Hạch toán kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra đã trở thành công cụ không thể thiếu được trong quá trình quản lý, chỉ đạo hoạt động ngân hàng. Cũng chính vì vậy, kế toán ngân hàng trở thành một trong những môn học chính trong chương trình đào tạo của Học viện Ngân hàng. Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu nghiệp vụ kế toán ngân hàng của sinh viên, học viên, năm 2002 dưới sự chỉ đạo của Hội đồng khoa học Học viện Ngân hàng, tập thể tác giả gồm: NGƯT. Vũ Thiện Thập (chủ biên), Th.s Nguyễn Thị Thanh Hương, TS. Vũ Thị Liên, TS. Đào Y, Ths. Bùi Quang Tiên, Cử nhân Nguyễn Thị Hoa và Phạm Hoàng Đức đã biên soạn lần đầu giáo trình Kế toán ngân hàng. Qua 3 năm sử dụng, giáo trình Kế toán ngân hàng đã có tác dụng tốt trong việc cung cấp hệ thống lý luận, kỹ thuật nghiệp vụ kế toán ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cho các đối tượng là giáo viên, sinh viên và các đối tượng khác quan tâm đến việc học tập và nghiên cứu lĩnh vực này. Tuy nhiên, hiện nay hoạt động ngân hàng đã có một số thay đổi về cơ chế nghiệp vụ, đặc biệt trong xu hướng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và hội nhập quốc tế về lĩnh vực kế toán. Chế độ và kỹ thuật nghiệp vụ kế toán ngân hàng đã có những sự thay đổi cơ bản, trong đó nghiệp vụ kế toán ngân hàng đang thực hiện chuẩn hóa theo các Chuẩn mực kế toán Việt Nam mới được ban hành và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế. Do vậy, nội dung giáo trình Kế toán ngân hàng cần phải được biên soạn lại để phù hợp với những biến đổi nói trên. Cuốn giáo trình kế toán ngân hàng biên soạn lại lần này, về cơ bản vẫn giữ nguyên kết cấu đã được Hội đồng khoa học Học viện phê duyệt năm 2002. Nội dung giáo trình bao quát cả kế toán ngân hàng thương mại và kế toán Ngân hàng Nhà nước, được chia thành 4 phần với 12 chương: Phần một: Những vấn đề chung về Kế toán ngân hàng Phần này gồm 1 chương chương I, trong đó trình bày những nội dung được coi là tổng luận về Kế toán ngân hàng như đối tượng, nhiệm vụ, đặc điểm, vai trò của kế toán ngân hàng; các nguyên tắc kế toán cơ bản; tổ chức công tác kế toán ngân hàng và các phương pháp kế toán áp dụng trong kế toán ngân hàng.
Trang 1Lời nói đầu
Hạch toán kế toán với chức năng thông tin và kiểm tra đã trở thành công cụ không thể thiếu được trong quá trình quản lý, chỉ đạo hoạt động ngân hàng Cũng chính vì vậy, kế toán ngân hàng trở thành một trong những môn học chính trong chương trình đào tạo của Học viện Ngân hàng
Để đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu nghiệp vụ kế toán ngân hàng của sinh viên, học viên, năm 2002 dưới sự chỉ đạo của Hội đồng khoa học Học viện Ngân hàng, tập thể tác giả gồm: NGƯT Vũ Thiện Thập (chủ biên), Th.s Nguyễn Thị Thanh Hương, TS Vũ Thị Liên, TS Đào Y, Ths Bùi Quang Tiên, Cử nhân Nguyễn Thị Hoa và Phạm Hoàng Đức đã biên soạn lần đầu giáo trình "Kế toán ngân hàng"
Qua 3 năm sử dụng, giáo trình Kế toán ngân hàng đã có tác dụng tốt trong việc cung cấp hệ thống lý luận, kỹ thuật nghiệp vụ kế toán ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cho các đối tượng là giáo viên, sinh viên và các đối tượng khác quan tâm đến việc học tập và nghiên cứu lĩnh vực này Tuy nhiên, hiện nay hoạt động ngân hàng đã
có một số thay đổi về cơ chế nghiệp vụ, đặc biệt trong xu hướng hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và hội nhập quốc tế về lĩnh vực kế toán Chế độ và kỹ thuật nghiệp
vụ kế toán ngân hàng đã có những sự thay đổi cơ bản, trong đó nghiệp vụ kế toán ngân hàng đang thực hiện chuẩn hóa theo các Chuẩn mực kế toán Việt Nam mới được ban hành và từng bước tiếp cận với các chuẩn mực kế toán quốc tế Do vậy, nội dung giáo trình Kế toán ngân hàng cần phải được biên soạn lại để phù hợp với những biến đổi nói trên
Cuốn giáo trình kế toán ngân hàng biên soạn lại lần này, về cơ bản vẫn giữ nguyên kết cấu đã được Hội đồng khoa học Học viện phê duyệt năm 2002 Nội dung giáo trình bao quát cả kế toán ngân hàng thương mại và kế toán Ngân hàng Nhà nước, được chia thành 4 phần với 12 chương:
Phần một: Những vấn đề chung về Kế toán ngân hàng
Phần này gồm 1 chương- chương I, trong đó trình bày những nội dung được coi là "tổng luận" về Kế toán ngân hàng như đối tượng, nhiệm vụ, đặc điểm, vai trò
Trang 2của kế toán ngân hàng; các nguyên tắc kế toán cơ bản; tổ chức công tác kế toán ngân hàng và các phương pháp kế toán áp dụng trong kế toán ngân hàng.
Phần hai: Kế toán các nghiệp vụ chủ yếu của NHTM
Phần này gồm 7 chương (từ chương II đến chương VIII), trình bày kỹ thuật kế toán các nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng thương mại với chức năng kinh doanh tiền
tệ và dịch vụ ngân hàng
Phần ba: Kế toán các nghiệp vụ chủ yếu của NHNN
Phần này gồm 2 chương (chương IX và X), trình bày kỹ thuật kế toán các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Nhà nước với chức năng là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng, chức năng Ngân hàng Trung ương
Phần bốn: Kế toán thanh toán vốn giữa các ngân hàng và báo cáo Kế toán - tài chính ngân hàng
Phần này gồm 2 chương (chương XI và XII), trình bày kỹ thuật kế toán các phương thức thanh toán vốn giữa các ngân hàng; Hệ thống báo cáo kế toán, báo cáo tài chính tại đơn vị ngân hàng
Tham gia biên soạn giáo trình lần này là tập thể các tác giả trong và ngoài Học viện Ngân hàng, gồm:
* Đồng chủ biên:- NGUT Vũ Thiện Thập: Nguyên chủ nhiệm khoa Kế toán Kiểm toán NH, Học viện Ngân hàng
- TS Nguyễn Thị Thanh Hương : Chủ nhiệm khoa Kế
toán - Kiểm toán, Học viện Ngân hàng
* Việc biên soạn được phân công như sau:
- NGƯT Vũ Thiện Thập - biên soạn các chương II, V
- TS Nguyễn Thị Thanh Hương - biên soạn các chương I, VI, XII
- TS Lê Văn Luyện: Phó chủ nhiệm khoa Ngân hàng, Học viện Ngân hàng - biên soạn các chương VII, VIII
- TS Vũ Thị Liên: Phó Thống đốc NHNN - biên soạn chương X
- TS Đào Y: Nguyên Phó vụ trưởng Vụ Kế toán Tài chính Ngân hàng Nhà nước
- biên soạn chương IX
- Ông Phạm Hoàng Đức: Vụ trưởng Vụ Kế toán Tài chính Ngân hàng Nhà nước
- biên soạn chương XI
Trang 3- Ths Nguyễn Hoàng Phú: Giảng viên khoa Kế toán - Kiểm toán, Học viện Ngân hàng - biên soạn chương III
- Ths Nguyễn Hồng Yến: Giảng viên khoa Ngân hàng, Học viện NH - biên soạn chương IV
Trong quá trình biên soạn lại giáo trình, mặc dù tập thể tác giả đã có nhiều cố gắng trong việc tiếp cận các chuẩn mực, chế độ mới để bổ sung; đồng thời hoàn thiện
về tính khoa học của giáo trình, nhưng do còn hạn chế về nhiều mặt nên chắc chắn không tránh khỏi khiếm khuyết nhất định về bố cục, nội dung Tập thể tác giả mong nhận được sự góp ý của đông đảo bạn đọc để giáo trình kế toán ngân hàng ngày một hoàn thiện hơn
Tập thể tác giả
Phần mộtNhững vấn đề chung về kế toán ngân hàng
T ng quan v k toán ngân h ng ổ ề ế à
K toán v i ho t ng ngân h ngế ớ ạ độ à
Gi i thi u v K toán ngân h ngớ ệ ề ế à
Kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý kinh tế tài chính ở mỗi đơn vị, tổ chức kinh tế cũng như ở phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Kế toán ngân hàng là việc thu thập, ghi chép, xử lý, phân tích các nghiệp vụ
kinh tế, tài chính về hoạt động tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng dưới hình thức chủ yếu là giá trị để phản ánh, kiểm tra toàn bộ hoạt động kinh doanh của đơn vị ngân hàng, đồng thời cung cấp thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý hoạt động tiền tệ ngân hàng ở tầm vĩ mô và vi mô, cung cấp thông tin cho các tổ chức, cá nhân theo qui định của Pháp luật
Kế toán ngân hàng bao gồm kế toán tài chính và kế toán quản trị: Kế toán tài chính là việc thu thập, ghi chép, xử lý, phân tích các nghiệp vụ kinh tế tài chính theo
luật, chế độ, chuẩn mực kế toán để hệ thống hoá thông tin theo các chỉ tiêu tổng hợp được quy định thống nhất trong báo cáo tài chính ngân hàng nhằm phục vụ cho quản
lý hoạt động kinh doanh ngân hàng của Chính phủ, Ngân hàng Trung ương, đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin cho các đối tượng bên ngoài và của bản thân đơn vị ngân
hàng Kế toán quản trị là việc thu thập, ghi chép, xử lý, phân tích và cung cấp thông
tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong trong nội bộ đơn vị ngân hàng Như vậy, đối tượng kế toán quản trị không nhất thiết phải là
Trang 4toàn bộ hoạt động kinh tế - tài chính của ngân hàng, mà có thể chỉ là từng bộ phận (đối tượng kế toán cụ thể) do yêu cầu quản trị ở đơn vị ngân hàng đặt ra Kế toán quản trị cũng có thể không phải tuân thủ các chế độ, chuẩn mực kế toán do Chính phủ quy định Nội dung cuốn giáo trình Kế toán ngân hàng này chỉ mới cung cấp các kiến thức cơ bản về hoạt động kế toán tài chính tại đơn vị ngân hàng, mà chưa đề cập đến nội dung kế toán quản trị ngân hàng
Khi thực hiện công việc Kế toán tài chính và Kế toán quản trị, đơn vị kế toán
ngân hàng phải thực hiện kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết Kế toán tổng hợp là
việc thu thập, ghi chép, hệ thống hoá thông tin kinh tế, tài chính theo các tài khoản
tổng hợp phản ánh các chỉ tiêu tổng hợp về hoạt động kinh doanh ngân hàng Kế toán chi tiết là việc thu thập, ghi chép, hệ thống hoá thông tin kinh tế, tài chính theo các
chỉ tiêu chi tiết, cụ thể hơn các chỉ tiêu đã phản ánh ở tài khoản tổng hợp Kế toán chi tiết đến mức độ nào còn tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý nghiệp vụ hay yêu cầu về bảo
vệ an toàn tài sản của ngân hàng
1.1.1 1.2 Đố ượi t ng k toán ngân h ngế à
Là công cụ quản lý kinh tế - tài chính, đối tượng phản ánh trước hết của kế toán ngân hàng là vốn và sự vận động của vốn trong hoạt động về tiền tệ, thanh toán, tín dụng đối nội, đối ngoại của hệ thống ngân hàng
Vốn của hệ thống ngân hàng nói chung hay của từng đơn vị ngân hàng nói riêng luôn luôn tồn tại dưới hai hình thức là nguồn vốn và sử dụng vốn
Nguồn vốn chỉ những nguồn lực tài chính mà ngân hàng có thể dựa vào để thực hiện các hoạt động kinh doanh và cung ứng dịch vụ tài chính đối với xã hội Nó gồm vốn tự có như vốn pháp định hay vốn điều lệ; quỹ dự phòng rủi ro và vốn huy động từ bên ngoài như vốn tiền gửi, vốn đi vay, vốn phát hành
