ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam ÁCNTB : Chủ nghĩa tư bản CNXH : Chủ nghĩa xã hội GDP : Tổng sản phẩm quốc nội GMP : Thực hành sản xuất thuốc tốt GLP : Good Laboratary Practise GSP : G
Trang 1Luận văn thạc sỹ khoa học chuyên ngành kinh tế chính trị với đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế” được tác giả viết dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đặng Văn
Thắng Luận văn được viết trên cơ sở vận dụng lý luận chung về cạnh tranh và nănglực cạnh tranh của doanh nghiệp và thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổphần dược và vật tư thú y trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời xác địnhphương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệptrong thời gian tới
Trong quá trình viết luận văn, tác giả có tham khảo, kế thừa một số lý luậnchung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh và sử dụng những thông tin, số liệu từmột số cuốn sách chuyên khảo chuyên ngành, tạp chí, báo điện tử,…theo danh mụctài liệu tham khảo
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập và không có sự saochép nguyên văn từ bất cứ luận văn hay đề tài nghiên cứu ngoài hay nhờ người kháclàm hộ Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về cam đoan của mình
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Mai Thị Thanh Hòa
Trang 2DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
TÓM TẮT LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỀN VỀ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP THUỐC THÚ Y TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 5 1.1 Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 5
1.1.1 Cạnh tranh và phân loại cạnh tranh 51.1.2 Năng lực cạnh tranh và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh 8
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải nâng cao năng lực
cạnh tranh của các doanh nghiệp thuốc thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 15
1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
kinh doanh thuốc thú y 151.2.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và
vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 21
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số quốc gia và
doanh nghiệp trong nước 26
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số doanh nghiệp trong nước 261.3.2 Những bài học kinh nghiệm rút ra cho Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 29
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG
TY CỔ PHẦN DƯỢC VÀ VẬT TƯ THÚ Y 31 2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty cổ phần dược
và vật tư thú y 31
2.1.1 Khái quát về sự phát triển của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 312.1.2 Tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty 40
Trang 32.2.1 Thị phần của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 49
2.2.2 Kết quả kinh doanh của Công ty 50
2.2.3 Chi phí và giá bán 51
2.2.4 Nguồn nhân lực 53
2.2.5 Công nghệ sản xuất của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 55
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh: Những điểm mạnh, điểm yếu của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 56
2.3.1 Những điểm mạnh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 56
2.3.2 Những điểm yếu 57
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC VÀ VẬT TƯ THÚ Y 59
3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 59
3.1.1 Cơ hội và thách thức đối với Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 59
3.1.2 Phương hướng hoạt động của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 62
3.1.3 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 65
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y 68
3.2.1 Giải pháp đối với Nhà nước 68
3.2.2 Giải pháp đối với công ty 71
3.3 Kiến nghị đối với các cơ quan chức năng 86
3.3.1 Kiến nghị đối với chính phủ 86
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Cục thú y 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 4ASEAN : Hiệp hội các nước Đông Nam Á
CNTB : Chủ nghĩa tư bản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GMP : Thực hành sản xuất thuốc tốt
GLP : Good Laboratary Practise
GSP : Good Store Practise
KH & CN : Khoa học và công nghệ
NN & PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NLCT : Năng lực cạnh tranh
R & D : Nghiên cứu và phát triển
SXKD : Sản xuất kinh doanh
QC : Kiểm tra, kiểm soát chất lượng sản phẩm
QA : Giám sát, quản lý và bảo hành chất lượngOECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
WHO : Tổ chức y tế thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 5Bảng 2.1: Doanh nghiệp thuốc thú y năm 2010 41
Bảng 2.2 Thị phần thuốc thú y được phân phối và tiêu thụ trên các vùng miền .42
Bảng 2.3: Số lượng sản phẩm của Công ty qua các năm 46
Bảng 2.4: Sản lượng các sản phẩm chủ yếu của Công ty giai đoạn 2008-2010 46
Bảng 2.5: Doanh số thuốc thú y của các công ty dẫn đầu ngành thú y 49
Bảng 2.6: Kết quả kinh doanh của Công ty giai đoạn 2008 - 2010 50
Bảng 2.7: So sánh giá bán của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y với các đối thủ cạnh tranh (thời điểm so sánh là tháng 6/2010) 52
Bảng 2.8: Đội ngũ lao động của Công ty giai đoạn 2009 - 2010 53
Bảng 2.9: Tình hình máy móc thiết bị chính của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y (Năm 2010) 56
Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu kế hoạch của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y (2011- 2013) 65
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỀN
VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP THUỐC THÚ Y TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP
Thứ nhất, khái niệm về cạnh tranh, phân loại cạnh tranh và năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y nói riêng
Thứ hai, phân tích và chứng minh bằng lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh
tranh doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y nói riêng Đồngthời đưa ra các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Thứ ba, luận văn đề cập đến tính tất yếu về nâng cao năng lực cạnh tranh
doanh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta Trên cơ
sở đó, luận văn đã làm rõ việc các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp sảnxuất thuốc thú y nói riêng muốn tồn tại và phát triển thì con đường duy nhất làkhông ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu hội nhập
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thuốc thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong phần này luận văn đã đưa ra lập luận về những nhân tố ảnh hưởng đếnnăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh thuốc thú y, các yếu tố cấuthành năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y nói chung vàCông ty cổ phần dược và vật tư thú y nói riêng thông qua việc phân tích:
- Các nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến doanh nghiệp để chứngminh năng lực cạnh tranh
- Chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 7- Năng lực tài chính của doanh nghiệp.
- Năng lực công nghệ và trình độ khoa học công nghệ của doanh nghiệp
- Nguồn nhân lực của doanh nghiệp và công tác tổ chức quản lý hoạt động của
doanh nghiệp
- Năng lực tiếp cận thị trường của doanh nghiệp
Phân tích rõ tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp sản xuất thuốc thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Để phân tíchnhững nhân tố, tác động của từng khâu đối với năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp bao gồm các nhân tố:
- Các chính sách của nhà nước
- Quá trình thực hiện hội nhập quốc tế
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàn quốc, đài loan
và một số doanh nghiệp trong nước
Luận văn đã nghiên cứu kinh nghiệm về nâng cao năng lực cạnh tranh của một
số nước và nhận thấy kinh nghiệm của Hàn Quốc và Đài Loan có những yếu tốtương đồng và có thể rút ra kinh nghiệm cho doanh nghiệp thuốc thú y, rút ra bàihọc đối với nhà nước, đối với các doanh nghiệp
Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanhnghiệp ngành dệt may Việt Nam là những doanh nghiệp có nét tương đồng vớingành sản xuất thuốc thú y là phần lớn nguyên liệu để sản xuất đều nhập khẩu từnước ngoài, rút ra bài học kinh nghiệm cho Công ty cổ phần dược và vật tư thú ytrong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 8CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN DƯỢC VÀ VẬT TƯ THÚ Y
Trong phần này, luận văn đã dùng số liệu cụ thể để phân tích và chứng minhthực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Từ số liệu đó phân tích thực trạng
để tổng hợp những thành tựu, kết quả, những hạn chế và nguyên nhân của nhữnghạn chế trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật
tư thú y
2.1 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Cổ phần Dược
và vật tư thú y
Luận văn trình bày về quy mô, quá trình hình thành và phát triển của Công ty
cổ phần dược và vật tư thú y qua các giai đoạn, kèm theo chứng minh về tình hìnhphát triển của Công ty từ năm 2008 – 2010
Công ty cổ phần dược và vật tư thú y Hanvet là một doanh nghiệp lớn có lịch
sử hơn 23 năm hoạt động sản xuất kinh doanh, giờ đây Công ty đã có một thươnghiệu uy tín và vị thế khá vững chắc trên thị trường và trong ngành sản xuất kinhdoanh thuốc thú y Công ty đã xây dựng được một mạng lưới phân phối sản phẩm
và bán hàng xuyên suốt cả nước với lượng khách hàng to lớn Với uy tín lâu dài,khả năng tài chính vững mạnh, sản phẩm đa dạng, chất lượng cao đã được côngnhận đó là nền tảng để Công ty ngày càng mở rộng phát triển thị trường và giữ chânđược những khách hàng trung thành
Hiện tại Công ty đã phân phối sản phẩm trên 27 tỉnh thành trên cả nướcthông qua các cửa hàng của Công ty, với mức tăng trưởng bình quân 15 - 20%/năm, Hanvet đã chiếm lĩnh khoảng 25% thị phần miền Bắc, 10% thị phần miềnTrung, và 3 - 4% thị trường Nam Bộ Các đại lý của công ty được trải dài trên khắpcác tỉnh, thành trên cả nước với gần 1.000 đại lý các cấp
Trang 92.2 Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần Dược và vật tư thú y
Trong phần này thông qua các chỉ tiêu về thị phần, doanh thu, lợi nhuận, chiphí, công nghệ…tác giả đã phán ánh rõ thực trạng về năng lực cạnh tranh của Công
