghiệp huy động vốn Thêm vào đó, bản thân các doanh nghiệp không đáp ứng
đủ điều kiện về vốn, kết quả hoạt động kinh doanh cũng làm hạn chế sự phát triển của thị trường TPDN
Thị trường trái phiếu thứ cấp dù tăng trưởng mạnh về quy mô nhưng thanh khoản chưa cao
Tính từ năm 2005 – khi trái phiếu chính phủ đấu thầu được phép giao dịch tập trung tại trung tâm GDCK Hà Nội, đến nay quy mô của thị trường đã không ngừng mở rộng, từ 7 trái phiếu lên 509 trái phiếu được niêm yết và giao dịch tập trung Quy mô thị trường trái phiếu đạt 140.000 tỷ đồng, chiếm khoảng 10% GDP năm 2009 Dù có tới 508 mã trái phiếu được niêm yết giao dịch nhưng tính thanh khoản trên thị trường thứ cấp vẫn thấp do đặc thù lô nhỏ của mỗi loại trái phiếu Quy mô giao dịch bình quân 3 năm qua ở mức xấp xỉ 480 tỷ đồng/phiên
1
Đào Thị Thu Huyền Tổng hợp giao dịch trái phiếu 2009
Trang 35Quy mô thị trường trái phiếu
Nguồn: TVSI tổng hợp, số liệu 2010 tính tới ngày 15/6/2010
UPCoM bắt đầu chuyển động
Năm 2009 cũng là năm đánh dấu khá nhiều sự kiện quan trọng trên TTCK Việt Nam Từ việc hình thành hệ thống giao dịch trái phiếu chuyên biệt, đến việc thành lập Sở GDCK Hà Nội và sự ra đời của thị trường UPCoM ngày 24/6 UPCoM được xem là trung gian giữa thị trường tự do (OTC) và thị trường niêm yết, nó có phần giống thị trường OTC nhưng được quản lý tập trung, chính thức
UPCoM thành lập với mục đích thu hẹp hoạt động của thị trường tự do, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam một diện mạo mới, mở ra nhiều cơ hội cho các công ty đại chúng chưa niêm yết đồng thời thể hiện vai trò tạo lập thị trường của các công ty chứng khoán Tuy nhiên UPCoM vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của nhà đầu tư cũng như các cơ quan quản lý với số lượng công ty giao dịch chưa cao và thanh khoản hạn chế Với hơn 1,000 công ty đại chúng chưa niêm yết, đến nay chỉ có 40% đăng ký niêm yết trên UPCoM và mới có 75 doanh nghiệp chính thức giao dịch2 Khối lượng giao dịch trên thị trường từ cuối tháng 10/2009 đến nay chỉ đạt mức vài trăm nghìn cổ phiếu mỗi phiên với giá trị trung bình dao động quanh mốc 1 tỷ đồng/phiên Song tính từ đầu năm 2010 đến nay, thanh khoản trên thị trường UPCoM được cải thiện, trung bình mỗi phiên có hơn 520 nghìn cổ phiếu được giao dịch, giá trị giao dịch trung bình mỗi phiên đạt trên 7.59 tỷ đồng
Một số nguyên nhân của thực trạng này ngoài cơ chế khớp lệnh yêu cầu khớp cả giá và khối lượng còn có thể kể đến là các hạn chế về quy chế giao dịch của UPCoM so với OTC Trong khi thị trường UPCoM có biên độ giao dịch 10%, thanh toán T+3, không cho phép nhà đầu tư mua bán cùng một loại chứng khoán trong ngày thì OTC không có biên độ, thanh toán T+0 và nhà đầu tư có thể tự do mua bán bất kỳ mã chứng khoán nào họ muốn Đồng thời công ty đại chúng (CTĐC) lại có thể thu phí chuyển nhượng của nhà đầu tư Việc thuế TNCN từ chứng khoán có hiệu lực từ năm 2010, trong khi không có quy định bắt buộc CTĐC niêm yết trên UPCoM, sẽ là yếu tố khuyến khích các giao dịch OTC nơi mà cả NĐT và CTĐC đều thấy có lợi ích
Con đường phía trước
Dù đạt được bước tiến đáng kể trong thời gian qua, TTCK Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế với tuổi đời non trẻ Để thị trường phát triển bền vững, còn nhiều việc phải làm nhưng 2 vấn đề cần được đặt trọng tâm giải quyết hiện nay trên TTCK Việt Nam theo chúng tôi là hỗ trợ tính thanh khoản
và nâng cao tính minh bạch của thị trường Nới lỏng các quy định về giao dịch như cho phép nhà đầu
tư được mở nhiều tài khoản, cho phép giao dịch T+2, bỏ biên độ giao dịch đối với thị trường sẽ giúp cải thiện thanh khoản Thực hiện chuẩn hoá báo cáo, tăng cường chế tài về công bố thông tin của DN
và các đối tượng liên quan sẽ giúp nâng cao tính minh bạch của thị trường3
