1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp

64 276 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 565 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Muốn vậy, các nhà quản lý cần thực hiện việc phân tích, đánh giá tài chính doanh nghiệp để thấy được những ưu nhược điểm trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp từ đó đưa ra cá

Trang 1

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, chặng đường hơn 20 năm đổi mới đã đưa nền kinh tế nước ta từng bước ổn định, phát triển và gia nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Hòa nhập vào tình hình kinh tế chung của thế giới, các doanh nghiệp Việt Nam cũng đang chuyển biến không ngừng, cạnh tranh và phát triển Sự phát triển của các doanh nghiệp là yếu tố cốt lõi quyết định sự ổn định và phát triển nền kinh tế đất nước

Để các doanh nghiệp Việt Nam ngày càng phát triển và cạnh tranh được trong nền kinh tế thị trường thì vấn đề tiên quyết cần quan tâm của các nhà quản lý là vấn đề quản trị tài chính doanh nghiệp Tình hình tài chính doanh nghiệp liên quan đến mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp từ đơn giản đến phức tạp, nó là thước đo tình hình sức khỏe của mỗi doanh nghiệp Nó ảnh hưởng lớn tới thị phần, vị trí cũng như sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Do đó vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý tài chính doanh nghiệp là làm sao để luôn đảm bảo cho doanh nghiệp có được tình hình tài chính lành mạnh, quản lý có hiệu quả lao động, vật tư, tiền vốn bỏ ra để thu được kết quả cao nhất Muốn vậy, các nhà quản lý cần thực hiện việc phân tích, đánh giá tài chính doanh nghiệp để thấy được những ưu nhược điểm trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp từ đó đưa ra các giải pháp tài chính phù hợp để cải thiện và nâng cao tình hình hình tài chính của doanh nghiệp

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần 77, được sự giúp đỡ của các cô chú trong công ty kết hợp với những kiến thức đã học, đã đọc, em đã đi sâu tìm hiểu và chọn đề tài

“Phân tích tài chính trong Công ty 77 – Thực trạng và giải pháp” để làm

chuyên đề tốt nghiệp

Trang 2

2 Mục đích của chuyên đề

Trên cơ sở lý luận chuyên đề đi sâu vào phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ phần 77 để thấy được những thành tích và hạn chế trong công tác quản lý tình hình tài chính của Công ty để từ đó có những giải pháp phù hợp để cải thiện tình hình tài chính của Công ty

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Chuyên đề nghiên cứu cơ sở lý luận chung liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp

-Phạm trù nghiên cứu: Công ty cổ phần 77

4 Phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề sử dụng phương pháp nghiên cứu trên cơ sở phương pháp

duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mac – Lê nin, phương pháp thăm dò, điều tra, phân tích, so sánh, tổng hợp, logic, thống kê, quy nạp, diễn dịch, … Đồng thời sử dụng hệ thống sơ đồ và bảng biểu để minh họa

5 Kết cấu của chuyên đề

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục

từ viết tắt và phần phụ lục, chuyên đề được kết cấu thành 3 chương:

Chương I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính doanh nghiệp Chương II: Thực trạng công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần 77

Chương III: Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần 77

Trang 3

CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

DOANH NGHIỆP 1.1 Sự cần thiết của phân tích Tài chính doanh nghiệp

Phân tích tài chính doanh nghiệp là một quá trình kiểm tra, xem xét các

số liệu về tài chính hiện hành và trong quá khứ nhằm mục đích đánh giá thực trạng tài chính, dự tính các rủi ro và tiềm năng tương lai của một DN, trên cơ

sở đó giúp cho nhà phân tích ra các quyết định tài chính có liên quan tới lợi ích của họ trong DN đó

Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được áp dụng rộng rãi trong các đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức,được áp dụng trong các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản lý, tổ chức công cộng Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp, của các ngân hàng và của thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ thực sự là có ích và vô cùng cần thiết

Mục đích của phân tích tài chính doanh nghiệp là giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá sức mạnh tài chính, khả năng và triển vọng của doanh nghiệp và là cơ sở để đưa ra dự đoán tài chính, các quyết định tài chính

Bởi vậy, phân tích tài chính là mối quan tâm của nhiều nhóm người khác nhau như: các nhà quản trị doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ, các nhà quản lý, kể cả các cơ quan chính phủ và người lao động Những người phân tích tài chính DN ở những cương vị khác nhau sẽ nhằm tới các mục tiêu khác nhau

Thứ nhất: Đối với các nhà quản trị tài chính

Nhà quản trị tài chính phân tích nhằm đánh giá hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của DN Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của lãnh đạo về đầu tư, tài trợ, phân chia lợi tức, lập kế

Trang 4

hoạch tài chính cho kỳ sau.

Thứ hai: Đối với các nhà đầu tư

Họ quan tâm tới phân tích tài chính nhằm đánh giá khả năng sinh lời, đánh giá các cổ phiếu trên thị trường cũng như triển vọng của DN để có căn cứ quyết định bỏ hoặc rút vốn khỏi DN

Thứ ba: Đối với người cho vay

Để ra các quyết định cấp hay không cấp tín dụng,cấp tín dụng ngắn hạn hay dài hạn, người cho vay đều quan tâm xem DN thực sự có nhu cầu vay vốn hay không, khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng như thế nào?

