Với mục đích nhìn nhận lại tổng quát thực trạng thanh tra, giám sát ngân hàng nhà nước ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chúng, bài viết của nhóm A1 xin được đề cậ
Trang 1A ĐẶT VẤN ĐỀ
Như chúng ta đã biết, cơ chế thị trường có rất nhiều ưu điểm song cũng tồn tại không ít khuyết điểm Không nằm ngoài quy luật chung, ngành ngân hàng trong nền kinh tế thị trường cũng tồn tại những tiêu cực nhất định Do đặc điểm
là một ngành hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, có ảnh hưởng mạnh đến toàn bộ nền kinh tế nên Chính phủ nào cũng sử dụng nhiều công cụ để quản lí, hạn chế hậu quả của khuyết tật ấy Trong đó, thanh tra là một công cụ thiết yếu, được sử dụng rất hiệu quả Xuất phát từ đặc điểm riêng và ảnh hưởng của ngành, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng cũng có những đặc thù khác thanh tra nói chung và chiếm một vị trí quan trọng trong hoạt động quản lí Với mục đích nhìn nhận lại tổng quát thực trạng thanh tra, giám sát ngân hàng nhà nước ở Việt Nam, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện chúng, bài viết của
nhóm A1 xin được đề cập đến nội dung: “Tìm hiểu và làm rõ nội dung thực
trạng hoạt động của cơ quan thanh tra giám sát của ngân hàng nhà nước trong giai đoạn hiện nay và đưa ra ý kiến pháp lí về hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng nhà nước.”
B NỘI DUNG
I Tổng quan về hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Khoản 1 Điều 50 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định: “Thanh tra
ngân hàng là thanh tra nhà nước chuyên ngành về ngân hàng, được tổ chức thành hệ thống bộ máy ngân hàng nhà nước Mục đích của thanh tra ngân hàng
là nhằm góp phần đảm bảo an toàn các tổ chức tín dụng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, phục vụ việc thực thi chính sách tiền tệ quốc gia”
Từ khi quy chế giám sát ra đời, thanh tra ngân hàng thực hiện giám sát các tổ chức tín dụng (TCTD) theo 2 cấp gồm: thanh tra ngân hàng nhà nước (NHNN); thanh tra chi nhánh NHNN tỉnh, thành phố Đối tượng giám sát và nội dung
Trang 2giám sát theo quyết định 398/1999/QĐ-NHNN3 ngày 9/11/1999 của thống đốc NHNN
II Nội dung, thực trạng hoạt động của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng nhà nước trong giai đoạn hiện nay:
1 Nội dung thanh tra, giám sát ngân hàng:
a Nội dung thanh tra:
Trong công tác thanh tra, giám sát ngân hàng thì việc xác định nội dung thanh tra, giám sát ngân hàng là việc cần thiết Việc xác định các nội dung này càng “trúng” và “sát” bao nhiêu thì công tác thanh tra, giám sát ngân hàng càng hiệu quả bấy nhiêu
Theo thông lệ, hoạt động thanh tra ngân hàng bao gồm những nội dung sau:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép do Ngân hàng Nhà nước cấp
- Xem xét, đánh giá mức độ rủi ro, năng lực quản trị rủi ro và tình hình tài chính của đối tượng thanh tra ngân hàng, thông qua việc đánh giá quy trình nghiệp vụ
và các báo cáo tài chính Trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét và cảnh báo về rủi ro và ngân hàng đang đối mặt
- Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về tiền tệ
và ngân hàng
- Kiến nghị, yêu cầu đối tượng thanh tra ngân hàng có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và phòng ngừa, ngăn chặn hành động dẫn đến vi phạm pháp luật
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng Thực hiện các bước tái cơ cấu hệ thống và xử lý những TCTD yếu kém theo phương châm toàn diện, thận trọng, đảm bảo an toàn hệ thống, xử lý nghiêm theo quy định
Trang 3của pháp luật những hành vi vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, vi phạm sự chỉ đạo, điều hành của NHNN; chủ động phối hợp công tác với các đơn vị thuộc trụ sở chính, với NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố; rà soát