Trang 36PHẦN II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Trang 37ĐẦU TƯ GIÁN TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
TS Lê Văn Châu
Chủ tịch Hiệp hội Kinh doanh Chứng khoán VN
I Nhìn lại 10 năm ra đời Thị trường Chứng khoán Việt Nam
Trước bối cảnh hội nhập, nền kinh tế nước ta đang phải đối mặt với sự cạnh tranh kinh tế toàn cầu và ảnh hưởng từ biến động kinh tế - tài chính thế giới Trước khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, kinh tế Việt Nam luôn duy trì sự phát triển với tốc độ cao và tương đối ổn định Từ năm
2001 - 2005 tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 7,5% năm và trên 8% vào những năm 2006 - 2007; các năm 2008 - 2009 tốc độ tăng trưởng GDP đã giảm xuống 6,18% và 5,32%, trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục bị suy thoái mạnh trước tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, thâm hụt ngân sách đi liền với thâm hụt thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, do đó còn tiềm ẩn những rủi ro vĩ mô, để duy trì tốc độ phát triển cao cho nền kinh tế Việt Nam trong thời gian tới cần phải khơi thông kênh huy động vốn qua thị trường chứng khoán (TTCK)
TTCK Việt Nam vận hành được 10 năm, sự ra đời TTCK đánh dấu một bước phát triển mới của nền kinh tế Việt Nam cũng là một sự kiện quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển cũng như quá trình hội nhập kinh tế, xã hội của Việt Nam Khởi đầu chỉ có 02 công ty niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, tới nay đã có 517 công ty, 04 chứng chỉ quỹ niêm yết đăng ký giao dịch tại hai Sở Giao dịch Chứng khoán với tổng mức vốn hoá toàn thị trường tính tại thời điểm 15 tháng 9 năm 2009 chiếm trên 42% GDP và 573 loại trái phiếu niêm yết tại hai Sở Giao dịch Việc ra đời TTCK và vận hành thị trường được an toàn, đã trở thành một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng trong vòng 10 năm là một thành công to lớn của Việt Nam
Quá trình phát triển TTCK của Việt Nam trong 10 năm vừa qua có thể phân thành 2 giai đoạn: giai đoạn thị trường định hình từ năm 2000 - 2005 và giai đoạn tăng trưởng từ năm 2006 đến nay, ngoại trừ năm 2008 khi TTCK sụt giảm Sự tăng trưởng của TTCK trong năm 2006 mang tính đột phá, chỉ tính riêng trong năm 2006, vốn hoá thị trường so với GDP tăng mạnh từ 1,11% GDP lên tới 22,7% GDP Số lượng chứng khoán niêm yết tăng từ 41 (thời điểm cuối năm 2005) lên 654 (cuối năm 2006),
số lượng nhà đầu tư tăng ba lần, từ hơn 31.000 lên tới trên 106.000 tài khoản giao dịch So với mục tiêu của Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam đến năm 2010 thì TTCK Việt Nam đã phát triển nhanh và đạt được hầu hết các mục tiêu để trở thành một kênh dẫn vốn trung và dài hạn quan trọng của nền kinh tế đất nước Thể hiện qua một số điểm sau đây:
1 Quy mô thị trường tăng trưởng mạnh, mở ra một kênh dẫn vốn quan trọng cho nền kinh tế
- Quy mô của TTCK tập trung được mở rộng, tổng giá trị thị trường tới 40% GDP tại thời điểm hiện tại, vượt mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển TTCK đến 2010 đạt mức 10% - 15% GDP Số lượng các công ty niêm yết tăng từ 02 công ty lên 517 công ty
- TTCK trở thành kênh huy động vốn mới cho nền kinh tế Bên cạnh kênh tín dụng ngân hàng mang tính chất truyền thống Huy động vốn qua TTCK tăng trưởng mạnh mẽ và đạt mức đỉnh là 127.000 tỷ đồng vào năm 2007 (chiếm 11,69% tổng vốn huy động toàn nền kinh tế) Năm 2008, do tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô nên huy động vốn giảm xuống 29.000 tỷ chiếm 2,17% huy động vốn toàn nền kinh tế
