Lời mở đầuNgân hàng thương mại với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ, theo phương châm "đi vay để cho vay" thông qua các nghiệp vụ huy động và cung ứng
Trang 1Lời mở đầu
Ngân hàng thương mại với tư cách là một doanh nghiệp kinh doanh chủ yếu trên lĩnh vực tiền tệ, theo phương châm "đi vay để cho vay" thông qua các nghiệp vụ huy động và cung ứng vốn tín dụng cho nền kinh tế Theo đó, tín dụng ngân hàng đóng vai trò là một khâu then chốt, chủ yếu trong hoạt động của nền kinh tế đất nước Nó là một "mạch máu" quan trọng để để nuôi sống mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của các khu vực kinh tế.
Bên cạnh việc cấp tín dụng trung dài hạn đến các doanh nghiệp trong nên kinh tế để giúp họ đẩy mạng đầu tư vào máy móc thiết bị, công nghệ, đa dạng hoá sản phẩm và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm mở rộng quy mô sản xuất, từ đó mới có thể cạnh tranh được với các thị trường trong nước và quốc tế Ngân hàng còn cung ứng đến các doanh nghiệp nguồn tín dụng ngắn hạn giúp họ bổ sung kịp thời vốn lưu động thường xuyên Vì thế có thể nói tín dụng ngắn hạn đóng vai trò cũng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Và hiện nay tại các Ngân hàng thương mại, tín dụng ngắn hạn được cấp dưới phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng là chủ yếu bởi những lợi ích đem cho khách hàng và ngân hàng.
Xuất phát từ thực tế đó kết hợp được thực tập tại Ngân hàng TMCP Hàng
Hải Đà Nẵng, em đã chọn đề tài: " Phân tích tình hình hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng tại Chi nhánh Ngân hàng Thương mại Hàng Hải Đà Nẵng" làm
chuyên đề tốt nghiệp của mình
Chuyên đề bao gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề cơ bản về tín dụng ngân hàng và hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng của ngân hàng thương mại.
Chương II: Phân tích tình hình hoạt động cho vay theo hạn mức tín dụng tại Chi nhánh ngân hàng TMCP Hàng Hải Đà Nẵng.
Chương III: Một số biện pháp tăng cường hoạt động cho vay theo hạn mức tại Chi nhánh ngân hàng TMCP Hàng Hải Đà Nẵng.
Với nhận thức còn mang tính lý thuyết, hiểu biết còn hạn chế nên chuyên đề
Trang 2không tránh khỏi thiếu sót Em rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của thầy
cô, các anh chị tại đơn vị thực tập để chuyên đề được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn giúp đỡ nhiệt tình của cô Phan Thị Thanh Thảo, các thầy cô trong Khoa Tài chính - Tín dụng, các anh chị trong phòng tín dụng cùng với các phòng ban trong Chi nhánh đã hỗ trợ em hoàn thành chuyên
đề này.
Đà Nẵng, tháng 05 năm 2006
Sinh viên thực hiện
Trang 3ƯƠ NG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY
THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Trang 4I NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại:
a Ngân hàng Thương mại là định chế tài chính trung gian:
Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa những chủ thể có tiền nhưng chưa đem sửdụng và những chủ thể có nhu cầu tiền tệ thông qua việc đứng ra tập trung nhữngtiền tệ chưa sử dụng của các chủ thể trong nền kinh tế, trên cơ sở đó cung cấp vốncho những chủ thể có nhu cầu cần bổ sung tạm thời Nói một cách khái quát hơn,ngân hàng vừa là người đi vay và cũng đồng thời là người cho vay, có nghĩa lànghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng là đi vay để cho vay
Quá trình thực hiện chức năng định chế tài chính trung gian của ngân hàngđóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, điều hoà lưu thôngtiền tệ cũng như sự phát triển của toàn bộ hệ thống ngân hàng
b Ngân hàng Thương mại có chức năng tạo tiền:
Lượng tiền mà Ngân hàng Thương mại tạo ra chính là đồng tiền bút tệ, thôngqua hoạt động tín dụng và thanh toán trong mối liên hệ giữa các Ngân hàng Thươngmại với nhau Khả năng tạo tiền phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Ngân hàngTrung ương, trong đó “tỷ lệ dự trữ bắt buộc” là một công cụ quan trọng Lượng tiềncung được tăng lên hay giảm xuống phù hợp với mục tiêu của nền kinh tế: tăngtrưởng kinh tế, hạn chế lạm phát
c Ngân hàng Thương mại là thủ quỹ của khách hàng:
Sự phát triển về cung ứng hàng hoá dịch vụ phát sinh trong quá trình sảnxuất kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế và cá nhân Việc thanh toán trực tiếp lẫnnhau gặp nhiều khó khăn cho cả hai bên, nhất là khi đối tượng thanh toán lớn, địađiểm hai bên cách xa nhau, dẫn đến chi phí cho chi trả cao, thời gian dài Ngân hàng
Trang 5đứng ra làm trung gian thanh toán cho các tổ chức kinh tế, cá nhân về tiền hàng,dịch vụ phát sinh trong quan hệ giao dịch mua bán hàng hoá, giúp việc luân chuyểnvốn cho các doanh nghiệp được nhịp nhàng, nhanh chóng thúc đẩy quá trình lưuthông hàng hoá, vòng vốn quay nhanh, tạo điều kiện thúc đẩy doanh nghiệp pháttriển Ngoài ra ngân hàng còn giúp doanh nghiệp sinh lời từ khoản tiền gởi tại ngânhàng, hoặc bảo quản tài sản phi tiền tệ cho các cá nhân, tổ chức.