cơ chế, chính sách, quy định trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trong đó chú trọng hoạt động cấp tín dụng; thực hiện có hiệu quả các giải pháp
về phòng, chống tham nhũng, phòng chống tội phạm trong từng tổ chức, đơn vị,
b Nội dung giám sát:
- Thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầu giám sát ngân hàng
- Xem xét, theo dõi tình hình chấp hành các quy định về an toàn hoạt động ngân hàng và các quy định khác của pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý về thanh tra và khuyến nghị, cảnh báo về giám sát ngân hàng
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức
độ rủi ro của tổ chức tín dụng; xếp hạng các tổ chức tín dụng hằng năm
- Phát hiện, cảnh báo rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và ngân hàng
- Kiến nghị, đề xuất biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro, vi phạm pháp luật Khuyến nghị hoặc yêu cầu những việc mà ngân hàng cần làm ngay hoặc cần chú ý nhằm lành mạnh hóa và nâng cao độ an toàn trong hoạt động ngân hàng
Các nội dung trên đây phản ánh những công việc chính mà cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng phải thực hiện Để cho việc thanh tra giám sat ngân hàng được hiệu quả, các nội dung này cần được quy định rõ trong những văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng Bằng cách đó vừa gắn trách nhiệm với quyền hạn của chủ thể tham gia giám sát ngân hàng, vừa là sự tuyên bố công khai với các chủ thể có liên quan
Trang 4để yêu cầu các chủ thể này có trách nhiệm phối hợp với cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng trong việc triển khai công tác thanh tra, giám sát hoạt động ngân hàng trong nền kinh tế
2 Thực trạng hoạt động của cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng nhà nước
a Về cơ cấu tổ chức
Trên thực tế, cơ cấu tổ chức hoạt động của Thanh tra Giám sát Ngân hàng
đã có sự cải cách nhưng các chức năng thanh tra giám sát ngân hàng còn bị phân tán và được thực hiện bởi các Vụ, Cục khác nhau trong NHNN Việt Nam, thể hiện như sau:
- Chức năng giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ thuộc trách nhiệm của Thanh tra NHNN nhưng các Vụ khác trong NHNN cũng thực hiện chức năng chức năng giám sát từ xa Cụ thể, Vụ Kế toán Tài chính, Vụ Tín dụng, Vụ Quản lý Ngoại hối, Vụ Chính sách Tiền tệ đều yêu cầu các TCTD phải báo cáo về tình hình hoạt động của TCTD theo nội dung thuộc quyền quản lý của mình;
- Nhiệm vụ phát hiện các vi phạm, sai phạm của các NHTM là nhiệm vụ của
Cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng, trong khi nhiệm vụ xử lý các sai phạm lại do các Vụ, Cục khác trong NHNN đảm nhiệm, nên hiệu lực của hoạt động thanh tra, giám sát còn hạn chế;
- Các Vụ, Cục chức năng thuộc NHNN chịu trách nhiệm ban hành các quy định
về chính sách và quy định an toàn cho hoạt động ngân hàng theo chức năng của đơn vị mình Thanh tra NHNN chịu trách nhiệm giám sát thực hiện các quy định an toàn Do cơ quan ban hành các quy định an toàn và cơ quan giám sát là hai đơn vị độc lập, vì thế đôi khi có những bất đồng giữa việc hiểu và áp dụng các quy định giữa đơn vị ban hành quy định và đơn vị thanh tra giám sát;
- Cơ chế phối hợp giữa cơ quan Thanh tra, giám sát Trung ương với cơ quan Thanh tra tại các địa phương chưa được hoàn toàn thực hiện theo cơ chế chiều
Trang 5dọc Chưa có sự phân định trách nhiệm một cách rõ ràng về phạm vi hoạt động, chương trình làm việc, các kênh thông tin báo cáo, chia sẻ thông tin, những vấn
đề về thanh tra giám sát ngân hàng trên cơ sở hợp nhất;
- Ngoài ra, cho đến nay, NHNN vẫn chưa có cơ chế phối hợp, sử dụng kết quả thanh tra tại chỗ và giám sát từ xa, vì vậy, vừa gây lãng phí nguồn lực vừa giảm tính hiệu quả trong thanh tra, giám sát