- TTCK tập trung dần trở thành một kênh huy động vốn cho ngân sách nhà nước và đầu tư phát triển thị trường thông qua các đợt đấu thầu Trái phiếu Chính phủ và tổ chức kinh tế Từ năm 2000 tới 30/6/2007, TTCK trở thành kênh huy động tới 42% tổng giá trị các đợt phát hành Trái phiếu Chính phủ hoặc được Chính phủ bảo lãnh phát hành
- Gắn kết được công tác cổ phần hoá DNNN với việc huy động vốn từ công chúng đầu tư, đấu giá cổ phần và niêm yết giao dịch trên các Sở Giao dịch Chứng khoán, góp phần thúc đẩy nhanh việc sắp xếp khu vực DNNN theo tiến trình cải cách nền kinh tế của Chính phủ Thực tế, việc gắn kết công
KỶ YẾU HỘI THẢO
Thị trường chứng khoán Việt Nam- 10 năm nhìn lại và xu hướng phát triển đến năm 2020
Trang 38tác cổ phần hoá DNNN với công tác tạo hàng cho TTCK là nhân tố chủ đạo quyết định thành công trong việc tạo ra một nguồn hàng phong phú, góp phần thúc đẩy tăng trưởng quy mô của TTCK
2 Cấu trúc của TTCK từng bước được hoàn thiện theo hướng tách chức năng quản lý với chức năng tổ chức và vận hành thị trường, góp phần nâng cao khả năng quản lý, giám sát của nhà nước
- Các trung tâm Giao dịch Chứng khoán (SGDCK), Trung tâm Lưu ký Chứng khoán (TTLKCK) được tách ra khỏi cơ cấu Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCK) cơ quan quản lý, giám sát và điều hành, tổ chức thị trường được tách bạch và linh hoạt hơn Các SGDCK sau đó được chuyển đổi thành Sở Giao dịch Chứng khoán (SGDCK) hoạt động trên nguyên tắc và thông lệ quốc tế TTLKCK hoạt động độc lập, cung cấp các dịch vụ đăng ký chứng khoán, lưu ký và thanh toán cho hoạt động giao dịch chứng khoán tại các SGDCK, thực hiện việc đăng ký lưu ký các loại chứng khoán phát hành ra công chúng nhưng chưa được niêm yết Mô hình tổ chức của hai SGDCK, TTLKCK được chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp nhằm tăng cường quản trị và năng lực hoạt động cho các tổ chức này với tư cách là các pháp nhân độc lập
- Phát triển thị trường cổ phiếu niêm yết các cấp độ tại hai SGDCK, bảo đảm TTCK có tính thanh khoản cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường và thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá DNNN, tăng cường tính công khai, minh bạch và quản trị doanh nghiệp Củng cố và cải tiến về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hệ thống giao dịch, hệ thống giám sát và công bố thông tin thị trường, cơ cấu tổ chức tại các SGDCK để nâng cao chất lượng phục vụ doanh nghiệp, phục vụ thị trường Sự phát triển nhanh chóng của thị trường cổ phiếu niêm yết tại các SGDCK đã khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường có tổ chức, tạo nên hiệu quả huy động vốn cho doanh nghiệp
- Tiếp tục hoàn thiện cấu trúc thị trường vốn: Xây dựng và vận hành hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt tách khỏi thị trường cổ phiếu Đưa vào vận hành hệ thống giao dịch cổ phiếu của các công ty đại chúng chưa niêm yết UpCom, đưa cổ phiếu phát hành của các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá và các công ty cổ phần thuộc khu vực tư nhân được giao dịch trên thị trường tự do và giao dịch trên thị trường có sự quản lý, giám sát của cơ quan quản lý nhà nước nhằm
mở rộng thị trường có tổ chức, có sự quản lý và thu hẹp dần thị trường tự do Vừa tăng cường tính minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư, mặt khác triệt tiêu những hệ thống rủi ro tiềm ẩn có thể ảnh hưởng đến cả thị trường chính thức và hệ thống tài chính
3 Hệ thống các định chế tài chính trung gian của TTCK Việt Nam phát triển nhanh, mạnh về
số lượng cũng như chất lượng, tiềm lực tài chính và năng lực hoạt động của các tổ chức này ngày càng được hoàn thiện