3 Các nghiệp vụ kinh doanh chủ yếu của ngân hàng thương mại:
3.1 Nghiệp vụ huy động nguồn vốn:
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bảnthân ngân hàng cũng như đối với xã hội Trong nghiệp vụ này, ngân hàng được sửdụng những biện pháp và công cụ cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động cácnguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội, làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nềnkinh tế
Nguồn vốn của ngân hàng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau từ lúcthành lập đến suốt cả quá trình hoạt động:
- Lợi nhuận chưa phân phối
+ Vốn cố định: Đối với các Ngân hàng quốc doanh vốn cố định do Ngân hàngNhà nước cấp phát Đây là nguồn vốn xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản cố định
* Vốn quản lý và huy động: Đây là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trongngân hàng thể hiện dưới nhiều dạng
- Nguồn vốn huy động: Đây là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng thươngmại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản
lý và sử dụng, nhưng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng yêucầu Nguồn vốn huy động là tài nguyên to lớn nhất, bao gồm vốn tiền gửi của các tổ
Trang 6chức, cá nhân, vốn huy động phát hành kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng.
- Nguồn vốn vay: Ngoài nguồn vốn huy động, các ngân hàng thương mại cònvay vốn từ ngân hàng Trung ương, từ các ngân hàng thương mại khác ở trong nước
và nước ngoài
- Nguồn vốn uỷ thác: Ngân hàng thương mại nhận uỷ thác từ chính phủ, từ các
tổ chức phi chính phủ, từ các cá nhân trong và ngoài nước để cho vay theo chỉ định
- Ngoài ra còn có nguồn vốn trong thanh toán, các khoản phải trả trong quátrình kinh doanh
3.2 Các nghiệp vụ sử dụng vốn:
a Tài sản cố định: Tài sản cố định của ngân hàng là hệ thống cơ sở vật chất
để ngân hàng có thể tồn tại và phát triển được: trụ sở làm việc, xe ôtô, hệ thống vitính, các trang thiết bị khác
b Tài sản ngân quỹ: Tài sản ngân quỹ của ngân hàng bao gồm tiền mặt và
tiền gởi tại Ngân hàng Trung ương và các Ngân hàng thương mại khác Trong quátrình kinh doanh các ngân hàng thương mại phải có dự trữ tiền mặt để thực hiện cáckhoản chi trả cho khách hàng Mức dự trữ này phụ thuộc vào quy mô hoạt động củangân hàng và nhu cầu biến động theo thời vụ của khách hàng
c Cho vay: Đây là hoạt động sinh lời chủ yếu của bất kỳ ngân hàng thương
mại nào Hoạt động này rất đa dạng, phong phú bao gồm: tín dụng ứng trước, chiếtkhấu thương phiếu, tín dụng thuê mua, tín dụng trả góp
d Đầu tư: Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho
vay, nó mang lại các khoản thu nhập đáng kể cho ngân hàng Trong nghiệp vụ này,ngân hàng đầu tư dưới các hình thức như: hùn vốn, mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu
3.3 Các nghiệp vụ trung gian:
Trong hoạt động của ngân hàng, các dịch vụ của ngân hàng được coi là dịch
vụ thứ ba bên cạnh nghiệp vụ nguồn vốn và nghiệp vụ sử dụng vốn trên thực tế,người ta phân các dịch vụ ngân hàng thành ba loại:
- Nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại tệ, nghiệp vụ vàng, bạc đá quý,nghiệp vụ nhờ thu kỳ phiếu và séc (nghiệp vụ hối đoái)
- Nghiệp vụ phát hành, bảo vệ và quản lý chứng khoán
- Nghiệp vụ quản lý tài sản (các nghiệp vụ uỷ thác uỷ nhiệm)
Đây là loại nghiệp vụ có thu dịch vụ phí Bên cạnh các nghiệp vụ ngân hàng
Trang 7nói trên còn có các dịch vụ tư vấn và cung cấp thông tin, dịch vụ định giá xí nghiệp,dịch vụ định giá xí nghiệp, dịch vụ tái sắp đặt lại xí nghiệp, cho thuê tủ sắt.