Sử dụng vốn của ngân hàng là số tiền mà ngân hàng bỏ ra để có những tài sản như ngân quỹ, cho vay, đầu tư, TSCĐ, công cụ lao động, vật liệu , những tài sản thuộc sự kiểm soát của đơn vị ngân hàng Những tài sản này hoặc trực tiếp mang lại thu nhập cho ngân hàng hoặc phát huy vai trò phục vụ cho hoạt động sinh lời của ngân hàng
Đối tượng của kế toán ngân hàng còn là kết quả của sự vận động của vốn của ngân hàng Nói cách khác, kế toán ngân hàng phải phản ánh các khoản thu nhập, các khoản chi phí, kết quả và phân chia kết quả hoạt động Dù theo cơ chế tài chính kinh doanh đối với các ngân hàng thương mại hay theo cơ chế tài chính đặc thù đối với Ngân hàng Nhà nước, việc sử dụng kế toán để nắm tình hình thu, tình hình chi, kết quả và phân chia kết quả hoạt động đều là cần thiết và quan trọng đối với các cấp quản lý trong hệ thống ngân hàng
Là các đơn vị trung gian tài chính trong nền kinh tế quốc dân, các ngân hàng thương mại cũng như Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò chủ yếu trong việc cung ứng dịch vụ thanh toán cho mọi đơn vị, cá nhân Đồng thời ngân hàng có nhiều giao dịch
Trang 5nước Vì vậy, đối tượng kế toán ngân hàng còn có các khoản thanh toán trong và ngoài đơn vị ngân hàng; Các khoản cam kết, bảo lãnh, các giấy tờ có giá
Do đặc điểm hoạt động của ngân hàng khác hẳn các ngành sản xuất, lưu thông hàng hóa vật chất, hoặc các ngành cung ứng dịch vụ khác mà đối tượng của Kế toán ngân hàng có những đặc điểm riêng biệt sau:
Thứ nhất: Đối tượng của kế toán ngân hàng chủ yếu tồn tại dưới hình thái giá trị
(tiền tệ) kể cả nguồn gốc hình thành cũng như quá trình vận động
Thứ hai: Đối tượng kế toán ngân hàng có mối quan hệ chặt chẽ, thường xuyên với
đối tượng kế toán các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân trong nền kinh tế thông qua quan hệ tiền gửi, tiền vay, thanh toán giữa ngân hàng với khách hàng
Ví dụ: Khi ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng, thì về phía ngân hàng là hoạt động nguồn vốn, nhưng về phía người gửi tiền là hoạt động sử dụng vốn (gửi ngân hàng); ngược lại, khi ngân hàng cho khách hàng vay vốn, thì về phía ngân hàng
là hoạt động sử dụng vốn nhưng về phía người vay là hoạt động nguồn vốn (vốn vay ngân hàng)
Đặc trưng này cho thấy, thông tin kế toán ngân hàng là thông tin kinh tế, tài chính tổng hợp được nhiều đối tượng quan tâm sử dụng như khách hàng, các nhà đầu
tư, các cơ quan quản lý (tài chính, thống kê ), Chính phủ Mặt khác, về phía mình, thông qua mối quan hệ này bằng các chính sách của mình, ngân hàng đã tác động vào toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng cường công tác quản lý kinh tế, tài chính
Thứ ba: Xét về quy mô và sự chu chuyển vốn thì đối tượng kế toán ngân hàng
có quy mô, phạm vi rất lớn và có sự tuần hoàn thường xuyên, liên tục theo yêu cầu chu chuyển vốn của nền kinh tế và theo yêu cầu quản lý kinh doanh của ngân hàng
Thứ tư: Xét về nội bộ ngành ngân hàng, giữa đối tượng kế toán của Ngân hàng
Nhà nước (ngân hàng cấp 1) và đối tượng kế toán của ngân hàng thương mại (ngân hàng cấp 2) có sự khác nhau Đối tượng kế toán của Ngân hàng Nhà nước cũng là tài sản - nguồn vốn, nhưng nó phản ảnh hoạt động của Ngân hàng Nhà nước là hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước, ngân hàng phát hành tiền, ngân hàng của các ngân
hàng Tại Ngân hàng Nhà nước, nguồn vốn chủ yếu là tiền gửi của các TCTD, vốn
vay các tổ chức tài chính quốc tế; nguồn vốn phát hành và vốn pháp định; tài sản chủ yếu là cho vay các TCTD Đối tượng của kế toán ngân hàng thương mại cũng là tài sản - nguồn vốn, nhưng nó phản ảnh hoạt kinh doanh tiền tệ, tín dụng, dịch vụ ngân hàng của đơn vị NHTM với khách hàng là các tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp, cá
nhân trong toàn bộ nền kinh tế Tại các NHTM, TCTD, nguồn vốn chủ yếu là tiền
gửi các tổ chức kinh tế, dân cư, ngoài ra có vốn huy động thông qua phát hành giấy
Trang 6tờ có giá, vốn vay NHNN, vay các TCTD trong và ngoài nước, vốn chủ sở hữu; Tài sản chủ yếu là cho vay đối với nền kinh tế, ngoài ra có tiền mặt tại quĩ, tiền gửi tại NHNN, tại các TCTD khác, đầu tư chứng khoán, tài sản cố định
1.1.2 1.3 Nhi m v c a k toán ngân h ng:ệ ụ ủ ế à
- Thu thập, ghi chép kịp thời, đầy đủ và chính xác các nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của đơn vị ngân hàng theo đối tượng, nội dung công việc kế toán, theo đúng chuẩn mực và chế độ kế toán
- Kiểm tra, giám sát chặt chẽ các khoản thu chi tài chính, quá trình sử dụng tài sản của bản thân ngân hàng và của xã hội thông qua các khâu kiểm soát của kế toán, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính, củng cố chế độ hạch toán kinh tế trong ngân hàng cũng như trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị ngân hàng;
- Cung cấp thông tin cho ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý nhà nước khác phục vụ sự chỉ đạo thực thi chính sách tiền tệ - tín dụng nói riêng và chính sách tài chính nói chung; đồng thời đáp ứng nhu cầu của công tác thanh tra ngân hàng
-Tổ chức tốt việc giao dịch với khách hàng, góp phần thực hiện tốt chiến lược khách hàng của đơn vị ngân hàng
1.1.3 1.4 Đặ đ ểc i m c a k toán ngân h ngủ ế à
Xuất phát từ đặc điểm hoạt động của ngân hàng, kế toán ngân hàng có những đặc điểm sau:
1.1.3.1 1 K toán ngân h ng mang tính xã h i caoế à ộ : Đặ đ ểc i m n y th hi n ch kà ể ệ ở ỗ ế
toán ngân h ng không ch ph n nh to n b các m t ho t ng c a b n thânà ỉ ả ả à ộ ặ ạ độ ủ ảngân h ng, m nó còn ph n nh à à ả ả đượ đạc i b ph n ho t ộ ậ ạ động kinh t , t iế àchính c a n n kinh t thông qua các quan h ti n t , tín d ng, thanh toán ủ ề ế ệ ề ệ ụ
gi a ngân h ng v i các doanh nghi p, các n v t ch c kinh t , các cá nhânữ à ớ ệ đơ ị ổ ứ ếtrong n n kinh t Do v y nh ng ch tiêu thông tin do k toán ngân h ng cungề ế ậ ữ ỉ ế à
c p l nh ng ch tiêu thông tin kinh t , t i chính quan tr ng giúp cho vi c chấ à ữ ỉ ế à ọ ệ ỉ
o, i u h nh ho t ng ngân h ng v qu n lý n n kinh t
Đặc điểm này cho thấy tính “xã hội hoá’ của kế toán ngân hàng Từ đặc điểm này đòi hỏi ngoài việc thực hiện các phương pháp kế toán chung, các chuẩn mực kế toán được thừa nhận ngành ngân hàng phải xây dựng chế độ kế toán phù hợp để có thể vừa phản ảnh đầy đủ hoạt động của bản thân ngân hàng, vừa phản ảnh được hoạt động kinh tế, tài chính của nền kinh tế
Trang 71.1.3.2 2 K toán ngân h ng ti n h nh ng th i gi a ki m soát, x lý nghi p v vế à ế à đồ ờ ữ ể ử ệ ụ à
ghi s sách k toán khi có nghi p v kinh t phát sinhổ ế ệ ụ ế
Nếu như ở các đơn vi, tổ chức kinh tế, các doanh nghiệp việc thực hiện các bút toán khi có nghiệp vụ kinh tế phát sinh không nhất thiết phải vào sổ kế toán ngay (có thể để ngày hôm sau, hoặc theo từng định kỳ mới tiến hành vào sổ kế toán) thì ngược lại trong kế toán ngân hàng công việc này phải tiến hành đồng thời Điều này đòi hỏi khi tiếp nhận chứng từ kế toán từ khách hàng hay chứng từ do nội bộ ngân hàng lập, nhân viên kế toán ngân hàng phải kiểm soát, xử lý theo nội dung của chứng từ Nếu chứng từ đảm bảo tính hợp lệ, hợp pháp thì cho hoàn thành nghiệp vụ và phản ảnh ngay vào sổ kế toán thích hợp (bằng tay hoặc bằng máy) để kiểm soát số dư tài khoản hạn mức tín dụng, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ các giao dịch mới
Từ đặc điểm này, đã làm cho kế toán ngân hàng mang tính giao dịch rất cao
1.1.3.3 3 K toán ngân h ng có tính chính xác k p th i r t cao, ế à ị ờ ấ
Bởi lẽ đối tượng kế toán ngân hàng có liên quan mật thiết với đối tượng kế toán của các doanh nghiệp, cá nhân trong nền kinh tế; mặt khác, hoạt động ngân hàng
đã dẫn đến ngân hàng tập trung được một khối lượng vốn tiền tệ rất lớn của xã hội, số vốn này thường xuyên biến động Vì vậy, kế toán ngân hàng phải có độ chính xác và kịp thời rất cao để một mặt đáp ứng yêu cầu hạch toán của NH, mặt khác phục vụ hạch toán của toàn bộ nền kinh tế Mọi sự chậm trễ, thiếu chính xác của kế toán ngân hàng sẽ có tác động xấu đến tính kịp thời, chính xác trong hạch toán kế toán của các đơn vị, tổ chức kinh tế có quan hệ với ngân hàng và làm giảm tốc độ chu chuyển vốn của nền kinh tế
Từ đặc điểm này đòi hỏi các nghiệp vụ kinh tế phát sinh phải được kiểm soát
xử lý và cho hoàn thành ngay Công việc kế toán hàng ngày phải được kết thúc ngay trong ngày bằng cách lập bảng cân đối tài khoản ngày gửi kịp thời các giấy báo nợ, báo có, bảng sao kê số dư tài khoản cho khách hàng
1.1.3.4 4 Ch ng t k toán ngân h ng có kh i l ng l n, t ch c luân chuy n ph cứ ừ ế à ố ượ ớ ổ ứ ể ứ
t p v g n li n v i vi c luân chuy n v n c a n n kinh t ạ à ắ ề ớ ệ ể ố ủ ề ế
Chủng loại chứng từ nhiều, khối lượng chứng từ lớn xuất phát từ tính đa dạng của các mặt nghiệp vụ ngân hàng và số lượng các giao dịch diễn ra hàng ngày tại các đơn vị ngân hàng là rất lớn Mặt khác, chứng từ kế toán ngân hàng không chỉ minh chứng cho hoạt động tài chính của bản thân ngân hàng mà còn minh chứng cho hoạt
Trang 8động kinh tế, tài chính và việc chu chuyển vốn của nền kinh tế Do vậy, việc tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán ngân hàng có liên quan đến việc luân chuyển vốn tiền
tệ của nền kinh tế
Từ đặc điểm này đòi hỏi ngành ngân hàng phải xây dựng được hệ thống bản chứng từ kế toán một cách thích hợp để vừa thoả mãn hạch toán tại các đơn vị ngân hàng (bằng tay và bằng máy), vừa đáp ứng yêu cầu hạch toán của nền kinh tế Mặt khác, phải thiết lập chương trình luân chuyển chứng từ một cách khoa học nhằm rút ngắn thời gian luân chuyển chứng từ, điều này đồng nghĩa với việc tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn của nền kinh tế
1.1.3.5 5 K toán ngân h ng s d ng ti n t (n i t , ngo i t ) l m n v o l ngế à ử ụ ề ệ ộ ệ ạ ệ à đơ ị đ ườ
Tổ chức tốt công tác kế toán ở ngân hàng chẳng những đảm bảo cho việc thu nhận, hệ thống hoá thông tin kế toán đầy đủ, kịp thời, đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý kinh tế, tài chính ở tầm vĩ mô và vi mô, mà còn giúp ngân hàng quản lý chặt chẽ tài sản của bản thân ngân hàng, của xã hội gửi và bảo quản tại đơn vị ngân hàng, ngăn ngừa được những hành vi làm tổn thất tài sản của ngân hàng
* Yêu cầu của việc tổ chức công tác kế toán khoa học, hợp lý
Tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý cần đáp ứng được những yêu cầu sau:
- Đảm bảo thu nhận và hệ thống hoá thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế - tài chính ở ngân hàng nhằm cung cấp thông tin kế toán đáng tin cậy phục vụ cho công tác quản lý về hoạt động tiền tệ, dịch vụ ngân hàng của Nhà nước, NHNN và quản trị kinh doanh ngân hàng; Đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của mọi đối tượng bên
Trang 9- Phù hợp với quy mô và đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh, phân cấp quản
lý của đơn vị ngân hàng
- Phù hợp với trình độ, khả năng của đội ngũ cán bộ kế toán và trình độ trang bị các phương tiện, kỹ thuật tính toán, ghi chép của đơn vị ngân hàng
- Phù hợp với chế độ kế toán ngân hàng hiện hành
Quán triệt các yêu cầu nói trên trong việc tổ chức, kế toán ngân hàng sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ với chi phí thấp, đạt hiệu quả cao
1.1.4.2 1.5 N i dung c a t ch c công tác k toán t i n v ngân h ngộ ủ ổ ứ ế ạ đơ ị à
Tổ chức công tác kế toán tại đơn vị ngân hàng bao gồm những công việc chủ yếu sau:
- Tổ chức vận dụng hệ thống chứng từ, tổ chức công tác ghi chép ban đầu đảm bảo mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong đơn vị ngân hàng phải được phản ánh vào các chứng từ kịp thời, chính xác
- Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng
- Tổ chức thực hiện hệ thống báo cáo kế toán, trong đó có báo cáo tài chính (bắt buộc) và báo cáo kế toán quản trị
- Tổ chức vận dụng hình thức kế toán thích hợp
- Lựa chọn mô hình, tổ chức bộ máy kế toán, bố trí đủ số lượng và có chất lượng cán bộ kế toán, bảo đảm hoàn thành mọi nhiệm vụ kế toán trong đơn vị
- Tổ chức trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật tiến tới hiện đại hoá công tác kế toán
- Tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ, trình độ quản lý cho đội ngũ cán bộ kế toán trong đơn vị
1.1.5 1.6 Vai trò c a k toán Ngân h ng trong n n kinh t th tr ngủ ế à ề ế ị ườ
Hạch toán kế toán là khoa học về quản lý kinh tế và là một bộ phận cấu thành của hệ thống lí luận về quản lí kinh tế tài chính Kế toán với tư cách là công cụ quản
lý kinh tế tài chính quan trọng, có vai trò tích cực trong việc quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Với hai chức năng thông tin và kiểm soát, kế toán có vai trò to lớn trên góc độ quản lý vi mô và quản lý vĩ mô trong nền kinh tế thị trường
Là bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của nền kinh tế quốc dân, kế toán ngân hàng cũng phát huy đầy đủ vai trò kế toán nói chung; đồng thời phát huy vai trò trong việc phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động ngân hàng:
Trang 10Thứ nhất: Cung cấp thông tin về hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, kết
quả tài chính phục vụ chỉ đạo điều hành quản trị các mặt hoạt động nghiệp vụ đạt hiệu quả cao và các bên quan tâm đến hoạt động ngân hàng
Thứ hai: Bảo vệ an toàn tài sản tại đơn vị Do tổ chức ghi chép một cách khoa
học, đầy đủ, chính xác toàn bộ tài sản hiện có cũng như sự vận động của chúng nên
kế toán đã giúp cho các chủ ngân hàng quản lí chặt chẽ tài sản của mình nhằm tránh thiếu hụt về mặt số lượng và nâng cao hiệu quả trong quá trình sử dụng tài sản
Thứ ba: Quản lí hoạt động tài chính ngân hàng Kế phản ảnh được đầy đủ,
chính xác các khoản thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh ở từng đơn vị cũng như toàn hệ thống ngân hàng, từ đó giúp cho việc quản lí chặt chẽ hoạt động tài chính tăng thu nhập, tiết kiệm chi phí, kinh doanh có lãi, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển cho mỗi ngân hàng
Thứ tư: Đáp ứng yêu cầu công tác thanh tra, kiểm soát trong ngành ngân hàng
Với chức năng tổ chức hạch toán ban đầu và tạo nguồn thông tin nên kế toán ngân hàng là nơi cung cấp thông tin đầy đủ nhất, chính xác nhất ở từng đơn vị, từng cấp ngân hàng cũng như toàn ngành ngân hàng Nguồn thông tin, số liệu của kế toán ngân hàng là cơ sở quan trọng để xây dựng và điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô, trước hết là chính sách tiền tệ Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước có thể kiểm soát và điều chỉnh hoạt động của từng ngân hàng và toàn hệ thống ngân hàng nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định, an toàn cho hệ thống
và góp phần phát triển nền kinh tế quốc dân
1.2 2 Các nguyên t c, yêu c u k toán c b n áp d ng trong ngân h ngắ ầ ế ơ ả ụ à
Cũng như hoạt động kinh tế nói chung, kế toán trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi có sự hoà nhập với các hệ thống kế toán của các quốc gia, từ đó việc ghi chép, hệ thống hoá, xử lí và cung cấp thông tin kế toán của các doanh nghiệp cần phải tuân thủ những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế
về kế toán Để làm căn cứ cho các quốc gia xây dựng, ban hành các hệ thống kế toán, chế độ kế toán phù hợp với cơ chế quản lí kinh tế tài chính của mỗi quốc gia, liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC- International Federation of Accountant) ban hành các văn bản về kế toán đã đựợc nghiên cứu và thừa nhận chung, trong đó có các nguyên tắc kế toán và chuẩn mực kế toán
ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành Luật kế toán và các chuẩn mực kế toán trong đó có các nguyên tắc kế toán để các ngành, các doanh nghiệp trong đó có ngân
Trang 111.2.1 2.1 Nh ng nguyên t c k toán c b n ữ ắ ế ơ ả
1.2.1.1 2.1.1 C s d n tíchơ ở ồ
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này là mọi nghiệp vụ kinh tế tài chính của đơn vị liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh chứ không căn cứ thời điểm thực tế thu, hoặc thực tế chi tiền
Hoạt động liên tục
Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là một ngân hàng đang trong quá trình hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là ngân hàng không có ý định cũng như không cần thiết phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp một ngân hàng đã có dấu hiệu hoạt động không liên tục, đặc biệt là đang ở trong tình trạng kiểm soát đặc biệt, thì báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở khác và Ban lãnh đạo đơn vị ngân hàng phải giải thích các cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính
Giá gốc (giá lịch sử)
Mọi tài sản phản ảnh trong các khoản mục của báo cáo tài chính phải theo nguyên tắc giá gốc Giá gốc của tài sản được ghi chép theo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả, hoặc ghi theo giá hợp lý của tài sản đó vào thời điểm tài sản được ghi nhận Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi có quy định khác trong chế độ kế toán cụ thể
Đối với ngân hàng, giá gốc của tài sản phản ảnh trong các khoản mục của báo cáo tài chính là các giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được hoặc cho vay, đầu tư tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ Đối với nghiệp vụ phát hành cổ phiếu trong trường hợp giá bán cổ phiếu cao hơn mệnh giá thì số tiền thu được do bán cổ phiếu sẽ được tách thành hai phần: số tiền thu theo mệnh giá của cổ phiếu được ghi vào tài khoản vốn điều lệ, phần vượt mệnh giá cổ phiếu (thặng dư) sẽ được ghi vào tài khoản Quỹ
dự trữ bổ sung vốn điều lệ
Phù hợp
Nguyên tắc phù hợp quy định việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó
Tại đơn vị ngân hàng việc quán triệt nguyên tắc phù hợp thể hiện ghi nhận thu nhập và ghi nhận chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo thu nhập xét theo kỳ kế toán Thường đơn vị ngân hàng không thể, và cũng không nhất thiết phải kế toán: Ghi nhận một khoản thu nhập thì phải ghi nhận một khoản chi phí có liên quan tương ứng đến việc tạo ra thu nhập đó
Nhất quán
Nguyên tắc nhất quán quy định kế toán phải áp dụng nhất quán các chính sách
và phương pháp kế toán ít nhất trong một niên độ kế toán Trường hợp có thay đổi
Trang 12chính sách và phương pháp kế toán thì phải giải trình trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
Thận trọng
Nguyên tắc thận trọng yêu cầu trong khi lập các ước tính kế toán trong các điều kiện không chắc chắn cần có sự xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết như:
+ Trích lập các khoản dự phòng không quá lớn hoặc không quá thấp
+ Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập
+ Không đánh giá thấp hơn giá trị các khoản nợ phải trả và chi phí
+ Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng chứng về khả năng phát sinh chi phí
Trọng yếu
Các thông tin được xem là trọng yếu nếu như việc bỏ qua thông tin hoặc độ chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh hưởng đến các quyết định kinh tế của người sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính
Tóm lại: Các nguyên tắc kế toán cơ bản trên được áp dụng trong ngân hàng
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cần căn cứ vào đặc điểm của hoạt động ngân hàng
để vận dụng các nguyên tắc một cách thích hợp trong quá trình ghi chép, phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh và lập báo cáo tài chính trong ngân hàng Đặc biệt lưu ý trong việc quán triệt nguyên tắc dự thu lãi, nguyên tắc phù hợp và nguyên tắc thận trọng trong nghiệp vụ kế toán cho vay Giữa các nguyên tắc này có sự mâu thuẫn nhất định, đòi hỏi đơn vị khi xử lý nghiệp vụ cần xét đoán bản chất của sự kiện kinh tế, đồng thời cần đảm bảo tính nhất quán của phương pháp và cơ sở xét đoán Ví dụ, một khoản cho vay phải đảm bảo điều kiện gì mới được tính lãi dự thu, khi nào thì phải ngừng tính lãi
dự thu, khi nào phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, dự phòng rủi ro lãi phải thu và tỉ
- Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định thông tin, số liệu kế toán
- Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu kế toán
- Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của nghiệp vụ
Trang 13- Thông tin, số liệu kế toán phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế, tài chính; từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động của đơn vị kế toán ngân hàng Số liệu kế toán kỳ này phải kế tiếp theo số liệu kế toán của
kỳ trước
- Phân loại, sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và có thể so sánh được
1.3 3 T i kho n v H th ng t i kho n K toán ngân h ngà ả à ệ ố à ả ế à
1.3.1 3.1 T i kho n k toán ngân h ngà ả ế à
1.3.1.1.1 3.1.1 Khái ni m t i kho n ệ à ả
Tài khoản kế toán là phương pháp kế toán dùng để phân loại và hệ thống hoá các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh theo nội dung kinh tế
Mỗi tài khoản mở theo đối tượng kế toán cụ thể, có nội dụng kinh tế riêng biệt