- Đã có 105 công ty chứng khoán với cơ cấu sở hữu đa dạng, bao gồm các cổ đông, thành viên góp vốn là các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các tổ chức nước ngoài được cấp phép và hoạt động Với mạng lưới chi nhánh, phòng giao trải khắp các tỉnh, thành phố lớn, các khu vực đông dân cư trong cả nước, hệ thống các công ty chứng khoán đã cung cấp dịch vụ chứng khoán 600.000 nhà đầu tư, giúp công chúng đầu tư dễ dàng tiếp cận với TTCK Thông qua các tổ chức trung gian tài chính này, một lượng tiền lớn của các nhà đầu tư được đưa vào thị trường, tăng thêm cầu cho TTCK Ngoài ra, các công ty chứng khoán đã hỗ trợ quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, góp phần thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá và thực hiện mục tiêu cải cách nền kinh tế Chính phủ
- Đã có 46 công ty quản lý quỹ với cơ cấu sở hữu đa dạng, bao gồm các cổ đông, thành viên góp vốn là các tổ chức cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả các tổ chức nước ngoài được thành lập và hoạt động, đặt nền móng cho sự phát triển hệ thống các nhà đầu tư chuyên nghiệp, dẫn dắt thị trường, đảm bảo thị trường phát triển bền vững và an toàn nâng cao trình độ về quản trị công ty, sự chuyên nghiệp, quản lý rủi ro và đạo đức nghề nghiệp Nhân sự được cấp phép hành nghề và các chức danh quản lý tại các công ty quản lý quỹ bảo đảm có trình độ và năng lực chuyên môn, kinh nghiệm cao đáp ứng yêu cầu phát triển một lĩnh vực mới, chuyên sâu theo những chuẩn mực quốc tế Các công
ty quản lý quỹ đã thành lập và quản lý các quỹ đầu tư chứng khoán, thực hiện việc quản lý trên 200 danh mục đầu tư cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Tổng giá trị tài sản do các tổ chức này huy động và quản lý ước đạt 66.000 tỷ đồng (tương đương 3,8 tỷ USD)
- Hệ thống các định chế trung gian không chỉ tăng về số lượng và cả về chất lượng, sự cạnh tranh lành mạnh là lực đẩy khiến các tổ chức này ngày càng phải nâng cao hiệu quả hoạt động và chất
Trang 39lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng Các tổ chức này đã chú trọng nâng cao năng lực quản trị, ứng dụng công nghệ thông tin, đầu tư trang thiết bị máy móc hiện đại phục vụ cho kinh doanh Cùng với việc triển khai giao dịch trực tuyến, các loại hình dịch vụ cung cấp trên thị trường ngày càng đa dạng
và có chất lượng, đảm bảo tính công khai, minh bạch và bình đẳng trên thị trường, đáp ứng nhu cầu của nhà đầu tư trong và ngoài nước
4 Hệ thống các nhà đầu tư trong và ngoài nước phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng
Trong vòng 10 năm, số lượng nhà đầu tư tham gia TTCK tăng mạnh từ gần 3.000 tài khoản (cuối năm 2000) lên tới gần 880.000 (tháng 3/2010), tăng gần 300 lần trong vòng 10 năm
Bên cạnh đó, các ngân hàng thương mại, các công ty tài chính, hàng trăm các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, các doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tích cực tham gia trên TTCK, góp phần hình thành một hệ thống các nhà đầu tư chuyên nghiệp Tính đến thời điểm cuối tháng 8/2009, có tất cả 21 quỹ đầu tư chứng khoán, trong đó có 04 quỹ đại chúng và 17 quỹ thành viên thành lập và hoạt động Hoạt động của các quỹ đầu tư được đánh giá là rất hiệu quả, chuyên nghiệp và tăng trưởng đều đặn, ổn định Hệ thống các nhà đầu tư chuyên nghiệp tiếp tục được khuyến khích, tạo điều kiện phát triển nhằm bảo đảm có một TTCK tăng trưởng nhanh, bền vững, đủ khả năng hấp thu và làm triệt tiêu những cú sốc từ thị trường, bảo đảm an ninh tài chính quốc gia và sự an toàn của cả nền kinh tế
Ngoài ra, các chính sách khuyến khích đầu tư, môi trường đầu tư thân thiện, cởi mở, TTCK Việt Nam còn thu hút sự tham gia ngày càng đông đảo của các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức nước ngoài Đến nay đã có trên 10.000 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trong đó có trên 1.000 tài khoản là của các tổ chức nước ngoài, các quỹ đầu tư nước ngoài