Thứ tư: Đối với người hưởng lương trong DN

Kết quả hoạt động của DN có tác động trực tiếp đến tiền lương - khoản thu nhập chính của người lao động Ngoài ra, trong một DN người lao động được tham gia góp vốn mua một số cổ phiếu nhất định Như vậy họ vừa là người lao động, vừa là người chủ DN nên có quyền lợi và trách nhiệm gắn với DN Thứ năm: Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước

Họ thực hiện phân tích tài chính để đánh giá, kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh, hoạt động tài chính tiền tệ của DN có đúng chính sách, chế độ và pháp luật quy định hay không

1.2 Thông tin sử dụng trong phân tích tài chính doanh nghiệp

Thông tin sử dụng để phân tích không chỉ giới hạn trong nội bộ DN (thông qua các báo cáo tài chính) mà phải mở rộng sang lĩnh vực ngoài DN

Cụ thể có 3 loại thông tin mà DN sử dụng để phân tích đó là:

- Các thông tin chung về kinh tế

- Các thông tin về ngành kinh doanh của doanh nghiệp

- Các thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp Đó là các báo cáo tài chính doanh nghiệp

Trang 5

1.2.1 Các thông tin chung

Đây là những thông tin về tình hình kinh tế có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong năm Sự suy thoái hay tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động giá cả của các yếu tố đầu vào và đầu ra trên thị trường, từ đó tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Mặt khác, các chính sách thuế như: Thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hay những quy định có liên quan thể hiện định hướng phát triển của Nhà nước đối với ngành kinh tế cũng ảnh hưởng đến thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh của DN

1.2.2 Các thông tin theo ngành kinh tế

Nội dung nghiên cứu trong phạm vi ngành là việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các hoạt động chung của ngành

Các thông tin theo ngành kinh tế, đó là những thông tin mà kết quả hoạt động của doanh nghiệp mang tính chất của ngành kinh tế như:

- Tính chất của sản phẩm

- Quy trình kỹ thuật áp dụng

- Cơ cấu sản xuất: công nghiệp nặng hay công nghiệp nhẹ, những cơ cấu sản xuất này có ảnh hưởng đến khả năng sinh lơi, vòng quay vốn dự trữ, phương tiện tài trợ

- Nhịp độ phát triển của chu kì kinh tế

Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành là cơ sở tham chiếu để ngươi phân tích có thể đánh giá, kết luận chính xác về tình hình tài chính doanh nghiệp

1.2.3 Thông tin liên quan đến tài chính doanh nghiệp

Đối với phân tích tài chính DN, thông tin kế toán trong nội bộ DN là một nguồn thông tin quan trọng bậc nhất Thông tin kế toán được phản ánh

Trang 6

khá đầy đủ trong các báo cáo kế toán: Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ(Ngân quỹ).

 Bảng cân đối kế toán

Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó

Bảng cân đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cân đối số dư các tài khoản kế toán: một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn vốn của doanh nghiệp

Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp: đó là tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn

Bên nguồn vốn phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điểm lập báo cáo: Đó là vốn của chủ (vốn tự có) và các khoản nợ

Nhìn vào Bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp Bảng cân đối kế toán là một tư liệu quan trọng bậc nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của doanh nghiệp

Báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp trong một thơi kỳ nhất định và những nghĩa vụ mà

DN phải thực hiện với Nhà nước

Những khoản mục chủ yếu được phản ánh trên Báo cáo kết quả kinh doanh: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh; doanh thu từ hoạt động tài chính; doanh thu từ hoạt động bất thường và chi phí tương ứng với từng hoạt động

Trang 7

Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai Báo cáo kết quả kinh doanh cũng giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng hóa, dịch vụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ để vận hành doanh nghiệp Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định được kết quả sản xuất - kinh doanh: lãi hay lỗ trong năm

 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập để trả lời các vấn đề liên quan đến các luồng tiền vào, ra trong doanh nghiệp, tình hình tài trợ, đầu tư bằng tiền của doanh nghiệp trong từng thơi kỳ ngắn (thường là từng tháng)

Những luồng vào, ra của tiền và các khoản coi như tiền được tổng hợp và chia thành 3 nhóm: lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh; lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động đầu tư và lưu chuyển tiền tệ từ hoạt động tài chính

Trên cơ sở luồng tiền vào, ra, nhà phân tích thực hiện cân đối ngân quỹ với số dư ngân quỹ đầu kỳ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ Từ đó, có thể thiết lập mức ngân quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả

Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó, họ nhận biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích của họ

1.3 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính

Có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng trên thực

tế người ta sử dụng kết hợp 3 phương pháp là phương pháp phân tích tỷ lệ,

Trang 8

phương pháp so sánh và phương pháp phân tích Dupont.

1.3.1 Phương pháp phân tích số tỷ lệ

Phân tích số tỷ lệ là một kỹ thuật quan trọng của phân tích báo cáo tài

chính bởi vì nó có thể định rõ được nền tảng, những mối quan hệ kết cấu và các xu thế quan trọng Về nguyên tắc, phương pháp tỷ lệ phải yêu cầu xác định được các ngưỡng (định mức) để phân tích, nhận xét, đánh giá tình hình tài chính trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu

Trong phân tích tài chính doanh nghiệp, các tỷ lệ tài chính được phân thành các nhóm tỷ lệ đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các hoạt động của doanh nghiệp

Tỷ lệ khả năng thanh toán là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp

Tỷ lệ về khả năng cân đối vốn là nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ tự chủ

và mức độ sử dụng nợ vay của doanh nghiệp

Tỷ lệ về khả năng hoạt động là nhóm chỉ tiêu đặc trưng cho hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp

Tỷ lệ về khả năng sinh lời là nhóm chỉ tiêu được dùng để đánh giá khả năng tạo lợi nhuận của doanh nghiệp

Trong từng trường hợp, nhà phân tích tài chính phải lựa chọn các nhóm tỷ

lệ phù hợp để làm sáng tỏ tình hình tài chính và dự đoán tương lai của DN

1.3.2 Phương pháp so sánh

Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến và thường được thực hiện

ở bước khởi đầu của việc phân tích

Các kỹ thuật so sánh:

So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp

Trang 9

So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính của doanh nghiệp ađang ở tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với các doanh nghiệp cùng ngành

So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng loại trong tổng

số So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến đổi cả về số tương đối và tuyệt đối của từng khoản mục Trên cơ sở đó, so sánh cho phép xác định xu hướng và tính liên hệ của các chỉ tiêu đánh giá Như vậy, so sánh dọc làm nổi bật mối quan hệ giữa các khoản mục trong tổng số, trong khi đó so sánh ngang phản ánh sự biến động của từng khoản mục so sánh

Phương pháp so sánh thường được sử dụng lồng ghép trong phương pháp phân tích tỷ lệ thông qua việc so sánh sự biến động của các tỷ lệ tài chính qua các năm hoặc so sánh các tỷ lệ tài chính của doanh nghiệp với các định mức