II TÍN DỤNG
1 Khái niệm:
Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trịdưới hình thức hiện vật hay tiền tệ từ người sở hữu và sau đó hoàn trả lại với một sốlượng giá trị lớn hơn
2 Bản chất của tín dụng:
Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ
có mối liên hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiệndưới hình thái tiền tệ hoặc hàng hoá Vì vậy, bản chất của tín dụng được thể hiện ở
ba nội dung:
- Sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác
- Sự chuyển giao này màn tính tạm thời
- Khi hoàn trả lại lượng giá trị đã chuyên giao cho người sở hữu phải kèmtheo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức
Như vậy, sự hoàn trả của tín dụng là đặc trưng thuộc về bản chất vận độngcủa tín dụng, là dấu ấn phân biệt phạm trù tín dụng của với các phạm trù kinh tếkhác Mặt khác, sự hoàn trả của tín dụng là quá trình quay trở về của giá trị Hìnhthái vật chất của sự hoàn trả là sự vận động dưới hình thái hàng hoá hoặc giá trị.Tuy nhiên, sự vận động đó không phải với tư cách là phương tiện lưu thông, mà với
tư cách một lượng giá trị được vận động Chính vì thế, sự hoàn trả luôn luôn phảiđược bảo tồn về mặt giá trị và có phần tăng thêm dưới hình thức lợi tức
Tóm lại, bản chất của tín dụng được thể hiện là hình thức vận động của vốntiền tệ trong xã hội theo nguyên tắc có hoàn trả nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanhphát triển, tăng trưởng kingh tế và nâng cao cuộc sống cho dân chúng
3 Chức năng của tín dụng:
3.1 Chức năng phân phối lại lợi nhuận:
Tín dụng là sự chuyển giao vốn từ chủ thể này sang chủ thể khác, thông qua
sự chuyển giao này tín dụng góp phần phân phối lại nguồn lợi nhuận thể hiện ở chỗ:
- Người cho vay có một số vốn tạm thời chưa dùng đến, thông qua tín dụng
Trang 8số lợi nhuận đó được phân phối lại cho người đi vay.
- Ngược lại người đi vay cũng thông qua quan hệ tín dụng nhận được phầnlợi nhuận được phân phối lại
3.2 Chức năng thúc đẩy lưu thông hàng hoá và phát triển sản xuất:
Tín dụng góp phần thúc đẩy sự phát triển sản xuất và lưu thông hàng hoá thểhiện ở chỗ:
- Tín dụng tạo ra nguồn vốn hỗ trợ cho quá trình sản xuất kinh doanh đượcthực hiện bình thường, liên tục và phát triển
- Tín dụng tạo điều kiện đẩy nhanh tốc độ thanh toán góp phần lưu thônghàng hoá bằng việc tạo ra tín tệ và bút tệ
3.3 Chức năng tiết kiệm tiền mặt:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng và pháttriển đa dạng, từ đó nó đã thúc đẩy việc mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt vàthanh toán bù trừ giữa các đơn vị kinh tế Điều này sẽ làm giảm được khối lượnggiấy bạc trong lưu thông, làm giảm được chi phí lưu thông, làm giảm được chi phílưu thông giấy bạc ngân hàng, đồng thời cho phép nhà nước điều tiết một cách linhhoạt khối lượng tiền tệ nhằm đáp ứng nhu cầu tiền tệ cho sản xuất và lưu thônghàng hoá phát triển
4 Các hình thức tín dụng:
Tín dụng hoạt động rất đa dạng và phong phú, có thể dựa vào nhiều căn cứ
để phân loại hình thức tín dụng và nếu dựa vào chỉ tiêu chủ thể tín dụng có thể chiatín dụng thành bốn loại:
- Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được biểuhiện dưới hình thức mua, bán chịu hàng hoá hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng hoá
- Tín dụng ngân hàng: Là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các tổchức tín dụng với các doanh nghiệp và cá nhân
- Tín dụng Nhà nước: Là hình thức tín dụng thể hiện mối quan hệ giữa Nhànước với nhân dân và các tổ chức khác theo đó Nhà nước chủ động vay tiền để tăngnguồn chi ngân sách
+ Tín dụng Nhà nước thực hiện bằng cách phát hành công trái
+ Tín dụng Nhà nước nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách
Trang 9- Tín dụng quốc tế: Là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa quốc gia nàyvới các quốc gia hay tổ chức tiền tệ, tín dụng quốc tế.
III TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
1 Khái niệm:
Tín dụng ngân hàng là một quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng - các
tổ chức tín dụng với bên kia là các pháp nhân và thế nhân trong nền kinh tế quốcdân dưới hình thức cung ứng vốn tín dụng
Trong mối quan hệ này tín dụng đóng vai trò trung gian cho nên ngân hàngvừa là người cho vay vừa là người đi vay
Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới hình thức tiền tệ bao gồm tiền mặt
và bút tệ là chủ yếu
Giữa tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổsung và hỗ trợ cho nhau
2 Chức năng của tín dụng ngân hàng:
2.1 Chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả:
Trong nền kinh tế thị trường, luôn luôn xảy ra tình trạng tạm thời thừa hoặctạm thời thiếu vốn thực sự trong các cá nhân, tổ chức kinh tế cũng như trong toàn
bộ nền kinh tế Thực hiện chức năng này, tín dụng thực hiện hút đại bộ phận tiền tệnhàn rỗi trong nền kinh tế và phân phối lại vốn đó dưới hình thức cho vay để bổsung vốn cho cá nhân, tổ chức kinh tế có nhu cầu về vốn nhằm phục vụ cho hoạtđộng sản xuất kinh doanh và tiêu dùng Như vậy, tín dụng ngân hàng trở thành cầunối giữa tiết kiệm và đầu tư, góp phần điều hoà vốn trong toàn bộ nền kinh tế nóichung và trong từng tổ chức, doanh nghiệp nói riêng
2.2 Chức năng sinh lợi:
Thông qua hoạt động các ngân hàng sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênhlệch giữa việc cung cấp và huy động vốn Mặt khác, các doanh nghiệp khi vay vốnphải trả lãi, điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải ra sức tạo được lợi nhuận saocho đủ để bù đắp lãi suất cho vay ngân hàng và đảm bảo lãi cho mình
Trang 102.3 Chức năng phản ánh một cách tổng hợp và kiểm soát hoạt động của nền kinh tế:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế luôn có mối quan hệgắn bó liên quan đến hoạt động ngân hàng Ngân hàng thường kiểm tra chặt chẽ từkhâu vay vốn đến khâu thu nợ, qua đó đánh giá được hiệu quả hoạt động của các tổchức kinh tế cũng như toàn bộ nền kinh tế Việc kiểm soát này mang tính thườngxuyên, đồng thời qua đó ngân hàng biết được một cách tổng quát sự phát triển củanền kinh tế nhanh hay chậm, có hiệu quả hay không để ngân hàng điều chỉnh chínhsách tín dụng cho phù hợp Điều này có tác dụng tốt cho ngân hàng và cho toàn bộnền kinh tế
2.4 Chức năng tiết kiệm tiền mặt và chi phí lưu thông xã hội:
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện thay thế tiền kim loại bằng các phương
tiện chi trả khác như: kỳ phiếu, giấy bạc, séc Từ đó, giảm bớt chi phí về in ấn, pháthành bảo quản tiền kim loại
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện ra đời của loại tiền ghi sổ (bút tệ) Điềunày, một mặt trực tiếp tiết kiệm khối lượng tiền mặt cần phát hành vào lưu thông,mặt khác khi công tác thanh toán không dùng tiền mặt phát triển, các doanh nghiệptập trung dự trữ tiền mặt vào tài khoản ngân hàng sẽ làm giảm chi phí bảo quản, cấttrữ tiền tệ tạo doanh nghiệp Đồng thời, nếu thanh toán qua ngân hàng nhanh chóng
sẽ thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hoá, giảm chi phí bảo quản hàng hoá
