Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tình hình kinh tế xã hội chính trị, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu Theo dõi tình hình biến động của TGHĐ sát hợp với tín hiệu t
Trang 1Trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng
Khoa Tài chính-Ngân Hàng
TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2012
GVHD: TS.Võ Thị Thúy Anh
SVTH: Nhóm 02-TCQT01
• Nguyễn Thị Ly Na
• Nguyễn Duy Thanh
• Nguyễn Thanh Phương Tuấn
• Nguyễn Thành Khoa
Đà Nẵng, tháng 7/ 2012
Trang 2MỤC LỤC
1.1 Tỷ giá hối đoái 6
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái: 6
1.1.2 Phân loại tỷ giá 6
1.2 Chính sách tỷ giá 8
1.2.1 Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá 8
1.2.2 Các công cụ của Chính sách tỷ giá 8
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHD 10
1.3.1 Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ 10
1.3.2 Cán cân thanh toán quốc tế 10
1.3.3 Yếu tố tâm lý 11
1.3.4 Vai trò quản lý của Ngân hàng trung ương 11
1.3.5 Năng suất lao động 11
2.1 Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2008 12
Trong giai đoạn Từ 01/01/2008 đến 25/03/2008 (tỷ giá liên tục giảm dưới mức sàn), tỷ giá USD/VND trên thị liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 đồng xuống còn 15.960 đồng Tỷ giá trên thị trường tự do có lúc rớt xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng, dao động từ mức 15.500-16.000 đồng/USD Sự sụt giảm này bắt nguồn từ các biện pháp của Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát 13
Trong giai đoạn Từ 26/03/2008 đến ngày 16/07/2008 (tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do) 13
Và trong giai đoạn từ 16/10/2008 đến 31/12/2008 (tỷ giá USD tăng trở lại) Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá, mặc dù tỷ giá USD/VND LNH công bố vẫn duy trì ở mức ~16.500 đồng, tỷ giá tại các ngân hàng thường xuyên được duy trì ở mức trần ~17.000 đồng Tỷ giá giao dịch trên thị trường không chính thức ở mức 17.200 đồng -17.450 đồng (NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 7/11/2008) Tỷ giá giao dịch tạm ổn định ở mức trần, được trợ giúp bởi thâm hụt thương mại được cải thiện, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD giảm, và việc USD có xu hướng đứng giá và giảm nhẹ so với các ngoại tệ khác sau quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản của vào ngày 17/12/2008 từ 1% xuống 0-0,25% 15
2.2 Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2009 16
2.3 Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2010 18
2.4 Tình hình biến động tỷ giá năm 2011 22
2.5 Tình hình biến động tỷ giá hối đoái hai quý đầu năm 2012 25
3.1 Nhận xét về sự biến động của tỷ giá hối đoái 28
3.2 Đề xuất một số giải pháp để bình ổn tỷ giá hối đoái 29
31
Trang 32 Nguyễn Duy Thanh 35K14 Chương 2: Năm 2011
3 Nguyễn Thanh Phương Tuấn 35K14 Chương 2: Hai quý đầu năm
2012 và Chương 3
4 Nguyễn Thành Khoa 36K18 Chương 2: Năm 2009
Trang 4BẢNG CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮTCPI Chỉ số giá tiêu dùng
DTBB Dự trữ bắt buộc
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
FDI Đầu tư nước ngoài trực tiếp
FII Vốn đầu tư gián tiếp
Trang 5LỜI NÓI ĐẦU
Trong một nền kinh tế mở, thương mại quốc tế trở nên phổ biến, việc thanh toán giữa các quốc gia với nhau phải sử dụng tiền tệ nước này hay nước khác Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế, ngày nay TGHĐ đã trở thành công cụ điều tiết vĩ mô quan trọng của mỗi quốc gia, tỷ giá là một biến số kinh tế vĩ mô quan trọng có tác động tới nhiều mặt hoạt động của nền kinh tế Xây dựng thành công một chính sách điều hành tỷ giá thích hợp là một vấn đề vô cùng khó khăn phức tạp Kinh nghiệm quốc tế đã chỉ ra rằng không có một khuôn mẫu sẵn có cho một nền kinh tế thực hiện chính sách tỷ giá của mình Loại trừ một vài trường hợp cá biệt, phần lớn các nền kinh tế đều xây dựng một chính sách tỷ giá trong một không gian chính sách khá rộng rãi giữa hai thái cực: chế độ tỷ giá cố định với biên dao động rất hẹp và chế độ thả nổi tỷ giá Hơn thế nữa, giữa những quy định có tính pháp lý về chế độ tỷ giá được công khai với việc thực thi chính sách tỷ giá trên thực tế có những khác biệt khá lớn Việc đánh giá, xem xét chế độ tỷ giá của một nền kinh tế do vậy phần nhiều là một vấn đề mang tính thực nghiệm, cần được xem thông qua các bằng chứng thực tế
Trên thực tế cũng có những khác biệt rất lớn giữa một bên là những kỳ vọng về những tác động mà những chính sách tỷ giá có thể mang lại với bên kia là những tác động mà những chính sách tỷ giá có thể mang lại với bên kia là những tác động thực sự đến nền kinh
tế của những biện pháp chính sách đó Thêm vào đó, có sự đánh đổi nhất định giữa các mục tiêu chính sách, thông thường có quá nhiều mục tiêu được đặt ra cho chính sách tỷ giá, trong khi đó các công cụ thực thi chính sách và dư địa thực hiện chính sách lại khá hạn hẹp Việc điều chỉnh tỷ giá sẽ có ảnh hưởng nhất định đến tình hình kinh tế xã hội chính trị, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu Theo dõi tình hình biến động của TGHĐ sát hợp với tín hiệu thị trường, theo hướng điều tiết của Nhà nước, khuyến khích xuất khẩu, nâng cao uy tín của đồng tiền và tiến tới một đồng Việt Nam có khả năng chuyển đổi là một công cụ quan trọng góp phần vào việc điều chỉnh tỷ giá hối đoái phù hợp với tình hình đất nước
Với những lý do này, nhóm chúng em chọn đề tài:”Tình hình biến động tỷ giá hối đoái
giai đoạn 2008-2012”.