Khi so sánh, cần lưu ý việc so sánh chỉ có ý nghĩa nếu các chỉ tiêu đem

so sánh có cùng nội dung, tính chất và có cùng đơn vị tính toán

1.3.3 Phương pháp phân tích Dupont

Bản chất của phương pháp này là tách một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp (một tỷ số) thành tích của chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhân quả với nhau.Điều này cho phép ta phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần đối với tỷ số tổng hợp.Với phương pháp này, nhà phân tích có thể tìm được những nhân tố,những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng tốt, xấu trong mỗi hoạt động cụ thể của DN, từ đó thấy được các mặt mạnh, điểm yếu trong các hoạt động của DN

Chẳng hạn, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản (ROA) được tính theo công thức:

ROA = Lợi nhuận sau thuế = Lợi nhuận sau thuế X Doanh thu thuần

Trang 10

Tổng tài sản Doanh thu thuần Tổng tài sản

= PM x AU

Trong đó, PM là tỷ suất lợi nhuận doanh thu, và AU là hiệu suất sử dụng tổng tài sản

Với cách tính này, ta có thể thấy được khả năng sinh lợi của đồng vốn

DN bỏ ra chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt động bán hàng và công tác quản lý tài sản của DN

Để đưa ra nhận xét đánh giá một cách chính xác tài chính doanh nghiệp thì không chỉ sử dụng một phương pháp nào Do đó cần kết hợp hài hoà các phương pháp trong tài chính doanh nghiệp, từ đó giúp các chủ thể doanh nghiệp và các chủ thể khác có những quyết định kinh tế đúng đắn

1.4 Trình tự phân tích tài chính

Bước 1: Thu thập thông tin

Trong phân tích tài chính, nhà phân tích phải thu thập, sử dụng mọi nguồn thông tin, từ thông tin trong nội bộ DN đến những thông tin bên ngoài;

từ những thông tin số lượng đến những thông tin giá trị; từ những thông tin lượng hóa được đến những thông tin không lượng hóa được

Bước 2: Xử lý thông tin

Trong giai đoạn này, người sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra: xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán

và quyết định

Bước 3: Dự đoán và quyết định

Tổng hợp kết quả, rút ra nhận xét, dự báo xu hướng phát triển

Trang 11

Đề xuất các giải pháp tài chính cũng như các giải pháp khác nhằm thực hiện mục tiêu.

1.5 Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp

Nội dung phân tích tài chính doanh nghiệp bao gồm:

1.5.1 Phân tích khái quát tình hình tài chính thông qua việc xem xét các mối quan hệ cân bằng trên bảng cân đối kế toán của Công ty

Vốn lưu động thường xuyên là phần chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn

và tài sản dài hạn Đây là một phần vốn ổn định sử dụng cho việc tài trợ tài sản ngắn hạn

Vốn lưu động thường xuyên được xác định theo hai cách :

Nếu VLĐTX nhỏ hơn không, chứng tỏ tài sản dài hạn được tài tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn, Công ty kinh doanh với cơ cấu vốn rất mạo hiểm

Nhu cầu vốn lưu động là nhu cầu vốn phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của DN nhưng chưa được tài trợ bởi bên thứ ba trong quá trình kinh doanh đó

Nhu cầu vốn lưu động được xác định theo công thức:

Nhu cầu VLĐ = (Tài sản kinh doanh và ngoài kinh doanh) – (Nợ kinh

Trang 12

doanh và ngoài kinh doanh)

Khi NCVLĐ dương, DN có 1 phần TS ngắn hạn cần nguồn tài trợ Điều này có nghĩa trong DN có một phần TS ngắn hạn chưa được tài trợ bởi bên thứ ba

Khi NCVLĐ âm, thể hiện phần vốn chiếm dụng dược từ bên thứ ba nhiều hơn toàn bộ nhu cầu vốn phát sinh trong quá trình kinh doanh của DN

 Vốn bằng tiền

Vốn bằng tiền có thể xác đinh theo hai cách :

- Cách 1: Vốn bằng tiền = ( Ngân quỹ có) - ( Ngân quỹ nợ)

Vốn bằng tiền dương hay ngân quỹ có lớn hơn ngân quỹ nợ chứng tỏ Công

ty chủ động về vốn bằng tiền Ngược lại, Vốn bằng tiền âm thể hiện ngân quỹ

có nhỏ hơn ngân quỹ nợ, Công ty bị động về vốn bằng tiền

- Cách 2 :

Vốn bằng tiền = Vốn lưu động thường xuyên – Nhu cầu vốn lưu độngVốn bằng tiền dương chứng tỏ vốn lưu động thường xuyên thỏa mãn nhu cầu vốn lưu động

Vốn bằng tiền âm chứng tỏ vốn lưu động thường xuyên chỉ tài trợ được một phần nhu cầu vốn lưu động Phần còn lại DN phải dựa vào tín dụng ngắn hạn ngân hàng Phần này càng nhiều chứng tỏ DN càng phụ thuộc vào ngân hàng

1.5.2 Phân tích các nhóm chỉ tiêu tài chính đặc trưng.

Để có thể đánh giá một cách sâu sắc toàn diện tình hình tài chính của doanh nghiệp thì cần phân tích kết hợp cả các chỉ tiêu tài chính đặc trưng

1.5.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán

Đây là những hệ số được rất nhiều người quan tâm như: các nhà ngân hàng, nhà đầu tư, người cung cấp… Trong mọi quan hệ với DN, họ luôn đặt

ra câu hỏi: liệu DN có đủ khả năng chi trả các khoản nợ đến hạn không? Để

Trang 13

trả lời câu hỏi như trên, các chỉ tiêu sau đây thường được sử dụng:

 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn

Hệ số thanh toán ngắn hạn

Nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn đo lường khả năng mà các tài sản ngắn hạn có thể chuyển đổi thành tiền để hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn Tính hợp lệ của hệ số này phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Nếu hệ

số này cao có thể đem lại sự an toàn về khả năng bù đắp cho sự giảm giá trị của tài sản ngắn hạn Tuy nhiên một DN có tỷ lệ này quá cao nghĩa là DN đã đầu tư quá nhiều vào TSNH so với nhu cầu, một sự đầu tư không mang lại hiệu quả lâu dài Vấn đề này đòi hỏi các DN phải phân bổ vốn như nào cho hợp lý