ty cổ phần dược và vật tư thú y
Thứ nhất: Thông qua các chỉ tiêu về doanh thu phản ánh rõ về thị phần của
Công ty cổ phần dược và vật tư thú y
Thứ hai: Các chỉ tiêu về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty
nêu rõ hiệu quả trong sản xuất kinh doanh của Công ty qua các năm 2008 - 2010
Thứ ba: Về chi phí và giá bán phản ánh mức độ cạnh tranh về giá trên thị
trường thuốc thú y
Thứ tư: Các chỉ tiêu về nguồn nhân lực phản ánh trình độ năng lực và tay nghề
của người lao động
Thứ năm: Phản ánh thực trạng về trình độ công nghệ và thiết bị sản xuất của
Công ty cổ phần dược và vật tư thú y
2.3 Đánh giá năng lực cạnh tranh: những điểm mạnh, điểm yếu của công
ty Cổ phần Dược và vật tư thú y
2.3.1 Những điểm mạnh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y
Công ty Hanvet tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, là doanh nghiệp đầu tiên
của ngành tại miền Bắc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp sang công ty cổ phần,kinh doanh luôn đạt lợi nhuận cao, tạo được tên tuổi cho thương hiệu và uy tín trênthị trường Ban lãnh đạo Công ty có trình độ chuyên môn chuyên sâu, tầm nhìn xa,chiến lược lãnh đạo Công ty luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao ngay cả khi thị trườnggặp khó khăn, khả năng tài chính của công ty vẫn ổn định và an toàn
Về cơ sở vật chất, nhà xưởng: Công ty có nhà máy sản xuất theo tiêu chuẩnGMP hiện đại nhất tại miền Bắc hiện nay(theo đánh giá của Cục thú y)
2.3.2 Những điểm yếu:
Từ nghiên cứu tình hình thực tế tại Công ty, tác giả đã nêu ra những điểm yếu vềhoạt động Marketing, chiến lược sản xuất, kinh doanh, chính sách quản lý chung …
Trang 10CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
DƯỢC VÀ VẬT TƯ THÚ Y
3.1 Phương hướng và mục tiêu phát triển của công ty Cổ phần dược và vật tư thú y
3.1.1.Cơ hội và thách thức đối với Công ty cổ phần dược và vật tư thú y
Cơ hội ( Opportunities):
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế của cả nước trong quá trình hội nhậpWTO, Công ty cổ phần dược và vật tư thú y có nhiều thuận lợi hơn trong việc thựchiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình Đó là: Việt Nam đẩy nhanh quá trìnhhội nhập, tham gia toàn cầu hóa chính là tranh thủ các điều kiện quốc tế để tranh thủtiềm năng sẵn có của mình
Thách thức ( Threads)
Phần lớn nguyên liệu quan trọng trong sản xuất thuốc chiếm tỷ trọng lớntrong giá thành sản phẩm nhưng Công ty bắt buộc phải nhập từ nước ngoài.Vìvậy giá cả biến động phụ thuộc rất lớn vào tình hình cung cầu trên thị trườngthế giới Điều đó dẫn tới tăng cao giá thành sản phẩm, hạn chế sức cạnh tranhcủa sản phẩm trên thị trường
3.1.2 Phương hướng hoạt động của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y
Qua phân tích cho thấy, bất kì một doanh nghiệp nào hoạt động trong thịtrường cạnh tranh gay gắt, muốn tồn tại và phát triển trên thị trường cần phải đưa rachiến lược kinh doanh một cách đúng đắn và mang tính khả thi Đối với Công ty cổphần dược và vật tư thú y với lĩnh vực kinh doanh đặc thù của mình chịu sự tácđộng mạnh mẽ của môi trường kinh doanh, để đưa ra được chiến lược kinh doanhphù hợp doanh nghiệp phải xác định rõ nhiệm vụ và mục tiêu chiến lược; phân tíchcác yếu tố môi trường kinh doanh bên trong, bên ngoài để nhận diện thời cơ vànguy cơ, phân tích thế mạnh và điểm yếu của mình để điều chỉnh hoạt động kinh
Trang 11doanh cho phù hợp với môi trường bên ngoài doanh nghiệp: Phát triển đa dạngngành nghề, phát triển sản phẩm, khách hàng, thị trường, công nghệ
3.1.3 Phương hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
+ Giữ vững thị phần ở các thị trường hiện có đặc biệt là đối với những thị trường truyền thống của Công ty
+ Tập trung vào khai thác các lợi thế của công ty, đa dạng hoá sản phẩm, tăng cường xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu
+ Mở rộng địa bàn tiêu thụ của công ty trên khắp các miền
+ Nâng cao chất lượng, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm nâng cao khả năng cạnh tranh sản phẩm của công ty trên thị trường
3.2 Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Cổ phần dược và vật tư thú y
Sau khi phân tích định hướng chiến lược và căn cứ vào những mặt mạnh cầnphát huy, mặt yếu cần khắc phục, luận văn đã đưa ra các giải pháp cơ bản nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y như sau:
3.2.1.Giải pháp đối với nhà nước
Hoàn thiện hệ thống luật pháp và chính sách liên quan đến năng lực cạnh tranh doanh nghiệp nói chung và ngành sản xuất thuốc thú y nói riêng.
Hệ thống pháp luật của nhà nước có tác động lớn tới hoạt động của doanhnghiệp Những quy định của nhà nước có thể tác động trực tiếp điều chỉnh nhữnglĩnh vực liên quan đến hoạt động của toàn ngành và công ty Nhà nước cần tạolập khung khổ pháp luật, chính sách, tăng cường năng lực thực hiện pháp luật vềcạnh tranh, chống độc quyền, chống liên kết lũng đoạn thị trường, chống bán phágiá, chống vi phạm bản quyền, phát minh, sáng chế , an toàn để các doanhnghiệp tiếp cận có tính cạnh tranh đối với các nguồn lực đầu vào như nguyênliệu, đất đai, công nghệ
Trang 123.2.2 Giải pháp đối với công ty
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tế, luận văn đã đưa ra các giải pháp cơbản có tính thực tiễn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty như hoànthiện công tác thị trường, đối mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạodựng thương hiệu…
3.3 Kiến nghị đối với các cơ quan chức năng
3.3.1 Kiến nghị đối với chính phủ
Sau khi phân tích, nghiên cứu, tác giả đưa ra một vài kiến nghị với Chính phủ
và các cơ quan chức năng nhằm giúp các DN đối phó tốt với những tác động củaviệc gia nhập WTO: Về hoàn thiện chính sách, thủ tục hành chính, hỗ trợ doanhnghiệp về thông tin, dịch vụ pháp lý…
3.3.2 Kiến nghị với Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Cục thú y
Trên cơ sở nghiên cứu tình hình thực tiễn tại Công ty cổ phần dược và vật tưthú y, tác giả kiến nghị Bộ NN & PTNT giữ nguyên lộ trình thực hiện GMP, đảmbảo áp dụng nguyên tắc, tiêu chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc thú y nhằm đạt 3tiêu chí: Chất lượng – An toàn – Hiệu quả, coi việc triển khai áp dụng các nguyêntắc thực hành tốt sản xuất thuốc GMP – ASEAN là chỉ tiêu cơ bản để xét, cấp giấyphép lưu hành sản phẩm thuốc thú y nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cácdoanh nghiệp thuốc thú y trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Trong thời đại ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ vàtrở thành xu thế phổ biến trên thế giới, biểu hiện rõ nét của xu thế này chính là sự rađời của các liên kết khu vực và quốc tế như Asean, EU, WTO … mục tiêu là thúcđẩy tự do hoá thương mại quốc tế, giảm dần và tiến tới xoá bỏ các hàng rào bảo hộ
do các quốc gia áp đạt nhằm cản trở tự do hóa thương mại.Việt Nam cũng khôngnằm ngoài xu thế đó Với việc gia nhập hiệp hội ASEAN, ký kết hiệp định thươngmại song phương với Hoa Kỳ và gần đây nhất là sự kiện nước ta chính thức trởthành thành viên thứ 150 của WTO đã đánh dấu quá trình hội nhập đầy đủ của ViệtNam và kinh tế thế giới
Có thể nói, việc chính thức là thành viên của WTO đem lại cho Việt Namnhững cơ hội và cũng đặt ra nhiều thách thức Muốn thành công chúng ta phải thấy
rõ được hết thách thức, tận dụng cơ hội để đẩy lùi thách thức
Nước ta là một nước đi lên từ nông nghiệp chính vì vậy xu hướng ngànhchăn nuôi ngày càng phát triển Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về đổi mới quản lýkinh tế trong nông nghiệp đã chỉ rõ: “Từng bước đưa ngành chăn nuôi lên ngànhsản xuất chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong nông nghiệp, phát triển mạnh đàn giasúc, gia cầm, trâu bò, phát triển đàn lợn phù hợp với khả năng sản xuất thức ăn, tạo
ra vùng chăn nuôi tập chung đi đôi với việc pháp triển thức ăn tinh, thức ăn tổnghợp và cơ sơ chế biến” Chính vì vậy mà thuốc thú y đóng vai trò quan trọng trongngành chăn nuôi Bên cạnh đó thuốc thú y còn có thức năng bảo vệ con người tránhđược bệnh lây nhiễm trực tiếp từ động vật
Cùng với sự phát triển chung của các ngành kinh tế quốc dân, ngành côngnghiệp sản xuất thuốc thú y đã dần khẳng định được vị thế của mình, từ chỗ nhậpkhẩu hầu hết các sản phẩm thuốc thú y, đến nay chúng ta đã chủ động sản xuất đượcgần đủ các chủng loại thuốc, chế phẩm sinh học dùng cho vật nuôi Hiện nay sảnphẩm nhập khẩu chỉ chiếm 20%, sản xuất trong nước chiếm trên 80% nhu cầu thuốc
Trang 14chữa bệnh cho gia súc, gia cầm Đến tháng 5 năm 2010, trên toàn quốc đã có trên 90doanh nghiệp kinh doanh thuốc thú y với đủ các quy mô, loại hình doanh nghiệp
Thị trường thuốc thú y Việt nam đang trong giai đoạn phát triển, nhiều doanhnghiệp sản xuất thuốc thú y mới ra đời với đủ loại quy mô khác nhau, với đủ loạihình sở hữu Điều này cho thấy sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường thuốc thú y.Các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc thú y trong nước đã và đang tìm chomình hướng đi và những cách thức phù hợp với những biến đổi của thị trường Đểtồn tại và phát triển, củng cố vị thế của mình trên thị trường, các doanh nghiệp phảitạo lợi thế hơn hẳn so với các đối thủ cạnh tranh Đi tìm giải pháp cho vấn đề này,các doanh nghiệp tích cực tìm kiếm các giải pháp như đổi mới công nghệ sản xuất,chiến lược giá cả, quảng cáo, khuyến mãi…
Trong những năm qua, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của mình, Công ty cổphần dược và vật tư thú y đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, đặc biệt làtrong năm 2009 đã đứng vững trước sự ảnh hưởng của cuộc suy thoái toàn cầu đã
và đang diễn ra Là một đơn vị sản xuất, kinh doanh thuốc thú y lâu năm nên Công
ty có mối quan hệ với rất nhiều khách hàng, nhà cung cấp và phải cạnh tranh vớicác công ty khác cùng sản xuất và kinh doanh thuốc thú y trên thị trường Chính vìvậy, việc Công ty cổ phần dược và vật tư thú y phải nâng cao năng lực cạnh tranhcủa Công ty lên là một điều không thể tránh khỏi Công ty nào cũng vậy, muốn tồntại và phát triển thì phải cạnh tranh và cạnh tranh như thế nào cho hiệu quả nhất màvẫn đảm bảo cho việc sản xuất và kinh doanh của công ty Xuất phát từ đặc điểm đócùng với việc đòi hỏi cấp thiết của việc hoàn thiện giải pháp nâng cao năng lực cạnhtranh, học viên đã chọn nghiên cứu đề tài:
“Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế”
2 Tổng quan nghiên cứu đề tài:
Đã có nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu đề cập về vấn đề năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp:
2.1 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở tỉnh
Bắc Giang từ năm 2006 – 2010 ( Luận văn thạc sĩ của tác giả Bùi Quang Trung)
Trang 152.2 Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu
của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế(Luận án tiến sĩ của Ngô ThịTuyết Mai năm 2007)…
2.3.Chiến lược cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện
nay của TS Phạm Thuý Hồng, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia năm 2007
2.4 Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay của TS Nguyễn Hữu Thắng - Nhà xuất bản Chính trịquốc gia năm 2009
Các đề tài nghiên cứu trên do mục đích nghiên cứu để giải quyết những vấn
đề cụ thể tại những địa bàn cụ thể, song chưa có đề tài nghiên cứu nào có cách tiếpcận tổng hợp để đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phầndược và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Vì vậy, với cách tiếp cận riêng của mình, đề tài luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” là công trình đầu tiên nghiên cứu nhằm đưa ra phương hướng
và một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược
và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Về đối tượng: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích những vấn đề về lý
luận và thực tiễn liên quan đến năng lực canh tranh của công ty thông qua các chỉtiêu về doanh thu, chi phí, lợi nhuận, trình độ công nghệ, quan hệ khách hàng…
- Về phạm vi nghiên cứu: Thực trạng về hoạt động sản xuất, kinh doanh của
Công ty cổ phần dược và vật tư thú y từ năm 2007 đến năm 2010
4 Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở hệ thống hoá và vận dụng những lý thuyết cơ bản về cạnh tranh,cạnh tranh ngành, luận án tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnhtranh của ngành sản xuất thuốc thú y, tìm ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh
và nguyên nhân hạn chế để đề xuất, xây dựng một hệ thống các giải pháp có tínhđồng bộ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú
y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 16- Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường thuốc thú y Việt Nam
- Đánh giá thực trạng, thành tựu và hạn chế của doanh nghiệp
- Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp trên thị trường thuốc thú y Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn đã sử dụng tổng hợp một số phương pháp: Duy vật biện chứng,phương pháp tiếp cận hệ thống, phương pháp điều tra, phân tích, tổng hợp thống kê
để phân tích, tìm ra giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phầndược và vật tư thú y trên thị trường thuốc thú y Việt Nam
6 Dự kiến những đóng góp của luận văn:
- Luận văn đã khái quát hóa lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực cạnhtranh của các doanh nghiệp
- Phân tích nhằm làm rõ thực trạng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Đề xuất những quan điểm, giải pháp có tính khả thi nhằm phát huy nhữnglợi thế, tiềm năng phát triển nhằm nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp trênthị trường thuốc thú y Việt Nam trong những năm tới
7 Kết cấu của luận văn:
Gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về nâng cao năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp thuốc thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần
dược và vật tư thú y
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp cơ bản nâng cao năng lực
cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỀN
VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
DOANH NGHIỆP THUỐC THÚ Y TRONG ĐIỀU KIỆN
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1 Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.1 Cạnh tranh và phân loại cạnh tranh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh xuất hiện trong quá trình hình thành và phát triển củasản xuất và trao đổi hàng hoá Từ khi sản xuất hàng hoá chuyển thành sản xuất hànghoá tư bản chủ nghĩa hàng trăm năm đã có nhiều lý luận về cạnh tranh của các nhàkinh tế nổi tiếng trên thế giới Tuy nhiên, có nhiều quan điểm khác nhau về cạnhtranh và cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về cạnh tranh Lý luậncạnh tranh của Adam Smith; lý luận cạnh tranh của John Stuart Mill; lý luận cạnhtranh của Darwin nhưng đáng chú ý hơn cả là lý luận cạnh tranh của C.Mác và sựthay đổi quan niệm cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế
C.Mác đã so sánh, dẫn chứng và phân tích để đi đến khẳng định là: Các chủthể cạnh tranh chủ yếu là các nhà tư bản, họ tiến hành đọ sức về kỹ thuật, kinh tế, xãhội để thực hiện tối đa hóa lợi ích Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh đẩy tới
sự sáng tạo kỹ thuật, đổi mới tổ chức, nâng cao năng suất lao động làm cho lựclượng sản xuất phát triển Xét ở góc độ quan hệ sản xuất, cạnh tranh là biện pháp vàcon đường cơ bản để từng nhà tư bản đơn lẻ thu được giá trị thặng dư hoặc lợinhuận độc quyền, để toàn bộ giai cấp tư sản cùng phân chia và chiếm hữu giá trịthặng dư Xét về góc độ xu thế lịch sử, cạnh tranh tăng lên sẽ đưa tới sự tích tụ tưbản và tập trung sản xuất, từ đó đẩy CNTB từ giai đoạn tự do cạnh tranh bước vàogiai đoạn độc quyền Song độc quyền chẳng những không xóa bỏ cạnh tranh, trái lạicòn làm cho cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, mâu thuẫn cơ bản trong CNTB theo đó
Trang 18ngày càng sâu sắc hơn Điều sâu xa trong lý luận cạnh tranh của C.Mác là ở chỗ ôngkhông chỉ phân tích cạnh tranh ở góc độ hiện tượng kinh tế, mà còn đứng ở tầm caoquan điểm duy vật lịch sử và CHXH khoa học để quan sát, phân tích vai trò lịch sử
và xu thế phát triển của cạnh tranh
So với nền kinh tế công nghiệp, trong nền kinh tế tri thức, cơ chế quyết địnhhành vi kinh tế, quan niệm cạnh tranh, quản lý văn hóa…đều có thay đổi quantrọng Trong nền kinh tế tri thức, sự thành công hay thất bại trên thương trường phụthuộc vào việc có lý giải đầy đủ hay không cơ chế phản hồi của sự tự phủ định và tựtăng cường trên thị trường, tức cơ chế thù lao giảm dần và thù lao tăng dần Hai cơchế này có tác động đan xen nhau với mức độ khác nhau trong thời gian khác nhautrên thị trường Do đó, việc doanh nghiệp định vị một cách chính xác trong toàn bộmạng lưới hoặc hệ thống sinh thái là việc hết sức quan trọng Nếu muốn lợi thế cạnhtranh trong nền kinh tế tri thức, doanh nghiệp phải nắm lấy thời cơ và phương phápxây dựng hệ thống sinh thái, có thể điều chỉnh hướng bay trong quá trình phát triển
và cải tiến Hệ thống đó đòi hỏi người lãnh đạo có khả năng vượt lên trên tổ chứctruyền thống và giới hạn văn hóa để hình thành quan điểm cạnh tranh vượt qua giớihạn doanh nghiệp, ngành, quốc gia
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về cạnh tranh, song bản chất của cạnhtranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau nhằm đạt đượcmục tiêu kinh tế của mình Thông thường, các mục tiêu này là chiếm lĩnh thịtrường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất và khu vực thị trường
có lợi nhất Mục đích cuối cùng của các chủ thế trong quá trình cạnh tranh là tối đahoá lợi ích Đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, còn đối với người tiêudùng là lợi ích tiêu dùng và tiện lợi
1.1.1.2 Phân loại cạnh tranh
Có nhiều tiêu thức phân loại cạnh tranh, trong đó cách phân loại cơ bản là:cạnh tranh trong phạm vi ngành kinh tế bao gồm cạnh tranh trong nội bộ ngành vàcạnh tranh giữa các ngành, cạnh tranh giữa bên mua và cạnh tranh giữa bên bán,cạnh tranh giá cả và cạnh tranh phi giá cả…
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng
Trang 19sản xuất kinh doanh một loại hàng hoá, dịch vụ Cạnh tranh trong nội bộ ngành
là cuộc cạnh tranh tất yếu xảy ra, tất cả đều nhằm mục tiêu cao nhất là lợi nhuậncủa doanh nghiệp
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các chủ doanh nghiệp sản
xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm mụctiêu lợi nhuận, vị thế, an toàn Cạnh tranh giữa các ngành tạo ra xu hướng di chuyểncủa vốn đầu tư sang các ngành thu được lợi nhuận cao hơn và sẽ dẫn tới hình thành
tỷ suất lợi nhuận bình quân
Cạnh tranh quốc gia: Hình thức cạnh tranh này thể hiện qua việc các quốc
gia nỗ lực để xây dựng môi trường kinh tế chung ổn định, đảm bảo phân bố hiệuquả nguồn lực và duy trì mức độ tăng trưởng cao, bền vững mang lại lợi nhuận chocác doanh nghiệp và công dân của mình Vấn đề cạnh tranh quốc gia rất được cácchính phủ quan tâm và có ảnh hưởng sâu sắc tới các doanh nghiệp trong điều kiệntoàn cầu hóa kinh tế tạo dựng lợi thế quốc gia, hình ảnh và thương hiệu quốc gia
Cạnh tranh giữa người sản xuất, doanh nghiệp sản xuất với nhau: Đây là
hình thức phổ biến nhất của cạnh tranh Theo hình thức này, các nhà sản xuất đấutranh với nhau để giành chỗ đứng trên thị trường(thị phần, kênh phân phối…) để cóthể đạt được các mục tiên ngắn hạn của mình và qua đó đảm bảo sự phát triển ổnđịnh và bền vững
Cạnh tranh giữa người mua với nhau: Người mua ở đây không chỉ là người
tiêu dùng mà còn bao gồm cả các nhà sản xuất Theo hình thức này, những ngườimua, doanh nghiệp sẽ đấu tranh với nhau để có thể tiếp cận được nguồn hàng ổnđịnh về số lượng và chất lượng với mức giá thấp nhất Cường độ của hình thức cạnhtranh này phụ thuộc nhiều vào mối quan hệ cung cầu và sẽ tăng cao khi cầu lớn hơncung Hình thức này phổ biến trong những ngành kinh doanh mang tính mùa vụ khivào thời vụ tiêu dùng
Cạnh tranh giữa người mua/ doanh nghiệp mua với người bán/ doanh nghiệp bán: Hình thức cạnh tranh này luôn xảy ra trong các hoạt động kinh tế Theo
đó, người mua luôn tìm mọi cách để mua được sản phẩm và dịch vụ tại mức giá
Trang 20thấp nhất với chất lượng, số lượng chủng loại và điều kiện giao hàng thuận lợi nhấtkhi người bán lại mong muốn ngược lại Lợi thế cạnh tranh trong trường hợp nàyphụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ cung cầu, số lượng các chủ thể tham gia trêngiao dịch cũng như mức độ quan trọng của sản phẩm, dịch vụ đối với người mua.