Vì vậy, tên gọi tài khoản, số lượng tài khoản cần mở, nội dung phản ánh của từng tài khoản do nội dung kinh tế của đối tượng kế toán và yêu cầu quản lý quy định
Đối với đơn vị ngân hàng, số lượng tài khoản rất lớn Hơn nữa, trong một số tài khoản tổng hợp về các nghiệp vụ có quan hệ với khách hàng như tài khoản tiền gửi thanh toán hoặc tài khoản cho vay, các tài khoản tổng hợp có nhiều cấp lại có thêm nhiều tài khoản chi tiết (NHTM: có 5 cấp tài khoản tổng hợp); Các tài khoản kế toán ngân hàng được chia làm 2 bộ phận: Bộ phận các tài khoản dùng để hạch toán nội bộ
và bộ phận các tài khoản giao dịch với khách hàng
1.3.1.2 3.1.2 Phân lo i t i kho n k toán ngân h ngạ à ả ế à
Việc phân loại tài khoản ngân hàng được thực hiện dựa trên nội dung, tính chất, kết cấu của từng tài khoản, trên cơ sở đó sử dụng tài khoản theo đúng bản chất kinh tế nhằm phản ánh chính xác, đầy đủ rõ ràng từng loại tài sản, từng mặt hoạt động nghiệp
vụ của ngân hàng
Kế toán ngân hàng có 3 cách phân loại tài khoản chủ yếu:
a Phân loại tài khoản theo công dụng và kết cấu
Là việc sắp xếp các nhóm tài khoản theo mối quan hệ 2 chiều của vốn là tài sản
và nguồn vốn nhằm làm rõ bản chất của tài khoản trong quá trình phản ánh, kiểm soát đối tượng kế toán ngân hàng
Theo cách phân loại này, tài khoản kế toán ngân hàng được phân thành:
+ Tài khoản phản ánh nguồn vốn: Là các tài khoản phản ánh nghiệp vụ nguồn
vốn của ngân hàng Tính chất của các tài khoản phản ánh nguồn vốn là dư có Ví dụ:
Trang 14Tài khoản tiền gửi tiết kiệm của khách hàng; tài khoản các quỹ của ngân hàng; tài khoản thu nhập của ngân hàng như thu lãi cho vay, thu lãi tiền gửi; tài khoản phát hành giấy tờ có giá
+ Tài khoản phản ánh tài sản: Là các tài khoản phản ánh hoạt động sử dụng
vốn của ngân hàng Tính chất của các tài khoản này là dư nợ Ví dụ: Tài khoản tiền mặt, kim loại quý, đá quý ; tài khoản tiền gửi và đầu tư chứng khoán tại NHNN; tài khoản cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn; tài khoản tiền lãi cộng dồn dự thu
+ Tài khoản phản ánh tài sản và nguồn vốn (TK Nợ - Có): Loại tài khoản này
chia thành hai nhóm:
- Tài khoản Có thể phản ánh tài sản, có thể phản ánh nguồn vốn Số dư của tài
khoản có thể dư nợ hoặc dư có Ví dụ: Tài khoản lợi nhuận năm nay; tài khoản đánh giá lại giá trị tài sản (TK63); tài khoản tiền gửi thanh toán (đối với những khách hàng được phép thấu chi)
- Tài khoản vừa phản ánh tài sản vừa phản ánh nguồn vốn tại cùng một thời điểm, tức là tài khoản có 2 số dư, số dư nợ và số dư có, Khi lên cân đối tài khoản vẫn
phải để 2 số dư, không được bù trừ cho nhau Ví dụ: Tài khoản chuyển tiền đến còn sai sót chờ xử lý trong nghiệp vụ chuyển tiền điện tử
b Phân loại tài khoản theo mối liên hệ với bảng cân đối kế toán
Theo cách phân loại này, tài khoản kế toán ngân hàng được phân thành tài khoản trong bảng cân đối (tài khoản nội bảng) và tài khoản ngoài bảng cân đối (tài khoản ngoại bảng)
- Tài khoản trong bảng cân đối kế toán: phản ánh tài sản, nguồn vốn của bản thân đơn vị ngân hàng Sự vận động của những tài sản và nguồn vốn này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quy mô hoặc cơ cấu tài sản, nguồn vốn của ngân hàng Khi phản ánh hoạt động của những tài khoản nội bảng phải áp dụng phương pháp ghi sổ kép
- Tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán (tài khoản ngoại bảng): phản ánh những tài sản không (hoặc chưa) thuộc quyền sở hữu, sử dụng, hay nghĩa vụ phải thanh toán của ngân hàng (tài sản giữ hộ, tạm giữ ); các nghiệp vụ chưa tác động ngay đến nguồn vốn và tài sản của ngân hàng (các cam kết thanh toán thư tín dụng, các hợp đồng, các chứng từ thanh toán trong thời gian chưa thanh toán, các giấy tờ ấn chỉ chưa sử dụng ) Tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán áp dụng phương pháp ghi
sổ đơn (nhập - xuất)
Trang 15c Phân loại theo mức độ tổng hợp và chi tiết
Theo cách phân loại này, tài khoản kế toán ngân hàng được phân thành tài khoản tổng hợp và tài khoản chi tiết (tài khoản phân tích)
- Tài khoản tổng hợp: dùng để phản ảnh một cách tổng hợp hoạt động ngân hàng theo những chỉ tiêu nhất định nhằm cung cấp thông tin kinh tế, tài chính phục
vụ chỉ đạo thực thi chính sách tiền tệ và chỉ đạo hoạt động kinh doanh ngân hàng; đồng thời là chỉ tiêu để lập bảng cân đối tài khoản kế toán ngân hàng
- Tài khoản chi tiết (còn gọi là tiểu khoản): dùng để phản ảnh sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể Đối với bộ phận tài khoản giao dịch thì tiểu khoản dùng để phản ảnh hoạt động tiền gửi, tiền vay của từng khách hàng có quan hệ với ngân hàng Đối với bộ phận tài khoản nội bộ thì tiểu khoản dùng để phản ảnh chi tiết từng loại tài sản, từng mặt nghiệp vụ cụ thể của bản thân ngân hàng
1.3.2 3.2 H th ng t i kho n k toán ngân h ngệ ố à ả ế à
1.3.2.1 3.2.1 Khái ni mệ
Hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng là một tập hợp (danh mục) các tài khoản
kế toán mà đơn vị kế toán ngân hàng phải sử dụng để phản ánh toàn bộ tài sản, nguồn vốn và sự vận động của chúng trong quá trình hoạt động Trong tập hợp này, mỗi tài khoản có tên gọi riêng phù hợp với nội dung kinh tế của đối tượng kế toán mà nó phản ánh, có số hiệu riêng và các tài khoản được phân loại và sắp xếp theo một trật tự khoa học nhất định
Hiện nay, ngân hàng không sử dụng hệ thống tài khoản trong hệ thống tài khoản thống nhất của nền kinh tế do Chính phủ ban hành Ngành ngân hàng đã xây dựng hệ thống tài khoản riêng, trong đó các tài khoản phản ảnh hoạt động về tiền tệ, tín dụng, thanh toán - là những hoạt động đặc trưng của ngân hàng
1.3.2.2 3.2.2 Các c n c xây d ng h th ng t i kho n k toán ngân h ng ă ứ ự ệ ố à ả ế à
Hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng được xây dựng theo một số nguyên tắc như sau:
- Phải bảo đảm sự thống nhất cần thiết giữa hệ thống tài khoản kế toán của hai cấp ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho tổng hợp thông tin trong ngành ngân hàng, phục vụ việc lập và điều hành các chính sách kinh tế vĩ mô
- Phải bảo đảm phù hợp với các cơ chế nghiệp vụ ngân hàng như nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ huy động vốn để thông tin kế toán ngân hàng phục vụ tốt nhất cho
Trang 16việc quản lý, điều hành các nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng.
- Phải quán triệt Luật kế toán, các chuẩn mực kế toán chung và các chuẩn mực kế toán áp dụng riêng cho lĩnh vực hoạt động tiền tệ, ngân hàng; phản ánh một cách rõ ràng, đầy đủ các loại nguồn vốn, sử dụng vốn phù hợp với các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính ngân hàng
- Phải thuận tiện cho việc mở tài khoản, hạch toán, xử lý và thu thập thông tin
kế toán (từ kế toán phân tích đến kế toán tổng hợp; từ kế toán ban đầu đến khi lập báo cáo kế toán) Phải đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa công tác kế toán và thanh toán trong ngân hàng
- Phải bảo đảm sự ổn định tương đối cơ cấu của hệ thống tài khoản, đáp ứng được yêu cầu phản ánh các nghiệp vụ ngân hàng mới phát triển trong tương lai
1.3.2.3 3.2.3 N i dung h th ng t i kho n k toán NHNN v các TCTDộ ệ ố à ả ế à
Việc nghiên cứu nội dung hệ thống tài khoản kế toán ngân hàng bao gồm 2 vấn đề:
- Hiểu được danh mục về Loại, Tài khoản tổng hợp các cấp;
- Hiểu được hướng dẫn về công dụng; nội dung phản ánh; kết cấu; tính chất; cách mở tài khoản chi tiết của từng tài khoản tổng hợp
Hệ thống tài khoản Ngân hàng Nhà nước và hệ thống tài khoản của các TCTD
do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành Cả hai hệ thống tài khoản đều áp dụng
mã hóa theo hệ thống số thập phân nhiều bậc và được bố trí theo trình tự: Loại, tài khoản tổng hợp các cấp, tài khoản phân tích, ký hiệu tiền tệ
a Loại:
Loại là hình thức phân tổ tài khoản theo nội dung nghiệp vụ hay loại tài sản Mỗi loại bao gồm một số tài khoản phản ảnh hoạt động của một nghiệp vụ hay một loại tài sản nào đó Cả hai hệ thống tài khoản đều bố trí thành 9 loại, trong đó loại 1,2,3 gồm các nhóm tài khoản phản ảnh tài sản của NHNN và TCTD; loại 4 gồm nhóm tài khoản phản ảnh nợ phải trả; loại 5 gồm các tài khoản phản ảnh hoạt động thanh toán; loại 6 gồm các tài khoản phản ảnh vốn và quỹ của NH; loại 7, 8 gồm các
TK phản ảnh thu nhập, chi phí,; loại 9 gồm các TK ngoại bảng Loại ký hiệu bằng chữ số ả rập, bắt đầu từ số 1 đến số 9 trong đó từ số 1 đến số 8 dành cho các tài khoản
Trang 17Các loại trong hệ thống tài khoản của NHNN và hệ thống tài khoản của TCTD:
Hệ thống tài khoản NHNN Hệ thống tài khoản TCTD
Ký hiệ
1 Hoạt động ngân quỹ 1 Vốn khả dụng và các
khoản đầu tư
2 Hoạt động đầu tư và TD
2 Hoạt động tín dụng
3 TSCĐ và TS có khác 3 TSCĐ và TS có khác
4 Phát hành tiền và nợ phải trả
4 Các khoản phải trả
5 Hoạt động thanh toán 5 Hoạt động thanh toán
6 Vốn, quỹ và kết quả hoạt động của NH
6 Nguồn vốn chủ sở hữu
II Phần ngoại bảng II Phần ngoại bảng
9 Các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán
9 Các tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán
Tài khoản tổng hợp cấp 2 dùng để chi tiết hóa tài khoản tổng hợp cấp 1, được
kí hiệu bởi 3 chữ số, hai chữ số đầu là số hiệu TKTH cấp 1 và chữ số thứ ba là số thứ
tự của TKTH cấp 2 trong TKTH cấp 1;
Tài khoản tổng hợp cấp 3 dùng để chi tiết hoá TKTH cấp 2, được kí hiệu bởi 4 chữ số, ba chữ số đầu là số hiệu TKTH cấp 2 và chữ số thứ tư là số hiệu của TKTH cấp 3 trong TKTH cấp 2;
Phương pháp mã hóa số hiệu tài khoản tổng hợp nội ngoại bảng được bố trí theo hệ thống số thập phân nhiều cấp, được khái quát như sau:
Loại > TKTH cấp 1 > TKTH cấp 2 > > TKTH cấp 5
Ví dụ trong hệ thống tài khoản của các TCTD:
Loại TKTH Cấp 1 TKTH Cấp 2 TKTH cấp 3
Trang 18Vốn khả
dụng và các
khoản đầu tư
Tiền mặt, chứng từ có giá trị ngoại
tệ, kim loại quý, đá quý
Tiền mặt bằng đồng Việt nam
Tiền mặt tại đơn vị
Thống đốc NHNN quy định tính chất thống nhất của các tài khoản tổng hợp cấp 1, cấp 2, cấp 3, còn tài khoản tổng hợp cấp 4, cấp 5 do Tổng giám đốc (giám đốc) các NHTM (TCTD) quy định phù hợp với nội dung hoạt động của từng đơn vị
c Tài khoản chi tiết:
Theo quy định của NHNN, số hiệu tài khoản chi tiết gồm hai bộ phận là số hiệu tài khoản tổng hợp và tiểu khoản Số tiểu khoản đứng sau tài khoản tổng hợp, ký hiệu tiền tệ và cách nhau bằng một dầu chấm (.)