5 Hệ thống văn bản pháp lý, khuôn khổ pháp lý được phát triển một cách đồng bộ, thống nhất, phù hợp với thực tiễn phát triển TTCK Việt Nam cũng như kinh nghiệm và các thông lệ quốc tế,
từ đó giúp cho TTCK hoạt động tốt hơn, đảm bảo tính công bằng, công khai, minh bạch
Sau khi Luật Chứng khoán có hiệu lực năm 2007, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Chứng khoán nhanh chóng được ban hành, tạo điều kiện cho TTCK hoạt động tốt hơn, đảm bảo tính công bằng, minh bạch Hệ thống các văn bản pháp lý hiện tại đã tương đối toàn diện, bao trùm tất cả các lĩnh vực của TTCK, bao gồm cả thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu
Hệ thống văn bản pháp lý không chỉ toàn diện, thống nhất mà còn thường xuyên được điều chỉnh để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực chứng khoán, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư và tạo ra môi trường kinh doanh, đầu tư thông thoáng, thân thiện và phù hợp với thông lệ quốc tế
II Đầu tư gián tiếp nước ngoài vào TTCK Việt Nam
Nhìn lại lịch sử thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài của Việt Nam, có thể tạm chia thành
ba giai đoạn phát triển của dòng vốn này, cụ thể như sau:
Giai đoạn 1991 - 1997: Mặc dù chưa có TTCK, thực tế đã có một dòng vốn đầu tư gián tiếp
nước ngoài vào Việt Nam từ những năm đầu của thập niên 90 khi Việt Nam bắt đầu thực hiện chính sách kinh tế mở cửa Giai đoạn này có 7 quỹ được thành lập với tổng số vốn được huy động khoảng
400 triệu USD nhằm mục tiêu đầu tư tài chính tại Việt Nam, trong đó có 04 Quỹ là các quỹ đại chúng niêm yết tại một số thị trường quốc tế như Anh, Irland… Sau khi Việt Nam bình thường hoá quan hệ với Mỹ, giá giao dịch chứng chỉ của các quỹ này tăng mạnh và luôn cao hơn giá trị tài sản ròng Tuy nhiên, không lâu sau đó vào năm 1996 và 1997, giá chứng chỉ quỹ của 04 quỹ niêm yết trong thời kỳ này đã sụt giảm mạnh và liên tục được giao dịch thấp hơn từ 43.6% - 47.7% so với giá tài sản ròng Giai đoạn này thực tế cũng là giai đoạn khó khăn cho các quỹ có mục tiêu đầu tư tại Việt Nam do cơ hội đầu tư còn hạn chế, thị trường tài chính còn manh nha chưa phát triển Vào thời kỳ này, số lượng doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần và DNNN được cổ phần hoá rất ít Trong suốt từ năm 1992 đến
1998 chỉ có 38 doanh nghiệp tư nhân được thành lập và 128 DNNN được cổ phần hoá
Giai đoạn 1997 - 2002: Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á năm
1997 - 1998, làn sóng đầu tư nước ngoài (bao gồm cả đầu tư trực tiếp và gián tiếp) vào châu Á bị chững lại và sụt giảm về quy mô Mặc dù Việt Nam được đánh giá là một trong những nước ít bị ảnh
Trang 40hưởng nhất nhưng tình hình đầu tư gián tiếp nước ngoài cũng không sáng sủa hơn các quốc gia trong khu vực Trong thời gian 1998 - 2002, không những không có một quỹ đầu tư mới nào được thành lập
mà các quỹ thành lập trước đó lại đua nhau rút vốn hoặc giảm quy mô hoạt động xuống Trong số bảy quỹ đầu tư đã có hoạt động đầu tư tại Việt Nam, 5 quỹ đã rút hoạt động khỏi Việt Nam, một quỹ thu hẹp quy mô đến 90% quy mô hoạt động, chỉ còn lại duy nhất Quỹ Enterprise Investment Fund được thành lập tháng 7/1995 với quy mô nhỏ nhất trong số 7 quỹ là vẫn tồn tại và hoạt động cho đến nay
Giai đoạn 2003 tới nay: Từ năm 2003 trở đi, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt
Nam mới thực sự được xem là hồi phục và ngày càng tăng lên cùng với việc cải thiện môi trường đầu tư; Sự ra đời và hoạt động của TTCK bao gồm SGDCK TP Hồ Chí Minh vào tháng 7/2000, SGDCK
Hà Nội vào tháng 3/2005; Chủ trương và quyết tâm của Chính phủ trong việc đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp lớn và nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của DNNN trong các doanh nghiệp được cổ phần hoá từ 30% lên 49%