Xét theo mức độ cạnh tranh: Cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có
rất nhiều người bán sản phẩm tương tự nhau về chất lượng, mẫu mã, chủng loại….Giá cả sản phẩm là do cung cầu trên thị trường quyết định Các doanh nghiệp được
tự do ra nhập hoặc rút lui khỏi thị trường Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cácdoanh nghiệp tham gia kinh doanh muốn thu được lợi nhuận tối đa phải tìm mọibiện pháp giảm chi phí đầu vào, cải tiến công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩmphù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng Trong cạnh tranh không hoàn hảo, sứcmạnh thị trường thuộc về một số doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn Các doanhnghiệp trên thị trường này kinh doanh những loại hàng hóa, dịch vụ khác nhau Sựkhác biệt giữa những loại hàng hóa, dịch vụ này thể hiện ở nhãn hiệu hàng hoá Cónhững loại hàng hóa, dịch vụ chất lượng như nhau song sự lựa chọn của người tiêudùng lại căn cứ vào uy tín, nhãn hiệu sản phẩm Hình thức của cạnh tranh khônghoàn hảo đó là hình thức cạnh tranh mang tính độc quyền
1.1.2 Năng lực cạnh tranh và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
1.1.2.1 Quan niệm về năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp, hoặc một ngành, mộtquốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nước khác đánh bại về nănglực kinh tế
Các khái niệm về năng lực cạnh tranh được đề cập đến đầu tiên ở Mỹ vàođầu những năm 1980 Theo Alditon Report(1985): “Doanh nghiệp có khả năng cạnhtranh là doanh nghiệp có thể sản xuất sản phẩm dịch vụ với chất lượng vượt trội vàgiá cả thấp hơn các đối thủ cạnh tranh trong nước và quốc tế Khả năng cạnh tranhđồng nghĩa với việc đạt được lợi ích lâu dài của doanh nghiệp và khả năng đảm bảothu nhập cho người lao động và chủ doanh nghiệp”
Tuy nhiên, khái niệm năng lực cạnh tranh đến nay vẫn chưa được hiểu một
Trang 21cách thống nhất.Theo Bluckey(1988), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cầngắn kết với mục tiêu của doanh nghiệp.
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học, năng lực canh tranh là khả năng giànhthắng lợi trong cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trong cùng một thịtrường tiêu thụ Trong diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp(HLFIC) của tổchức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lại cho rằng năng lực canh tranh là khảnăng của các doanh nghiệp, các ngành, quốc gia trong việc tạo ra thu nhập cao hơn
và mức độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn đối mặt với cạnh tranh quốc tế
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau đối với năng lực cạnh tranh, song có thểđưa ra khái niệm chung về năng lực cạnh tranh là:
Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần trước các đối thủ cạnh tranh của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Có nhiều cách thức và tiêu chí phân loại năng lực cạnh tranh Tuy nhiênngười ta thường phân ra làm 3 loại NLCT đó là NLCT quốc gia, NLCT ngành,NLCT của doanh nghiệp Giữa chúng có mối tương quan mật thiết với nhau, phụthuộc lẫn nhau NLCT của doanh nghiệp bị hạn chế khi NLCT cấp quốc gia và củasản phẩm doanh nghiệp đó đều thấp Do đó, trước khi đề cập đến NLCT của doanhnghiệp chúng ta cần đề cập sơ lược đến NLCT cấp quốc gia và của sản phẩm CònNLCT cấp ngành có mối quan hệ và chịu ảnh hưởng của NLCT cấp quốc gia và củasản phẩm tương tự như NLCT của doanh nghiệp
NLCT quốc gia, theo uỷ ban phụ trách về NLCT của các ngành ở Hoa Kỳ.NLCT của một quốc gia là khả năng mà quốc gia đó, trong điều kiện thị trường
tự do và công bằng có thể sản xuất hàng hoá dịch vụ đạt tiêu chuẩn của thịtrường quốc tế, đồng thời vẫn duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của côngdân nước mình
Theo diễn đàn kinh tế thế giới, NLCT của một quốc gia là năng lực của nềnkinh tế quốc dân đạt và duy trì mức độ tăng trưởng cao về kinh tế, thu nhập và việclàm Tóm lại, NLCT của quốc gia được xác định là năng lực của một nền kinh tế
Trang 22tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư tốt, bảo đảm ổn định kinh tế xã hội, cải thiệnđời sống nhân dân.
NLCT của ngành, theo diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp(HLFIC)của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD đã đưa ra định nghĩa về NLCT kếthợp cả ba cấp độ là cấp quốc gia, ngành, doanh nghiệp và sản phẩm Theo đó,NLCT của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra thu nhập cao hơn và mức
độ sử dụng lao động cao hơn, trong khi vẫn phải đối mặt với cạnh tranh quốc tế
NLCT của doanh nghiệp là khả năng mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trícủa nó một thời gian lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việcthực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mụctiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện được những mục tiêu mà doanh nghiệp
Trang 23cạnh tranh NLCT là sức mạnh của doanh nghiệp được thể hiện trên thị trường Sựtồn tại và sức sống của một doanh nghiệp được thể hiện trước hết ở NLCT, để từngbước vươn lên giành thế chủ động trong quá trình hội nhập.
Trong hoạt động kinh tế, cạnh tranh luôn liên quan đến quyền sở hữu, sở hữu
là điều kiện để cạnh tranh kinh tế diễn ra Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủthể kinh tế(giữa các quốc gia, doanh nghiệp) trên cơ sở sử dụng hiệu quả các nguồnlực kinh tế kết hợp áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất cũng nhưtrong dịch vụ để thoả mãn nhu cầu khách hàng bằng sản phẩm chất lượng cao và giá
cả hợp lý, cạnh tranh tạo ra sự khác biệt giữa các sản phẩm cùng loại thông qua cácgiá trị vô hình mà doanh nghiệp tạo ra Qua đó, doanh nghiệp giành lấy vị thế tươngđối trong sản xuất, tiêu thụ hàng hóa để tối đa hóa lợi nhuận của mình
NLCT của doanh nghiệp được xác định dựa vào các ưu thế cạnh tranh của
nó Ưu thế là thế mạnh bao gồm những đặc tính hoặc những thông số của sản phẩmnhờ đó sản phẩm có được sự ưu việt vượt trội hơn so với các sản phẩm của đối thủcạnh tranh trực tiếp
Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh vẫn chưa được hiểuthống nhất Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cầnlưu ý một số vấn đề sau:
Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh
và trình độ phát triển trong từng thời kỳ Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự
do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranhđồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điềukiện thị trường cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa hoá số lượng hànghoá nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần…
Đối với Việt Nam hiện nay, với trình độ phát triển kinh tế còn thấp, nhưnglại đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, cạnh tranh gay gắt, việc đưa ra kháiniệm năng lực cạnh tranh cho phù hợp với bối cảnh hiện nay là không đơn giản
Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng đua tranh, tranh giành giữa
các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và vận dụng các yếu tố sản xuất,khả năng tiêu thụ hàng hóa, khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm,
Trang 24khả năng sáng tạo sản phẩm mới
Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức
cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thứ truyền thống và phương thứchiện đại, không chỉ dựa vào lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh và uy tín
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà là chỉ tiêumang tính tổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được chonhóm doanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp
1.1.2.2 Tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
Có nhiều tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh, trong đó chủ yếu tập trungvào các tiêu chí định lượng, để phản ánh năng lực cạnh tranh người ta thường sửdụng những tiêu chí cụ thể như tiêu chí thị phần (T%), tiêu chí thị phần so với đốithủ cạnh tranh mạnh nhất(Ttc), tiêu chí tỷ trọng thị phần tăng hàng năm(Tthn) Tỷsuất lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh(H) Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phísản xuất kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu
- Tiêu chí thị phần(T%) = doanh thu DN(trong ngành)/doanh thu của cácdoanh nghiệp
Thị phần hàng hoá của doanh nghiệp là phần trăm về số lượng hoặc giá trịcủa hàng hóa của doanh nghiệp đã bán ra so với tổng số lượng hoặc tổng giá trị củatất cả các hàng hóa cùng loại đã bán trên thị trường Điều này có nghĩa là tỷ lệ phầntrăm doanh thu của một hoặc một số chủng loại hàng hoá so với tổng doanh thu củadoanh nghiệp Nó cho biết mức độ tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của doanh nghiệp ởmức độ như thế nào, có cho phép phát triển sản xuất hoặc thu hẹp quy mô sản xuấtmặt hàng hoặc nhóm hàng đó hay không, ngoài ra nó còn là điều kiện rất quan trọngtrong việc xác định những tiềm năng, thế mạnh của đơn vị, cũng như góp phầnquyết định đến việc có hay không thực hiện các hoạt động đầu tư nhằm đẩy mạnh
và phát triển sản phẩm hay nhóm sản phẩm là thế mạnh của doanh nghiệp
Tiêu chí này phản ánh tình hình chiếm lĩnh và khà năng chi phối thị trườngcủa hàng hoá của doanh nghiệp Tuy nhiên, chỉ tiêu này khó xác định vì khó biếtchính xác được hết tình hình kinh doanh của tất cả các đối thủ cạnh tranh
- Tiêu chí so thị phần với đối thủ cạnh tranh mạnh nhất(Ttc)
Trang 25Ttc = doanh thu của doanh nghiệp/tổng doanh thu của đối thủ cạnh tranhmạnh nhất.