b Về mục tiêu hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng
Theo thông lệ quốc tế, có 4 mục tiêu chiến lược của hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng:(i) Duy trì sự ổn định của thị trường; (ii) Tăng cường sự nhận thức của công chúng; (iii) Bảo vệ người tiêu dùng; và (iv) Giảm thiểu tội phạm tài chính
Điều 50 Luật NHNN 2010 quy định rõ mục đích của thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các TCTD và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của TCTD; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các TCTD; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng
c Về phương pháp thanh tra giám sát ngân hàng
Hiện nay, Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng đã tiến hành xây dựng
và thực hiện phương pháp đánh giá năng lực tài chính theo các tiêu chí CAMELS (C = Capital (Vốn); A= Assets (tài sản có); M = Management (Quản lý); E = Earnings (Lợi nhuận); L= Liquidity (Khả năng thanh khoản);
S = Sentitivity (độ nhạy cảm với các rủi ro thị trường) đối với các TCTD như là một bước trung chuyển để tiến tới thực hiện phương pháp thanh tra giám sát dựa trên rủi ro Phương pháp giám sát dựa trên rủi ro là phương pháp giám sát mà hiện nay hầu hết các thị trường tài chính phát triển đang áp dụng Trên cơ sở các điều kiện dần dần được hội tụ đủ, phương pháp giám
Trang 6sát sẽ được chuyển dần từ giám sát theo CAMELS sang phương pháp giám sát dựa trên rủi ro trong khi vẫn đảm bảo tính kế thừa và phát triển
d Về khung pháp lý đối với hoạt động của thanh tra ngân hàng
Luật các TCTD và các quy định có liên quan hiện nay đã tạo khung pháp
lý tương đối hoàn thiện về an toàn hoạt động ngân hàng NHNN là cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm giám sát an toàn hoạt động ngân hàng Trong Luật NHNN có quy định NHNN cần phối hợp với các cơ quan Chính phủ khác, nhưng dường như việc hợp tác này mới dừng lại ở những khía cạnh kinh tế
và tiếp cận dịch vụ ngân hàng chứ chưa đi vào các vấn đề an toàn hoạt động Các quy định để hỗ trợ áp dụng phương pháp thanh tra trên cơ sở rủi ro đến nay vẫn chưa có, như các quy định về các loại rủi ro, cơ chế đánh giá, đo lường rủi ro mà hiện các TCTD đang phải đương đầu và thực tế các TCTD đã phải chịu những tổn thất như rủi ro hoạt động, rủi ro thị trường, rủi ro công nghệ , các quy định về quản trị rủi ro nội bộ của TCTD Bên cạnh đó, các quy định làm nền tảng cho hoạt động thanh tra hiện nay cũng chưa được ban hành đầy
đủ như quy trình thanh tra phúc tra, quy chế xét giải quyết khiếu nại tố cáo trong ngành ngân hàng, các quy định đảm bảo quyền lợi vật chất, tinh thần cho cán bộ thanh tra cả trước mắt và lâu dài để cán bộ thanh tra an tâm phấn đấu và chuyên tâm với nghề
Hoạt động của TCTD được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật và các văn bản dưới luật Tuy nhiên, những văn bản này có nhiều trường hợp chưa rõ ràng, thiếu đồng bộ làm cho việc áp dụng của các TCTD chưa thống nhất; căn
cứ để thanh tra ngân hàng kết luận vi phạm của TCTD không đầy đủ, chặt chẽ làm cho hiệu lực thanh tra bị hạn chế
Hiện tại, việc ghi nhận trong công tác kế toán của các TCTD Việt Nam chưa thật phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế Điều này dẫn đến những đánh giá của các thanh tra viên về một TCTD có một sự khác biệt so với những đánh giá dựa trên những chuẩn mực quốc tế Đây thực sự là thách thức cho
Trang 7hoạt động của thanh tra ngân hàng, đặc biệt khi lĩnh vực tài chính ngân hàng được mở cửa mạnh mẽ
e Về chất lượng đội ngũ thanh tra, giám sát