Nội dung nghiên cứu bao gồm 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết cơ bản về tỷ giá hối đoái
Chương 2: Tình hình biến động tỷ giá USD/VND giai đoạn 2008-2012 tại Việt Nam” Chương 3: Nhận xét và đề xuất nhằm bình ổn tỷ giá hối đoái trong thời gian tới.
Trong quá trình làm bài, do những hạn chề về khả năng, kinh nghiêm, thời gian và việc tìm kiếm tài liệu nên bài báo cáo không thể tránh được có nhiều thiếu sót Nhóm chúng em rất mong nhận được ý kiến đánh giá góp ý của cô để hoàn thiện hơn bài báo cáo này
Trang 6CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI1.1 Tỷ giá hối đoái
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái:
Tỷ giá hối đoái là giá chuyển đổi từ một đơn vị tiền tệ nước nay sang thành những đơn
vị tiền tệ nước khác
Ví dụ: Trên thị trường ngoại tệ Việt nam, giá của 1 USD là 20.828 VND, đây là TGHĐ giữa USD và VND ( ngày 27/07/2011)
Đồng tiền định giá là VND (term currency)
Đồng tiền yết giá là USD (Commodity currency
1.1.2 Phân loại tỷ giá
1.1.2.1 Theo phương tiện chuyển hối:
• Tỷ giá điện hối (Telegraphic Transfer Rate): là tỷ giá mua bán ngoại tệ cũng như
các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ được chuyển bằng điện Tỷ giá điện hối là tỷ giá cơ sở
để xác định ra các loại tỷ giá khác
• Tỷ giá thư hối (Mail Transfer Rate): là tỷ giá mua bán ngoại tệ và các giấy tờ có
giá bằng ngoại tệ được chuyển bằng thư Tỷ giá thư hối nhỏ hơn tỷ giá điện hối do chi phí chuyển bằng thư rẻ hơn chuyển bằng điện Ngoài ra, việc chuyển ngoại hối bằng thư chậm hơn do đó mà người ta phải tính lãi suất phát sinh trong thời gian đó và được khấu trừ vào tỷ giá
1.1.2.2 Theo phương tiện thanh toán quốc tế:
• Tỷ giá séc: là tỷ giá mua bán các loại séc ghi bằng ngoại tệ
• Tỷ giá hối phiếu là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu ghi bằng ngoại tệ
1.1.2.3 Theo thời điểm mua bán ngoại tệ:
• Tỷ giá mở cửa (open exchange rate): là tỷ giá áp dụng cho việc mua bán bán các
món ngoại tệ đầu tiên trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái Nó có thể là tỷ giá chào hàng vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của phiên giao dịch đầu tiên trong ngày làm việc
• Tỷ giá đóng cửa (closed exchange rate): là tỷ giá áp dụng cho mua bán món
Trang 7ngoại tệ cuối cùng trong ngày làm việc tại các trung tâm hối đoái Nó có thể là tỷ giá chào hàng vào đầu giờ giao dịch hay tỷ giá mua bán ngoại hối của phiên giao dịch đầu tiên trong ngày làm việc.
1.1.2.4 Theo nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối của ngân hàng:
• Tỷ giá mua (bid exchange rate): là tỷ giá mà ngân hàng mua ngoại hối vào.
• Tỷ giá bán (offer exchange rate): là tỷ giá mà ngân hàng bán ngoại hối ra.