Tiêu chí này cho thấy thực tế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp so vớiđối thủ cạnh tranh mạnh nhất trên thị trường Đây là tiêu chí đơn giản, dễ tính so vớitiêu chí trên do các đối thủ cạnh tranh mạnh thường có nhiều thông tin hơn Tuynhiên khi tính toán chỉ tiêu này cần thận trọng và khách quan, nếu không xác địnhtương đối chính xác doanh thu của các đối thủ thì đó là điều rất nguy hiểm khichúng ta thực hiện các hoạt động đầu tư, phát triển sản phẩm của mình, cũng nhưrất khó xác định được điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ để đi đến những quyết định
có lợi nhất cho doanh nghiệp Điều đó ảnh hưởng trực tiếp và tức thời đến khả năngcạnh tranh của chính doanh nghiệp
Tiêu chí tỷ trọng thị phần tăng hàng năm(Tthn)
T(thn) = thị phần năm sau – thị phần năm trước
Nếu kết quả này dương tức là thị phần của doanh nghiệp tăng và khả năngcạnh tranh của doanh nghiệp đã tăng lên Nếu kết quả âm, nghĩa là thị phầm tụtgiảm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường đã bị giảm sút
Tiêu chí này cho chúng ta biết mức độ tăng của thị phần năm nay so với nămtrước là bao nhiêu và như thế nào Điều quan trọng là chúng ta phải sử dụng và tínhtoán một cách khoa học, đảm bảo khách quan để có số liệu chính xác Từ đó đưa ranhững quyết định đúng đắn có lợi cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao sức cạnhtranh của doanh nghiệp cũng như tập trung phát triển sản xuất một hoặc một sốnhóm mặt hàng là thế mạnh của doanh nghiệp trên thị trường
Tiêu chí tài chính
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn sản xuất, kinh doanh
H = Lợi nhuận/tổng vốn sản xuất kinh doanh
Tiêu chí này cho chúng ta biết tỷ suất lợi nhuận so với tổng số vốn doanhnghiệp bỏ ra kinh doanh Nghĩa là cứ bỏ ra 1 đồng vốn thì tương lai sẽ mang về một
tỷ lệ lợi nhuận cụ thể, nhất định Giá trị của tiêu chí này càng cao thì chứng tỏ tìnhhình hoạt động của doanh nghiệp ngày càng tốt hơn, sức cạnh tranh trên thị trường
Trang 26từ đó cũng được cải thiện.
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí sản xuất kinh doanh phản ánh thuđược bao nhiêu lợi nhuận khi bỏ ra một đơn vị chi phí
H = lợi nhuận/tổng chi phí sản xuất kinh doanh
Cũng như tiêu chí trên, giá trị của chỉ tiêu này càng cao thì càng tốt cho doanhnghiệp Tuy nhiên để góp phần nâng cao sức canh tranh của doanh nghiệp nên thamkhảo và tính toán cả hai chỉ tiêu này của các đối thủ cạnh tranh của mình Từ đó có sự
so sánh những thuận lợi, khó khăn, những tồn tại, hạn chế của mình và của các đốithủ cạnh tranh để có được những quyết định kinh doanh đúng đắn và phù hợp, gópphần phát triển sản xuất và nâng cao NLCT của mình trên thương trường
Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu đánh giá mức độ lợi nhuận của hoạtđộng bán hàng khi bán được một đơn vị doanh thu thì được bao nhiêu lợi nhuận
H = lợi nhuận/tổng doanh thu
Tiêu chí này tuy không quan trọng bằng các tiêu chí đánh giá khác Tuynhiên, đây cũng chính là những nội dung cần thiết để xác định một số chỉ tiêu liênquan để so sánh và đánh giá từ vốn, chi phí, doanh thu, lợi nhuận để từ đó xem xéttừng khâu, từng công đoạn, từng quy trình, quá trình có những thuận lợi, khó khăn
gì để đưa ra những quyết định kinh doanh phù hợp, góp phần nâng cao NLCT củachính mình trên thị trường
* Nguồn nhân lực: Quản trị nhân sự và nguồn nhân lực có tác động rất lớn
tới sự thành công của doanh nghiệp bởi mọi hoạt động của doanh nghiệp đều phải
do sự thực hiện của con người Con người là nguồn lực đầu vào trong hoạch địnhchiến lược, kế hoạch và mục tiêu phát triển của doanh nghiệp Để nâng cao năng lựccạnh tranh của mình, doanh nghiệp phải đặc biệt chú trọng tới vấn đề chất lượngnguồn nhân lực Bên cạnh việc đảm bảo cung cấp đủ số lượng, chất lượng lao độngtheo cơ cấu hợp lý cho doanh nghiệp trong mọi thời kỳ, doanh nghiệp cần chú trọngxây dựng cơ chế quản lý nhân lực trong doanh nghiệp một cách khoa học Trên cơ
sở đảm bảo quyền và nghĩa vụ bình đẳng cho người lao động nhằm phát huy nănglực cá nhân, đảm bảo phát triển toàn diện người lao động Doanh nghiệp cần hoạchđịnh nhu cầu nguồn nhân lực, có chính sách đãi ngộ đối với người lao động
Trang 27* Trình độ công nghệ: Trong bối cảnh hội nhập kinh tế hiện nay, tại Việt
Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung, công nghệ đang trở thành mộtđộng lực của phát triển kinh tế trong nước, cải thiện năng lực cạnh tranh trên thịtrường, tham gia vào mậu dịch quốc tế và nâng cao mức sống của dân cư Mặc dùnắm công nghệ trong tay, quản lý công nghệ không chỉ là vấn đề riêng của doanhnghiệp Chính các chính sách của nhà nước sẽ giúp các doanh nghiệp nâng cao trình
độ công nghệ thông qua chuyển giao công nghệ hoặc tự mình phát triển để nâng caokhả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
* Thành phần thiết bị: Bao gồm các công cụ và các phương tiện sản xuất
thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm mong muốn Thành phần thiết
bị bao gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống xử lý thông tin Hệ thốngbiến đổi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo thiết kế của máy mócthiết bị Hệ thống xử lý thông tin thực hiện một chuỗi kiểm soát, có thể được xâydựng một cách cục bộ hoặc hoàn toàn trong thành phần trang thiết bị
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp thuốc thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
1.2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kinh doanh thuốc thú y
1.2.1.1.Nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Sự hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển của kinh tế thị trường đòi hỏi sựthống nhất trong các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhànước Lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế đã được Đảng và Nhà nước luôn quan tâm
và gắn với kế hoạch phát triển kinh tế đối ngoại Cùng với lộ trình hội nhập kinh tếquốc tế, nền sản xuất của nước ta chịu rất nhiều sự chi phối bởi các điều khoản,công ước, hiệp ước quốc tế, vấn đề về sản xuất, phân phối và tiêu thụ sản phẩm Khihội nhập kinh tế quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến bản thân mỗi doanh nghiệptrong việc sản xuất cái gì, như thế nào, tiêu thụ ở đâu gắn với hiệu quả kinh doanh,trên cơ sở tôn trọng các chuẩn mực của thương mại quốc tế là một điều hết sức khókhăn cho các doanh nghiệp Bên cạnh đó là sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại
Trang 28trong ngành, sự cạnh tranh giữa các đối thủ hiện tại trong ngành quyết định tínhchất và mức độ tranh đua nhằm giành giật lợi thế trong ngành mà mục đích cuốicùng là giữ vững thị phần hiện có, đảm bảo để có lợi nhuận cao nhất Có nhiều hìnhthức và công cụ cạnh tranh được các đối thủ sử dụng khi cạnh tranh trên thị trường.