Thực tế cho thấy, lực lượng thanh tra viên nhìn chung còn trẻ, ít kinh nghiệm về hoạt động ngân hàng Công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ thanh tra viên chưa được thực hiện thường xuyên và bài bản, do vậy, gây ra những hạn chế nhất định đến việc nâng cao trình độ thanh tra viên Hơn nữa, hạn chế trong hoạt động đào tạo dẫn đến thực tế là đa số Thanh tra Ngân hàng chỉ mới thực hiện kiểm tra mức độ tuân thủ của ngân hàng với các quy định pháp lý chứ chưa đi sâu đánh giá hoạt động ngân hàng dựa trên kỹ năng xác định rủi ro Trình độ của cán bộ, thanh tra viên còn nhiều bất cập, trong khi đó các nghiệp
vụ của NHTM ngày càng đa dạng, phức tạp và được thực hiện bởi công nghệ ngân hàng hiện đại làm hạn chế không ít đến hiệu quả, hiệu lực của hoạt động thanh tra
Trước xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới và hội nhập quốc tế, sự phát triển mạnh mẽ cả về tổ chức và hoạt động của các TCTD đòi hỏi phải hoàn thiện hơn công tác thanh tra, giám sát
III Ý kiến pháp lý về hoạt động thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước
Như chúng ta đã biết, ngành Ngân hàng Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi Trong nền kinh tế kế hoạch hoá trước đây, một hệ thống ngân hàng một cấp đã được tạo dựng và tồn tại suốt gần bốn thập kỷ Vào thời kỳ đó, mọi nguồn lực kinh tế của đất nước đều được phân bổ theo mệnh lệnh của Chính phủ Có rất ít nhu cầu đòi hỏi cần thiết phải xây dựng và thực thi chính sách tiền
tệ (CSTT) cũng như thanh tra giám sát các tổ chức tài chính Cuộc cải cách ngân hàng bắt đầu từ cuối thập kỷ 80, được đặc trưng bằng việc tách ra để hình thành nên một hệ thống ngân hàng 2 cấp, gồm một cơ quan của Chính phủ -Ngân hàng Nhà nước mới - đóng vai -Ngân hàng Trung ương (NHTW), và 4
Trang 8Ngân hàng Thương mại Nhà nước chuyên doanh độc lập Một hệ thống pháp luật về ngành ngân hàng đã được xây dựng nhằm tạo lập những khuôn khổ pháp
lý ban đầu cho sự vận hành của hệ thống ngân hàng mới Trong khi NHNN mưu cầu đảm đương những nhiệm vụ thông thường của một NHTW trong nền kinh
tế thị trường - hoạch định và thực thi CSTT quốc gia, và thanh tra, giám sát hệ thống tài chính - ngân hàng, các NHTM bắt đầu hướng về mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận và tập dượt hạch toán kinh tế
Sau hơn hai thập kỷ tiến hành cải cách, hệ thống NH đã trải qua 4 giai đoạn phát triển đáng lưu ý:
(i)Giai đoạn 1990 - 1996: ghi nhận sự tăng lên nhanh chóng về số lượng
và loại hình tổ chức tín dụng (TCTD) nhằm đáp ứng sự tăng vọt của cầu về dịch
vụ tài chính trong giai đoạn đầu “bung ra” trong thời kỳ chuyển đổi
(ii)Giai đoạn 1997 - 2005: củng cố, chấn chỉnh hệ thống ngân hàng hai cấp
mới được hình thành trong bối cảnh khủng hoảng tiền tệ châu Á
(iii)Giai đoạn 2006 - 2010: nâng mức vốn pháp định và tăng cường các
quy chế điều tiết; các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) nông thôn được chuyển đổi lên thành ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần đô thị; một
số ngân hàng mới được thành lập, xuất hiện loại hình ngân hàng 100% vốn nước ngoài
(iv)Giai đoạn 2011 đến nay: hệ thống ngân hàng bộc lộ những yếu kém, dễ
tổn thương vì những yếu kém tồn tích từ lâu, đe dọa gây đổ vỡ hệ thống, dẫn tới yêu cầu cấp thiết phải tiến hành tái cơ cấu hệ thống các TCTD
Trong suốt những năm này, mặc dù đã tách bỏ chức năng trực tiếp kinh doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ ngân hàng để trở về với vai trò là cơ quan của Chính phủ thuần tuý thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, đồng thời là NHTW của đất nước, NHNN vẫn chưa hoàn toàn thoát ra khỏi khuôn mẫu truyền thống mang nặng tính quản lý hành chính của thời kỳ ngân hàng độc quyền một cấp trước đây Cụ thể, NHNN vẫn tiếp tục
Trang 9duy trì vai trò bộ chủ quản của mình đối với các NHTMNN – nhóm TCTD NN đang tiếp tục thống trị hệ thống NH/ khu vực tài chính Bộ máy tổ chức của NHNN vẫn mang dáng dấp của một cơ quan hành chính - cơ quan ngang bộ nhưng có cấu trúc ngành dọc