 Hệ số khả năng thanh toán nhanh

Hệ số khả năng thanh toán nhanh

= Tiền + Phải thu Tổng nợ ngắn hạn

Hệ số khả năng thanh toán nhanh đo lường khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của DN bằng việc chuyển đổi các tài sản ngắn hạn, không

kể hàng tồn kho

Nhìn chung, hệ số này càng cao càng tốt nhưng còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng lĩnh vực kinh doanh Nếu hệ số này quá cao thì cần phải xem xét thêm các khoản phải thu Trong tổng TSLĐ thì bộ phận các khoản phải thu là khó thu hồi nhất và nếu khoản phải thu lớn thì nó ảnh hưởng không tốt đến khả năng thanh toán nhanh của DN

 Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Hệ số khả năng thanh toán tức thời

Nợ ngắn hạn

Trang 14

Hệ số này phản ánh mối quan hệ giữa các khoản tiền mặt và coi như tiền mặt (tiền gửi ngân hàng, ngân phiếu, chứng khoán ) với số nợ đến hạn phải trả của doanh nghiệp Hệ số này có ý nghĩa rất quan trọng đối với những bạn hàng mà hoạt động khan hiếm tiền mặt (quay vòng vốn nhanh) Các doanh nghiệp này cần phải được thanh toán đúng hạn, nhanh chóng để hoạt động bình thường Doanh nghiệp rất quan tâm đến hệ số này vì nó phản ánh

số tiền và coi như tiền mặt của doanh nghiệp có thể đảm bảo được bao nhiêu phần trăm toàn bộ số nợ đến hạn của doanh nghiệp

Đối với các chủ nợ, tỷ lệ này càng cao càng tốt, các chủ nợ đánh giá mức trung bình hợp lý cho tỷ lệ này là 0,5 Khi tỷ lệ này lớn hơn 0,5 thì khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp là khả quan nhưng nếu tỷ lệ này quá cao thì không tốt cho doanh nghiệp vì các khoản tiền và coi như tiền mặt quá nhiều làm vòng quay tiền chậm lại, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn

Các tỷ lệ trên cho phép nhà phân tích đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp nên rất được ngân hàng, người cho vay quan tâm Nhà quản lý tài chính cũng chú ý đến tỷ lệ này vì chúng phản ánh khả năng thanh toán cụ thể của doanh nghiệp Nhưng sử dụng các tỷ lệ về khả năng thanh toán cũng có một số hạn chế như: cả tử và mẫu đều có thể thay đổi rất nhanh, do vậy các tỷ lệ này chỉ có giá trị nhất định khi đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp Phân tích tài chính lại diễn ra ở một thời điểm trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nên tính chính xác cũng khó đảm bảo

1.5.2.2 Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư

Nghiên cứu về hệ số nợ, hệ số tự tài trợ, tỷ suất đầu tư sẽ cung cấp cho các nhà quản trị tài chính có một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp Các chủ nợ cũng rất quan tâm đến chỉ tiêu này vì các chủ

nợ sẽ nhìn vào số vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp để thể hiện mức độ tin tưởng vào sự đảm bảo an toàn cho món nợ

Trang 15

 Hệ số nợ

vèn nguån Tæng

¶ tr i

¶ ph Nî

= nî sè HÖ

Hệ số nợ nói lên trong tổng nguồn vốn của DN, nguồn vốn từ bên ngoài (từ các chủ nợ) là bao nhiêu phần hay trong tổng số tài sản hiện có của DN, có bao nhiêu phần do vay nợ mà có

Đối với các chủ DN, hệ số này càng cao càng tốt vì khi đó họ chỉ phải

bỏ một lượng vốn ít hơn mà lại được sử dụng một lượng tài sản lớn và họ có toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp Ngoài ra, họ có thể tiết kiệm một phần nhờ thuế (do lãi phải trả cho nợ vay được coi là chi phí hợp lý khi để giảm trừ thuế của DN) Tuy nhiên, hệ số nợ cao đồng nghĩa với rủi ro mất khả năng thanh toán nếu hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không có hiệu quả và doanh nghiệp khó có thể đi vay Khi doanh lợi vốn chủ sở hữu cao hơn hệ số nợ thì chủ sở hữu doanh nghiệp càng có điều kiện gia tăng lợi nhuận

 Hệ số tự tài trợ

Hệ số tự tài trợ = Nguồn vốn chủ sở hữu

Tổng nguồn vốn

Hệ số tự tài trợ đo lường sự góp vốn của chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của DN

Hệ số này càng lớn, tài sản của doanh nghiệp càng ít chịu rủi ro Tuy nhiên, chi phí của vốn cổ phần lớn hơn chi phí của nợ vay và việc tăng vốn cổ phần có thể dẫn đến bị san sẻ quyền lãnh đạo doanh nghiệp Các chủ nợ thường thích hệ số tài trợ càng cao càng tốt vì nó sẽ đảm bảo cho các khoản

nợ của họ được trả đúng hạn

 Hệ số khả năng thanh toán lãi tiền vay

Hệ số thanh toán

lãi tiền vay =

Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay

Trang 16

Chi phí lãi vay

Hệ số này nói lên trong kỳ DN đã tạo ra lợi nhuận gấp bao nhiêu lần lãi phải trả về tiền vay Hệ số này càng cao thì rủi ro mất khả năng thanh toán tiền lãi vay càng thấp và ngược lại Thông thường hệ số này được các chủ nợ chấp nhận ở mức hợp lý khi nó lớn hơn hoặc bằng 2

 Tỷ suất đầu tư tài sản dài hạn

Tỷ suất đầu tư TSDH = Tài sản dài hạn Tổng tài sản

Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của TSCĐ của DN trong tổng TS nói chung Chỉ tiêu này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật nói chung và máy móc thiết bị nói riêng của doanh nghiệp Nó cho biết năng lực sản xuất

và xu hướng phát triển lâu dài của doanh nghiệp Giá trị của chỉ tiêu này phụ thuộc vào từng ngành nghề cụ thể

1.5.2.3 Nhóm chỉ tiêu về khả năng hoạt động của tài sản.

Các nhà phân tích không chỉ quan tâm đến đo lường hiệu quả sử dụng của tổng nguồn vốn mà còn quan tâm đến hiệu quả sử dụng của từng bộ phận cấu thành nguồn vốn của doanh nghiệp