Ví dụ như cạnh tranh về giá, về chất lượng sản phẩm, chế độ hậu mãi….Trên thực
tế, các đối thủ khi cạnh tranh với nhau thường sử dụng công cụ cạnh tranh tổng hợp,trên cơ sở cạnh tranh về giá, chất lượng sản phẩm cùng với việc áp dụng sự khácbiệt về sản phẩm, chính sách marketing…Để có thể bảo vệ khả năng cạnh tranh củamình, các doanh nghiệp cần phải thu thập đủ thông tin cần thiết về các đối thủ cạnhtranh chính có sức mạnh trên thị trường và thực trạng ngành sản xuất thuốc thú ylàm cơ sở hoạch định chiến lược
Ngành sản xuất thuốc thú y ở Việt Nam được bắt đầu vào những năm 90,trước khi có Pháp lệnh thú y năm 1993, cả nước chỉ có 7 cơ sở sản xuất thuốc thú yvới hơn 100 loại thuốc thông dụng, lượng thuốc thú y sản xuất trong nước chỉ đápứng được 10% nhu cầu cho công tác phòng chống dịch bệnh
Theo số liệu của Cục thú y đến hiện nay số lượng các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh thuốc thú y trên toàn quốc là 90 doanh nghiệp, trong đó Hà Nội có mật
độ nhiều nhất là 33 doanh nghiệp chiếm 38% tổng số doanh nghiệp trên toàn thịtrường và chiếm 25% tổng sản phẩm thuốc thú y trên toàn thị trường Trong đó chỉ
có 7- 8 doanh nghiệp có mức phát triển tốt, doanh thu cao, còn các doanh nghiệpkhác có mức đầu tư thấp, thường chỉ dưới dạng cơ sở sản xuất nhỏ Doanh nghiệpThành phố Hồ Chí Minh với 23 doanh nghiệp chiếm 26,4% toàn thị trường và cóquy mô sản xuất hiện đại, lớn nhất cả nước với tỷ lệ 43% sản phẩm toàn quốc.Thuốc của các nhà sản xuất trong nước cũng đã được xuất khẩu sang hơn 10 nướctrong khu vực và thế giới, chất lượng thuốc thú y ngày càng được nâng cao, chủngloại đa dạng, phong phú
Thực hiện chính sách “mở cửa và hội nhập quốc tế”, chúng ta đã tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nhân nước ngoài đăng ký nhập khẩu thuốc, nguyênliệu làm thuốc thú y vào Việt Nam Đến nay đã có 2.105 sản phẩm thuốc thú y của
195 nhà sản xuất thuộc 35 nước đã được nhập khẩu, cùng với hàng trăm loại nguyên
Trang 29liệu cung cấp cho các nhà sản xuất thuốc thú y trong nước Như vậy có thể thấy tìnhhình cạnh tranh hiện nay trên thị trường thuốc thú y là vô cùng gay gắt.
Các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y tại khu vực đồng bằng sông CửuLong thường có quy mô lớn, trang thiết bị hiện đại, tư tưởng cạnh tranh trong nềnkinh tế thị trường đã được coi trọng từ rất sớm, do vậy các doanh nghiệp này có cácsản phẩm thuốc thú y đáp ứng tốt nhu cầu thị trường về thời vụ, chất lượng và mẫu
mã sản phẩm, quy cách đóng gói hợp lý Hiện nay, số lượng doanh nghiệp sản xuấtthuốc thú y trên toàn quốc nói chung và trên địa bàn miền Bắc nói riêng quá lớn nênmức độ canh tranh là hết sức khốc liệt
Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp có mặt hàng giống như mặt hàng củadoanh nghiệp đang kinh doanh hoặc các mặt hàng có thể thay thế lẫn nhau Đối thủcạnh tranh được chia ra bao gồm:
- Các doanh nghiệp khác đưa ra sản phẩm, dịch vụ cho cùng một khách hàng
ở mức giá tương tự(đối thủ sản phẩm)
- Các doanh nghiệp cùng kinh doanh một hay một số loại sản phẩm(đối thủchủng loại sản phẩm)
- Các doanh nghiệp cùng hoạt động kinh doanh trên một lĩnh vực
- Các doanh nghiệp cùng cạnh tranh để kiếm lời của một nhóm khách hàngnhất định(đối thủ tiềm ẩn)
Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanhnghiệp Do đó cần định dạng được đối thủ cạnh tranh để có phương thức phản ứngphù hợp để đối đầu với cạnh tranh Số lượng các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú ytương đối lớn, do đó cần có những phản ứng chính xác của doanh nghiệp để có thểđứng vững được trong cơ chế thị trường và trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.1.2.1.2 Các đối thủ là nhà nhập khẩu trực tiếp
Trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế hiện nay, các công ty đaquốc gia hoặc các công ty nước ngoài có tiềm lực tài chính và công nghệ thực sự làđối thủ “nặng ký” đối với các doanh nghiệp kinh doanh trong nước
Ngoài các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y trong nước, Hanvet còn phải
Trang 30đương đầu với các sản phẩm thuốc thú y nhập khẩu Hiện có 195 nhà sản xuất với
35 quốc gia đăng ký lưu hành 2.105 sản phẩm thuốc thú y nhập khẩu vào Việt Nam.Những số liệu này chỉ ra một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp sản xuấtthuốc thú y, người tiêu dùng Việt Nam vẫn có xu hướng thích dùng hàng ngoạinhập Và một thực tế khách quan là chất lượng sản phẩm của các Công ty nướcngoài thường tốt hơn rất nhiều so với sản phẩm trong nước Hiểu biết đối thủ cạnhtranh luôn có ý nghĩa quan trọng đối với cá doanh nghiệp vì sự xuất hiện của cácđối thủ mới, đặc biệt là các đối thủ có khả năng mở rộng, chiếm lĩnh thị phần Dovậy việc nâng cao chất lượng sản phẩm thuốc thú y sản xuất trong nước là một yêucầu tất yếu nhằm duy trì và không ngừng nâng cao các hàng rào bảo vệ hợp pháp,đặc biệt là về công nghệ
1.2.1.3 Các đối thủ sản xuất trong nước cùng cấp độ
Trước hết các đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành sản xuất thuốc thú yquyết định tính chất và mức độ ganh đua nhằm giành giật lợi thế trong ngành màmục đích cuối cùng là giữ vững và phát triển thị phần hiện có, đảm bảo để có đượcmức lợi nhuận cao nhất Sự cạnh tranh của các đối thủ hiện tại có xu hướng làmtăng cường độ cạnh tranh và làm giảm lợi nhuận của ngành sản xuất thuốc thú y
Hiện nay, Hanvet đang được người tiêu dùng đánh giá là một trong nămdoanh nghiệp sản xuất kinh doanh thuốc thú y lớn nhất Việt Nam (Kết quả điều tracủa báo Sài Gòn tiếp thị năm 2008, 2009) và đánh giá xếp loại hàng năm theo quyđịnh quản lý của Cục thú y về trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng, nguồn lực
Đối với các doanh nghiệp sản xuất lớn như: BIO, ANOVA, BAYER, VMDsản phẩm được bán tập trung cho 1 số đại lý tạo doanh số và lợi nhuận cho đại lý vàxây dựng phát triển thị trường cho đại lý lớn cấp huyện tại từng khu vực Các công
ty trên đều có chuyên gia nước ngoài nghiên cứu và cố vấn về sản phẩm, sản phẩmcủa họ được xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài Mạng lưới tiêu thụ của Biohiện có trên 350 đại lý trên khắp các địa phương trên cả nước, ngoài ra còn xuấtkhẩu sang thị trường 19 nước như: Malaysia, Philippin, Indonexia… Công tyANOVA cũng đã xuất khẩu sang thị trường của trên 10 quốc gia trên thế giới
Trang 31Riêng đối với Hanvet, trong năm 2010 để năng cao năng lực canh tranh trong quátrình hội nhập, Công ty đã đưa ra chiến lược mở rộng xuất khẩu sang 1 số nước nhưMyanmar, Banglades, Indonexia, Cambodia…và bước đầu đã thu được những kếtquả khả quan.