Tỷ giá mua bao giờ cũng thấp hơn tỷ giá bán và khoảng cách chênh lệch đó là lợi nhuận kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
1.1.2.5 Theo việc chuyển trả ngoại hối bằng tiền mặt hay chuyển khoản:
• Tỷ giá tiền mặt (Bank note rate): là tỷ giá mua bán ngoại hối mà việc chuyển trả
ngoại hối bằng tiền mặt
• Tỷ giá chuyển khoản (transaction rate): là tỷ giá mua bán ngoại hối trong đó việc
chuyển trả ngoại hối được thực hiện bằng cách chuyển khoản qua ngân hàng Tỷ giá chuyển khoản lớn hơn tỷ giá tiền mặt do khi sử dụng tỷ giá chuyển khoản không cần phải có sự xuất hiện của một lượng tiền mặt thực sự do vậy giảm được chi phí lưu thông tiền mặt
1.1.2.6 Theo phương thức mua bán, giao nhận ngoại tệ :
• Tỷ giá giao nhận ngay (spot exchange rate): là tỷ giá mua bán ngoại tệ mà việc
giao nhận chúng sẽ được thực hiện chậm nhất sau hai ngày làm việc
• Tỷ giá giao nhận có kỳ hạn (forward exchange rate): là tỷ giá mua bán ngoại tệ
mà việc giao nhận chúng sẽ được thực hiện sau một khoảng thời gian nhất định, theo một tỷ giá xác định lúc ký kết hợp đồng
1.1.2.7 Theo chế độ quản lý ngoại hối:
• Tỷ giá hối đoái chính thức (official exchange rate): là tỷ giá hối đoái do nhà
nước công bố
• Tỷ giá tự do (Black market exchange rate): là tỷ giá được hình thành tự phát và
diễn biến theo quan hệ cung cầu về ngoại tệ trên thị trường
1.1.2.8 Theo phương pháp xác định tỷ giá:
• Tỷ giá danh nghĩa (nominal exchange rate): là tỷ giá phổ biến được sử dụng
hằng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối
Trang 8• Tỷ giá thực(real exchange rate): bằng tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi thay
đổi trong tương quan sức mua của đồng tiền trong nước và nước ngoài Tương quan giữa tỷ giá thực (ER) và tỷ giá danh nghĩa (E) được biểu diễn như sau:
ER = E x P*/PTrong đó: P*: mức giá cả ở nước có đồng tiền yết giá
P: mức giá cả ở nước có đồng tiền định giá
1.2 Chính sách tỷ giá.
1.2.1 Khái niệm và hệ thống chính sách tỷ giá
* Khái niệm chính sách tỷ giá hối đoái:
Chính sách tỷ giá là tổng thể các nguyên tắc công cụ biện pháp được dung để tác động lên cung cầu ngoại tệ trên thị trường của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt mục tiêu đã định trong chiến lược phát triển của quốc gia đó
Để quản lý và điều hành tỷ giá NHTW thường sử dụng các chính sách chủ yếu sau:
• Chính sách chiết khấu: khi NHTW nâng cao lãi suất chiết khấu làm lãi suất trên thị trường tăng, làm các nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế chạy vào nước mình để thu lợi tức cao làm dịu sự căng thẳng của cầu vượt cung ngoại hối do đó làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại
• Chính sách hối đoái: khi tỷ giá lên cao NHTW bán ngoại hối ra thị trường kéo tỷ giá tụt xuống và ngược lại Tuy nhiên NHTW phải có dự trữ ngoại hối đủ lớn, nếu cán cân thanh toán thiếu hụt thường xuyên thì khó có đủ ngoại hối thực hiện phương pháp này
• Phá giá tiền tệ: là sự nâng cao một cách chính thức TGHĐ hay là việc nhà nước
hạ thấp sức mua đồng tiền nước mình so với ngoại tệ làm đẩy mạnh xuất khẩu hạn chế nhập khẩu cải thiện cán cân thương mại làm tỷ giá bớt căng thẳng
• Nâng giá tiền tệ: là việc Nhà nước chính thức nâng giá đơn vị tiền tệ nước mình
so với ngoại tệ làm cho tỷ giá giảm xuống
1.2.2 Các công cụ của Chính sách tỷ giá
1.2.2.1 Nhóm công cụ trực tiếp
NHTW thông qua việc mua bán đồng nội tệ nhằm duy trì một tỷ giá cố định hay ảnh hưởng làm cho tỷ giá thay đổi đạt tới một mức nhất định theo mục tiêu đã đề ra Hoạt động can thiệp trực tiếp của ngân hàng trung ương tạo ra hiệu ứng thay đổi cung tiền có thể tạo ra
áp lực lạm phát hay thiểu phát không mong muốn cho nền kinh tế vì vậy đi kèm hoạt động
Trang 9can thiệp này của NHTW thì phải sử dụng thêm nghiệp vụ thị trường mở để hấp thụ lượng
dư cung hay bổ sung phần thiếu hụt tiền tệ ở lưu thông
• Mua bán ngoại hối trên thị trường:
- Đây là nghiệp vụ dễ dàng thực hiện và có tác động trực tiếp đến TGHĐ Nghiệp