 Số ngày một vòng quay hàng tồn kho

Trang 17

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho

= Số ngày trong kỳ

Số vòng quay hàng tồn kho

Số ngày một vòng quay hàng tồn kho phản ánh số ngày trung bình của một vòng quay hàng tồn kho Số ngày này càng nhỏ thì vòng quay hàng tồn kho càng nhanh, vì đây là chỉ tiêu nghịch của vòng quay hàng tồn kho Số ngày này nhỏ thì vốn, vật tư, hàng hoá của doanh nghiệp luân chuyển càng nhanh, không bị ứ đọng và ngược lại

 Vòng quay các khoản phải thu

Vòng quay các khoản

phải thu

Các khoản phải thu bình quân

 Kỳ thu tiền bình quân

Kỳ thu tiền

bình quân

Vòng quay các khoản phải thu bình quân

Thông qua sự biến động của hệ số vòng quay các khoản phải thu hay

kỳ thu tiền bình quân,nhà phân tích có thể đánh giá tốc độ thu hồi các khỏa nợ của DN So với kỳ trước, hệ số quay vòng các khoản phải thu giảm hoặc thời gian bán chịu cho các khách hàng dài hơn, chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản

nợ của DN chậm hơn, từ đó làm tăng vốn ứ đọng trong khâu thanh toán, giảm hiệu quả sử dụng vốn

Trang 18

doanh thu thuần, thể hiện mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của DN

Hệ số này càng cao phản ánh sức sản xuất của tài sản cố định càng hiệu quả

1.5.2.4 Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời.

Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ, là đáp số sau cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh và còn là một căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai

 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu

Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu =

Lợi nhuận sau thuế Doanh thu thuần

Chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận sau thuế có trong một đồng doanh thu thuần Nhìn chung hệ số này cao thì tốt nếu giá thanh sản phẩm cao nhưng nếu cao do giá bán tăng thì chưa chắc đã tốt vì nó ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của doanh nghiệp làm cho tiêu thụ sản phẩm giảm dẫn đến doanh thu và lợi nhuận cũng giảm theo

 Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên tổng tài sản

Tỷ suất lợi nhuận sau

Trang 19

xuất trong kỳ tạo ra mấy đồng lợi nhuận.

Nếu hệ số này cao chứng tỏ doanh nghiệp làm ăn có lãi và ngược lại hệ số này thấp thì chứng tỏ doanh nghiệp hoạt động không có hiệu quả

 Tỷ suât lợi nhuân trên vốn chủ sở hữu

Tỷ suất lợi nhuận trên

Trên đây là một số vấn đề lý luận chung về phân tích tài chính doanh nghiệp Ở mỗi doanh nghiệp vấn đề phân tích tài chính lại có vị trí, vai trò khác nhau, việc lựa chọn nội dung, phương pháp phân tích cũng khác nhau tùy theo mục tiêu của doanh nghiệp Do vậy, việc vận dụng các lý thuyết trên phải linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với yêu cầu, đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp Để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp sau đây chúng ta sẽ thực hiện việc phân tích tài chính Công ty CP 77 để từ đó có những giải pháp tài chính phù hợp với thực tế tài chính của Công ty

1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến phân tích tài chính Doanh nghiệp 1.6.1 Nhân tố khách quan

Đối với lĩnh vực tài chính kinh tế nhà nước cần ban hành các chính sách chế độ có tính chuẩn mực Trong điều kiện đó, báo cáo tài chính được Nhà nước quy định theo một số chuẩn mực nhất định và có tính chất bắt buộc Một số loại hình có Báo cáo tài chính tùy theo điều kiện mỗi Công ty có thể

có tính chất bắt buộc hoặc không

Trang 20

Báo cáo tài chính được Nhà nước được quản lý rất chặt chẽ theo cấp

và được quy định thống nhất về phương pháp lập, phương pháp tính, thời gian lập và gửi…Các thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính phải có tính chất xác thực và có cơ sở

Các Công ty thực hiện tốt quá trình phân tích tài chính phải lập đầy đủ

và chính xác các báo cáo tài chính Nếu chính sách của Nhà nước nói chung

và chính sách kinh tế tài chính nói riêng chưa hoàn thiện thì sẽ có sự ảnh hưởng tới sự phân tích tài chính hoạt động của Công ty

Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm kinh tế, kỹ thuật ngành khác nhau Tính chất ngành kinh doanh ảnh hưởng tới thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của Công ty, ảnh hướng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh,

do đó có ảnh hưởng tới phương pháp phân tích tài chính của Công ty

Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu sử dụng vốn, và doanh thu tiêu thụ của sản phẩm

Môi trường kinh doanh bao gồm tất cả những điều bên ngoài có ảnh hưởng đến hoạt động của Công ty

1.6.2 Nhân tố chủ quan

 Quyết định của nhà quản trị Công ty

Nếu những người lãnh đạo của Công ty quan tâm đến các chỉ tiêu trong quá trình phân tích tài chính, có sự quản lý chặt chẽ thương xuyên thì công tác phân tích tài chính của Công ty sẽ có hiệu quả tốt Các thông tin trong báo cáo tài chính sẽ trung thực và chính xác đáp ứng đòi hỏi yêu cầu của nhà quản lý

Từ đó, nhà quản lý sẽ có thêm những cơ hội đầu tư mới mang lại hiệu quả cao cho Công ty

Trang 21

 Trình độ của cán bộ công nhân viên

Nếu cán bộ công nhân viên có đủ năng lực, chuyên môn, ý thức trách nhiệm,

có đạo đức nghề nghiệp thì quá trình phân tích tài chính sẽ đạt hiệu quả cao

 Cơ sở vật chất

Ngoài các yếu tố trên, cơ sở vật chất kỹ thuật cũng là một nhân tố ảnh hưởng đến công tác phân tích tài chính của Công ty Cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết và hữu ích nhất là hệ thống phần mềm máy tính được sử dụng trong công tác phân tích tài chính Nếu có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại thì Công ty sẽ có khả năng giảm bớt được khối lượng công việc, tiết kiệm được thời gian công sức trong quá trình phân tích