Chính vì chưa xây dựng được hệ thống chỉ tiêu giám sát theo các chuẩn mực quốc tế hệ thống các chỉ tiêu giám sát còn thiếu và chưa phù hợp với thông
lệ quốc tế, công nghệ thông tin còn chắp vá, lạc hậu chưa đáp ứng được nhu cầu giữa bộ phận Giám sát từ xa (GSTX) và Thanh tra tại chỗ (TTTC), chưa tiến hành đánh giá xếp hạnh các TCTD theo tiêu chuẩn quốc tế CAMELS
Trình độ cũng như sự phát triển của các TCTD nội địa chưa đáp ứng được các chuẩn mực quốc tế.Hệ thống tài khoản kế toán mà các TCTD nước ta đang
áp dụng chưa phù hợp với thông lệ quốc tế Trình độ cán bộ thanh tra vẫn còn bất cập, chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức và điều kiện theo tiêu chuẩn thanh tra viên quốc tế; các quy định liên quan đến thanh tra ngân hàng vẫn chưa được bổ sung điều chỉnh kịp thời
Hệ thống thanh tra ngân hàng đang được tổ chức theo hai cấp: Thanh tra NHNN và thanh tra NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Thanh tra chi nhánh chịu sự chỉ đạo về mặt nghiệp vụ của tránh thanh tra NHNN, đồng thời chỉ đạo của giám đốc chi nhánh NHNN trong phạm vi trách nhiệm quản lý của chi nhánh NHNN.Vì vậy mà tính độc lập của thanh tra NHNN còn hạn chế, trong khi về nguyên tắc, tính độc lập của TTNH càng được đảm bảo thì hiệu quả giám sát càng cao Thanh tra NHNN chịu sự can thiệp của thanh tra nhà nước Hiện tượng chồng chéo và kém hiệu quả của thanh tra còn phổ biến, thanh tra chi nhánh NHNN vừa chịu sự điều hành trực tiếp của giám đốc chi nhánh vừa phải tổ chức thực hiện kế hoạch thanh tra hàng năm của thanh tra NHNN do thống đốc NHNN phê duyệt, chánh thanh tra NHNN triển khai
Trang 10Cùng thực hiện chức năng kiểm tra giám sát hoạt động của các TCTD nhưng giữa các đơn vị liên quan (các vụ, cục ở NHTW, các chi nhánh NHNN…) chưa có sự phối hợp chặt chẽ vừa gây ra tình trạng chồng chéo, trùng lặp, vừa tạo nên những lĩnh vực bị bỏ sót trong thanh tra giám sát Do đó, không thể tránh khỏi tình trạng đùn đẩy trách nhiệm của các bộ phận liên quan còn có trường hợp vi phạm không bị kiểm tra, phát hiện xử lý kịp thời
Với sự hội nhập ngày càng gia tăng của nền kinh tế nước ta vào nền kinh
tế thế giới hiện nay, buộc hệ thống ngân hàng Việt Nam phải có những chuyển biến mạnh mẽ và nhanh chóng để có thể nắm bắt được các cơ hội và đối phó có hiệu quả với những nguy cơ; đảm bảo các điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển vững mạnh cho hệ thống tài chính, tiền tệ nước nhà trong mội trường
mở cửa và tự do hoá hệ thống tài chính Là công cụ quan trọng trong quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính ngân hàng, do đó yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động thanh tra ngân hàng là hết sức cấp bách khẩn trương, đòi hỏi một sự thay đổi sâu sắc và toàn diện để có thể ngang tầm với khu vực và quốc tế
Mục tiêu đổi mới là phải tạo ra một tổ chức thanh tra chuyên ngành độc lập và hiệu lực Tổ chức mới này phải khắc phục được những nhược điểm đã nêu trên của mô hình tổ chức, của cơ chế chỉ đạo điều hành trong hoạt động thanh tra giám sát đối với lĩnh vực tiền tệ và hoạt động không chỉ của hệ thống ngân hàng mà tiến tới đối với cả hệ thống tiền tệ quốc gia Ngoài ra, xu thế toàn cầu hoá và hội nhập với khu vực và với thế giới trong lĩnh vực ngân hàng cũng đòi hỏi đổi mới của thanh tra ngân hàng Việt Nam về tổ chức bộ máy, nội dung nghiệp vụ, cách thức phương pháp cũng như cơ chế điều hành, giám sát của thanh tra ngân hàng phải phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế
Từ những phân tích trên, chúng em xin đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ cho công cuộc cải cách toàn diện, triệt để thể chế thanh tra giám sát Ngân hàng Nhà nước tại VN:
a) Về tổ chức