Để phục vụ cho việc quản lý, kinh doanh ngoại tệ trên dãy số của số hiệu tài khoản có thêm ký hiệu tiền tệ cho từng loại ngoại tệ Từng loại ngoại tệ được mã hoá bằng hai chữ số bắt đầu từ 00 đến 99 Ký hiệu ngoại tệ được ghi vào bên phải của tài khoản tổng hợp và trước tiểu khoản
Như vậy số hiệu tài khoản chi tiết theo quy định có dạng chung;
XXXX XX X(XX )
Chú giải:
XXXX: Tài khoản tổng hợp cấp 3
XX : Ký hiệu tiền tệ
X(XX ): Số thứ tự tài khoản chi tiết (tiểu khoản)
Nhìn chung, đối với tài khoản chi tiết (tiểu khoản), hệ thống tài khoản kế toán chỉ đưa ra định hướng chung, giành quyền quyết định về nội dung cũng như số lượng tài khoản chi tiết cho từng đơn vị kế toán ngân hàng Ví dụ, trong mô hình ngân hàng hiện đại được hỗ trợ bởi công nghệ tiên tiến, tài khoản chi tiết khách hàng được cấu trúc theo hình thức:
NNN.N.NN.NNN NN.N
Trang 19Ký hiệu mã nghiệp vụ có thể được quy định như sau:
0 : Tiền gửi ký quỹ
1 : Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi chuyên dùng
3 : Tài khoản tài trợ thương mại
5 : Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn, tiết kiệm
6 : Tài khoản giấy tờ có giá
7, 8 : Tài khoản tiền vay và cho thuê tài chính
9 : Tài khoản nợ quá hạn
Các tài khoản chi tiết đều được gắn chặt với một mã sản phẩm nhất định Mã sản phẩm sẽ quy định mọi thông tin, tính chất, cách thức hoạt động và xác định tài khoản sổ cái tổng hợp của tài khoản khách hàng Mọi giao dịch đối với tài khoản khách hàng được cập nhật vào từng tài khoản chi tiết và tài khoản sổ cái sẽ chỉ cập nhật doanh số tổng hợp (Nợ, Có) của toàn bộ các tài khoản chi tiết thuộc tài khoản sổ cái đó Tài khoản chi tiết của khách hàng được quản lý tại Module tác nghiệp riêng.1.4 4 Ch ng t k toán Ngân h ngứ ừ ế à
1.4.1 4.1 Ch ng t k toán v ph ng pháp ch ng t trong ngân h ngứ ừ ế à ươ ứ ừ à
1.4.1.1 4.1.1 Ch ng t k toán ngân h ngứ ừ ế à
* Chứng từ kế toán ngân hàng: là các căn cứ chứng minh bằng giấy hoặc vật
mang tin về nghiệp vụ kinh tế tài chính đã phát sinh và thực sự hoàn thành, và là cơ
sở để hạch toán vào sổ sách kế toán tại tổ chức tín dụng
* Đặc điểm của chứng từ kế toán ngân hàng
Là một trong những phương pháp của hạch toán kế toán nhưng chứng từ kế toán ngân hàng có những đặc điểm riêng
- Hệ thống bản chứng từ kế toán do ngân hàng ban hành (được Tổng cục Thống kê và Bộ Tài chính chấp thuận) cho phù hợp với các nghiệp vụ của ngân hàng Tuy nhiên, trên bản chứng từ kế toán ngân hàng, ngoài các yếu tố riêng của ngân hàng phải có đầy đủ các yếu tố theo quy định về chứng từ kế toán của Nhà nước
- Đại bộ phận chứng từ kế toán ngân hàng do khách hàng lập và nộp vào ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ Đặc điểm này đã dẫn đến chất lượng chứng từ kế
Trang 20toán ngân hàng phụ thuộc rất nhiều vào trình độ lập chứng từ của khách hàng và kiểm soát chứng từ của ngân hàng.
- Chứng từ gốc kiêm chứng từ ghi sổ (như các loại séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu), chứng từ tổng hợp (như phiếu chuyển khoản tổng hợp, các loại bảng kê ), được sử dụng phổ biến Điều này là phù hợp với đặc điểm của các nghiệp vụ ngân hàng và tiết kiệm chi phí vật chất, thời gian cho ngân hàng và xã hội
- Chứng từ kế toán ngân hàng có nhiều chủng loại, số lượng chứng từ phát sinh hàng ngày rất lớn, tổ chức luân chuyển chứng từ phức tạp
1.4.1.2 4.1.2 Các y u t c b n c a ch ng t k toán ngân h ngế ố ơ ả ủ ứ ừ ế à
1.4.1.3 Chứng từ kế toán ngân hàng phải có đầy đủ các yếu tố sau:
+ Tên gọi của chứng từ (Séc, UNC, UNT, Phiếu thu, phiếu chi )
+ Số của chứng từ;
+ Ngày, tháng, năm lập chứng từ; Ngày, tháng, năm hạch toán số tiền trên chứng từ vào sổ kế toán
+ Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản của đơn vị , cá nhân trả tiền
+ Tên, địa chỉ, số hiệu của NH thanh toán;
+ Tên, địa chỉ, số hiệu tài khoản của đơn vị , cá nhân thụ hưởng số tiền trên chứng từ;
+ Tên, địa chỉ, số hiệu của NH phục vụ bên thụ hưởng;
+ Nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh;
+ Các chỉ tiêu về số lượng và giá trị
Chữ ký của người lập và của những người liên quan chịu trách nhiệm về tính chính xác của nghiệp vụ Những chứng từ phản ánh quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân phải có chữ ký của Kế toán trưởng và chữ ký của Thủ trưởng đơn vị (hoặc người được uỷ quyền)
1.4.1.4 4.1.3 Ch ng t i n t trong ngân h ngứ ừ đ ệ ử à
- Theo điều 17 của Luật Kế toán, chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi đảm bảo đầy đủ các nội dung của chứng từ kế toán và được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán
- Điều kiện cơ bản để sử dụng chứng từ điện tử: các TCTD phải đáp ứng được
Trang 21thông tin trên chứng từ; và phải có một hành lang pháp lý phù hợp để đảm bảo tính pháp lý của chứng từ điện tử.
- Phạm vi, đối tượng áp dụng chứng từ điện tử: Theo quy định hiện hành (QĐ 196/TTg của Thủ tướng Chính phủ), chứng từ điện tử chỉ được được lập và sử dụng đối với các nghiệp vụ liên quan đến lĩnh vực thanh toán như thanh toán liên hàng, TTBT hoặc thanh toán giữa NH với khách hàng, và chỉ áp dụng đối với các NH, TCTD, và khách hàng có đủ điều kiện, tiêu chuẩn để tham gia thanh toán điện tử Các nghiệp vụ khác như nghiệp vụ cho vay, huy động tiền gửi tiết kiệm, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu và các nghiệp vụ thu, chi tài chính khác không thuộc hoạt động thanh toán, bắt buộc phải lập chứng từ giấy, không được sử dụng chứng từ điện tử Tuy nhiên khi các NH hoàn thành các dự án hiện đại hoá công nghệ, phạm vi sử dụng chứng từ điện tử hoàn toàn có thể mở rộng sang tất cả các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ khác của ngân hàng Ví dụ trong nghiệp vụ huy động vốn,
sẽ không cần sử dụng thẻ lưu tiết kiệm để quản lý từng khoản tiền gửi của khách hàng
mà chủ yếu sử dụng các chứng từ điện tử
- Các chứng từ điện tử phải có đủ các yếu tố bảo đảm tính pháp lý như chứng
từ kế toán bằng giấy, riêng yếu tố dấu và chữ ký được mã hoá bằng ký hiệu mật, và phải có yếu tố bảo mật, bảo đảm an toàn trong quá trình xử lý, truyền tin, lưu trữ Để đảm bảo tính bảo mật khi sử dụng chứng từ điện tử, các TCTD sử dụng mã khoá bảo mật và chữ ký điện tử Mã khoá bảo mật trong hệ thống thanh toán điện tử liên hàng
là một ứng dụng kỹ thuật tin học nhằm bảo đảm bí mật và an toàn dữ liệu điện tử trong giao dịch và kiểm soát thanh toán điện tử liên NH trên mạng máy tính
- Về bảo quản và lưu trữ chứng từ điện tử: có 2 hình thức bảo quản bằng giấy hoặc bằng phương tiện điện tử quang học Các tổ chức tín dụng lựa chọn theo đặc điểm và khả năng hoạt động công nghệ của TC mình Tuy nhiên đối với hình thức bảo quản bằng dữ liệu điện tử, tuỳ từng thời kỳ, NHNN có thể có những quy định cụ thể về loại hình chứng từ được phép lưu trữ dưới hình thức này, điều kiện đối với chứng từ được lưu trữ, điều kiện đối với TCTD, thời hạn lưu trữ
- Các chứng từ điện tử đã sử dụng để hạch toán kế toán và thanh toán phải được
in ra giấy dưới dạng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán để bảo quản, lưu trữ Trên
từng bảng kê chứng từ, báo biểu kế toán sau khi in ra phải được Kế toán trưởng và Thủ trưởng (hay người được uỷ quyền) kiểm soát, ký xác nhận và đóng dấu
1.4.1.5 4.1.4 Ph ng pháp ch ng tươ ứ ừ
Phương pháp chứng từ là phương pháp kế toán phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
Trang 22phát sinh và thực sự hoàn thành vào trong bản chứng từ kế toán và việc sử dụng các bản chứng từ kế toán vào trong công tác kế toán và công tác quản lý doanh nghiệp Hình thức biểu hiện của phương pháp chứng từ ở 2 nội dung cơ bản: Mẫu bản chứng
từ kế toán và chương trình luân chuyển chứng từ
+ Hệ thống (bản ) chứng từ kế toán ngân hàng gồm 2 hệ thống:
- Hệ thống chứng từ kế toán ngân hàng thống nhất bắt buộc: là hệ thống chứng
từ phản ánh các quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân hoặc có yêu cầu quản lý chặt chẽ mang tính chất phổ biến rộng rãi Đối với loại chứng từ này NHNN tiêu chuẩn hoá về quy cách, mẫu chứng từ, chỉ tiêu phản ánh, phương pháp lập và áp dụng thống nhất trong NH, TCTD, chỉ có khác tên hiệu NH, TCTD cụ thể trên chứng từ
Ví dụ: Các chứng từ liên quan đến giao dịch thanh toán với khách hàng và giữa các ngân hàng như Séc, UNT, UNC, Thư tín dụng, Séc lĩnh tiền mặt, giấy báo liên hàng, các bảng kê thanh toán bù trừ
- Hệ thống bản chứng từ kế toán hướng dẫn: Chủ yếu là những chứng từ sử dụng trong nội bộ đơn vị NH, TCTD NHNN hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng để các
NH, TCTD vận dụng vào từng trường hợp cụ thể thích hợp: Có thể thêm, bớt một số chỉ tiêu đặc thù, hoặc thay đổi thiết kế mẫu cho thích hợp với việc ghi chép, yêu cầu nội dung cần phản ánh nhưng phải đảm bảo tính pháp lý cần thiết của chứng từ
Ví dụ: giấy gửi tiền, giấy rút tiền, phiếu thu, phiếu chi, phiếu chuyển khoản, giấy nộp tiền, bảng kê số dư tính lãi
+ Giấy báo liên hàng
+ Lệnh chuyển tiền sử dụng trong chuyển tiền điện tử
+ Các chứng từ hạch toán tài sản và chứng từ ngoại bảng
Trang 23NH, Kế toán trưởng NH cần xác định rõ việc sử dụng các mẫu chứng từ kế toán thích hợp đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế - tài chính phát sinh trong NH, xác định rõ những người chịu trách nhiệm đến việc ghi nhận hoặc trực tiếp liên quan đến việc ghi nhận nội dung thông tin phản ánh trong chứng từ kế toán NH Khi lập chứng từ kế toán NH cần trung thực, khách quan, đảm bảo kịp thời, chính xác; cần quán triệt các nguyên tắc về lập chứng từ kế toán ngân hàng.
- Việc ghi chép vào sổ sách kế toán phải căn cứ vào chứng từ hợp lệ, hợp pháp Chứng từ được coi là hợp lệ, hợp pháp là những chứng từ :
+ Lập đúng mẫu quy định, ghi đầy đủ, rõ ràng, chính xác các yếu tố quy định Chứng từ kế toán chỉ được lập một lần cho mỗi nghiệp vụ kinh tế, tài chính
+ Nội dung nghiệp vụ kinh tế, tài chính trên chứng từ kế toán không được viết tắt, không được tẩy xoá sửa chữa; khi viết phải dùng bút mực, số và chữ viết phải liên tục, không ngắt quãng, chỗ trống phải gạch chéo
+ Trên chứng từ phải có đủ chữ ký của những người có liên quan chịu trách nhiệm về tính chính xác, tính hợp pháp của nghiệp vụ và dấu đơn vị (nếu có) Chữ ký
và dấu trên chứng từ phải phù hợp với mẫu dấu đã đăng ký trước
+ Đối với loại chứng từ có nhiều liên thì nội dung giữa các liên phải giống nhau; Đối với Séc thì sê ri và số séc của Ngân hàng phát hành phải phù hợp với sê ri và số séc mà Ngân hàng (nơi mở tài khoản) đã bán cho khách hàng
Trang 241.4.4 4.4 Ki m soát ch ng t k toán ngân h ngể ứ ừ ế à
Tất cả các chứng từ kế toán phải được kiểm soát chặt chẽ trước, trong và sau khi thực hiện các nghiệp vụ (hạch toán, thanh toán ) Kiểm tra chứng từ kế toán có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng của công tác kế toán
a Nội dung của việc kiểm soát chứng từ kế toán ngân hàng: Là kiểm tra tính
hợp lệ, hợp pháp của chứng từ kế toán, cụ thể gồm các nội dung sau:
+ Kiểm soát tính rõ ràng, trung thực, đầy đủ của các yếu tố ghi trên chứng từ; sự khớp đúng giữa các liên của một nghiệp vụ kinh tế, tài chính
+ Kiểm soát tính hợp pháp của nghiệp vụ kinh tế tài chính phản ánh trong chứng
từ nhằm đảm bảo không vi phạm các chế độ thể lệ về quản lý kinh tế, tài chính; Kiểm soát tính hợp lý (hợp lệ) của nghiệp vụ đảm bảo phù hợp với các chỉ tiêu kế hoạch, chỉ tiêu dự toán, định mức kinh tế
+ Kiểm tra tính chính xác, khớp đúng của các chỉ tiêu số lượng, giá trị ghi trong chứng từ
+ Kiểm soát việc chấp hành quy chế quản lý nội bộ của những người lập, kiểm tra, xét duyệt đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế tài chính
+ Kiểm soát việc ghi chép chính xác, kịp thời nghiệp vụ được phản ánh trên chứng từ vào sổ sách kế toán
b Trách nhiệm kiểm soát chứng từ kế toán tại đơn vị ngân hàng
Hàng ngày, các cán bộ sau phải có trách nhiệm kiểm soát tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ kế toán:
+ Giao dịch viên (hoặc kế toán viên) có trách nhiệm kiểm soát khi tiếp nhận, xử
lý nghiệp vụ, ghi chép vào sổ sách kế toán
+ Trưởng phòng kế toán hoặc người được uỷ quyền có trách nhiệm kiểm soát lại
để chấp thuận việc xử lý nghiệp vụ của giao dịch viên (hoặc kế toán viên) đồng thời thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát đối với nghiệp vụ kinh tế, tài chính
+ Đối với chứng từ quy định phải có chữ ký của cán bộ nghiệp vụ hoặc cán bộ quản lý nghiệp vụ thì các cán bộ này cũng phải có trách nhiệm kiểm soát chứng từ kế toán và chịu trách nhiệm về nội dung của chứng từ kế toán
1.4.5 4.5 Luân chuy n ch ng t K toán NHể ứ ừ ế
1.4.5.1 4.5.1 Khái ni m v ý ngh a:ệ à ĩ
Trang 25chứng từ phải trải qua từ khi phát sinh đến khi hoàn thành ghi sổ sách kế toán, được chuyển đi bảo quản lưu trữ.
ý nghĩa: Chứng từ kế toán ngân hàng từ khi phát sinh đến khi ghi sổ kế toán có liên
quan đến nhiều người ở các bộ phận nghiệp vụ và nhiều bộ phận kế toán khác nhau trong phòng kế toán Do đó, kế toán trưởng phải xây dựng các quy trình luân chuyển chứng từ cho từng loại nghiệp vụ một cách khoa học để đảm bảo:
+ Các bộ phận nghiệp vụ, bộ phận kế toán có liên quan có thể thực hiện việc kiểm tra nội dung nghiệp vụ kinh tế - tài chính phản ánh trong chứng từ;
+ Ghi chép hạch toán (hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê, hạch toán kế toán) được kịp thời;
+ Cung cấp thông tin kịp thời phục vụ cho lãnh đạo và quản lý hoạt động kinh doanh Ngân hàng
1.4.5.2 4.5.2 Nguyên t c luân chuy n ch ng t k toán ngân h ngắ ể ứ ừ ế à
- Luân chuyển chứng từ kế toán ngân hàng đảm bảo nhanh nhất, giảm bớt những thủ tục chứng từ không cần thiết, không được trùng lặp, không để thất lạc, mất mát chứng
từ, đồng thời đảm bảo yêu cầu kiểm soát đối với chứng từ kế toán
- Đối với chứng từ thu tiền mặt, phải đảm bảo thu tiền đầy đủ trước khi ghi có vào tài khoản khách hàng; Đối với chứng từ chi tiền mặt, phải kiểm soát ghi sổ kế toán đầy
đủ trước khi chi tiền cho khách hàng;
- Luân chuyển chứng từ phải đảm bảo nguyên tắc ghi Nợ trước, ghi Có sau, hoặc đồng thời ghi Nợ, ghi Có Trường hợp ghi Có trước thì phải đảm bảo chắc chắn có thể ghi Nợ
- Chứng từ luân chuyển giữa các kế toán viên hoặc từ bộ phận này sang bộ phận khác phải được chuyển trong nội bộ đơn vị ngân hàng, không qua tay khách hàng Chứng
từ luân chuyển giữa các đơn vị ngân hàng phải luân chuyển qua bưu điện hoặc thông qua mạng truyền thông Đối với các chứng từ luân chuyển qua bưu điện, đơn vị ngân hàng phải mở sổ giao nhận chứng từ với cơ quan bưu điện; đối với các chứng từ giao nhận với khách hàng, đơn vị ngân hàng phải mở sổ giao nhận chứng từ với từng khách hàng
1.4.5.3 4.5.3 S luân chuy n c a m t s lo i ch ng tơ đồ ể ủ ộ ố ạ ứ ừ
a Chứng từ thu tiền mặt
25
(5)
(7) (1a) (2) (3) (6)
(4)
Kế toán tổng hợp
TTV
Máy tính (CSDL)
Khách hàng (giấy nộp tiền)
Kiểm soát
Máy tính (CSDL)
Ngân quỹ
Trang 26Chú giải:
(1a)- Khách hàng nộp chứng từ cho thanh toán viên để kiểm soát
(1b)- Khách hàng nộp tiền mặt cho ngân quỹ để kiểm nhận
(2) TTV chuyển chứng từ cho kiểm soát viên để kiểm soát
(3) Kiểm soát nhập dữ liệu vào máy tính nếu kiểm soát bằng máy tính hoặc vào sổ nhật ký quỹ nếu chưa KS bằng máy tính, đồng thời chuyển chứng từ thu sang
bộ phận ngân quỹ để thu tiền
(4) Sau khi thu đủ tiền ngân quỹ trả chứng từ thu cho KS
(5) KS chuyển chứng từ thu cho TTV
(6) TTV nhập dữ liệu vào máy tính hoặc vào sổ chi tiết
(7) TTV chuyển chứng từ thu cho kế toán tổng hợp
b Chứng từ chi tiền mặt:
Chú giải:
(1) Khách hàng nộp chứng từ chi cho TTV
(2) TTV nhập dữ liệu vào máy tính hoặc vào sổ chi tiết
(3) TTV chuyển chứng từ chi cho KS để kiểm soát
Kế toán tổng hợp
TTV
Máy tính (CSDL)
Khách hàng (séc tiền mặt)
Kiểm soát
Máy tính (CSDL)
Ngân quỹ
(1 )
(3 )
(6
(2 )
(5b) (5a)
Trang 27(4) KS nhập dữ liệu vào máy tính hoặc vào sổ nhật ký quỹ đồng thời chuyển chứng từ chi cho ngân quỹ.
(5a) - Ngân quỹ chi tiền cho khách hàng theo chứng từ chi
(5b) - ngân quỹ chuyển chứng từ chi cho KS
(6) KS chuyển chứng từ chi cho kế toán tổng hợp
c Sơ đồ luân chuyển chứng từ chuyển khoản cùng NH
Chú giải:
(1) Khách hàng nộp chứng từ cho TTV
(2) TTV kiểm soát, nhập dữ liệu vào máy hoặc vào sổ chi tiết
(3a) - TTV chuyển chứng từ cho kiểm soát để kiểm soát
(3b) - Những chứng từ phải có chữ ký duyệt của giám đốc thì chuyển cho giám đốc ký duyệt
(4) KS chuyển chứng từ cho TTV
(5) TTV chuyển chứng từ cho KTTH
(4) (5)
TTV
Máy tính (CSDL)
Khách hàng (uỷ nhiệm chi)
Kiểm soát
Giám đốc duyệt
Trang 28d Sơ đồ luân chuyển chứng từ thanh toán khác NH theo chương trình thanh toán tập trung (TTTT)
1.4.6 4.6 Bảo quản, lưu trữ chứng từ
- Chứng từ kế toán chỉ được để ở phòng kế toán trong vòng 1 năm, sau đó phải được bảo quản lưu trữ ở nơi bảo quản lưu trữ
- Nguyên tắc bảo quản, lưu trữ chứng từ:
+ Dễ tra cứu, do đó phải xắp sếp theo một trật tự nhất định: Theo nội dung kinh
tế của nghiệp vụ kinh tế - tài chính và theo trình tự thời gian
+ Không được thất lạc Chỉ cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới có quyền tạm giữa, tịch thu, hoặc niêm phong chứng từ kế toán
+ Thời gian bảo quản: đúng chế độ quy định của Nhà nước về thời gian lưu trữ đối với từng loại chứng từ kế toán
1.5 5 Tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị ngân hàng
1.5.1 Tổng giám đốc/ Giám đốc của đơn vị ngân hàng phải chịu trách nhiệm
tổ chức bộ máy kế toán và chỉ đạo thực hiện công tác kế toán trong đơn vị theo quy định của Luật kế toán Hai vấn đề chủ yếu trong tổ chức bộ máy kế
Khách hàng
- UNC
- Séc chuyển tiền
- Giấy nộp tiền
- v.v
Chương trình
GD tức thì (IBS)
- TTV nhập dữ liệu hạch toán
- KTT duyệt và chuyển chứng
từ sang TVTTTT
Chương trìnhTTTT
(ĐI)
- TTV lập điện in điện
- Chuyển chứng từ cho KTT - KTT kiểm tra, tính KHM
- Chuyển điện đi TTTT
Trung tâm thanh toán
IBS
-KTT duyệt hạch toán- KTV nhập dữ liệu hạch toán
Chương trìnhTTTT (đến) -TTV in điện
- Chuyển dữ liệu sang IBS
- Chuyển điện cho KTV- KTT kiểm tra.