Trang 22

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI

CÔNG TY CỔ PHẦN 77

2.1 Tổng quan về công ty cổ phần 77

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Tiền thân của công ty 77 là xí nghiệp xi măng 77 được thành lập ngày

15 tháng 5 năm 1977 tại xã Liên Sơn - huyện Kim Bảng – tỉnh Hà Nam, là một công ty trực thuộc tổng công ty Thành An

Quá trình hình thành và phát triển của Công ty là quá trình đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ bản của Quân đội và đất nước Cụ thể:

-Tháng 1 năm 1977 công ty bắt đầu được khởi công xây dựng Theo đề nghị của Cục vận tải ngày 13/5/1977, Tổng cục Hậu cần ký quyết định số 26/QĐ thành lập Xí nghiệp 77- chuyên sản xuất vật liệu xây dựng trực thuộc Cục vận tải

-Tháng 12 năm 1978 đã khánh thành dây chuyền số 1 cho ra lò mẻ xi măng đầu tiên đạt chất lượng, nhãn hiệu 77, được các cơ quan chuyên môn kiểm nghiệm đủ tiêu chuẩn đưa vào xây dựng

-Đầu năm 1979, cùng với xây dựng hoàn chỉnh dây chuyền số 2, định hình các mỏ khai thác nguyên vật liệu, Xí nghiệp xây dựng đường dây tải điện 35 KV đưa điện lưới từ Thạch Tổ về nhà máy Đến ngày 12/6/1979, nhà máy chính thức đi vào sản xuất, phân phối xi măng theo kế hoạch trên giao

-Từ 1989 công cuộc đổi mới ở nước ta khởi sắc, Xí nghiệp từ bao cấp chuyển hẳn sang hạch toán kinh tế kinh doanh; đồng nghĩa với chịu thử thách khắc nghiệt của quy luật kinh tế, tác động của cơ chế thị trường Xí nghiệp đã đầu tư chiều sâu vào khai thác năng lực của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, học tập đơn vị bạn, các cơ quan chuyên ngành,…Kết quả năm 2000, Xí nghiệp đã tự

Trang 23

tin in trên vỏ bao xi măng dòng chữ tươi rói “Quốc phòng 77 – chỉ cung cấp cho thị trường Hà Nội và Quân đội.” Từ đây, các đề tài kỹ thuật nhằm giảm giá thành, nâng công suất lò đúc được cán bộ công nhân viên thực hiện liên tục ngày càng có hiệu quả.

-Ngày 17 tháng 4 năm 1996,Bộ Quốc phòng ký quyết định số 463/QĐ-

QP đổi tên Xí nghiệp 77 thành Công ty xi măng 77; đồng thời công ty cũng làm các thủ tục đăng ký mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh với cấp trên và tỉnh Hà Nam

-Ngày 9 tháng 9 năm 2003, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 1919/QĐ- BQP cổ phần hóa công ty 77 Tháng 11/2004 đã chính thức chuyển sang Công ty cổ phần và mang tên Công ty cổ phần 77

-Hình thức sở hữu: Vốn nhà nước 51% ,vốn cổ đông 49%

Sớm bắt nhịp với mặt trận kinh tế giai đoạn đầu và cơ chế thị trường khi đất nước đổi mới mở cửa, tận dụng các mối quan hệ với các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, nhà máy, đơn vị trong và ngoài Quân đội, Ban lãnh đạo công ty đã năng động, tự tin luôn luôn tự đổi mới mình để phát triển, đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường Cán bộ, công nhân đoàn kết làm cho tổng sản lượng mỗi năm một tăng, đời sống vật chất tinh thần được cải thiện rõ rệt, góp phần giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn

2.1.2 Ngành nghề mặt hàng kinh doanh

Theo điều lệ của Công ty cổ phần 77, các ngành nghề kinh doanh của Công ty bao gồm:

- Sản xuất kinh doanh xi măng, bao bì

- Khai thác đá, đất; sản xuất đá thương phẩm;

- Mua bán hàng hoá, vật liệu xây dựng (gạch, ngói, đá, xi măng, cát sỏi );

Trang 24

- Sản xuất kinh doanh các loại vật liệu xây dựng khác.

Công ty xác định việc sản xuất kinh doanh tiêu thụ xi măng là lĩnh vực kinh doanh chính, và đây là lĩnh vực truyền thống lâu dài, phù hợp với điều kiện, khả năng cũng như giải quyết được nhiều lao động của Công ty Đối với việc đa dạng hóa ngành nghề, trước mắt tiếp tục khai thác hiệu quả kho, bãi tại Hà Nam,mặt bằng cơ sở vật chất hiện có của Công ty, nghiên cứu, triển khai kinh doanh các mặt hàng có tiềm năng

- sản xuất, phòng Xây dựng công trình

Trang 25

Phòng

Tổ chức-HC

Phòng vật tư-

Xẻ máy

Phòng

Kỹ thuật-SX

Phòng XDCT

Ban

KCS

PX liệu

PX lò

PX nghiề

n xi đóng bao 1

PX nghi

ền xi đóng bao 2

Tổ điện nướ c

Đội sx gia công

cơ khí

Các

vp đại diện

Các TTT

T sp

Các đội XDC T

Các đội KT

CB đất đá

Trang 26

2.2 Thực trạng phân tích tài chính tại Công ty CP 77

2.2.1 Đánh giá khái quát về kết quả kinh doanh và cơ cấu vốn của Công ty trong những năm gần đây.

Trong 3 năm từ năm 2007 đến năm 2009,hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thể hiện khái quát qua bảng 2.1 sau:

Bảng 2.1 Bảng kết quả SXKD của Công ty

Đơn vị: triệu đồng

1 Doanh thu

2.Giá vốn 51.167 94,5 45.118 82,7 71.131 82,15 -6.049 -11,8 26.013 57,65 3.Lợi nhuận

gộp 2.915 5,5 9.440 17,3 15.451 17,84 6.525 223,8 6.011 63,674.DT tài

5.CP tài

35,61 -201 4,16.CPBH 2.061 3,81 1.698 3,11 3.154 3,64 -363 -17,6 1.456 85,78

-12,06 234 7,968.LNtừ

Trang 27

* Về kết quả kinh doanh:

Năm 2007, lợi nhuận kế toán trước thuế của DN âm, DN làm ăn thua

lỗ Tuy nhiên sang năm 2008, 2009 Kết quả kinh doanh của DN tăng lên một cách rõ rệt Lợi nhuận trước thuế năm 2008 tăng so với năm 2007 là 11 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế năm 2009 tăng so với năm 2008 là 3,41 tỷ đồng Lợi nhuận trước thuế có sự tăng lên do những nguyên nhân sau:

Về hoạt động kinh doanh

Năm 2008, doanh thu thuần đạt 54,559 tỷ đồng, tăng 0,9% so với năm

2007 Trong khi đó giá vốn bán hàng, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm đáng kể Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp giảm tương ứng là 17,6% và 12,06% so với năm 2007 làm cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 10 tỷ đồng so với năm 2007

Năm 2009, doanh thu thuần tăng 32tỷ đồng, tăng 58,7% so với năm

2008 Tuy giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp tăng khá lớn, tương ứng là 26 tỷ đồng; 1,456 tỷ đồng và 233 triệu đồng nhưng tốc độ tăng của chúng nhỏ hơn tốc độ tăng của doanh thu thuần,nên lợi nhuận của công ty vẫn tăng lên đáng kể, đạt 4,477 tỷ đồng, cải thiện tình hình làm ăn thua lỗ, hiệu quả kém của Công ty trong năm 2007 và 2008

Qua hoạt động kinh doanh của Công ty ta thấy rằng: Doanh thu thuần của DN qua 3 năm đều tăng mạnh, kéo theo đó lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cũng tăng khá nhanh Năm 2007,công

ty gặp nhiều khó khăn, thời tiết diễn biến phức tạp, điện không ổn định,thị trường cạnh tranh gay gắt, …nên hiệu quả hoạt động của Công ty không đạt, làm ăn thua lỗ Năm 2008, nền kinh tế đất nước trong bối cảnh lạm phát do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính thế giới, chính sách tiền tệ tài chính, giá

cả bị thắt chặt, sự giảm sút của ngành xây dựng, làm cho ngành sản xuất vật liệu nói chung, ngành sản xuất xi măng nói riêng trong bối cung vượt quá cầu,

Trang 28

sản phẩm tiêu thụ phải cạnh tranh gay gắt, để khuyến khích công tác tiêu thụ buộc công ty phải giảm giá bán; hơn nữa lãi suất ngân hàng tăng cao làm chi phí phải trả tiền vay cũng tăng,…Mặc dù các cán bộ, công nhân viên của toàn Công ty đã nỗ lực phấn đấu, cải thiện tình hình năm 2007 nhưng kết quả kinh doanh của Công ty vẫn trong tình trạng lỗ Tuy nhiên lượng lỗ đã giảm mạnh

so với năm 2007 Năm 2009, nền kinh tế đi vào ổn định, bằng các giải pháp

và chính sách của Chính phủ nhằm chống suy thoái nền kinh tế, là động lực tạo điều kiện cho hoạt động SXKD của các DN nói chung và Công ty nói riêng cộng với việc không ngừng cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề của toàn thể Công ty, lợi nhuận kinh doanh của Công ty được cải thiện rõ rệt, đạt 4,477

tỷ đồng

Về hoạt động khác: Tuy đây không phải là hoạt động chính của Công

ty nhưng nó đem lại 1 khoản lợi nhuận đáng kể cho Công ty Do Công ty biết tận dụng những thuận lợi của mình cho thuê kho, bãi, ôtô khi Công ty chưa sử dụng

Bảng 2.2 Cơ cấu nguồn vốn tài sản của Công ty

Đơn vị: triệu đồng

Trang 29

*Về cơ cấu tài sản và nguồn vốn:

Phần tài sản: Tổng giá trị tài sản của Công ty không ngừng tăng trưởng từ năm 2007- 2009, năm 2008 tăng 8.559 tỷ đồng, tăng 15,27% so với năm 2007; năm 2009 tăng 37.245 tỷ đồng, tăng 57,6% so với năm

2008 Do đặc thù là 1 DN sản xuất nên TSDH chiếm tỷ lệ lớn Tuy nhiên càng về những năm gần đây, Công ty đang mở rộng quy mô vừa sản xuất vừa kinh doanh thương mại nên TSDH có xu hướng giảm và TSNH có xu hướng tăng Tỷ lệ TSNH tăng là một dấu hiệu tốt, vì như thế DN sẽ quay vòng vốn nhanh, hiệu quả đạt được là khả quan

TSDH của công ty chiếm tỷ lệ khá cao,có xu hướng giảm dần(năm

2007, 2008, 2009 lần lượt là 77,93%; 60,67%; 31,68%); chủ yếu là nhà cửa, vật kiến trúc, kho tàng, thiết bị máy móc, dụng cụ quản lý và nói chung là chưa được đổi mới nhiều về mặt kỹ thuật

Phần nguồn vốn:Nguồn vốn của công ty cũng không ngừng tăng trưởng, năm 2008 tăng 8.559 tỷ đồng, tăng 15,27% so với năm 2007; năm

2009 tăng 37.245 tỷ đồng, tăng 66,44% so với năm 2008 Nợ phải trả của Công ty liên tục tăng, trong nợ phải trả chủ yếu là nợ ngắn hạn, nợ dài hạn chiếm tỷ trọng khá nhỏ Nguồn vốn chủ sở hữu tăng (năm 2007,

2008, 2009 lần lượt chiếm 6,29%; 9,88%; 10,63% tổng nguồn vốn)

Tóm lại, do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty nên kết cấu tài sản và nguồn vốn thay đổi như vậy là hợp lý Năm 2007, 2008 Công ty làm ăn thua lỗ nhưng năm 2009 lợi nhuận tăng vọt, đạt hơn 4 tỷ đồng Điều này chứng tỏ hoạt động của Công ty đang trên đà phát triển

2.2.2 Phân tích khái quát hoạt động tài chính Công ty qua các cân bằng trên CĐKT

Để đánh giá một cách khái quát tình hình tài chính của Công ty ta phải

đi sâu xem xét đến Vốn lưu động thường xuyên, Nhu cầu vốn lưu động và

Trang 30

Vốn bằng tiền cũng như mối quan hệ giữa chúng.