1.2.1.4 Các đối thủ sản xuất nhỏ trên thị trường
Do công tác quản lý về mặt nhà nước đối với ngành thú y chưa chặt chẽ, nênnhiều công ty sản xuất thuốc thú y ra đời rất dễ dàng, việc sản xuất chưa tuân thủcác yêu cầu bắt buộc, máy móc trang thiết bị kém về chất lượng nhưng chi phí thấp,
họ tìm kiếm các sản phẩm bán chạy trên thị trường và bắt chước làm nhái gần giống
về công thức phối trộn, tên sản phẩm na ná nhưng giá thành thì thấp hơn rất nhiều
so với các công ty có tên tuổi Các sản phẩm này được phân phối khắp nơi và có chế
độ ưu đãi đặc biệt cho người bán hàng, chiết khấu tới 40% Là doanh nghiệp có uytín và thế mạnh về chất lượng sản phẩm nên Công ty Hanvet thường xuyên bị làmnhái sản phẩm Có những công ty lấy tên gần giống như Nahavet gây nhầm lẫn chongười tiêu dùng, hoặc sản xuất các sản phẩm có mẫu mã giống hệt của Công ty như:Bcomplex của Công ty Sóng Hồng, Genta - costrim của Công ty RTD… Điều nàycho thấy rõ nhiều khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình cạnh tranh trên thịtrường Khó khăn lớn nhất của Công ty Hanvet là sự phát triển tràn lan của thịtrường thuốc thú y, nhiều sản phẩm của Công ty bị làm nhái với giá thành thấp hơnrất nhiều Khó khăn thứ 2 là việc sản xuất và cho ra đời 1 sản phẩm thuốc thú y mớiđạt yêu cầu ở nước ngoài phải mất từ 5-10 năm, còn ở Việt Nam, nhiều loại thuốcmới được ra đời chỉ trong vài ngày…vì họ chỉ trộn nguyên liệu lại với nhau tạo ra 1sản phẩm mới tung ra thị trường không có thời gian để đánh giá tính ổn định và hiệulực của thuốc, giá cả các sản phẩm loại này lại thấp hơn rất nhiều so với các sảnphẩm của các thương hiệu có uy tín như Hanvet
* Nhân tố bên trong doanh nghiệp
Ngoài những nhân tố bên ngoài đã nêu trên, những nguyên nhân được cho là cóyếu tố quyết định đến NLCT của doanh nghiệp là trong bản thân mỗi doanh nghiệp:
Một là chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đối với hầu hết các doanh
Trang 32nghiệp trên thế giới hiện nay, nhất là các nước đang phát triển, chi phí nghiên cứu
và phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí nhằm đầu tưnghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới nâng cao chất lượng và năng suất lao độnghay tạo ra các sản phẩm mới, độc đáo, hiện đại nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầucủa khách hàng, qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và tạo vị trí vững chắc trênthị trường Nghiên cứu phát triển sản phẩm(Product R&D) là chức năng nghiên cứu
và phát triển thuần tuý về mặt sản phẩm nhằm cho ra đời những sản phẩm có thiết
kế, chất liệu, đặc tính, công dụng mới Nghiên cứu – phát triển bao bì (PackagingR&D) đóng góp rất lớn vào thành công trong việc tiêu thụ sản phẩm Nhiều khi, chỉcần thay đổi chất lượng bao bì, trong khi vẫn giữ nguyên thành phần, chất lượng, sốlượng sản phẩm bên trong, mức tiêu thụ sản phẩm đã có thể tăng lên rất nhiều lần
Hai là năng lực tài chính của doanh nghiệp, có thể coi năng lực tài chính của
doanh nghiệp là một tiêu chí hết sức quan trọng trong việc nâng cao NLCT của cácdoanh nghiệp hiện nay Một tình hình tài chính lành mạnh, số lượng vốn đủ lớn, sứchuy động vốn cao sẽ cho phép doanh nghiệp tạo ra nhiều cơ hội đầu tư, làm ăn dễ dàng
và thuận lợi hơn, doanh nghiệp có thể đầu tư, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ tạođiều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các chiến lược kinh doanh Ngoài ra vốn còn ảnhhưởng lớn tới các hoạt động thường ngày của doanh nghiệp như tăng cường các hoạtđộng quảng cáo, PR, tăng cường các hoạt động xã hội của doanh nghiệp
Ba là năng lực công nghệ của doanh nghiệp, đóng vai trò hết sức quan trọng,
nếu năng lực công nghệ phù hợp với khả năng sản xuất và thị trường Một năng lựccông nghệ đủ mạnh cho phép doanh nghiệp tạo ra những sản phẩm đảm bảo nhucầu sử dụng của khách hàng, chất lượng sản phẩm được nâng cao, sản phẩm có mẫu
mã đẹp, kiểu dáng phong phú, tính năng đa dạng, đáp ứng được những đòi hỏi ngàycàng khắt khe của khách hàng
Bốn là nguồn nhân lực, trong mọi tổ chức vai trò con người luôn là yếu tố
giữ vai trò quyết định đến sự phát triển của tổ chức đó Nguồn nhân lực của cácdoanh nghiệp đủ mạnh với đội ngũ cán bộ quản lý giỏi, hoạch định tốt chiến lượckinh doanh trong từng thời kỳ, có đủ năng lực đối phó với những biến động của thị
Trang 33trường, đội ngũ cán bộ kinh doanh của doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả chophép doanh nghiệp mở rộng thị trường thúc đẩy công tác tiêu thụ, bán hàng…
Bên cạnh đó, lực lượng lao động có tay nghề cao, có khả năng tiếp thu và sửdụng dây truyền công nghệ hiện đại đã và đang được doanh nghiệp hết sức quantâm Điều này cho phép doanh nghiệp tăng năng suất lao động, sản phẩm làm ra đápứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, làm tăng khả năng cạnh tranh của sảnphẩm trên thị trường
Năm là năng lực tiếp cận thị trường, công tác đo lường, dự báo, khai thác
nhu cầu của thị trường, tiềm năng của thị trường Nắm bắt được xu hướng phát triểncủa ngành chăn nuôi, tình hình dịch bệnh, dự báo nhu cầu dự kiến của thị trường…
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanhnghiệp sản xuất thuốc thú y
Sáu là công tác tổ chức quản lý hoạt động của doanh nghiệp có vai trò hết
sức quan trọng, thúc đẩy mọi hoạt động trong nội tại doanh nghiệp Nếu doanhnghiệp muốn đạt hiệu quả cao trong mọi hoạt động với nguồn lực sẵn có của mìnhthì phải tính toán, phân tích kỹ lưỡng các quy trình quản lý cùng với việc tăngcường tiếp cận thị trường và tiêu thụ sản phẩm Một trong những yếu tố quan trọngnhất để doanh nghiệp khai thác tốt chức năng quản lý của mình đó là yếu tố conngười Với đội ngũ cán bộ đủ mạnh, doanh nghiệp sẽ tạo dựng được quy trình, côngđoạn quản lý khoa học nhằm khai thác tốt các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp
1.2.2 Sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dược và vật tư thú y trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Tính tất yếu nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Thứ nhất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng yêu
cầu hội nhập
Hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu gay gắt phải nâng caonăng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam nói chung và của doanh nghiệpthuốc thú y nói riêng
+ Các doanh nghiệp cần nhanh chóng, khẩn trương phát huy nội lực, nắm bắt
Trang 34cơ hội để nâng cao năng lực cạnh tranh Với lộ trình mở cửa và thực hiện đầy đủcác cam kết WTO đối với từng ngành, lĩnh vực của cả nước từ khi Việt Nam trởthành thành viên chính thức của WTO, song không ít doanh nghiệp vẫn chưa ý thứcđược khó khăn, thách thức phải đối mặt, chưa có sự chuẩn bị cần thiết Các doanhnghiệp cần nhanh chóng nắm bắt thông tin về thị trường, nhu cầu, khách hàng, đốithủ cạnh tranh Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh để có thể đứng vững và kinhdoanh thành công trong điều kiện hội nhập kinh tế.
+ Nâng cao NLCT của doanh nghiệp là quá trình thường xuyên, liên tục đòihỏi các doanh nghiệp liên tục khai thác các tiềm năng, lợi thế, tận dụng cơ hội đểkinh doanh, không ngừng tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, luôn không ngừngđào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên, cải tiến quy trình sản xuất, đổi mớicông nghệ
+ Nâng cao NLCT của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu vững chắc, dựa trênchiến lược cạnh tranh phù hợp, trong đó chiến lược cạnh tranh cần phù hợp xu thếphát triển hiện đại, có tầm nhìn xa và bao quát nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạtđộng của doanh nghiệp Trên cơ sở đó, cần có bước đi vững chắc trong việc khaithác các tiềm năng, lợi thế cạnh tranh, huy động tổng hợp các nguồn lực, kết hợpnhiều phương pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
+ Tích cực vận dụng cơ hội do hội nhập kinh tế mang lại: Tích cực nghiêncứu và mở rộng thị trường trong và ngoài nước, tìm kiếm công nghệ phù hợp, họchỏi kinh nghiệm quản lý, tăng cường liên doanh, liên kết và hợp tác trong hoạt độngkinh doanh cũng như nghiên cứu, triển khai
+ Nâng cao NLCT của doanh nghiệp đòi hỏi trước hết từ sự nỗ lực của cácdoanh nghiệp và sự quan tâm từ phía nhà nước, sự giúp đỡ của chính quyền địaphương, tăng cường đổi mới thể chế, chính sách và các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp
Thứ hai, nâng cao NLCT của doanh nghiệp là nhân tố quyết định sự thành
công của doanh nghiệp trong phát triển kinh tế thị trường và trong bối cảnh hộinhập kinh tế quốc tế
Để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần cung cấp cho thị trường những sảnphẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý, đáp ứng nhu cầu của thị trường Đó chính lànhững sản phẩm có năng lực cạnh tranh chỉ có thể được sản xuất và cung ứng bởi
Trang 35doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh Do vậy, doanh nghiệp muốn duy trì sự tồn tại
và phát triển cần phải có năng lực cạnh tranh lành mạnh và bền vững Môi trườngcạnh tranh càng gay gắt bao nhiêu, doanh nghiệp càng cần tạo dựng năng lực cạnhtranh lành mạnh và bền vững bấy nhiêu Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp là quá trình thường xuyên, liên tục, đòi hỏi doanh nghiệp phải tận dụng mọi
cơ hội để kinh doanh, không ngừng tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, nâng caochất lượng đội ngũ lao động, cải tiến quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ, chútrọng nghiên cứu và phát triển(R&D) tại doanh nghiệp, đồng thời thực hiện đổi mớiquản lý mạnh mẽ, có hiệu quả
Thứ ba, nâng cao NLCT của doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp
chiếm lĩnh thị trường trong nước, mở rộng thị trường ra nước ngoài
Thị trường là nơi tiêu thụ các sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua các hoạtđộng mua bán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường cũng lànơi định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp thông qua mức cầu, giá cả,lợi nhuận….Để chiếm lĩnh được thị trường, doanh nghiệp phải tạo lập được môitrường cạnh tranh tích cực, tăng sức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình côngnghệ, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ, tạo động lực cho doanh nghiệp vươnlên Để phát triển và mở rộng thị trường, doanh nghiệp cần tăng cường các hoạtđộng Marketing, giới thiệu sản phẩm thông qua các phương tiện đại chúng, qua các
tờ rơi giới thiệu về sản phẩm của doanh nghiệp, tạo thói quen tiêu dùng sản phẩmcủa doanh nghiệp
Từ chiếm lĩnh được thị trường trong nước, doanh nghiệp cần tiếp tục vươnlên chiếm lĩnh thị trường thế giới đặc biệt là thị trường các nước trong khu vực Do
đó, doanh nghiệp phải từng bước thăm dò nghiên cứu thị trường trong khu vực vàquốc tế, quảng bá thương hiệu, tìm kiếm khách hàng, thông qua đó để nắm đượcyêu cầu về số lượng, chất lượng và giá cả trên cơ sở đó tổ chức sản xuất nhằm đápứng nhu cầu khách hàng Để chiếm lĩnh được thị trường nước ngoài thì một trongnhững biện pháp để đạt được mục tiêu là phải giữ chữ tín, tạo lòng tin để phát triểnlâu dài
Thị trường trong nước và quốc tế có quan hệ mật thiết, bổ xung cho nhau tạo
Trang 36cho doanh nghiệp phát triển ổn định, giảm thiểu rủi ro Khi thị trường trong nướckhó khăn thì thị trường nước ngoài sẽ hỗ trợ đắc lực và ngược lại, giúp cho doanhnghiệp giữ vững ổn định sản xuất, kinh doanh.