Trang 29toán tại đơn vị kế toán là:
- Lựa chọn mô hình tổ chức bộ máy kế toán;
- Bố trí người làm kế toán; Bố trí người làm kế toán trưởng đảm bảo tiêu chuẩn, quyền và trách nhiệm theo đúng quy định của Luật kế toán
1.5.2 5.1 Các mô hình t ch c b máy k toán c a pháp nhân ngân h ngổ ứ ộ ế ủ à
Trong ngành ngân hàng, ở mỗi pháp nhân ngân hàng có thể tồn tại 3 mô hình tổ chức bộ máy kế toán:
- Tổ chức bộ máy kế toán tập trung
- Tổ chức bộ máy kế toán phân tán
- Tổ chức bộ máy kế toán vừa tập trung, vừa phân tán
1.5.2.1 5.1.1 T ch c b máy k toán t p trungổ ứ ộ ế ậ
Theo mô hình này, toàn đơn vị ngân hàng chỉ tổ chức một phòng kế toán trung tâm ở trụ sở chính, các đơn vị phụ thuộc đều không tổ chức bộ máy kế toán riêng.Phòng kế toán trung tâm thực hiện toàn bộ công tác kế toán của đơn vị ngân hàng, chịu trách nhiệm thu nhận, xử lý và hệ thống hoá toàn bộ thông tin kế toán phục vụ cho quản trị kinh doanh ngân hàng và báo cáo NHNN, các cơ quan quản lý nhà nước khác
ở các đơn vị phụ thuộc (đơn vị hạch toán báo sổ) có bố trí nhân viên kế toán làm nhiệm vụ thu nhận, kiểm tra chứng từ ban đầu để định kỳ (hàng ngày) chuyển chứng
từ về phòng kế toán trung tâm hoặc trực tiếp thực hiện một số phần hành công việc kế toán cụ thể và định kỳ lập báo cáo đơn giản (báo cáo nội bộ) kèm theo chứng từ gốc
về phòng kế toán trung tâm
1.5.2.2 5.1.2 T ch c b máy k toán phân tánổ ứ ộ ế
Theo mô hình này, ở trụ sở chính lập phòng kế toán trung tâm, còn ở tất cả các đơn vị trực thuộc đều có tổ chức phòng kế toán riêng (đơn vị kế toán phụ thuộc) Lựa chọn mô hình này, thường là ngân hàng đã phân cấp quản lý hoạt động kinh doanh cho các đơn vị trực thuộc ở mức độ cao, tức là đã phân phối nguồn vốn riêng, xác định lỗ lãi riêng nhằm phát huy tính chủ động sáng tạo của các đơn vị này trong hoạt động kinh doanh
Theo mô hình kế toán phân tán, toàn bộ công việc kế toán của đơn vị pháp nhân ngân hàng được phân công, phân nhiệm như sau:
Trang 30- Phòng kế toán trung tâm có nhiệm vụ:
+ Thực hiện các phần hành công việc kế toán phát sinh tại trụ sở chính và công tác tài chính của ngân hàng
+ Hướng dẫn, kiểm tra công tác kế toán ở các đơn vị kế toán phụ thuộc
+ Thu nhận, kiểm tra báo cáo kế toán của các đơn vị trực thuộc gửi lên cùng với báo cáo kế toán ở trụ sở chính để lập báo cáo kế toán tổng hợp của toàn đơn vị pháp nhân ngân hàng
- ở các đơn vị kế toán phụ thuộc: Thực hiện toàn bộ công tác kế toán phát sinh ở đơn vị trực thuộc; tổ chức thu nhận, xử lý, hệ thống hoá toàn bộ thông tin kế toán ở đơn vị mình để lập được các báo cáo kế toán định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm; gửi NHNN trên địa bàn Từng đơn vị trực thuộc phải căn cứ khối lượng công tác kế toán ở đơn vị mình để xây dựng bộ máy kế toán cho thích hợp
1.5.2.3 5.1.3 Mô hình t ch c v a t p trung, v a phân tánổ ứ ừ ậ ừ
Theo mô hình này, tại trụ sở chính vẫn lập phòng kế toán trung tâm, còn ở các đơn vị trực thuộc thì tuỳ thuộc vào quy mô và trình độ cán bộ quản lý mà có thể cho
tổ chức kế toán riêng và không cho tổ chức kế toán riêng Đơn vị trực thuộc nào cho
tổ chức kế toán riêng thì thành lập đơn vị kế toán phụ thuộc để thực hiện toàn bộ công việc kế toán phát sinh ở đơn vị mình, định kỳ lập báo cáo kế toán gửi về phòng
kế toán trung tâm; còn đơn vị nào không cho tổ chức kế toán riêng thì chỉ bố trí nhân viên kế toán làm nhiệm vụ hạch toán ban đầu, thu nhận và kiểm tra chứng từ ban đầu
để định kỳ gửi về phòng kế toán trung tâm
1.5.3 5.2 Mô hình t ch c b máy k toán NH trong i u ki n ng d ng côngổ ứ ộ ế đ ề ệ ứ ụ
Trang 31nhau như yêu cầu từ khách hàng, từ mạng điện tử, từ nội bộ chi nhánh đều được truyền tải về HSC, thực hiện xử lý và lưu trữ có hệ thống tại máy chủ của HSC Trên
cơ sở dữ liệu phát sinh tại các chi nhánh, HSC hạch toán kế toán cho toàn bộ hệ thống, các chi nhánh chỉ là những cơ sở nhập dữ liệu đầu vào cho ngân hàng Sau khi
xử lý dữ liệu tại HSC, thông tin kết quả sẽ được gửi lại chi nhánh Các chi nhánh truy cập và khai thác chung nguồn dữ liệu thống nhất
Mặc dù trình độ công nghệ ứng dụng trong công tác kế toán ngân hàng ở mức
độ cao, nhưng do phạm vi địa lý hoạt động thường rộng, nhiều chi nhánh, đồng thời
để tăng cường tính năng động, sáng tạo trong hoạt động thì pháp nhân ngân hàng vẫn thực hiện phân cấp quản lý tài chính Phù hợp với mức độ phân cấp quản lý tài chính nên bộ máy kế toán pháp nhân ngân hàng cũng được tổ chức phân cấp tương ứng (thường theo 2 cấp): Đơn vị kế toán cấp trên (Hội sở chính) và đơn vị kế toán cấp cơ
- Mô hình bố trí theo mảng nghiệp vụ, khách hàng giao dịch “nhiều cửa”
- Mô hình giao dịch “một cửa”
1.5.4.1 5.3.1 Mô hình giao d ch nhi u c aị “ ề ử ”
Là mô hình tổ chức truyền thống của các ngân hàng, đặc biệt trong điều kiện trình độ ứng dụng công nghệ tin học trong công tác kế toán còn thấp
1.5.4.2
1.5.4.3 Theo mô hình này, kế toán chỉ làm nhiệm vụ kiểm soát chứng từ và hạch
toán vào sổ sách kế toán theo quy định, tất cả các giao dịch liên quan đến tiền mặt khách hàng phải nộp (nhận) từ quỹ chính của NH Do vậy năng suất lao động sẽ không cao, khách hàng phải qua nhiều khâu, cửa đề hoàn thành giao dịch của mình Cụ thể, khi khách hàng giao dịch với ngân hàng thì phải nộp chứng từ kế toán cho đúng Thanh toán viên (TTV) giữ tài khoản của mình,
(2) (3) (4)
Kh ch h ng y u c u giao d ch ỏ à ờ ầ ị Giao d ch vi n chuy n ch ng t cho b ị ờ ể ứ ừ ộ
ph n ki m so t ậ ể ỏ
Ki m so t chuy n ch ng t sau khi ki m ể ỏ ể ứ ừ ể
so t cho giao d ch vi n ỏ ị ờ Giao d ch vi n ghi n chuy n ch ng t ị ờ ợ ể ứ ừ ghi cú cho giao d ch vi n ghi cú ị ờ
Tr l i ch ng t cho giao d ch vi n ghi ả ạ ứ ừ ị ờ
n ợ
Ki m soát tr ch ng t cho q y chính ể ả ứ ừ ũ trong tr ườ ng h p tr ti n m t ợ ả ề ặ
Trang 32và mặc dù chỉ thực hiện một giao dịch thường thì khách hàng vẫn phải qua nhiều cửa: TTV; thủ quỹ; cán bộ nghiệp vụ có liên quan
1.5.4.4 5.3.2 Mô hình giao d ch m t c aị “ ộ ử ”
Mô hình “giao dịch một cửa” là mô hình cho phép khách hàng khi đến giao dịch với ngân hàng chỉ giao dịch với một cán bộ ngân hàng vẫn có thể giải quyết toàn bộ các nhu cầu của mình về tiền gửi, thanh toán, mua bán ngoại tệ, tiền vay Cán bộ ngân hàng tiếp khách trong mô hình “giao dịch một cửa” gọi là giao dịch viên vừa làm nhiệm vụ kế toán viên, vừa là thủ quỹ thực hiện thu, chi tiền và có hạn mức thu, chi tiền, hạn mức xử lý nghiệp vụ (đối với nghiệp vụ cho vay; mua bán ngoại tệ ) phù hợp với trình độ, kinh nghiệm làm việc của mình Đối với giao dịch trong hạn mức, giao dịch viên kiểm tra chứng từ, thực hiện giao dịch và thu/ chi tiền của khách hàng ngay Đối với giao dịch trên hạn mức, giao dịch viên cần phải có kiểm soát viên phòng nghiệp vụ kiểm tra, đối chiếu và phê duyệt trên hệ thống máy tính cũng như trên chứng từ trước khi thực hiện thu/ chi tiền của khách hàng
Quy trình giao dịch trong mô hình giao dịch “một cửa”
Đồng thời với mô hình “giao dịch một cửa”, tổ chức bộ máy kế toán tại chi nhánh thay đổi mô hình thành hai khu vực : Khu vực Front End và khu vực Back End Khu vực Front End thực hiện giao dịch trực tiếp với khách hàng, xử lý các giao dịch liên quan đến khách hàng để giải phóng khách hàng nhanh Toàn bộ các phần công việc còn lại để hoàn thiện quy trình xử lý nghiệp vụ sẽ được thực hiện tại bộ phận Back End Khu vực Back End là khu vực hỗ trợ xử lý của Frond End, xử lý các nghiệp vụ, phần hành công việc không liên quan trực tiếp đến tài khoản khách hàng, nhận toàn
bộ các chứng từ liên quan đến công việc nội bộ và thực hiện các công việc đối chiêú chi tiết và tổng hợp (tham khảo sơ đồ về quy trình kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp ở mục 6.4.2)
1.5.5 5.4 T ch c lao ng k toán ngân h ngổ ứ độ ế à
Tổ chức lao động kế toán là vấn đề quan trọng quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác kế toán
Nội dung tổ chức lao động kế toán:
+ Quyết định số lượng lao động kế toán sử dụng;
(3) Giao d ch vi n th c hi n chi (thu) ti n m t cho kh ch h ng ị ờ ự ệ ề ặ ỏ à
(4) Giao d ch viên chuy n ch ng t cho b ph n ki m soát khi v ị ể ứ ừ ộ ậ ể ượ t quy n giao d ch ề ị
(5) Ki m so t chuy n ch ng t sau khi ki m so t cho giao d ch vi n ể ỏ ể ứ ừ ể ỏ ị ờ
(6) Giao d ch vi n tr ti n (Thu) cho kh ch h ng ị ờ ả ề ỏ à
D ch v kh ch ị ụ ỏ
h ng à
Kh ch h ng y u c u giao d ch ỏ à ờ ầ ị Giao d ch vi n chuy n ch ng t cho b ị ờ ể ứ ừ ộ
ph n ki m so t ậ ể ỏ
Ki m so t chuy n ch ng t sau khi ki m ể ỏ ể ứ ừ ể
so t cho giao d ch vi n ỏ ị ờ Giao d ch vi n ghi n chuy n ch ng t ị ờ ợ ể ứ ừ ghi cú cho giao d ch vi n ghi cú ị ờ
Tr l i ch ng t cho giao d ch vi n ghi ả ạ ứ ừ ị ờ
n ợ
Ki m soát tr ch ng t cho q y chính ể ả ứ ừ ũ trong tr ườ ng h p tr ti n m t ợ ả ề ặ
Khách h ng t i b ph n q y à ớ ộ ậ ũ để nh n ậ
ti n ề
B ph n q y tr ti n ( ộ ậ ũ ả ề Thu) cho kh ch ỏ
h ng à
Trang 33lực sở trường.
+ Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ kế toán; từng bộ phận
Yêu cầu tổ chức lao động kế toán ngân hàng
Tổ chức khoa học lao động kế toán ngân hàng là yếu tố quan trọng, có tác động trực tiếp đến việc nâng cao hiệu quả công tác và chất lượng thông tin kế toán với chi phí ít nhất nhưng đạt hiệu xuất cao nhất
Do đặc điểm hoạt động kinh doanh ngân hàng, việc tổ chức lao động kế toán vừa phải đảm bảo hoạt động nội bộ theo chức năng quản lý vừa phải phục vụ thuận lợi cho khách hàng theo chức năng kinh doanh Việc tổ chức lao động kế toán ngân hàng thiếu khoa học không chỉ hạn chế kết quả trong quá trình hạch toán mà còn gây phiền hà cho khách hàng - thực chất là gây trở ngại cho hoạt động xã hội
Khi tổ chức lao động kế toán ngân hàng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Đảm bảo các mặt hoạt động của kế toán cũng như các mặt nghiệp vụ khác có liên quan được tiến hành một cách nhịp nhàng, nhanh chóng, chính xác Sử dụng có hiệu quả các thiết bị tính toán nhất là khi thực hiện kế toán tự động
- Đảm bảo các nguyên tắc luân chuyển chứng từ trong từng chi nhánh cũng như trong toàn hệ thống; luân chuyển chứng từ trong thanh toán liên ngân hàng nhằm tăng nhanh tốc độ chu chuyển vốn và bảo vệ an toàn tài sản
- Đảm bảo các nguyên tắc kiểm soát nội bộ một cách hợp lý trong điều kiện công nghệ kế toán của đơn vị, đặc biệt các nguyên tắc như phân tách chức năng, nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tắc kiểm soát kép, nguyên tắc bảo vệ an toàn tài sản đối với tiền mặt và tài sản vật chất khác có giá trị và có tính thanh khoản cao
- Kết hợp chặt chẽ giữa giao dịch phục vụ khách hàng với kiểm soát xử lý nghiệp vụ, ghi sổ, tổng hợp thông tin, xử lý tin nhằm phát huy vai trò cung cấp thông tin cho quản lý, điều hành ngân hàng
1.6 6 K toán chi ti t, k toán t ng h p ế ế ế ổ ợ
1.6.1 6.1 Hình th c k toán áp d ng t i NHTM ứ ế ụ ạ
- Hình thức kế toán: Là cách thức tổ chức công tác kế toán, trong đó quy định các mẫu sổ kế toán với kết cấu mẫu sổ cụ thể; Mối quan hệ giữa các loại sổ kế toán với nhau; Trình tự ghi sổ và cách kiểm tra tính chính xác của việc ghi sổ, nhằm hệ thống hoá toàn bộ thông tin kế toán từ các chứng từ kế toán để lập được các báo cáo
kế toán hàng ngày và định kỳ
Trang 34- Hình thức kế toán áp dụng phổ biến tại các đơn vị ngân hàng là chứng từ ghi sổ: Dựa vào từng chứng từ kế toán NH hoặc Bảng kê chứng từ kế toán NH để hạch toán vào sổ kế toán Từ nội dung của hình thức kế toán “chứng từ ghi sổ” chung, đơn
vị kế toán ngân hàng đã xây dựng cụ thể quy trình kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp phù hợp với từng điều kiện: Điều kiện kế toán thủ công và điều kiện kế toán máy nhưng đơn lẻ, chưa kết nối mạng; Điều kiện kế toán máy đã kết nối mạng; Điều kiện
kế toán đã được ứng dụng công nghệ tin học hiện đại
- Hình thức chứng từ ghi sổ áp dụng trong điều kiện công nghệ kế toán ngân hàng
ở trình độ thấp được mô tả theo sơ đồ sau:
Ghi chú:
Ghi hàng ngày (từ 1 đến 6) Ghi hàng tháng (năm) Đối chiếu, kiểm tra
Chứng từ gốc kiêm chứng từ ghi sổ Quỹ tiền mặt
Sổ kế toán chi tiết
Bảng kết hợp tài khoản ngày
Sổ cái
Bảng cân đối tài khoản ngày
Bảng cân đối tài khoản tháng
(8)
(9)
Trang 35Việc đối chiếu là để kiểm tra và khẳng định: (1) nghiệp vụ kinh tế-tài chính đã phát sinh và hoàn thành (được thể hiện trên chứng từ kế toán) đã được phản ánh chính xác vào sổ kế toán chi tiết; (2) quá trình khóa sổ kế toán chi tiết, chuyển số liệu, tổng hợp số liệu kế toán là chính xác.
Trong điều kiện công nghệ kế toán ngân hàng hiện đại, hình thức chứng từ ghi
sổ được thể hiện một cách đơn giản nhất theo sơ đồ sau:
Như vậy: Trong điều kiện công nghệ kế toán hiện đại, kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp có thể thực hiện đồng thời Từ cơ sở dữ liệu chung ban đầu có được khi nhập số liệu của nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh vào máy tính, sổ kế toán chi tiết
và các loại sổ sách và báo cáo kế toán tổng hợp khác sẽ có được từ kết quả xử lý của
Cơ sở để tiến hành kế toán chi tiết là chứng từ kế toán hoặc Bảng kê các chứng
từ kế toán Kế toán chi tiết được hạch toán chính xác theo nội dung nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh
- Nhiệm vụ của kế toán chi tiết:
Chứng từ kế toán (thông tin đầu vào)
Kho thông tin Chương trình máy tính
Thông tin đầu ra
Cân đối tài khoản ngày
Thông tin khác: Báo cáo TG, báo cáo TD
Trang 36+ Thu thập, kiểm tra, xử lý, ghi chép từng nghiệp vụ kinh tế, tài chính thể hiện trên các chứng từ kế toán hợp lệ, hợp pháp vào đúng tài khoản chi tiết một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ.
+ Bất cứ lúc nào kế toán chi tiết cũng cho biết mọi thông tin cần thiết về đối tượng kế toán cụ thể như: Số dư đầu kỳ, doanh số nợ, doanh số có, doanh số tích luỹ từ đầu tháng, đầu năm, số dư cuối kỳ Từ đó quản lý chặt chẽ tài sản, nguồn vốn, đảm bảo an toàn tài sản
- Mức độ chi tiết, cụ thể của Kế toán chi tiết phụ thuộc vào yêu cầu quản lý đối với từng đối tượng kế toán cụ thể của từng nghiệp vụ ngân hàng
+ Tên sổ
+ Số tài khoản, tiểu khoản
+ Số sổ (ngày hoạt động trước, ngày hoạt động hiện tại)
+ Số dư đầu
+ Ngày hạch toán, ngày giá trị của giao dịch
+ Số chứng từ
+ Số tiền ghi Nợ, số tiền ghi Có
+ Tài khoản đối ứng
+ Doanh số Nợ; Doanh số Có ngày
Trang 371.6.3 6.3 K toán t ng h pế ổ ợ
1.6.3.1 6.3.1 Khái ni m, nhi m vệ ệ ụ
- Kế toán tổng hợp là việc thu thập, kiểm tra, xử lý, ghi chép và cung cấp thông tin tổng quát về tài sản, nguồn vốn của NH, phản ánh tình hình, sự vận động của đối tượng kế toán theo các tài khoản tổng hợp các cấp
- Nhiệm vụ của kế toán tổng hợp:
+ Kiểm tra sự chính xác của quá trình hạch toán kế toán trong một thời kỳ
+ Cung cấp các thông tin cho quản trị hoạt động kinh doanh NH cho NHNN để phục vụ công tác thanh tra giám sát các NHTM, các TCTD cũng như việc xây dựng điều hành, đánh giá các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ NH
1.6.3.2 6.3.2 Các hình th c c a k toán t ng h p ứ ủ ế ổ ợ
Hình thức của kế toán tổng hợp bao gồm tập nhật ký chứng từ, bảng kết hợp tài
khoản, sổ cái, bảng cân đối tài khoản và bộ báo cáo tài chính
a Tập nhật ký chứng từ
Tập nhật ký chứng từ gồm toàn bộ chứng từ gốc, chứng từ ghi sổ được sắp xếp theo trật tự nhất định; và các bảng kết hợp chứng từ; bảng liệt kê chứng từ (hoặc bảng cân đối chứng từ) Số lượng các tập "con" nhật ký chứng từ và số liên chứng từ phải lưu trữ cho một nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và hoàn thành (chỉ lưu 1 liên chứng từ cho cả 2 vế Nợ và Có hoặc lưu 2 liên chứng từ: 1 liên chứng từ ghi vế Nợ, 1 liên chứng từ ghi vế Có) còn tùy thuộc vào trình độ công nghệ kế toán, tùy thuộc tổ chức bộ máy kế toán cụ thể tại đơn vị ngân hàng
Ví dụ: Mẫu bảng liệt kê chứng từ:
Ngân hàng:
Liệt kê chứng từNgày tháng năm
Tập 1:
Thứ tự
Số chứng từ
Tài khoản ghi Nợ
Tài khoản ghi có
Số tiền
Trang 38Sau khi hoàn thành lập bảng liệt kê chứng từ theo từng tập, toàn bộ chứng từ
và các loại giấy tờ khác được đóng thành một tập và được đánh số từ 01 trở đi cho tất
cả chứng từ và giấy tờ khác trong tập nhật ký chứng từ Riêng hồ sơ tín dụng đã thu hết nợ thì đóng thành tập riêng và được sắp xếp theo thứ tự: Ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
b Bảng kết hợp tài khoản
Bảng kết hợp tài khoản có 2 loại: Bảng kết hợp tài khoản ngày và Bảng kết hợp tài khoản tháng (năm).Bảng kết hợp tài khoản lập theo tài khoản tổng hợp cấp nào phụ thuộc vào chỉ tiêu của bảng CĐ tài khoản ngày
Bảng kết hợp tài khoản ngày là một hình thức tập hợp tất cả các tài khoản chi
tiết có hoạt động trong ngày theo từng tài khoản tổng hợp Bảng kết hợp tài khoản tháng (năm) là một hình thức tập hợp tất cả các tài khoản chi tiết có hoạt động và không hoạt động trong tháng (năm) theo từng tài khoản tổng hợp
Bảng kết hợp tài khoản ngày được lập trên cơ sở số phát sinh trong ngày của các tài khoản Doanh số trên bảng kết hợp tài khoản chính là doanh số hoạt động ngày của TK, nhưng số dư đầu ngày và số dư cuối ngày thì không phải là số dư của tài khoản vì chưa bao gồm số dư của các tiểu khoản thuộc TKTH xong không hoạt động trong ngày Khi thực hiện kế toán trong điều kiện công nghệ hiện đại thì không nhất thiết phải lập bảng kết hợp tài khoản ngày
Mẫu bảng kết hợp tài khoản ngày
Ngân hàng:
Bảng kết hợp tài khoảnNgày tháng năm
Tài khoản tổng hợp số:
Số hiệu tiểu khoản
Số dư đầu ngày
Số phát sinh trong ngày
Số dư cuối ngày
Trang 39Cộng TK tổng hợp
dư của TKTH
Mỗi tờ sổ cái dùng cho 1 tài khoản tổng hợp và dùng trong 1 tháng trong đó có
31 dòng ứng với số ngày trong tháng Khi đã thực hiện kế toán điện tử thì có thể không dùng sổ cái
Mẫu sổ cái:
Ngân hàng:
Sổ tổng hợpTháng năm
Tên tài khoản tổng hợp : Số hiệu:
Cộng phát sinh
d Bảng cân đối tài khoản
Bảng cân đối tài khoản với mục đích kiểm tra mức độ chính xác, đầy đủ của số liệu kế toán sau một thời gian hoạt động Bảng cân đối tài khoản có 2 loại: Bảng cân đối tài khoản ngày và bảng cân đối tài khoản tháng (năm)
Bảng cân đối tài khoản ngày lập theo tài khoản tổng hợp cấp nào là tùy thuộc vào yêu cầu quản lý của mỗi ngân hàng
Trang 40Sau khi kết thúc giờ giao dịch buổi chiều và hoàn thành lập các loại sổ tổng hợp sẽ căn cứ vào sổ cái để lập bảng cân đối tài khoản ngày Khi đã thực hiện kế toán điện tử thì theo phần mềm kế toán tổng hợp máy tính sẽ in ra bảng cân đối tài khoản ngày.
Mẫu bảng cân đối tài khoản ngày:
Số phát sinh trong
ngày
Số dư cuối ngày
e Bộ báo cáo tài chính: Các loại báo cáo, nội dung, hình thức, phương pháp lập
từng loại báo cáo sẽ được nghiên cứu chi tiết ở chương XII "Báo cáo kế toán - tài chính ngân hàng"
1.6.4 6.4 Quy trình k toán chi ti t, k toán t ng h p trong i u ki n hi n iế ế ế ổ ợ đ ề ệ ệ đạ
- Quy định rõ trách nhiệm của mỗi thành viên tham gia vào quy trình
* Quy trình xử lý nghiệp vụ được chia thành 2 bộ phận:
- Bộ phận giao dịch “FRONT OFFICE”