Sự phục hồi của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài vào Việt Nam được tăng dần qua từng năm và tăng đột biết trong năm 2006 và 2007, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của TTCK Việt Nam Nhìn chung, theo các số liệu thống kê không chính thức (báo cáo của Ngân hàng ANZ) tổng mức đầu
tư gián tiếp vào Việt Nam giai đoạn từ năm 2001 - 2006 ước đạt khoảng 12 tỷ USD và năm 2007 đạt khoảng 5,7 tỷ USD
Cùng với sự tăng lên của vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài trong hai năm 2006 - 2007, lĩnh vực hoạt động của các quỹ đầu tư nước ngoài cũng có sự thay đổi Nếu như các quỹ đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian những năm 90 chủ yếu là các quỹ đầu tư mạo hiểm sẵn sàng chấp nhận rủi ro khi đầu tư vào Việt Nam với khung pháp lý chưa hoàn thiện, khu vực kinh tế tư nhân chưa phát triển, TTCK chưa được thành lập, cơ hội đầu tư còn ít, nên việc giải ngân vốn đầu tư gặp nhiều khó khăn thì những quỹ đầu tư trong những năm sau này được thành lập do các nhà đầu tư nước ngoài đã nhận thấy tiềm năng phát triển lớn của TTCK Việt Nam cùng với chính sách cổ phần hóa các DNNN có quy mô lớn được đẩy mạnh thực hiện
Tuy nhiên, sang tới năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, trước những khó khăn của nền kinh tế Việt Nam, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có dấu hiệu chững lại và thậm chí đã có dấu hiệu dòng vốn đảo chiều trong nửa đầu năm 2008 Tuy nhiên, sang năm 2009 quy mô vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài rút khỏi TTCK Việt Nam đã giảm dần và dòng vốn này đã có xu hướng quay trở lại kể
từ Quý II năm 2009
Tính tới thời điểm cuối năm 2009 đã có khoảng 12.439 tài khoản giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài trong đó có trên 1.149 tài khoản là của các tổ chức nước ngoài, bao gồm các quỹ đầu tư và các tổ chức kinh tế khác của nước ngoài Mặc dù nhà đầu tư nước ngoài chỉ chiếm khoảng 1.5% số nhà đầu tư tham gia TTCK, tuy nhiên khối lượng giao dịch lại chiếm tới 20 - 25% Cụ thể, trong năm 2006
- 2007, giao dịch của khối nhà đầu tư nước ngoài chiếm tới gần 25% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường Năm 2008, mặc dù tình hình thị trường trong và ngoài nước không khả quan, nhưng khối lượng giao dịch của nhà đầu tư NN vẫn chiếm tới gần 20% tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường
Các luồng vốn đầu tư nước ngoài luôn là những động lực mạnh mẽ thúc đẩy phát triển và tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm hai hình thức: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp, mỗi dòng vốn mang lại những lợi ích
và có ảnh hưởng khác nhau tới sự phát triển kinh tế của quốc gia tiếp nhận vốn nước ngoài
Dòng vốn đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã tăng mạnh, đột biến chỉ trong một thời gian ngắn,
cụ thể năm 2006 và 2007 Sự quan tâm của nhà đầu tư nước ngoài vào TTCK Việt Nam là dấu hiệu đáng mừng Thực chất đây chính là thành quả của các chính sách kinh tế mà Đảng và Chính phủ đã đề
ra, cụ thể như chính sách cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước, cũng như chủ trương hội nhập kinh
tế sâu rộng của Việt Nam… Việc khai thông, duy trì dòng vốn nước ngoài là cần thiết cho công cuộc phát triển kinh tế, tuy nhiên đồng hành với nó là các chính sách kinh tế vĩ mô phải linh hoạt và đồng bộ nhằm phải đảm bảo khả năng khống chế và kiểm soát rủi ro của dòng vốn này Đây là một vấn đề rất phức tạp và hầu như không thể có được những công cụ thống nhất để xử lý, các quốc gia đang phát triển đều gặp phải những khó khăn này và đây là lúc chúng ta cần nhanh chóng đưa ra các quyết sách phù hợp dựa trên nguyên lý thị trường và trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế