1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

những biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại ngân hàng techcombank chi nhánh thanh khê

40 789 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 233,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1 Khái Quát Về NHTM1.1.1 Đinh Nghĩa Về NHTM Theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/o5/1990 của hội đồng Nhà nước Viêt Nam xác định Ngân hàng Thương Mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạ

Trang 1

CHƯƠNG I

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Trang 2

1.1 Khái Quát Về NHTM

1.1.1 Đinh Nghĩa Về NHTM

Theo Pháp lệnh Ngân hàng ngày 23/o5/1990 của hội đồng Nhà nước Viêt Nam xác định Ngân hàng Thương Mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền này để cho vay, thực hiện chiết khấu và phương tiện thanh toán

1.1.2 Chức Năng Của Ngân Hàng Thương Mại

1.1.2.1 Ngân Hàng Thương Mại Là Tổ Chức Trung Gian Tài Chính

Đây là một chức năng đăc trưng và cơ bản nhất của Ngân hàng Thương mại và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trung gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu, giữa tiết kiêm và đầu tư, khơi nguồn vốn từ những chủ thể có tiền nhưng chưa sử dụng với những chủ thể có nhu cầu về vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Quan hệ tín dụng trực tiêp giữa những chủ thể có tiền chưa sử dụng và những chủ thể có nhu cầu tiền tệ cần bổ sung găp nhiều hạn chế vì người có nhu cầu khó tìm găp người có khả năng cung ứng

Hoạt động của Ngân hàng thương mại đã khăc phục được hạn chế này,đó

là dứng ra tập trung các nguồn tiền chưa sử dụng của tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, bao gồm các nhà doanh nghiệp, cá nhân, cơ quan Nhà nước và trên

cơ sở đó cung cấp cho các chủ thể có nhu cầu bổ sung vốn tạm thời Như vậy Ngân hàng vừa là người di vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác nghiệp

vụ kinh doanh của Ngân hàng là đi vay để cho vay

1.1.2.2 Ngân hàng Thương Mại Là Chức Năng Thanh Toán:

Nhờ thực hiên chức năng trung gian tài chính mà thu hút nhiều đơn vị và

cá nhân mở tài khoản và giao dịch qua Ngân hàng Từ đó, các hoạt động giao dịch thanh toán giữa các Công ty, Xí nghiệp, tổ chức cá nhân phần lớn đều được thực hiên thông qua Ngân hàng Như vậy, Ngân hàng đóng vai trò thu hộ chi hộ cho các đơn vị cá nhân Để thực hiện công việc này Ngân hàng dùng các công cụ như séc, thư chuyển tiền, thư tín dụng, các giấy uỷ nhiệm thu, các loại thẻ thanh toán vừa đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia vừa đảy mạnh tốc

độ luân chuyển vật tư hàng hoá trong nền kinh tế

Trang 3

1.1.2.3 Ngân Hàng Thương Mại Là Chức Năng Tạo Tiền :

Đây là một trong những chức năng chủ yếu của Ngân hàng thương mại ,

nó liên quan đến mục đích tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh doanh cụ thể của Ngân hàng như nhận tiền gửi sau đó cho vay Quá trình tạo tiền bắt nguồn từ quá trình phát triển hoạt động tín dụng, gắn liền với tổ chức

mở rộng mạng lưới thanh toán qua Ngân hàng Ngoài ra của Ngân hàng thương mại còn phụ thuộc vào tiền tệ của Ngân hang Trung Ương, trong đó tỷ

lệ dự trữ bắt buộc là một trong những công cụ quan trọng “tạo tiền” tức là cung tiền tệ vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng dự kiến Nếu cung tiền tệ tăng quá nhanh, tất yêu lạm phát sẻ xuất hiện gây nên hậu quả xấu đương nhiên là nền kinh tế phải gánh chịu.Vì vậy các Ngân hàng thương mại đóng vai trò rất quan trọng trong viêc thực hiên chính sách này trong mối quan hệ với Ngân hàng Trung Ương nó phục vụ như là một kênh dẫn thông qua đó tiền cung ứng được tăng lên hay giảm xuống phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia

1.1.3 Vai trò của Ngân Hàng Thương Mại

Trong nền kinh tế thị trường, mọi sự vận động của nền kinh tế đều được tiền tệ hoádo đó Ngân hàng là chủ thể đóng vai trò rất quan trọng,

cụ thể là :

- Ngân hàng là nơi tập trung hoá các khoản tiền nhàn rỗi trông nền kinh tế

và cung ứng tiền cho các chu thể có nhu cầu vốn tam thời cho quá trình sản xuất kinh doanh Từ đó Ngân hàng đóng vai trò là chiếc cầu nối giữa tiết kiệm

Trang 4

1.1.4 Các nghiệp Vụ Của Ngân Hàng Thương Mại

Các nghiệp vụ của Ngân hàng phát triển theo sự phát triển của nền kinh tế Hoạt động kinh doanh càng bành trướng thì nghiệp vụ càng phát sinh và phát triển theo xu hướng đa dạng hoá va phức tạp hơn Tuy nhiên, ở đây chúng ta chỉ xem xét ở góc độ các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng Thương mại bao gồm :

1.1.4.1 Nghiệp Vụ Huy Động Vốn :

Hoạt động tiền đề, có ý nghĩa rất lớn đối với Ngân hàng cũng như toàn

xã hội Trong nghiệp vụ này, Ngân hàng Thương mại được sư dụng những biện pháp và những công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức kinh tế, và sử dụng nguồn vốn này để cho vay đối với những người có nhu cầu về vốn Kết quả của nghiệp vụ này tạo ra nguồn “ tài nguyên ” rất lớn để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Trong đó, vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn của Ngân hàng Thương mại

1.1.4.2 Nghiệp Vụ Cho Vay:

Hoạt động quan trọng và chính yếu nhất của bất cứ của một Ngân hàng Thương mại nào

Ngân hàng đã chuyển hoá từ các nguồn vốn huy động được thành vốn tín dụng sau thực hiện cho vay đối với khách hàng của mình, nhằm bổ sung thêm vốn cho các nhu cầu sản xuất kinh doanh cũng như phuc vụ cho nhu cầu đời sống của người dân Nhờ cho vay mà Ngân hàng đã tạo ra nguồn thu nhập lớn, để từ đó bù đắp lại các khoản tiền gửi của khách hàng, bù đắp chi phí kinh doanh, phần còn lại là lợi nhuận của Ngân hàng

1.1.4.3 Các Hoạt Động Kinh Doanh Khác Của Ngân Hàng

Ngày nay với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế đã kéo theo các dịch vụ của Ngân hàng cũng ngày càng phát triển vừa cho phép hổ trợ đáng kể cho nghiệp vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng đầu tư, vừa tạo thu nhập cho Ngân hàng bằng các khoản tiền hoa hồng môi giới, phí và lệ phí … thông qua các hoạt động như :

- Dịch vụ thanh toán thu, chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, thẻ thanh toán …)

Trang 5

- Bảo quản các tài sản quý giá, giấy tờ quan trọng của công chúng

- Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng

- Kinh doanh mua bán ngoại tệ,vàng bạc, đá quý

- cố vấn tài chính

1.1.5 Nguồn Vốn Và Sử Dụng Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại

1.1.5.1 Nguồn Vốn Của Ngân hàng Thương Mại.

Nguồn vốn của Ngân hàng Thương mại là phương tiện tiền tệ trong xã hội

do Ngân hàng thu hút động viên và quản lý để cho vay va thực hiện các nghiệp

vụ kinh doanh khác của Ngân hàng

- Vốn tự có của Ngân hàng : Là các nguồn vốn mà Ngân hàng có thể sử dụng trong dài hạn bao gồm :

+ Vốn diều lệ :Là vốn hoạt động ban đầu của Ngân hàng do Nhà nước qui định, đối với Ngân hàng quốc doanh vốn này Nhà nước cấp, Ngân hàng cổ phần là vốn cổ phần thường, Ngân hàng liên doanh là vốn đăng ký ban đầu Vốn điều lệ đươc bổ sung hàng năm từ lợi nhuận

+ Các quỹ dự trữ :( quỹ trích từ lợi nhuận ) quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng bù đắp rủi ro, quỹ khen thưởng phúc lợi, lợi nhuận không chia + Vốn huy động: Là những tài sản hay phương tiện tiền tệ của các chủ sở hữu khác nhau mà Ngân hàng động viên quản lý và sử dụng trên cơ sở phải có

sự hoàn lại với một khoản lợi tức danh nghĩa

Nguồn vốn huy động của Ngân hàng là nguồn vốn hoạt động quan trọng nhất của Ngân hàng chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng nguồn vốn Bao gồm : Tiền gửi không kỳ hạn :

Đây là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào khách hàng muốn và Ngân hàng Thương mại có trách nhiệm đáp ứng nhu cầu của người gửi Khách hàng có thể rút tiền trên tài khoản bằng tiền mặt hoặc, có thể phát hành séc để thanh toán, khoản tiền này thật chất là khoản tiền mà khách hàng cho Ngân hàng vay Ngân hàng phải trả lãi hàng tháng mặc dù rất thấp bởi tính chất của loại tiền gửi này là sự tiện lợi trong thanh toán Nói cách khác hấp dẫn của loại tiền gửi không kỳ hạn đối với khách hàng chính là lợi ích của

nó đem lại cho khách hàng bởi một hiệu lực thanh toán bằng tiền mặt, bằng séc chứ không phải là lãi suất được hưởng từ Ngân hàng

Đối với Ngân hàng, tiền gửi không kỳ hạn là nguồn vốn tốt để Ngân hàng khai thác để sử dụng trong hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, đối với

Trang 6

đặc điểm của loại tiền gửi này khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào do đó nguồn vốn này mang tính chất không ổn định,thường xuyên biến động, trong các khoản cho vay luôn luôn phải có thời gian nhất dịnh phụ thuộc vào việc kinh doanh của chủ nhân đi vay

Việc cho vay có hạn bằng khoản tiền gửi không kỳ hạn và người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào là một điều mạo hiểm bởi lẻ có nhiều người gửi tiền, cùng lúc viết séc rút tiền, trong khi đó tiền gửi của họ Ngân hàng đã cho vay

và chưa đến hạn để thu hồi thì dự trữ ở đây có nghĩa có nghĩa rất quan trọng Tình trạng kẹt thanh toán và mất khả năng chi trả sẽ rất dễ xảy ra và khả năng lan truyền nhanh Do vậy các Ngân hàng luôn luôn dự trữ cao nhằm chi trả cho các tờ séc của tiền gửi không kỳ hạn

Sự tiện lợi của thanh toán séc làm cho tiền gửi không kỳ hạn chiém tỷ lệ cao trong tài sản nợ của Ngân hàng, các doanh sản suất và thương mại Tièn gửi của họ hôm nay có thể chi vào bất kỳ lúc nào trong ngày mai, lúc đó lãi suất một ngày không đáng phải suy tính những tiện lợi an toàn và nhanh chóng của thanh toán bằng tờ séc Bên cành đó, sự đa dạng hoá các hình thức huy động làm cho khối lượng tiền gửi không kỳ hạn giảm sút dáng kể

- Tiền gửi định kỳ và tiết kiệm:

Cũng giống như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi định kỳ và tiết kiệm là một khoản cho vay của khách hàng đối với Ngân hàng Điều khác nhau

cơ bản là khách hàng chỉ được phép rút ra Đặc điểm của hai loại tiền gửi này là:

Thời hạn tiền gửi có kỳ hạn thường được xác định với những khoảng thời gian được thoả thuận giữa khách hàng thường là 3 tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc lâu hơn nữa Trong khoảng thời gian này khách hàng không được rút tiền ra Tiền gửi có kỳ hạn phụ thuộc vào 3 thông số chính đó là:

+ Lãi suất do Ngân hàng thương mại trả cao hay thấp

+ Lãi suất của các loại hình đầu tư khác nhau như cổ phiếu, trái phiếu

+ Thu nhập của dân cư

Trong đó thông số đầu tiên là quan trọng nhất, nhưng việc đưa ra chiến lược lãi suất như thế nào để thu hút được nhiều vốn kinh doanh, có lãi là điều quan trọng hàng đầu, phản ánh khả năng kỷ trị của các Ngân hàng thương mại

- Các khoản vay ngắn hạn từ thị trường :

+ Chứng từ tiền gửi loại lớn : chứng từ tiền loại lớn với đơn vị 100.000 USD hoặc nhiều hơn đã trở thành công cụ trong việc quản lý Tài sản nợ ở các Ngân

Trang 7

hàng lớn Đó là một loại hình phiếu nợ Ngân hàng phát ra để vay tiền của thị trường từ đó các đối tượng đến vay tiền để kinh doanh hoặc tiêu dùng theo hợp đồng với Ngân hàng tính từ ngày cho họ, hoặc Ngân hàng có thể công bố phát hành chứng từ cho các đối tượng muốn đầu tư, muốn gửi tiền vào Ngân hàng Mức lãi suất được trả cho các chứng từ chỉ tiền gửi được quyết định bằng cách thoả thuận trực tiếp giữa Ngân hàng với những người sắp ký thác hoặc được quy định ở mức độ nhất định mà người ký thác có thể chấp nhận được.

Để thu hút các khoản ký thác, mức lãi đưa ra cho các giấy chứng nhận ký thác phải vượt quá mức lãi của trái phiếu kho bạc

Khả năng vay vốn của thị trường thông qua việc phát hành chứng từ tiền gửi hay tín phiếu phụ thuộc vào 3 yếu tố đó là:

Mức độ chấp nhận của nhân dân đối với nó như một phương tiện thanh toán trong lưu thông

Sự khuyến khích hay không của Ngân hàng Trung Ương

Hiệu quả của việc sử dụng đồng vốn đã được vay

Trong hai yếu tố đầu tiên sẽ quyết định khả năng thanh toán nhanh hay chậm của quá trình phát hành

- Vay các Ngân hàng thương mại khác

Trong quá trình kinh doanh của các Ngân hàng thương mại có lúc thừa vốn

có lúc thiếu vốn đầu tư Đồng thời để nâng cao khả năng thanh toán trong một thời kỳ nào đó, các Ngân hàng thương mại phải đi vay ở các Ngân hàng khác Việc vay vốn ở các Ngân hàng thương mại khác thường thời gian rất ngắn và được thoả thuận giữa hai Ngân hàng Lãi suất phải trả thường rất cao vì vậy các Ngân hàng thương mại chỉ vay khi cần thiết vì nguồn vốn của các Ngân hàng thương mại cho vay chủ yếu bằng nguồn vốn huy động của dân chúng

Do vậy, lãi suất cho vay thường bằng mức lãi suất huy động cộng với một khoản phí huy động và được Ngân hàng Trung Ương đi vay chấp nhận và được tính toán hiệu quả từ trước

- Vay của Ngân hàng Trung Ương

Các Ngân hàng thương mại được Ngân hàng Trung Ương cho phép thành lập đều được hưởng tiền vay tiền Ngân hangf Trung Ương trong những tình huống thiếu hụt hoặc quá kẹt tiền mặt hoặc đầu tư vào công trình trọng điểm của chính phủ dưới hình thức chiết khấu Tuy nhiên việc vay tiền của các Ngân hàng thương mại từ Ngân hàng Trung Ương luôn được điều chỉnh bởi chính sách điều tiết vĩ mô về tiền tệ trong nền kinh tế

Trang 8

Trong trường hợp Ngân hàng Trung Ương thực hiện chính sách nới lỏng tiền

tệ, sẽ hạ lãi suất tái chiết khấu để kích thích việc vay vốn của Ngân hàng thương mại đầu tư cho nền kinh tế Những lúc ấy tiền trở nên đồi dào vì thế các khoản vay của Ngân hàng trung Ương cũng trở nên lớn

Trong trường hợp ngược lại Ngân hàng Trung Ương thực hiện chính sách thắc chặt về tiền tệ bằng cách nâng lãi suất tái chiết khấu hoặc gây khó khăn trong việc cho vay, nhằm hạn chế việc mở rộng tín dụng của Ngân hàng thương mại Các Ngân hàng thương mại chỉ vay một cách miễn cưỡng trong tình huống ngặt nghèo và tìm mọi biện pháp trả nợ rất nhanh

1.1.3.2 Sử Dụng Vốn Của Ngân Hàng Thương Mại

Từ các nguồn vốn huy động được Ngân hàng sử dụng vào cac khoản mục dự trữ cho vay và đầu tư kinh doanh khác

a Dự trữ tiền mặt bao gồm hai khoản

Tiền mặt tại kho Ngân hàng và khoản tiền ký gửi tại Ngân hàng Trung Ương, khoản ký gửi tai Ngân hàng Trung Ương không được trả lại như vạy cả hai khoản trên đều có lãi bằng không Người ta gọi đây là khoản dự trữ của Ngân hàng thương mại, vì sao phải dự trữ tiền mà không hề tạo ra đong lợi tức nào Trước hết luật Ngân hàng quy định và để được hoạt động buộc Ngân hàng thương mại phải tuân theo luật, đồng thời bản thân Ngân hàng thương mại cũng thấu rõ sự cần thiết phải giữ lại một ít tiền mặt mà không nên cho vay hết Việc gửi tiền này để đảm bảo an toàn cho những hoạt động còn lại, tránh sự biến động do nhiều món hàng hoá hoặc cơ hội đầu tư khác có lợi hơn nhân dân kéo đến rút tiền lúc đó Ngân hàng phải đảm bảo khả năng chi trả, nếu không niềm tin của người gửi không còn và Ngân hàng có thể sụp đổ Tuy nhiên, trong thực tế không phải Ngân hàng nào cũng có ý thức giống nhau về sự nguy hiểm của tình trạng mất khả năng thanh toán Để hạn chế những tác hại do mất khả năng thanh toán , kéo theo nhiều Ngân hàng sụp đổ vì mối liên đới dây chuyền Do vậy Ngân hàng Trung Ương quy định dự trữ bắt buộc đối với Ngân hàng thương mại Tỷ lệ phần trăm tiền mặt được yêu cầu phải để lại được gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Tỷ lệ dự trữ bắt buộc trong các Ngân hàng khác nhau thì khác nhau căn

cứ vào tính chất, vào thời hạn của cac loại tiền gửi

Trang 9

b Cho vay:

Đây là hình thức sử dụng vốn quan trọng nhất và thường xuyên chiếm tỷ trọng lớn trong tài sản Có của Ngân hàng thương mại, là hoạt động chủ yếu để tạo ra lợi nhuận Vì vậy các khoản vay giữ vai trò quyết định sự tồn tại và phát triển của một Ngân hàng thương mại, bởi vì chỉ có mang lại lợi nhuận mới đảm bảo bù đắp mọi chi phí hoạt động bao gồm: chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí

dự trữ, chi phí quản lý…

Tuy nhiên việc quản lý quỹ cho vay trong hoạt động Ngân hàng thương mại cũng rất phức tạp Trường hợp do các Ngân hàng nằm trong loại hình các doanh nghiệp được giám sát chặt chẽ buộc phải quản lý theo luận và các quy định đã được ban hành, thứ hai là mối quan hệ giữa Ngân hàng với khách hàng

là mối quan hệ được hình thành trên cơ sở tin tưởng nhau cũng tạo ra lợi nhuận cho nhau Cuối cùng đòi hỏi một mức lợi tức phù hợp với mức rủi ro của việc đầu tư của các nước đang phát triển, mối quan tâm lớn nhất và thường xuyên của nó là sẽ cho ai vay, và sẽ đầu tư vào đâu còn những nước đang phát triển thì ngược lại vấn đề đặt ra không phải cho ai vay và đầu tư vào đâu có lợi tức cao an toàn không ? song những vấn đề trên thực tế không đáng lo ngại vì hầu hết họ đã có những thân chủ chắc chắn và vấn đề an toàn vốn được pháp luật đảm bảo Điều quan tâm là làm sao huy động được nhiều tiền cho các khoản đầu tư có sẵn

- Cho vay ngắn hạn :

Đây là loại hình cho vay truyền thống nhằm bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động cho các doanh nghiệp và cho vay tiêu dùng Nó có thể được thực hiện dưới dạng chiết khấu giấy tờ có giá, ứng trước theo hợp đồng Khấu trừ chi qua các tài khoản vãng lai, thuê mua trả góp, thời hạn cho vay ngắn hạn theo thông

lệ quốc tế là dưới 2 năm còn ở Việt Nam thời hạn cho vay ngắn hạn tối đa là 1 năm

- Cho vay trung dài hạn :

Được thực hiện dối với những chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội Đối tượng cho vay trung dài hạn thường để xây dựng cơ bản, mua sám tài sản

cố định và các đối tượng có chu kỳ sản suất kinh doanh dài ngày Theo thông

lệ quốc tế cho vay trung dài hạn có thời hạn 7 năm đến 15 năm, còn ở Việt Nam cho vay trung hạn từ 1 năm đến dưới 5 năm, cho vay dài hạn từ 5 năm trở lên Tỷ trọng cho vay trung dài hạn ở các nước phát triển chiếm tỷ lệ lớn trong tông dư nợ Riêng ở nước ta tỷ lệ này chiếm tỷ trọng còn khá khiêm tốn khoản

Trang 10

từ 20% đến 25% Tuy nhiên do hoạt động chính sách đầu tư và xu hướng hiện đại hoá công nghiệp hoá thì tỷ trọng này ngày càng cao trong tổng số dư nợ.

- Các dạng đầu tư kinh doanh khác:

Ngoài nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng thượng mại còn thực hiện một số nghiệp vụ mang tính tận dụng nguồn vốn như: góp vốn liên doanh, mua cổ phần công ty, mua chứng khoán nhà nước (chủ yếu là mua trái phiếu kho bạc ) Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ : đây cũng là một nghiệp vụ rất quan trọng của các Ngân hàng thương mại

Trang 12

2.1 Giới Thiệu Về Ngân Hàng Kỹ Thương – chi Nhánh Thanh Khê Thành Phố Đà Nẵng

2.1.1 Quá Trình Hình Thành Và Phát Triển Của Techcombank Việt Nam

a Quá trình hình thành và phát triển của Techcombank Việt Nam

Sau khi đấtt nước ta tiến hành chuyển đổi cơ cấu kinh tế tâp trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Kết quả của việc chuyển đổi này đã tạo ra sự phát triển đáng

kể cho nền kinh tế đất nước Sự xuất hiện của nhiều thàn phần kinh tế đòi hỏi nhu cầu vốn nhiều để phát triển kinh tế và mở rộng thị trường

Trong bối cảnh nền kinh tế đó hệ thống Ngân hàng thương mại quôc doanh không đủ khả năng cung cấp và đáp ứng nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp Vì vậy sự ra đời của các Ngân hàng thương mại cổ phần là tất yếu và cần thiết Mặt khác để phù hợp với nền kinh tế thị trường, nâng cao hiệu quả

và chất lượng hoạt động của Ngân hàng, việc thành lập Ngân các hàng thương mại cổ phần sẻ tạo ra sự cạnh tranh với nhau để hoạt động Ngân hàng ngày càng hoàn thiện hơn

Ngân hàng thương mại Kỹ Thương Vệt Nam tiếng anh là TECHNOGICAL AND COMMERCAIL JOINT BANK viết tắc là TECHCOMBANK Việt Nam ra đời khai trương và hoạt từ ngày 27/9 /1993

Hội sở chính của Techcombank Việt Nam đặt tại 15 Đoà Duy Từ Quận Hoàng Kiếm Hà Nội với vốn điều lệ hơn 100 tỷ đồng và tổng tài sải hàng nghìn tỷ đồng Techcombank Việt Nam cung cấp đầy đủ và phông pgú đa dạng các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng truyền thống cùng dịch vụ mới với công nghệ hiện đại, khách hàng của Techcombank bao gồm đủ các thành phần kinh tế

b Sự phát của Techcombank Thanh khê

Chi nhánh Techcombank Thanh Khê trước đây là phòng giao dịch số hai của Techcom bank Đà Nẵng, chi nhánh chính thức đi vào hoạt động tư tháng 2 năm 2002, hoạt động theo quy mô là một ngân hàng cấp 4 Một chi nhánh mới

ra đời gặp không ít khó khăn Bên cạnh đó, còn có sự cạnh tranh gay gắt hơn

18 Ngân hàng trên cùng một địa bàn thành phố Tuy nhiªn, sự ra đời của Techcombank Thanh Khê là định hướng chung của Ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam nhằm mục đích mở rộng mạng lưới kinh doanh, tiếp cận đến các thàn phần kinh tế, các tầng lớp dân cư trong xã hội và phối hợp với các cơ quan chức năng nhất là với chính quyền, đoàn thể các địa phương lân cận Chi nhánh ra đời đã chuyển tải đươc vốn đến tận tay người dân, có nhu cầu vay

Trang 13

2.1.2 Chức năng và nhiệm vụ cả chi nhánh

Chi nhánh Techcombank Thanh Khê hoạt động kinh doanh theo qui chế của Techcombak Việt Nam và theo qui định của pháp luật, cũng như các Ngân hàng chuyên doanh khác chi nhánh Techcombank thanh Khê có chức năng của Ngân hàng chuyên doanh là kinh doanh và quản lý trực tiếp đồng Việt Nam và ngoại tệ Với những chức năng đó Ngân hàng có các nhiêm vụ sau

- Tổ chức thực hiện tiếp nhận, huy động vốn cho vay trong khuôn khổ Điều

lệ Ngân hàng Techcombank theo chính sách chế độ của Nhà nước

- Nhân tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, phát hành kỳ phiếu, ngoài Ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ theo qui định hoạt động của Techcombank Việt Nam

- Căn cứ thông báo của Techcombank Viẹt Nam để ứng định giá kinh doanh ngoại tệ ,lãi suất cho vay, lãi suất tiền gữi trên địa bàn hoạt đông

- kinh doanh ngoại tệ, làm các dịch vụ tín dụng thanh toán và dịch vụ Ngân hàng ngoại hối

- Bảo lãnh các khoản vay và thanh toán cho các pháp nhân trong nước

- Thực hiện các thanh toán và dịch vụ thanh toán trong và ngoài hệ thống Techcombank các đơn vị cá nhân có tài khoản

- Đại diện cho Techcombank Việt Nam trong những vấn đề liên quan đến chức năng nhiêm vụ của nghành tại địa phương

vốn sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng một cách có hiệu quả Từ những ngày ®Çu đi vào hoạt động, được sự quan tâm của giúp đở của Techcombank Đà Nẵng chi nhánh đã có một đôị ngũ cán bộ nhân viên cố trình đọ chuyên môn cao 100% là đã cố bằng đại học trở lên và đã trãi qua kinh nghiệm thực tế

Trang 14

2.1.3 Cơ cấu tổ chức vă bộ mây quản lý.

- Phòng kinh doanh

+ Phđn tích chuyín ngănh trín cơ sở đó thực hiện phđn loại khâch hăng

có tín nhiệm đề xuất chương trình tói ưu

+ Thẩm định dự ân tín dụng, để tổ chức kiểm tra giâm sâtviệc thực hiện + Trực tiếp thực hiện hoạt động cho vay từ khđu hướng dẫn khâch hăng lăm hồ sơ vay vốn đến việc giải ngđn, theo dõi, kiểm tra, giâm sât món vay

- Phòng kế toân : Hướng dẫn thủ tục mở tăi khoản ,thực hiện quản lý câc tăi khoản, chi phí phí phải thu phải trả Nắm tình hình nguồn vốn vă sử dụng vốn, hoạch toân theo dõi quản lý câc tăi sản của chi nhânh ,tiếp cận vă kiểm soât chứng từ thực hiện chế độ bâo câo, quản lý mạng vi tính vă bảo mật số liệu

- Bộ phận ngđn quỹ : Thực hiện câc nghiệp vụ mua bân ngoại tệ, vµng bạc, nghiệp vụ thu chi tiền tệ, nghiệp vụ chuyển tiền trong nước vă nước ngoăi, chi

tê kiều hối, nghiệp vụ chi hộ trong hệ thống Ngđn hăng Techcombank hoặc theo uỷ nhiệm chi của khâch hăng Ngoăi ra bộ phận ngđn quỹ có nhiệm vụ thu tiền mặt văo ngđn quỹ của chi nhânh vă chi ra theo yíu cầu của khâch hăng xin vay vốn được duyệt

Phòng Kinh Doanh Phòng Kế Toán Bộ Phận Ngân Quỹ

GIÁM ĐỐC

Phòng Kinh Doanh

Trang 15

2.2 Tình hình nguồn vốn và sử dụng vốn của Ngân hàng Kỹ Thương – chi nhánh Thanh Khê

2.2.1 Tình hình về nguồn vốn.

2.2.1.1 Tình hình chung về nguồn vốn

Đối với hoạt động Ngân hàng, nguồn vốn được xem là quan trọng quyết định qui mô hoạt động của Ngân hàng, cũng như các loại hình doanh nghiệp khác để duy trì sự tồn tại và phát triển của mình thì Ngân hàng cần phải cố vốn

để hoạt động bởi vì nguồn vốn là yếu tố quan trọng quyết định qui mô, cơ cấu của quá trình kinh doanh Do đó Ngân hàng phải không ngừng mở rộng thị trường để thu hút nguồn vốn nhằm đảm bảo dáp ứng nhu cầu vốn của xã hội Qua hai năm hoạt động kể từ ngày thành lập ,Ngân hàng Techcombank đã

ổn định và có những bước phát triển Với nguyên tắc “đi vay để cho vay ” Ngân hàng Techcombank đã huy động một bộ phận nguồn vốn đáng kể từ tiền nhàn rỗi của các tầng lớp dân cư các tổ chức kinh tế Nhằm đáp ứng kịp thời về vốn sản xuất kinh doanh tiêu dùng của dân cư, các đơn vị kinh tế

Để biểu hiện cụ thể về tình hình nguồn vốn của Ngân hàng Techcombank chi nhánh Thanh Khê trong hai năm qua ta xem bảng sau :

Bảng 1: Tình hình chung về nguồn vốn của Ngân hàng Techcombank chi

nhánh Thanh Khê qua 2 năm 2002- 2003

Vốn huy động của Ngan hàng trong năm 2003 tăng 70.230tăng hơn so với năm 2002 là 34.354 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng của vốn huy động là 95,76% Nguồn vốn tăng mạnh như vậy cho ta thấy là do trong quá trình chỉ đạo về nguồn vốn và công tác huy động vốn Ngân hàng đã linh hoạt trong viÖc

Trang 16

điều chỉnh cơ cấu lói suất huy động phự hợp, kịp thời từ đú toạ nờn sự hấp dẫn thu hỳt việt đầu tư của khỏch hàng.

Bờn cạnh đú vốn vay của Ngõn hàng trong năm 2003 tăng 1.800 triệu đồng, tăng hơn so với năm 2002 là 8.000 triệu đồng Điều ngay cho thấy cụng tỏc tớn dụng của Ngõn hàng đang được đẩy mạnh vỡ Ngõn hàng hoạt đụng theo nguyờn tắc “đi vay để cho vay ” Trong năm Ngõn hàng cần một lượng vốn lớn, dự nguồn vốn huy động tăng mạnh nhưng vẫn khụng đủ, đo đú Ngõn hàng cần đến nguồn vốn vay từ Nõng hàng Techcombank hội sở

Qua đú ta thấy qua hai năm 2002-2003 nguồn vốn huy động luụn chiếm tỷ

lệ lớn trong tổng nguồn vốn ,năm 2002 chiếm 78,20% trờn tổng nguồn vốn, năm 2003 chiếm 79,60% trờn tổng nguồn vốn Do Ngõn hàng là chi nhỏnh nờn vốn tự cú là khụng cú cho nờn nguồn vốn huy động chiếm tỷ lệ lớn là đương nhiờn

Nhỡn chung tỡnh hỡnh nguồn vốn của Ngõn hàng Techcombank chi nhỏnh Thanh Khờ rất tốt, cụng tỏc tớn dụng được Ngõn hàng chỳ trọng quan tõm Mặt khỏc dự Nguồn vốn huy đụng cú sự tăng trưởng đỏng kể nhưng vẫn chưa đỏp ứng nhu cầu cho vay của Ngõn hàng nờn Ngõn hàng phải sử dụng vốn vay đẻ đỏp ứng nhu cầu về vốn, do đú Ngõn hàng cần đẩy mạnh hơn nữa cụng tỏc huy động vốn

Đõy là nguồn vốn chiếm tỷ trọng chủ yếu trụng tổng nguồn vốn của Ngõn hàng và nguồn vốn này đóng vai trũ quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngõn hàng Trong năm 2003 nguồn vốn huy động của Ngõn hàng Techcombank chi nhỏnh Thanh Khờ đạt 70.230 triệu đồng, tăng 34.354 triệu đồng so với năm 2002 tốc độ tăng 95,76%

Để thấy rừ nguồn vốn huy đụng tại Ngõn hàng Techcombank chi nhỏnh Thanh Khờ ta xem bảng số liệu sau:

Bảng 2:Tỡnh hỡnh nguồn vốn huy động

ĐVT:Triệu đồng

Trang 17

3 Tiền vay của các CTD

Sở dĩ có sự tăng cao như vậy là các nguyên nhân sau :

- Cùng với sự phát tiển của nền kinh tế, ngày càng nhiều doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần ra đời và phát triển với tốc độ cao, các đơn vị kinh doanh có hiệu quả, do vậy những khoản mà họ thu nhậo tâm thời chưa dùng đến đã gửi vào Ngân hàng để kiếm lãi và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh hay để thanh toán

- Do sự bắt buộc của của nhà nước về sự đảm bảo về số vốn pháp định

khi thành lập công ty hay doanh nghiệp

- Do pháp định Ngân hàng không cho phép các tổ chức kinh tế tồn quỹ quá

500 triệu đồng nên họ phải gửi vào Ngân hàng

Đối với loại tiền gửi của các tổ chức kinh tế thì tiền gửi không kỳ hạn chiếm tỷ trọng tuyệt đối bởi vì loại tiền gửi này, các đơn vijkinh tế chấp nhận một khoản lợi tức thu được thấp nhưng thuận lợi trong việc rút vốn hay gửi vào, khi có sự biến động cũng như thuận lợi trong thanh toán giữa các tổ chức kinh tế với nhau

Tiền gửi tiết kiệm chịu ảnh hưởng rất lớn vào tình hình biến động giá cả trên thi trường là lạm phát, khi giá cả biến động mạnh, lạm phát gia tăng thì khoản tiết kiệm sẽ được người dân nhanh chóng rút tiền gửi Ngân hàng, để mua hàng hoá hoặc vàng bạc để cất trữ làm khoản tiền này giảm xuống đáng

Trang 18

kể Ngược lại, khi tình hình thị trường ổn định thì nguồn tiền gửi tiết kiệm cũng tăng.

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng nếu như trong năm 2002 lượng tiền gửi tiết kiệm của dân cư đạt 31.320 triệu đồng chiếm tỷ trọng 78,70% thì bước sang năm 2003 lượng tiền gửi tiết kiệm đạt 46.256 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 91,50% tăng hơn so với năm 2002 là 32.936 triệu đồng tốc độ tăng là 150,20%., điều này đánh dấu một sự nổ lực hết sức của Ngân hàng Tuy nhiên, việc tăng lượng tiền gửi tiết kiệm là do sự tăng lên đáng kể của lượng tiền gửi tiết kiệm của kỳ hạn năm 2003 lượng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn đạt 55.802 triệu đồng tăng hơn so với năm 2002 la 28.397 triệu đồng tốc độ tăng là 103,55%

Cũng như lượng tiền gửi có kỳ hạn thì lượng tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn trong năm 2003 đạt 8.454 triệu đồng tăng 4.539 triệu đồng so với năm

2002, tốc độ tăng là 115,93% Để có sự tăng trưởng về nguồn tiền gửi tiết kiệm

do các nguyên nhân sau:

+ Do Ngân hàng triển khai mạng lưới hoạt động và mở rộng địa bàn kinh doanh từ đó thu hút ngày một tăng hơn lượng tiền gửi tiết kiệm của dan chúng + Ngân hàng đã đẩy mạnh nâng cao chính sách ưu đãi cụ thể đối với khác hàng, đặc biệt là đối với những khách hàng lớn

+ Do cải tiến công tác ngân quỹ, tăng thêm nhân lực đếm tiền, thực hiện chính sách thu phí linh hoạt, phục vụ tốt hơn trước nên đã thu hút thêm một lượng đáng kể tiền gửi của các thành phần dân cư

+ Mặc dù Ngân hàng nhà nước tăng giảm lãi suất trần cho vay nhưng do chi nhánh có những phương án điều chỉnh lãi suất huy động vốn hợp lý kịp thời nên vẫn tạo ra được sự hấp dẫn đối với việc gửi tiền của dân chúng

Trong cơ cấu nguồn vốn huy động thì tiền gửi tiền vay của các tổ chức tín dụng ảnh hưởng không nhỏ đến sự biến động của nguồn vốn huy động Nếu như năm 2002 nguồn tiền này đạt 1.320 triệu đồng thì sang năm 2003 loại tiền gửi này giảm một lượng không đáng kể còn lai 1.064 triệu đồng giảm so với năm 2002 là 256 triệu đồng tốc độ giảm là 19,40%

Tóm lại, nguồn vốn huy động của Ngân hàng Techcombank chi nhánh Thanh Khê thành phố Đà Nẵng tăng tương đối cao Trong đó tiền gửi của các

tổ chức kinh tế, tiền gửi tiết kiệm tăng với tốc độ cao còn tiền gửi tiền vay của các tổ chức tín dụng giảm không đáng kể Điều này làm công tác huy động vốn của chi nhánh trong năm qua mặc dù lãi suất huy động giảm liên tục là

Trang 19

nhờ tập thể CBCNV Ngõn hàng cú những biện phỏp tớch cực huy động mọi nguồn trong dõn cư đổi mới phong cỏch phục vụ từ đú đỏp ứng đủ nhu cầu về vốn cho hoạt động sản suất kinh doanh của cỏc thành phần kinh tế trong xó hội.

2.2.2 Tỡnh hỡnh sử dụng vốn

2.2.2.1 Tỡnh hỡnh chung về sử dụng vốn

Huy động vốn là để cho vay, vỡ vậy việc sử dụng vốn này như thế nào cho

cú hiệu quả là một mục tiờu quan trọng hàng đầu đối với bất cứ một Ngõn hàng nào Sử dụng vốn vay cú hiệu quả, điều đú đồng nghĩa với việc Ngõn hàng thu được lợi nhuận, cú lợi nhuận thỡ Ngõn hàng mới mở mang được cơ sở vật chất trang bị kỹ truật tiờn tiến, đổi mới cụng nghệ Ngõn hàng phỏt triển mạng lưới kinh doanh đồng thời đảm bảo dời sống cho CBCNV trong Ngõn hàng, đối với cỏc tầng lớp kinh tế và nhõn dõn

Để xem xột rỏ hơn về quỏ trỡnh sử dụng vốn tại Ngõn hàng Techcombank chi nhỏnh Thanh Khờ qua hai năm 2002 và 2003 ta cú bảng sau:

Bảng 3: Tỡnh hỡnh sử dụng vốn tại Ngõn hàng Techcombank chi nhỏnh

Thanh Khờ qua hai năm 2002-2003 ta cú bảng sau:

tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn, năm 2002 chiếm 78,20% trên tổng nguồn vốn về số tơng đối Năm 2003 chiếm 79,60% trên tổng nguồn vốn về số tơng

đối, về số tuyệt đố, nguồn vốn huy động năm 2003 tăng 42.354 triệu đồng so với năm 2002, tốc độ tăng 92,32% so với năm 2002 đó là một con số đáng kể Điều đó càng chứng tỏ thêm công tác huy động vốn của Ngân hàng đợc thực hiện rất hiệu quả, và đã có nhiều cải tiến tích cực so với năm 2002 Ngoài ra Ngân hàng còn sử dụng vốn vay để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của mình Về

Trang 20

mặc tỷ trọng nguồn vốn vay năm 2003 thấp hơn so với năm 2002 trên tổng nguồn vốn là 20,40%, năm 2002 là 21,80% trên tổng nguồn vốn Nhng thực tế nguồn vốn vay năm 2003 tăng hơn so với năm 2002 về số tuyệt đối tăng 8000 triệu đồng tứctăng 80,00% so với năm 2002.

- Với nguồn vốn nh trên Ngân hàng sử dụng chủ yếu cho hoạt động cho vay qua bảng số liệu trên ta có thể thấy:

+ D nợ tín dụng năm 2002 chiếm 64,23% trên tông sử dụng vốn tơng ứng với số tiền là 29.466 triệu đồng, năm 2003 chiếm 80,83% tơng ứng với số tiền

đứng của mình

Ngoài ra Ngân hàng còn sử dụng nguồn vốn cho các mục đich sau:

+ Mua sắm TSCĐ: Năm 2002 chiếm 0,13% trên tổng sử dụng nguồn vốn

t-ơng ứng với số tiền là 85 triệu đồng, năm 2003 chiếm 0,05% trên tổng sử dụng vốn tơng ứng với số tiền là 40 triệu đồng Nh vậy so với năm 2002 thì năm

2003 giảm 13,79% tơng ứng với số tiền là 8 triệu đồng Điều đó cũng hợp lý,

do mới thành lập nên những năm đầu Ngân hàng sử dụng vốn nhiều để phát triển, cũng cố cơ sở hạ tầng máy móc thiết bị

Bên cạnh đó Ngân hàng còn sử dụng vốn để bảo đảm an toàn chi trả năm

2002 chiếm 6,72% trên tổng sử dụng nguồn vón tơng ứng với số tiền là 3.082 triệu đồng, năm 2003 chiếm 8,92% tơng ứng với số tiền là 7.874 triệu đồng Vậy so với năm 2002 hoạt động này tăng 155,48% tơng ứng số tiền là 4.792 triệu đồng Ngân hàng mở rộng hoạt động cho vay thì vấn đề an toàn chi trả cũng phải thực hiện tốt, Ngân hàng thực hiện tốt công tác an toàn chi trả điều này giải thích tại sao uy tín của Ngân hàng ngày một nâng lên

+ Tiền gửi tại hội sở : năm 2002 chiếm 28,92% trên tổng sử dụng nguồn vốn tơng ứng với số tiền là 13.270 triệu đồng, năm 2003 chiếm 10,20% trên tổng sử dụng nguồn vốn tơng ứng với số tiền là 9.000 triệu đồng Theo bảng ta thấy tiền gửi tại hội sở năm 2003 giảm hơn so với năm 2002 là 32,18% tơng ứng với số tiền là 4.270 triệu đồng Nguyên nhân là do năm 2002 Ngân hàng mới

Ngày đăng: 30/10/2014, 23:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w