- Tín dụng ngân hàng tạo điều kiện tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ ở đâytín dụng ngân hàng phát huy chức năng tập trung và phân phối lại vốn tiền tệ đã gópphần chuyển những khoản vốn nhàn rỗi, đang nằm ở trạng thái nằm yên trong xãhội đua vào chu chuyển phục vụ cho sản xuất, lưu thông hàng hoá
3 Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng:
Để đảm bảo hiệu quả kinh doanh vốn vay của ngân hàng và hiệu quả sử dụngtiền vay của khách hàng, nên trong quá trình cấp phát vốn vay ngân hàng và người
đi vay phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
3.1 Nguyên tắc vay phải hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn:
Hoàn trả là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ chủ thể nào khi cho vay
Theo nguyên tắc này, vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đầy đủ, đúng
Trang 11hạn Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì với vai trò là trung gian tài chính,tức ngân hàng vừa là người đi vay vừa là người cho vay, cho nên đại bộ phận vốncủa ngân hàng là vốn huy động từ cá nhân, tổ chức kinh tế Đó là một bộ phận tàisản của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng, ngân hàng cũng
có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu rút vốn của khách hàng yêu cầu Nếu như các khoảntín dụng không được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đếnkhả năng hoàn trả của ngân hàng
Cho nên, nguyên tắc này bắt buộc cả ngân hàng và các đơn vị vay vốn phảihoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn trong điều kiện khắc nghiệt của cơ chế thịtrường nhằm đảm bảo tính thanh toán khoản cũng như hạn chế các rủi ro phát sinhtrong hoạt động kinh doanh của mình
3.2 Nguyên tắc vay phải có mục đích và đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích vay:
Tín dụng đúng mục đích không những là nguyên tắc mà còn là phương châmhoạt động của tín dụng Hiệu quả của nó trước hết là đẩy nhanh nhịp độ phát triểncủa nền kinh tế hàng hoá, tạo ra nhiều khối lượng sản phẩm, dịch vụ, đồng thời tạo
ra nhiều tích luỹ để thực hiện tái sản xuất mở rộng Do đóm trước khi cấp vốn vaythì ngân hàng phải biết được người vay sử dụng vốn để làm gì, có khả năng tạo thunhập, lợi nhuận để trang trải nợ hay không và mức độ mạo hiểm trong việc sử dụngvốn của khách hàng Bên cạnh đó, ngân hàng cần phải thường xuyên kiểm tra việc
sử dụng vốn vay của khách hàng có đúng mục đích ghi trong đơn xin hay không Vìvậy, nguyên tắc này giúp cho ngân hàng và khách hàng tiến hành hoạt động củamình được bình thường, tránh đầu tư mục đích, thất thoát và lãng phí vốn Nếu pháthiện khách hàng vi phạm nguyên tắc này thì ngân hàng được quyền thu hồi nợ trướchạn nhằm hạn chế mức độ tổn thất của ngân hàng
3.3 Nguyên tắc vay phải có đảm bảo
Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế năng động khó có thể xác địnhcũng như dự báo tương đối chính xác các sự kiện xảy ra trong tương lai, vì vậy việcxác định một cách tương đối chính xác người sử dụng vốn vay có khả năng trả nợhay không là điều rất khó Do đó, để đảm bảo nguyên tắc hoàn trả thì khoản tíndụng đó phải có đảm bảo có hình thức đảm bảo sau:
Trang 12- Đảm bảo bằng tài sản như: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của bênthứ ba, tài sản hình thành từ vốn vay.