vụ này tác động đến cung tiền trong nước, NHNN đóng vai trò là người mua bán tiền tệ trực tiếp cuối cùng trên thị trường liên ngân hàng (LNH) tại một mức tỷ giá nào đó Để công cụ này có hiệu quả thì quốc gia phải có lượng dự trữ ngoại tệ lớn
- Trong lưu thông khi mà ngoại tệ bị thừa dẫn đến ảnh hưởng đến đồng VND bị định giá cao làm ảnh hưởng đến xuất khẩu thì NHNN tiến hành mua mua ngoại tệ vào
và đẩy VND ra nhằm làm tỷ giá ổn định Đây là công cụ có tác động mạnh lên tỷ giá hối đoái
• Biện pháp kết hối:
Là việc chính phủ quy định với các thể nhân và pháp nhân có nguồn thu ngoại tệ phải bán một tỷ lệ nhất định trong một thời hạn nhất định cho các tổ chức được phép kinh doanh ngoại hối
Biện pháp này được áp dụng trong thời kỳ khan hiếm ngoại tệ giao dịch trên thị trường ngoại hối
Mục đích chính của biện pháp này là tăng cung ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho thị trường, hạn chế hành vi đầu cơ và giảm áp lực phá giá đồng nội tệ
• Ngoài ra Chính phủ còn sử dụng các Quy định hạn chế đối tượng được mua
ngoại tệ, quy định hạn chế mục đích sử dụng ngoại tệ, quy định hạn chế số lượng người mua ngoại tệ, quy định hạn chế thời điểm mua ngoại tệ Tất cả các biện pháp này để giảm áp lực thiếu hụt ngoại tệ, tránh đầu cơ và giữ cho tỷ giá cố định
Tuy nhiên các biện pháp này có tính chất hành chính không phù hợp với xu thế tự do hóa
và thương mại hóa nền kinh tế
1.2.2.2 Các công cụ gián tiếp
• Lãi suất tái chiết khấu là công cụ hiệu quả nhất
Khái niệm: Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHNN đánh vào các khoản tiền cho các NHTM vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất thường của các ngân hàng này Lãi suất tái chiết khâu là một công cụ của chính sách tiền tệ để điều chỉnh lượng cung tiền và nó có tác động đến TGHĐ
Cơ chế tác động đến tỷ giá hối đoái của nó như sau: Khi lãi suất chiết khấu thay đổi kéo theo sự thay đổi cùng chiều của lãi suất trên thị trường Từ đó tác động đến xu hướng dịch chuyển của dòng vốn quốc tế làm thay đổi tài khoản vốn hoặc ít nhất làm cho người sở hữu vốn trong nước chuyển đổi đồng vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm
Trang 10thay đổi vốn của mình sang đồng tiền có lãi suất cao hơn để thu lợi và làm thay đổi tỷ giá hối đoái Cụ thể lãi suất tăng dẫn đến xu hướng là một dòng vốn vay ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ đổ vào trong nước và người sở hữu vốn ngoại tệ trong nước sẽ có xu hướng chuyển đồng ngoại tệ của mình sang nội tệ để thu lãi suất cao hơn do đó tỷ giá sẽ giảm (nội tệ tăng) và ngược lại muốn tăng tỷ giá sẽ giảm lãi suất tái chiết khấu.
• Các loại thuế quan:
Thuế quan là một trong những công cụ phổ biến nhất mà chính phủ dùng để hạn chếhay kích thích xuất nhập khẩu, loại thuế này buộc nhà nhập khẩu phải nộp một tỷ lệ nhất định theo giá trị hàng hóa nhập khẩu trên cơ sở giá quốc tế
Thuế quan cao có tác dụng hạn chế nhập khẩu, cầu ngoại tệ giảm nội tệ lên giá, làm giảm sức ép lên tỷ giá, kéo tỷ giá đi xuống dần dẫn đến thế cân bằng trên thị trường hối đoái Do đó muốn giảm tỷ giá hối đoái thì Chính Phủ có thể quy định mức thuế quan cao những mặt hàng xuất khẩu chiến lược Và ngược lại sẽ làm tăng tỷ giá hối đoái
• Hạn ngạch:
Hạn nghạch (hạn chế số lượng) là quy định một nước về số lượng cao nhất của một mặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất hoặc nhập từ một thị trường trong một thời gian nhất định thông qua hình thức giấy phép
Hạn nghạch có tác dụng hạn chế nhập khẩu do đó có tác dụng lên tỷ giá tương tự như thuế quan.Dỡ bỏ hạn nghạch có tác dụng làm tăng nhập khẩu, do đó có tác dụng lên tỷ giá giống như thuế quan thấp
Ngoài ra Chính Phủ có thể sử dụng một số biện pháp khác như điều chỉnh tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng ngoại tệ vớiNHTW, quy định mức lãi suất trần kém hấp dẫn đối với tiền gửi bằng ngoại tệ Mục đích là phòng ngừa rủi ro tỷ giá, hạn chế đầu cơ ngoại tệ, làm giảm áp lực lên tỷ giá khi cung cầu mất cân đối
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến TGHD
1.3.1 Sức mua của mỗi đồng tiền trong một cặp tiền tệ.
Do tỷ giá được xác định dựa trên quan hệ cung cầu về ngoại hối và nguyên tắc một giá nên khi sức mua của đồng nội tệ tăng lên sẽ làm tỷ giá giảm xuống và ngược lại
1.3.2 Cán cân thanh toán quốc tế.
Đây là yếu tố cực kì quan trọng trong những yếu tố kinh tế tác động đến tỷ giá Đánh giá chung có tính chất truyền thống đối với sự biến động của TGHĐ, các nhà kinh tế đều cho rằng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và dịch vụ quốc gia là những nhân tố cơ bản đứng sau lưng tăng giá TGHĐ
Trang 11Tình trạng của cán cân thanh toán tác động đến cung cầu về ngoại hối do vậy, tác động trực tiếp đến TGHĐ.
1.3.3 Yếu tố tâm lý.
Dựa vào sự phán đoán từ các sự kiện kinh tế, chính trị của một nước và tình hình thế giới, cả chính trị và kin tế có liên quan các nhà kinh doanh ngoại hối bao gồm các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp và kể cả người đầu cơ tùy theo sự phán đoán đó mà hành động
Yếu tố tâm lý ảnh hưởng một cách hết sức nhạy cảm đối với thị trường tài chính, trong
đó có thị trường hối đoái Tuy nhiên những biến động này bao giờ cũng mang tính chất ngắn hạn, xác lập một vị thế ngắn hạn
1.3.4 Vai trò quản lý của Ngân hàng trung ương.
Chế độ tỷ giá mà phần đông các nước vận hành là thả nổi có quản lý do đó vai trò can thiệp của nhà nước giữ vị trí quan trọng NHTW tự biến mình thành một bộ phận của thị trường, quyện chặt với thị trường, lúc với tư cách người mua lúc khác là tư cách người bán, nhằm tác động về phía cung hay cầu của quỹ ngoại hối thị trường nhằm cho ra một tỷ giá phù hợp như ý đồ của chính sách tiền tệ Tuy nhiên điều kiện vật chất để có thể can thiệp là thực lực về tiềm năng quốc gia biểu hiện bằng quỹ ngoại tệ bình ổn giá, bao gồm ngoại tệ dự trữ quốc gia
1.3.5 Năng suất lao động.
Nếu năng suất lao động trong nước có sự gia tăng, khi đó nền kinh tế của một nước phát triển mạnh, nhu cầu đồng tiền của nước này sẽ gia tăng và giá trị đồng tiền nước này cũng sẽ mạnh hơn,nghĩa là sẽ làm cho mức giá tương đối có xu hướng sụt giảm làm đồng ngoại tệ có
xu hướng giảm hay đồng nội tệ lên giá làm tỷ giá giảm xuống Ngược lại, một nền kinh tế yếu kém sẽ làm suy yếu đồng tiền của một nước
Trang 12CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI USD/VND TẠI VIỆT NAM THỜI KÌ 2008-2012
2.1 Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2008
Nền kinh tế thế giới trong năm 2008 đã chứng kiến sự suy thoái sâu rộng trên quy mô
toàn cầu Nếu như những tháng đầu năm 2008, các nền kinh tế trên thế giới gồng mình chống chọi với sự tăng giá chóng mặt của các loại hàng hóa và tài sản thì đến nửa cuối năm
2008, vấn đề quan tâm hàng đầu lại là sự đổ vỡ dây chuyền của các định chế tài chính, sự đóng băng của thị trường tín dụng và suy thoái kinh tế Trước những biến động, rủi ro và thua lỗ do hệ thống tài chính ngân hàng gây ra, các nhà đầu tư trên thế giới đã bán chứng khoán và nắm giữ các tài sản ít rủi ro hơn mà chủ yếu là trái phiếu chính phủ Mỹ Chỉ số chứng khoán MSCI của các thị trường mới nổi giảm trên 60% so với mức đỉnh tháng 10/2007, trong đó Ukraine giảm 80%, Romani và Bulgari giảm 75%, Nga giảm 73% Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam đều giảm trên 60% Thị trường chứng khoán toàn cầu suy giảm hơn 17.000 tỷ USD vốn hóa
Năm 2008 do đó cũng là năm chứng kiến sự can thiệp chưa từng có tiền lệ của hầu hết Chính phủ và ngân hàng trung ương các nước vào hệ thống tài chính ngân hàng và nền kinh tế “Bơm tiền”, “quốc hữu hóa”, “gói cứu trợ” là những cụm từ chúng ta bắt gặp nhiều nhất trong năm 2008 đặc biệt là mấy tháng cuối năm Tính tới thời điểm hiện tại, còn quá sớm để đánh giá hiệu quả của các biện pháp can thiệp này, tuy nhiên đây là những hành động quyết liệt cần thiết, niềm tin trong hệ thống tín dụng đã được củng cố phần nào, lãi suất liên ngân hàng của hầu hết các nền kinh tế mặc dù còn biến động nhiều nhưng đã giảm mạnh
Đồ thị tỷ giá hối đoái
Diễn biến tỷ giá USD/VND năm 2008 - Nguồn: BIDV
Năm 2008 được coi là năm bất ổn định của tỷ giá với những biến động tỷ giá rất phức
Trang 13tạp với những ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô, cung cầu ngoại tệ và thậm chí là do những tin đồn Chỉ trong năm 2008 đã có 5 lần điều chỉnh tỷ giá, mật độ chưa từng có trong lịch sử
Với Bốn giai đoạn trong diễn biến tỷ giá 2008, Nếu như trong những năm trước, tỷ giá
luôn được định hướng tăng nhẹ (1%/năm) thì trong năm 2008, tỷ giá công bố LNH, vốn có
xu hướng được duy trì tương đối ổn định, đã tăng ~ 5% và tỷ giá giao dịch LNH tăng ~10% Trên cơ sở các quyết định điều chỉnh biên độ tỷ giá chính thức của NHNN, chúng tôi chia diễn biến tỷ giá trong năm thành 4 giai đoạn chính:
Trong giai đoạn Từ 01/01/2008 đến 25/03/2008 (tỷ giá liên tục giảm dưới mức sàn),
tỷ giá USD/VND trên thị liên ngân hàng giảm mạnh từ 16.112 đồng xuống còn 15.960 đồng Tỷ giá trên thị trường tự do có lúc rớt xuống thấp hơn tỷ giá liên ngân hàng, dao động từ mức 15.500-16.000 đồng/USD Sự sụt giảm này bắt nguồn từ các biện pháp của Chính phủ trong việc kiềm chế lạm phát.
Bên cạnh các nguyên nhân như lượng kiều hối (5,5 tỷ USD) chuyển về tăng mạnh trong dịp Tết dương lịch, lượng vốn FDI và vốn FII vào Việt Nam tiếp tục đà tăng mạnh từ năm
2007, các nhà đầu tư dự kiến VND sẽ tăng giá so với USD, cộng thêm chênh lệch lãi suất lớn giữa USD và VND nên cácn nhà đầu tư đẩy mạnh việc bán USD chuyển qua mua VND rồi đi gửi tiết kiệm sẽ thu được lợi nhuận cao hơn là gửi tiết kiệm trong nước, VND lên giá chủ yếu do USD đã mất giá quá mạnh trên thị trường thế giới trong giai đoạn đầu năm 2008 Trong thời gian này, để giữ cho hệ thống ngân hàng không rơi vào tình trạng mất thanh khoản, nhưng vẫn theo chủ trương tăng giá VND, kiềm chế lạm phát,Chính phủ đã sử dụng biện pháp thắt chặt tiền tệ, tăng lãi suất cơ bản từ 8,25%/năm (12/2007) lên 8,75%(2/2008) NHNN quyết định mở rộng biên độ mua,bán ngoại tệ của NHTM so với tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường liên ngân hàng từ +/- 0,75% lên mức 1% vào ngày 10/3/2008 Khác với các lần điều chỉnh tỷ giá khác, tỷ giá USD/VND đã về mức sàn ngay sau khi có quyết định tăng biên độ của NHNN
Trong giai đoạn Từ 26/03/2008 đến ngày 16/07/2008 (tăng với tốc độ chóng mặt tạo cơn sốt USD trên thị trường liên ngân hàng lẫn thị trường tự do)
, tỷ giá diễn biến trái chiều với giai đoạn một với sự mất giá của VND so với USD, tỷ giá LNH công bố từ 15.960 đ- 15.946 đồng Tỷ giá USD/VND vẫn tiếp tục tăng khiến lãi suất USD bước vào cuộc đua mới Ở các NHTM, giá USD tăng kịch trần, hết biên độ cho phép,trên thị trường tự do, giá bán dao động xung quanh 17.100-17.500 VND/USD.Tính toán của tổng cục Thống kê cho thấy, trong tháng 5, giá USD tính theo VND đã tăng mạnh với 1,02% so với tháng trước đó, đặc biệt trong tháng 6/2008 khi tỷ giá trên thị trường LNH
có lúc lên tới 19.400 đồng và cao hơn 2.600 đồng so với tỷ giá trần quy định Còn trên thị
Trang 14trường tự do cao hơn khoảng 100-150 đồng.
Nguyên nhân chính của sự mất giá của VND là do những số liệu cho thấy nền kinh tế có dấu hiệu lạm phát tăng cao và thâm hụt cán cân thương mại (~ 15 tỷ USD tính đến hết tháng 6/2008) Do tâm lý bất ổn của doanh nghiệp và người dân khi thấy USD tăng giá dẫn đến trạng thái những người đầu cơ găm hàng và lo sợ VND mất giá Nhu cầu USD để nhập khẩu vàng do chênh lệch lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng quốc tế và nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài do những lo ngại về nền kinh tế trong nước và các tin đồn cũng là những nguyên nhân chính dẫn tới sự trượt giá của VND so với USD Vào ngày 27/6/2008, Ngân hàng nhà nước đã quyết định tăng biên độ tỷ giá lên +/-2%( 17/6)
Trong tháng 7/2008 chênh lệch giữa thi trường ngoai tệ liên ngân hàng và thị trường tự
do không quá cách biệt,giá USD trên thị trường tự do đã lùi xuống dưới 17.000 đồng…Nguyên nhân là bắt nguồn từ việc NHNN đã công bố dự trữ ngoại tệ là 20,7 tỷ USD, cộng cả ngoại tệ do bộ Tài chính quản lý và khoản dự trữ điều hòa thị trường hối đoái của NHNN thì cao hơn con số đã công bố, thanh khoản của Việt Nam tương đối ổn định giúp cải thiện tâm
lý lo lắng nơi người dân, qua đó giảm bớt tình trạng găm giữ, đầu cơ ngoại tệ dẫn đến tỷ giá
ổn định trong thời gian này
Trong tháng 8/2008, tỷ giá bình quân liên ngân hàng có diễn biến nhích từng tuần Cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng từ 16.489 VND/USD lên 16.493 VND/USD và dừng ở mức 16.496 VND/USD trong hai tuần cuối tháng 8
Từ tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới đã gây sức ép khiến VND mất giá ngày càng cao, do các nguyên nhân:
• Xuất khẩu yếu đi do sự xấu đi nhanh chóng của các thị trường xuất khẩu chủ yếu như Mỹ, Nhật, khối EU
• Sự tăng giá của đồng USD so với các đồng tiền khác (5%-10%) do nhiều nhà đầu tư vẫn coi USD là nơi trú ẩn an toàn trong giai đoạn khủng hoảng toàn cầu Tại nhiều thị trường mới nổi đã diễn ra tình trạng rút vốn lớn của các nhà đầu tư nước ngoài khiến cho đồng nội tệ mất giá so với USD, hàng hóa của các nước này cũng trở nên có sức cạnh tranh cao hơn so với hàng xuất khẩu của Việt Nam
• Thâm hụt thương mại có dấu hiệu gia tăng trở lại khi xuất khẩu giảm sút nhưng nhập siêu vẫn ở mức cao Nhu cầu rút vốn của nhà đầu tư nước ngoài là rõ ràng ngay tại TTCK Việt Nam
• Tính từ khi cuộc khủng hoảng tài chính thế giới lan rộng (giữa tháng 9/2008) đến cuối năm, nhà ĐTNN liên tục bán ròng trên thị trường trái phiếu (~ ~26.000 tỷ VND)
và thị trường cổ phiếu (~1800 tỷ VND), một phần số vốn thu được đã được chuyển đổi sang USD dẫn tới cầu USD cao tại các ngân hàng nước ngoài Vào cuối giai đoạn này, biên độ tỷ giá được điều chỉnh vào ngày 7/11/2008 từ +/-2% lên mức +/- 3%
Trang 15Và trong giai đoạn từ 16/10/2008 đến 31/12/2008 (tỷ giá USD tăng trở lại) Sau khi NHNN tăng biên độ tỷ giá, mặc dù tỷ giá USD/VND LNH công bố vẫn duy trì ở mức
~16.500 đồng, tỷ giá tại các ngân hàng thường xuyên được duy trì ở mức trần ~17.000 đồng Tỷ giá giao dịch trên thị trường không chính thức ở mức 17.200 đồng -17.450 đồng (NHNN tăng biên độ tỷ giá từ 2% lên 3% trong ngày 7/11/2008) Tỷ giá giao dịch tạm ổn định ở mức trần, được trợ giúp bởi thâm hụt thương mại được cải thiện, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD giảm, và việc USD có xu hướng đứng giá và giảm nhẹ so với các ngoại tệ khác sau quyết định cắt giảm lãi suất cơ bản của vào ngày 17/12/2008
từ 1% xuống 0-0,25%.
