Chính vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng , em xin lựa chọn đề tài số 8: “Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp
Trang 1A MỞ ĐẦU
Trong những năm qua, nên kinh tế nước ta đã phát triển với tốc độ khá cao,điều này phản ánh tiềm lực của hệ thống Ngân hàng rất mạnh mẽ và các Tổ chứctín dụng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước.Đồng thời cũng phản ánh nhu cầu vốn cho nền kinh tế nước ta là hết sức lớn Bêncạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàngnhững năm qua đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơrủi ro thất thoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụngngày càng chồng chất Nếu muốn có một nền kinh tế ổn định, đòi hỏi quốc gia phải
có hệ thống ngân hàng vững mạnh, Chính phủ phải thiết lập được hệ thống phápluật chặt chẽ để đảm bảo được hành lang an toàn cho hệ thống các Tổ chức tíndụng
Chính vì vậy, để thấy được rõ hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vay theo
hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng , em xin lựa chọn đề tài số 8: “Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý, đề xuất hướng giải quyết để xử lý đối với các khoản nợ sau cho vay của tổ chức tín dụng.” làm đề tài cho bài tập học kỳ của mình.
B NỘI DUNG
I KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1 Khái niệm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội loàingười có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Trong pháp luật dân sự,hiểu theo nghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho ngườikhác được sử dụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện cóhoàn trả, dựa trên cơ sở sự tín nhiệm của mình với người đó
Theo quy định Điều 17 Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng
12 năm 2001 của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho
vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng
và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.
Trang 2Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng là một hoạtđộng cho vay dựa trên hình thức pháp lí của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụngvới khách hàng là hợp đồng tín dụng; tức là, một hoạt động cấp tín dụng của tổchức tín dụng cho khách hàng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sửdụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏathuận được ghi nhận trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên chủ thể trong quan hệcho vay, với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi Tổ chức tín dụng có quyền chovay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhucầu vốn cho sản xuất kinh doanh và đời sống Khi cho vay, tổ chức tín dụng phảituân thủ các nguyên tắc, quy chế pháp lý về cho vay.
2 Đặc điểm hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng luôn mang những yếu tố cấu thành cơbản của quan hệ cho vay nói chung Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ chovay, hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng còn thể hiện ởnhững dấu hiệu có tính đặc thù sau:
Một là, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh
doanh mang tính chức năng Mặc dù theo luật Việt Nam hiện hành, các tổ chứckhác không phải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối vớikhách hàng như một hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của tổ chứcnày hoàn toàn không phải là nghề nghiệp kinh mang tính chức năng như đối vớicác tổ chức tín dụng
Hai là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh
doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện, thể hiện ở chỗhoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải thỏa mãn một số điềukiện nhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng Nhà nước cấpgiấy phép hoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theoluật định
Ba là, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ các quy
định chung của pháp luật về hợp đồng, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật vềhợp đồng còn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về Ngân hàng, kể cả tậpquán thương mại về ngân hàng
3 Các nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng(HĐTD) của
tổ chức tín dụng (TCTD)
Trang 3a) Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng:
Trong hoạt động ngân hàng thường có tính rủi ro rất cao và thường mang tínhchất dây chuyền đối với nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội Để tránh những rủi
ro này, các tổ chức tín dụng ngày nay thường thực hiện việc thẩm định tín dụng vớitám biện pháp thẩm định sau: tính cách người đi vay (character), tư cách của người
đi vay (capacity), khả năng trả nợ (capability), dòng tiền (cashflow), vốn (capital),điều kiện hoạt động (conditions), tài sản chung (collectability) và tài sản thế chấp(collateral)
b) Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích:
Nguyên tắc này đảm bảo cho các tổ chức tín dụng tránh được những rủi ro từbên vay, đồng thời đảm bảo được tính thực hiện hợp đồng, nếu bên vay vi phạmnguyên tắc này thì bên cho vay có quyền huỷ bỏ hợp đồng và bên vay phải chịu sựđiều chỉnh theo pháp luật
c) Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận:
Bên vay phải đảm bảo thực hiện đúng nguyên tắc này Trường hợp bên vay cóthể trả chậm hơn thời han quy định nếu có sự gia hạn và được bên cho vay chấpthuận, nhưng vẫn phải đảm bảo nguyên tắc này, thanh toán cả gốc và lãi theo đúngthời gian đã gia hạn
4 Phân loại cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng
Với sự phát triển không ngừng và đa dạng hóa nhiều hoạt động ngân hànghiện nay, việc phân loại cho vay của TCTD có ý nghĩa quan trong cả về lý luận vàthực tiễn Điều đó thể hiện ở chỗ ,dựa vào kết quả phân loại cho vay mà các nhàlàm luật có thể xây dựng thành những quy chế cho vay phù hợp với hoạt động thựctiễn nghiệp vụ của các tổ chức tín dụng Ở đây, em xin đưa ra một số hình thức chovay căn cứ vào những tiêu chí sau đây:
a) Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn:
- Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách
hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là đến một năm Hìnhthức này chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạtđộng kinh doanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong mộtthời hạn ngắn
- Cho vay trung và dài hạn: hình thức này khác cho vay ngắn hạn là với thời gian
thỏa thuận là từ trên một năm trở lên Người đi vay sử dụng hình thức này để thỏa
Trang 4mãn nhu cầu mua sắm tài sản cố định trong kinh doanh, thỏa mãn nhu cầu sinhhoạt, tiêu dùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại…
b) Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay:
- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ
tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba Việc chovay này phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồmhợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thếchấp, hợp đồng bảo lãnh) Pháp luật cũng cho các bên có thể thỏa thuận lập mộthợp đồng nên trong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem
là một bộ phận hợp thành của hợp đồng có bảo đảm bằng tài sản
- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ
hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của kháchhàng vay hoặc của người thứ ba Thông thường các bên chỉ giao kết một hợp đồngduy nhất là hợp đồng tín dụng Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảođảm bằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tíncủa mình và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tíndụng chấp nhận cho vay
c) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:
- Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay sử
dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình Nếu bên vay viphạm sử dụng vào những mục đích khác thì bên cho vay có quyền áp dụng các chếtài thích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thờihạn…
- Cho vay tiêu dùng: bên tham gia vay cam kết số tiền vay sẽ được sử dụng vào
việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắmnhà cửa hoặc phương tiện đi lại, hay sử dụng vào mục đích học tập…
c) Căn cứ vào phương thức cho vay:
- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD làm thủ tục vay vốn
cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng TCTD áp dụng phương thức cho vay này khikhách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên Mỗi lần có nhu cầu vayvốn, khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng
đối với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất
Trang 5– kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lầnCăn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của kháchhàng, tài sản bảo đảm tiền vay, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận mộthạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sảnxuất, kinh doanh.
- Cho vay theo dự án đầu tư: TCTD cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự
án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đờisống
- Cho vay hợp vốn: Theo phương thức này, một nhóm TCTD cùng thực hiện cho
vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó,một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp Cho vay hợp vốn được thực hiện theoquy chế này và quy chế đồng tài trợ của các TCTD do Thống đốc Ngân hàng nhànước ban hành
- Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả thuận
số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạntrong thời hạn cho vay
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp
nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng đểthanh toán tiềm mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặcđiểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD Việc cho vay thông qua nghiệp vụ pháthành và sử dụng thẻ tín dụng theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước
về phát hành và sử dụng thẻ tín dụng
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho
khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dự
án TCTD và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự
phòng, mức trả phí hco hạn mức tín dụng dự phòng
- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng văn
bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán củakhách hàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước vềhoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán
II.PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG
1 Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng tín dụng
Trang 6Khái niệm: Hợp đồng tín dụng là là sự thoả thuận bằng văn bản giữa tổ chức
tín dụng (bên cho vay) với khách hàng (bên vay, tổ chức, cá nhân) nhằm xác lậpquyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó tổchức tín dụng (bên cho vay) chuyển giao một khoản vốn tiền tệ cho khách hàng(bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện khách hàng sẽ hoàntrả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời gian nhất định
Đặc điểm của hợp đồng tín dụng:
Hợp đồng tín dụng phải được lập dưới hình thức bằng văn bản
Nội dung hợp đồng thể hiện sự đồng ý giữa bên cho vay chấp nhận cho bênvay sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện cóhoàn trả dựa trên sự tín nhiệm
Về chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là tổ chức tín dụng, có đủ điều kiện luậtđịnh, còn bên vay có thể là tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện vay vốn do phápluật quy định Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền, bao gồmtiền mặt và bút tệ
Hợp đồng tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay.Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn
Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của bêncho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề choviệc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay
2 Chủ thể của hợp đồng tín dụng
a Bên cho vay:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủthể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các điều kiện sau:
Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp
Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y
Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp
Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụngvới khách hàng
Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng (TCTD), muốn trở thành chủthể cho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiệnnhư có giấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và
có người đại diện hợp pháp Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng
Trang 7nhận đăng ký kinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay làhoạt động ngân hàng đươc phép thực hiện.
b Bên vay:
Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thoả mãn các điều kiện sau (về nguyên tắc, nhữngđiều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể đi vay trong mọi hợpđồng tín dụng):
- Bên vay phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Đối với tổ chức
là pháp nhân hay không phải là pháp nhân thì phải có người đại diện hợp pháp có
đủ năng lực và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi ký kết hợp đồng tín dụng
- Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp
Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện chung sau (những điều kiện này chỉ cótính bắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được các bên thoả thuận rõtrong hợp đồng tín dụng):
Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả
Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của ngườithứ ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh
3 Giao kết hợp đồng tín dụng
Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp
vụ – pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định Việc giao kết hợpđồng tín dụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:
Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực hiện
dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chímong muốn được giao kết hợp đồng tín dụng
Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân
có nhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theocác giấy tờ, tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương
án sử dụng vốn vay Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xemxét, thẩm định và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đòng tín dụng.Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đâycho thấy, có nhiều trường hợp bên chủ động giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là
tổ chức tín dụng chứ không phải là khách hàng, nhằm tăng cường khả năng cạnhtranh và mở rộng thị trường tín dụng Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên
Trang 8phong trong việc lựa chọn phương thức này chính là các ngân hàng cổ phần, ngânhàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Trong trường hợpnày, văn bản đề nghị là thư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho tổ chức, cánhân có khả năng tài chính mạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vayvốn thường xuyên (gọi là những khách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựachọn là bên đối tác Trong thư chào mời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thườngđưa ra những điều kiện có tính chất tổng quát nhất kèm theo những ước khoản cụthể để cho bên kia xem xét chấp nhận Tuy nhiên, do một thư chào mời có thểkhông nhất thiết phải là một văn bản dự thảo hợp đồng nên trong thực tế, nếu bêntiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ nội dung của thư chào mời đóthì không vì thế mà hợp đồng tín dụng được coi là đã hình thành.
Thẩm định hồ sơ tín dụng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ –
pháp lý do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối vớibên vay, trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không Do tính đặc biệt quantrọng của giai đoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòihỏi bên cho vay là tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tínhđộc lập, phân định rõ ràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâuthẩm định và khâu quyết định cho vay Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng củakhách hàng, bên cho vay có toàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối chovay Trong trường hợp từ chối cho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho kháchhàng bằng văn bản và phải nêu rõ lí do từ chối cho vay Việc từ chối cho vaykhông có căn cứ xác đáng có thể là lí do để khách hàng thực hiện hành vi đốikháng với tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên
nhận đề nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia vớinội dung thể hiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng Theo đó, hành vi chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý
ký kết hợp đồng chứ không thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng giữa các bên
Có nghĩa là việc giao kết hợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn thành sau khicác bên đã trải qua giai đoạn thương lượng, đàm phán trực tiếp các điều khoản củahợp đồng (bao gồm các điều khoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy
Trang 9nghi) và người đại diện có thẩm quyền của các bên đã trực tiếp ký tên vào bản hợpđồng tín dụng.
Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: Đây là giai đoạn cuối
cùng, cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng Tronggiai đoạn này, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tíndụng Giai đoạn này được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức kýtên vào văn bản hợp đồng tín dụng
4 Hình thức của hợp đồng tín dụng
Theo quy định tại Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng tín dụngđều phải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý Sở dĩ pháp luật quyđịnh như vậy là vì những ưu điểm sau đây:
- Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thể choviệc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tíndụng
- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố côngkhai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để cho ngườithứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, an toàntrong trường hợp cần thiết
- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ quan cótrách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn
Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu bao gồm vănbản viết và văn bản điện tử Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua phươngtiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.Các hợp đồng điện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và
có giá trị chứng cứ trong quá trình giao dịch
5 Nội dung của hợp đồng tín dụng
Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có
đủ tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp vớipháp luật Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làmphát sinh những quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồngtín dụng
Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồngtín dụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:
Trang 10 Điều khoản về điều kiện vay vốn Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên cầnghi rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏamãn thì hợp đồng tín dụng mới có hiệu lực.
Điều khoản về đối tượng hợp đồng Trong điều khoản này, các bên phải thỏathuận về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tíndụng đáo hạn
Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay Các bên phải ghi rõ trong hợp đồngtín dụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày
ký hợp đồng Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước vềkhả năng này trong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏathuận sau trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng
Điều khoản về phương thức thanh toán tiền vay Đây là một điều khoản rấtquan trọng vì nó liên quan trực tiếp đến việc thu hồi vốn và lãi cho vay Vì thế,các bên phải thỏa thuận rõ ràng số tiền vay sẽ được hoàn trả dần hàng tháng(trả góp) hay là trả toàn bộ một lần khi hợp đồng vay đáo hạn Nếu khoản vayđược thỏa thuận thanh toán theo từng kỳ hạn thì các bên cũng có thể dự liệutrước về khả năng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ cho phù hợp với khả năng tài chínhcủa bên vay khi trả nợ
Điều khoản về mục đích sử dụng tiền vay Trong điều khoản này, các bên cầnghi rõ vốn vay sẽ được sử dụng vào mục đích gì Việc thỏa thuận điều khoảnnày trong hợp đồng tín dụng được xem như một giải pháp đảm bảo sự an toàn
về vốn cho người đầu tư là các tổ chức tín dụng, nhằm tránh trường hợp bênvay sử dụng vốn một cách tùy tiện vào mục đích phiêu lưu, mạo hiểm Mặtkhác, để bảo đảm lợi ích của cả hai bên và đảm bảo cho đồng vốn đầu tư được
sử dụng hiệu quả, pháp luật cũng cho phép trong thời gian sử dụng vốn, cácbên có quyền thỏa thuận lại về mục đích sử dụng vốn vay mỗi khi xét thấy thời
cơ và điều kiện sử dụng vốn đã thay đổi
Điều khoản về giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng Đây là điều khoảnmang tính chất thường lệ, theo đó các bên có quyền thỏa thuận về biện phápgiải quyết tranh chấp bằng con ¬đường thương lượng, hòa giải hoặc lựa chọn
cơ quan tài phán sẽ giải quyết tranh chấp cho mình Nếu trong hợp đồng tíndụng không ghi điều khoản này, có nghĩa là các bên không thỏa thuận thì việc