- Đảm bảo bằng tài sản dưới hình thức tín chấp hoặc theo chỉ thị nghị địnhcủa Chính phủ
Tuỳ thuộc vào đối tượng vay vốn có quan hệ như thế nào với ngân hàng màngân hàng cho vay có đảm bảo bằng tài sản hoặc không có đảm bảo bằng tài sản
4 Phân loại tín dụng ngân hàng:
4.1 Dựa vào mục đích:
Dựa vào căn cứ này cho vay thường được chia ra làm các loại sau:
- Cho vay bất động sản: Là loại cho vay liên quan đến việc mua sắm và xâydựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thươngmại và dịch vụ
- Cho vay công nghiệp và thương mại: Là loại cho vay ngắn hạn để bổ sung vốnlưu động cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ
- Cho vay nông nghiệp: Là loại cho vay để trang trải các chi phí sản xuất nhưphân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao động, nhiên liệu
- Cho vay các định chế tài chính: Bao gồm cấp tín dụng cho các ngân hàngcông ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, công ty bảo hiểm, quỹ và các định chếtài chính khác
- Cho vay cá nhân: Là loại cho vay để đáp ứng các nhau cầu tiêu dùng nhưmua sắm các vật dụng đắt tiền, và các khoản cho vay để trang trải các chi phí thôngthường của đời sống
- Cho thuê: Cho thuê của các định chế tì chính bao gồm hai loại cho thuê vậnhành và cho thuê tài chính Tài sản cho thuê bao gồm bất động sản và động sản,trong đó chủ yếu là máy móc - thiết bị
4.2 Dựa vào thời hạn cho vay:
Theo căn cứ này, cho vay được chia làm hai loại:
- Cho vay không bảo đảm: Là loại cho vay không có tài sản thế chấp cầm cốhoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thânkhách hàng Cho vay không bảo đảm tìa sản được áp dụng đối với những kháchhàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính lành mạnh, quản trị có
Trang 13hiệu quả.
- Cho vay có bảo đảm: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thếchấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba
4.4 Dựa vào phương pháp hoàn trả:
Dựa vào căn cứ này cho vay của ngân hàng thương mại được chia làm hai loại:
- Cho vay có thời hạn: Là loại cho vay có thoả thuận thời hạn trả nợ cụ thểtheo hợp đồng Cho vay có thời hạn bao gồm các loại sau:
+ Cho vay chỉ có một kỳ hạn trả nợ (hay còn gọi là phi trả góp) là loại chovay thanh toán một lần theo thời hạn đã thoả thuận
+ Cho vay có nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể còn gọi là cho vay trả góp: là loạicho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ
+ Cho vay hoàn trả nợ nhiều lần nhưng không có kỳ hạn nợ cụ thể, mà việctrả nợ phụ thuộc vào khả năng tài chính của người đi vay Hoặc cho vay này, được
áp dụng theo kỹ thuật tháu chi
- Cho vay không có thời hạn cụ thể: Đối với loại cho vay không có thời hạnthì ngân hàng có thể yêu cầu hoặc người đi vay tự nguyện trả nợ bất cứ lúc nào,nhưng phải báo trước một thời gian hợp lý, thời gian này có thể được thoả thuậntrong hợp đồng
4.5 Dựa vào xuất xứ tín dụng:
Dựa vào căn cứ này cho vay chia làm hai loại:
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu đổngthời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng
- Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lạicác khế trước hạơc chứng từ nợ đã phát sinh hvà còn trong thời hạn thanh toán Cácngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
+ Chiết khấu thương thiếu: Người thụ hưởng hối phiếu hoặc lệnh phiếu còntrong hạn thanh toán các nhượng lại cho ngân hàng Trong trường hợp này ngânhàng cấp cho khách hàng một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lãi chiết khấu và hoahồng phí
+ Mua lại các phiếu bán hàng (dealer paper) tiêu dùng và máy móc nôngnghiệp trả góp
Trang 14III PHƯƠNG THỨC CHO VAY THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG
1 Khái niệm và phân loại cho vay theo hạn mức tín dụng
1.1 Khái niệm:
Cho vay theo hạn mức: là phương thức cho vay mà ngân hàng và khách hàngxác định và thoả thuận một hạn mức cho vay duy trì trong một khoảng thời gian đó,bên vay được rút vốn vay nhiều lần theo những điều kiện, điều khoản trong hợpđồng cho vay hạn mức