Trong khoảng thời gian từ tháng 10-tháng 11, nhà đầu tư nước ngoài đẩy manhk việc bán ra chứng khoán trong đó bán trái phiếu (700 triệu USD), cổ phiếu (100 triệu USD) Nhu cầu mua ngoại tệ của khối nhà đầu tư nước ngoài tăng cao khi muốn đảm bảo thanh khoản của tổ chức Nhu cầu mua USD của các ngân hàng nước ngoài cũng tăng mạnh (khoảng 40 triệu USD/ngày)
Vào ngày 24/12/2008, Bộ Kế hoạch - Đầu tư công bố GDP cho năm 2008 ở mức 6,23%, thấp hơn rất nhiều so với mức dự tính trước đó là ~ 6,5% Thông tin thống kê xuất khẩu tháng 11 giảm 4,8% so với tháng 10 (trong khi cùng kỳ năm trước xuất khẩu tăng 6%) Trước những thông tin lo ngại trên về tình hình kinh tế và xuất khẩu, cùng ngày 24/12, NHNN đã công bố việc điều chỉnh tỷ giá USD/VND LNH tăng 3% (hay VND trượt giá 3%)
từ mức 16.494 đồng (24/12/08) lên 16.989 đồng (25/12/2008) Tỷ giá USD/VND của Vietcombank cũng biến động ngay sau công bố của NHNN lên mức 17.180-17.350 đồng Trên thực tế, các ngân hàng dường như đã dự tính trước về khả năng này khi ngay
từ đầu tháng 12/2008, nhiều ngân hàng đã tích cực thu mua ngoại tệ nhưng không cho vay, duy trì trạng thái dương về ngoại tệ (ĐTCK- 26/12/2008) Cho đến những ngày đầu năm
2009, tỷ giá giao dịch USD của các ngân hàng vẫn đứng ở mức cao sát trần: 17.370-17.480 đồng (05/01/2009)
Kết luận:
Năm 2008 đánh giá một năm VND giảm giá rất mạnh (~10%) so với mức điều chỉnh nhẹ nhàng ~ 1%/năm trong khoảng 6-7 năm gần đây Điều này cho thấy chính phủ cũng đã nhận thấy sức tàn phá của cuộc khủng hoảng lần này, đặc biệt là tới xuất nhập khẩu trong khi Việt Nam là một nước có độ mở thuộc diện cao nhất thế giới Việc NHNN điều chỉnh tỷ giá khá mạnh tay ~ 3% vào những ngày cuối cùng năm 2008 là một tín hiệu đáng mừng, góp phần phá băng thị trường ngoại hối và giảm bớt sức ép giảm giá VND ít nhất là trong vài tháng tới Động thái này cũng đã cho thấy NHNN không còn giữ chủ trương duy trì tỷ giá công bố LNH ổn định (xoay quanh mức 16.500 trong các năm trước) mà sẽ chủ động điều chỉnh tỷ giá này tùy theo diễn biến thị trường
Trang 162.2 Tình hình biến động tỷ giá trong năm 2009
Trong năm 2009, tỷ giá USD/VND đã trải qua hai lần điều chỉnh, một lần vào tháng 3 (+2%) do tăng biên dộ giao dịch từ 3% lên 5% và lần thứ hai vào tháng 11 (+5,4%) Nguyên
nhân mất giá của VND trong năm 2009 là do việc thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng của Chính phủ đã làm cho VND mất giá, do cung tiền đồng tăng Thứ hai, là do VND bị dịnh giá cao trong một thời gian khá dài Ngoài ra, tình trạng nhập siêu cao khiến cho NHNN luôn phải điều chỉnh tỷ giá theo hướng khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.Năm 2009 được coi
là năm tiền tệ tại Việt Nam Tỷ giá USD/VND tăng mạnh, nhập siêu cao, lạm phát đứng trước
áp lực tăng trở lại năm 2010, khan hiếm cục bộ USD, giá vàng sốt nóng, lãi suất ngân hàng lên kịch trần, VND chịu sức ép giảm giá so với USD…Trên thị trường, các ngân hàng thương mại
có xu hướng niêm yết tỷ giá mua bằng tỷ giá bán và sát mức trần được phép Các doanh nghiệp nhập khẩu và người dân có nhu cầu sử dụng ngoại tệ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với nguồn ngoại tệ từ ngân hàng thương mại khiến cho tỷ giá trên thị trường tự do tăng mạnh, thường cao hơn mức giá trần từ 500-700 USD
Trong những tháng đầu năm 2009, tỷ giá USD/VNĐ lại tiếp tục tăng đà tăng trong 4 tháng đầu năm, đặc biệt sau khi NHNN thực hiện nới rộng biên độ tỷ giá lên +/-5% khiến cho tỷ giá ngoại tệ liên NH đã có đợt tăng đột biến và giao dịch trên TTTD tiến sát mức 18000đồng/USD Trong bối cảnh nguồn ngoại tệ ròng vào VN là + trong 4 tháng đầu năm thì dường như yếu tố chính khiến cho tỷ giá USD/VNĐ tăng mạnh lại là do sự găm giữ ngoại tệ
Diễn biến tỷ giá VNĐ/USD năm 2008-2009
Diễn biến tỷ giá Nguyên nhân