Bảng 2.3 Vốn lưu động thường xuyên.

(Nguồn: BCĐKT Công ty CP77 năm 2007, 2008, 2009)

Bảng 2.4 Nhu cầu vốn lưu động

Đơn vị: Triệu đồng

Trang 31

(Nguồn: BCĐKT Công ty CP77 năm 2007, 2008, 2009)

Qua bảng 2.3, ta thấy VLĐ của Công ty luôn âm Như vậy toàn bộ phần TSDH không được tài trợ hoàn toàn bằng nguồn vốn dài hạn Một phần TSDH được tài trợ bằng nguồn vốn ngắn hạn Công ty kinh doanh với cơ cấu vốn rất mạo hiểm Tuy nhiên do đặc thù là 1 DN cổ phần, vốn Nhà nước chiếm 51%, được sự bảo trợ phần lớn của Nhà nước nên Công ty kinh doanh mạo hiểm như vậy nhằm cải thiện tình hình thua lỗ trong những năm trước đó

VLĐ thường xuyên của Công ty đang được cải thiện dần qua các năm,

đó là do sự tăng lên của VCSH trong khi đó tài sản dài hạn của Công ty trong

3 năm lại có xu hướng giảm khá mạnh VCSH của Công ty tăng là do Qũy đầu tư phát triển tăng, công ty ngày càng làm ăn có hiệu quả, LN sau thuế chưa phân phối được cải thiện Còn phần TSDH của Công ty giảm xuống chủ yếu là do Công ty thực hiện giải phóng một bộ phận máy móc thiết bị lạc hậu Qua bảng 2.4, ta thấy nhu cầu VLĐ>0 tức là nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Công ty nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn huy động được từ bên ngoài Công ty đang rất cần nhận thêm vốn ngắn hạn để tài trợ cho các kỳ kinh doanh

NCVLĐ cả 3 năm đều dương Điều này do lượng nợ kinh doanh của Công ty nhỏ hơn so với tài sản kinh doanh của Công ty Vấn đề này không được tốt lắm vì hàng tồn kho và phải thu của Công ty tương đối lớn, tăng dần qua các năm, tuy nhiên năm 2009 công ty đã ký hợp đồng kinh tế cho một số Công ty tương đối lớn trên địa bàn tỉnh Hà Nam, nên Công ty phải duy trì một

Trang 32

lượng hàng tồn kho phù hợp.

Có thể nói, Công ty đang trên đà phát triển nên cần nhiều vốn để đầu

tư, kinh doanh Vốn lưu động thường xuyên âm, nhu cầu vốn lưu động dương, làm cho lượng vốn bằng tiền âm Điều này phù hợp với hoạt động kinh doanh của Công ty, vì Công ty là một DN sản xuất đang mở rộng mô hình từ 1 doanh nghiệp sản xuất sang 1 DN vừa sản xuất vừa kinh doanh thương mại Mối quan hệ VLĐTX và NCVLĐ trong 3 năm đều có dạng:

Nhu cầu vốn lưu động được tài trợ hoàn toàn bằng vốn vay tín dụng Công ty đã dùng nợ ngắn hạn đầu tư cho dài hạn; mức độ vay nợ nhiều Điều đó thể hiện DN mất cân đối về tài chính ngắn hạn và rủi ro kinh doanh

cao.Tuy nhiên khả năng sinh lợi cũng cao Công ty kinh doanh với cơ cấu vốn mạo hiểm

Để hiểu rõ hơn tình hình tài chính của Công ty ta sẽ đi phân tích các chỉ tiêu tài chính đặc trưng

2.2.3 Phân tích các chỉ tiêu về cơ cấu tài chính và tình hình đầu tư.

Nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp cho các nhà quản trị tài chính một cái nhìn tổng thể về sự phát triển lâu dài của Công ty

Nhu cầu vốn lưu động > 0

Vốn lưu động thường xuyên

<0

Vốn bằng tiền < 0

Ngày đăng: 30/10/2014, 23:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. T. S Nguyễn Đăng Nam, Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp, Khoa tài chính- Học viện tài chính, NXB Tài chính Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản trị tài chính doanh nghiệp
Tác giả: T. S Nguyễn Đăng Nam
Nhà XB: Khoa tài chính- Học viện tài chính
1. NGƯT- T.S Lê Thị Xuân , Giáo trình phân tích hoạt động kinh doanh, Khoa tài chính Học viện ngân hàng, NXB Thống kê Khác
3. Nguyễn Hải Sản, Quản trị Tài chính, NXB Thống kê, 1996 Khác
4. PGS-T.S Nguyễn Văn Công, Đọc, lập và phân tích Tài chính doanh nghiệp Khác
5. Các văn bản pháp luật về quản lý Tài chính doanh nghiệp Khác
6. Báo cáo tài chính và các tài liệu có liên quan của Công ty cổ phần 77 2007,2008,2009 Khác
7. Các báo tạp chí có liên quan : - Tạp chí tài chính- Tạp chí Xi măng Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Bảng kết quả SXKD của Công ty - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.1. Bảng kết quả SXKD của Công ty (Trang 26)
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn vốn tài sản của Công ty - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn vốn tài sản của Công ty (Trang 28)
Bảng 2.3. Vốn lưu động thường xuyên. - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.3. Vốn lưu động thường xuyên (Trang 30)
Bảng 2.4. Nhu cầu vốn lưu động - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.4. Nhu cầu vốn lưu động (Trang 30)
Bảng 2.7. Bảng các chỉ tiêu về năng lực hoạt động của tài sản - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.7. Bảng các chỉ tiêu về năng lực hoạt động của tài sản (Trang 37)
Bảng 2.8. Khả năng thanh toán của Công ty - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.8. Khả năng thanh toán của Công ty (Trang 41)
Bảng 2.9. Bảng các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.9. Bảng các chỉ tiêu về khả năng sinh lợi (Trang 43)
Bảng 2.10. Bảng phân tích doanh lợi vốn chủ sở hữu - phân tích tài chính trong công ty cổ phần 77,thực trạng và giải pháp
Bảng 2.10. Bảng phân tích doanh lợi vốn chủ sở hữu (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w