Hợp đồng cho vay hạn mức là văn bản thoả thuận giữa ngân hàng và kháchhàng vay vốn mà theo đó ngân hàng cam kết duy trì cho khách hàng vay một hạnmức cho vay trong khoản thời gian nhất định
Phí cam kết rút vốn là khoản chi phí mà khách hàng phải trả cho ngân hàng
do việc không sử dụng hết hạn mức cho vay mà ngân hàng đã cam kết giành chokhách hàng tại hợp đồng cho vay hạn mức
1.2 Mục đích:
Cho vay theo hạn mức tín dụng bao gồm:
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: Ngân hàng cam kết đảm bảo sẵnsàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định Ngân hàng
và khách hàng thoả thuận thời gian hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng, mứcphí trả cho hạn mức tín dụng dự phòng
1.3 Đặc điểm:
1.3.1 Đặc điểm cho vay theo hạn mức dự phòng:
Khoản tiền vay để giám sát và quản lý trên nhiều khía cạnh: rành mạch trênquản lý, rõ ràng trong kỳ hạn nợ và đơn giản trong tính tiền lời
Các khoản tiền vay tạo ra những khoản tiền hoàn trả thường kỳ nhằm tạo nênmột cơ sở về vốn cho phép ngân hàng đem cho vay tiếp, do vậy có lãi hơn các loạihạn mức tín dụng cùng mức độ
Các khoản vay được cấp phát vì một mục đích cụ thể và nguồn hoàn trả cụthể thực hiện
Ngân hàng thu lãi vay ngay cả trên số tiền vay khách hàng chưa sử dụnghoặc sau khi cam kết mức khách hàng phải trả một phí tổn trên số dư không sử dụngnhằm bù đắp lại các chi phí do ngân hàng bị kẹt vốn đối với khách hàng vay trong
Trang 15khi ngân hàng vẫn phải hoàn trả khoản tiền gởi.
1.3.2 Đặc điểm cho vay theo hạn mức thấu chi:
Ngân hàng quy định một mức tín dụng trên cơ sở nhu cầu của khách hàng,nhờ đó mà ngân hàng sử dụng quá số dư trên tài khoản vãng lai của mình đến hạnmức đã thoả thuận trong một thời gian nhất định Điều này xuất phát từ một nhu cầucủa thị trường: là quan hệ thương mại của khách hàng và ngân hàng rất phong phú
cả ở phía người mua và người bán Do vậy ở họ thường phát sinh nhu cầu về tiền tệ
và các khoản tiền thu bán hàng mà mức độ của chúng là có thể khác nhau và thayđổi Để hợp lý hoá quá trình chu chuyển vốn của khác hàng, ngân hàng nhận tiếnhành thực hiện thanh toán các khoản phát sinh thường xuyên đó qua việc ký hợpđồng thấu chi, nó giúp khách hàng trong trường hợp các khoản nợ của họ tạm thờivượt các khoản thu và trên tài khoản không có vốn để bù đắp chênh lệch đó
Khách hàng được sử dụng mức tín dụng này một cách chủ động bằng cáchphát hành séc mang tên tài khoản vãng lai hoặc các công cụ thanh toán khác
- Tài khoản vãng lai là loại tài khoản mà hai bên thoả thuận mở cho nhau đểghi nợ, ghi có về những nghiệp vụ phát sinh thường xuyên giữa hai bên Nhữngkhoản tiền của mỗi nghiệp vụ khi đã ghi vào tài khoản thì mất tính riêng biệt của nó
mà thành một tổng thể nghĩa là không thể yêu cầu rút ra từng khoản cá biệt để thanhtoán theo số dư hình thành trên tài khoản Trên quan điểm của khách hàng thấu chi
là rẻ và linh hoạt nhất, bởi lẽ khách hàng chỉ phải trả những gì khách hàng đã dùng
và rút tiền ra trong bất cứ lúc nào cần trong chừng mực không quá hạn mức Còn vềphía ngân hàng, khoản thấu chi đem lại ưu điểm ở chỗ là nó tự thanh toán bằngdoanh thu thông thường, nhưng đem lại cho ngân hàng một sự quản lý, giám sát khókhăn hơn và dễ đem lại tình trạng tài khoản vãng lai luôn nằm trong trạng thái dư
nợ - một tình trạng mà ngân hàng không mong muốn - vấn đề là tài khoản vãng lailuôn có một số dư dao động giữa bên có và bên nợ tuỳ thuộc vào bản chất kinhdoanh của khách hàng
Mức tín dụng được thoả thuận chưa phải là khoản tiền ngân hàng cho vay màchỉ khi nào khác hàng sử dụng mới được coi là tín dụng được cấp phát và tính tiền lời
Số dư nợ trong kỹ thuật thấu chi của ngân hàng thường xuyên biến động do
đó trong kỹ thuật này yêu cầu bảo đảm trực tiếp với khách hàng là điều khó khăn