NLCT của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế
xã hội cũng như sự sống còn của doanh nghiệp Doanh nghiệp cần nâng cao NLCT
để giải quyết tốt các yếu tố còn tồn tại trong bản thân doanh nghiệp Trong nhữngnăm trước đây, hiện tượng cạnh tranh thiếu lành mạnh giữa các nhà sản xuất thuốcthú y nội địa bằng cách nhái nhãn mác, công thức pha chế khá phổ biến Một loạisản phẩm có tên gọi tương tự như một loại sản phẩm đang ăn khách, có công thứcghi trên nhãn cũng tương tự những được bán với giá rẻ hơn rất nhiều Trong mộtthời gian nhất định cũng gây tổn thất cho đơn vị có sản phẩm chất lượng tốt nhưnggiá bán cao hơn, song sự cạnh tranh theo kiểu chụp giựt đã dần chấm dứt do có cácbiện pháp xử lý kịp thời của các cơ quan quản lý chuyên ngành và do chính sự nhậnthức của người tiêu dùng
Có thể nói rằng ngành sản xuất thuốc thú y Việt nam đã đi từ không đến có.Trước năm 1993 người chăn nuôi chỉ biết đến một vài loại kháng sinh thông thường(Penicillin, Streptomycin…) do một công ty nhà nước phân phối và phần lớn làthuốc hết hạn sử dụng cho người, do đó thuốc của Trung Quốc có cơ hội tràn ngậpthị trường Song cho đến nay thuốc sản xuất trong nước đã chiếm tới 70% thị phần,cạnh tranh với hàng ngoại nhập bằng chất lượng, hình thức, giá cả…
Tuy nhiên, sau gần 20 năm thực hiện cho đến nay, công tác quản lý thuốc thú
y còn nhiều bất cập, nhiều loại thuốc thú y còn kém chất lượng Do đó ngành sảnxuất thuốc thú y đã và đang gặp phải nhiều khó khăn:
+ Hệ thống văn bản pháp luật còn thiếu và chưa hoàn chỉnh, đồng bộ Quyđịnh về đăng ký lưu hành thuốc thú y đã tương đối phù hợp với các nước tiên tiến,song hồ sơ đăng ký sản xuất thuốc trong nước còn đơn giản, chưa đáp ứng được yêucầu về chất lượng, an toàn và hiệu quả sử dụng
+ Thiếu kế hoạch, quy hoạch, chương trình dài hạn về thuốc thú y
+ Việc tổ chức hướng dẫn thực hiện các quy định pháp luật về quản lý thuốc
Trang 37thú y chưa tốt Chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Cục thú y và các Chi cục thú ytrong việc triển khai thực hiện các quy định pháp luật về quản lý thuốc thú y, trongviệc thanh tra, kiểm tra thuốc thú y lưu hành trên thị trường, cũng như việc đầu tưkinh phí cho các hoạt động này.
+ Việc giám sát chất lượng, độ an toàn và hiệu quả của thuốc thú y còn yếu
do việc quản lý hồ sơ đăng ký thuốc thú y còn nhiều bất cập, nhiều cơ sở sản xuấtchưa triển khai lộ trình thực hành sản xuất thuốc tốt (GMP)
+ Nhân lực và trình độ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý và hộinhập Quốc tế, ASEAN
+ Thiếu sự hợp tác với các cơ quan trong và ngoài nước về lĩnh vực đào tạo,nghiên cứu Không có chương trình, dự án hợp tác phát triển dài hạn về thuốc thú yvới các nước trong khối ASEAN, cũng như các nước trên thế giới
Đứng trước ngưỡng cửa hội nhập, các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanhthuốc thú y hiện nay đang phải đối mặt với những khó khăn thực sự bởi lẽ phần lớncác doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,vốn đầu tư còn khiêm tốn, do vậy nhà xưởng của không ít cơ sở chưa hoàn chỉnh,những cải tiến vẫn mang tính chắp vá, trang thiết bị, công nghệ còn lạc hậu, trình độsản xuất ở mức thấp, người lao động kỹ thuật trình độ chuyên sâu còn thấp kém,công tác kiểm tra chất lượng sản phẩm còn nhiều bất cập
Trước nhu cầu hội nhập với nền kinh tế quốc tế với các nước trong khu vực
và lộ trình thực hiện GMP của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn trở thànhmột yêu cầu bắt buộc Muốn tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp chỉ có mộtđường đi duy nhất là tự hoàn thiện mình, chấp nhận cạnh tranh để vươn lên Trongnhững năm gần đây, việc Việt Nam gia nhập WTO, những cơ hội WTO mang lạikhông nhỏ, song cũng đưa tới những thách thức rất lớn cho các doanh nghiệp ViệtNam nói chung và các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc thú y nói riêng, nhất
là đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm đầu Việt Nam trở thành thànhviên của WTO Chiến lược phát triển sản xuất thuốc thú y Việt Nam đã và đang đitheo một lộ trình xác định để các nhà sản xuất có kế hoạch đầu tư phát triển Giaiđoạn khuyến khích phát triển sản xuất đã tới lúc dứt khoát cần chuyển nhanh sang
Trang 38giai đoạn phát triển theo yêu cầu hội nhập quốc tế Trong vòng một thập kỷ tới, cácnhà sản xuất thuốc thú y Việt Nam không những phải phấn đấu để có được chứngnhận GMP mà còn tiếp tục phải phấn đấu để có được chứng nhận GLP và GSP.
Xây dựng thương hiệu của doanh nghiệp, nâng cao năng suất, chất lượngcủa sản phẩm, hạ giá thành, phát triển gắn với nhu cầu thị trường(đầu tư thíchđáng để mở rộng thị trường xuất khẩu) chính là con đường tất yếu để doanhnghiệp tồn tại và phát triển
Con đường của các doanh nghiệp sản xuất thuốc thú y Việt Nam đang đicũng chính là con đường mà các nhà sản xuất thuốc thú y của các nước phát triển đãtừng đi từ 30 – 50 năm trước Điều cần thiết lúc này là chúng ta cần chuẩn bị đủhành trang để sớm tiếp cận với nền sản xuất thuốc thú y của các nước phát triển
1.3 Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số quốc gia và doanh nghiệp trong nước
1.3.1 Kinh nghiệm của một số quốc gia và một số doanh nghiệp trong nước
Kinh nghiệm của Hàn quốc và Đài Loan
Hàn Quốc: Đối với Hàn Quốc, chính sách công nghệ được coi là một bộ
phận hợp thành hữu cơ của chính sách công nghiệp mở rộng Hàn Quốc đặc biệt coitrọng việc thực hiện kết hợp chính sách công nghệ với chiến lược thay thế nhậpkhẩu, khuyến khích xuất khẩu, đầu tư phát triển tiềm lực R&D cho tập đoàn tư nhânlớn và hàng loạt chính sách hỗ trợ có liên quan Chính phủ Hàn Quốc thực hiệnchính sách công nghệ kết hợp thay thế nhập khẩu có chọn lọc cùng với thúc đẩyxuất khẩu, bảo hộ và bao cấp cho các ngành công nghiệp chọn lọc tạo ưu thế xuấtkhẩu trong tương lai Để tiến hành phát triển công nghiệp nặng, thúc đẩy năng lựcR&D nội địa và xuất khẩu quốc tế, không đầu tư vào doanh nghiệp nhà nước màchính phủ Hàn Quốc tập trung vào thúc đẩy tăng trưởng của các hãng tư nhânkhổng lồ là các tập đoàn tư nhân, đây chính là những trụ cột chính của chiến lượccông nghệ Các tập đoàn này được lựa chọn từ những hãng xuất khẩu thành công vàđược nhận nhiều ưu đãi đặc quyền và trợ cấp của chính phủ như: Chế độ bảo hộ củanhà nước nhằm hạn chế sự cạnh tranh của các công ty xuyên quốc gia Hình thứccho vay ưu đãi được chính phủ thực hiện thông qua việc lập cá quỹ cung cấp các
Trang 39khoản vay với lãi suất thấp để phát triền công nghệ, với nguồn tài chính từ các cơquan, tổ chức tài chính Hàn Quốc là quốc gia có nền công nghiệp tài chính mạohiểm thuộc hàng lớn nhất và có nhiều thành công lớn trên thế giới Hiện Hàn Quốc
có 58 công ty tài chính mạo hiểm, cung cấp các khoản vay và đầu tư (85% là chovay) Dòng công nghệ du nhập của Hàn Quốc chủ yếu là từ Mỹ và Nhật Bản chủyếu là điện, điện tử, hóa công nghiệp, máy móc thiết bị, vận tải…đây là những côngnghệ có vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp của hànQuốc, đồng thời tạo điều kiện để công nghệ nước này nhanh chóng đuổi kịp côngnghệ các nước tiên tiến
Đài Loan: Không giống như Hàn Quốc, Đài Loan không khuyến khích sự
tăng trưởng của các tập đoàn kinh tế tư nhân, Đài Loan chú trọng đến sự thúc đẩynăng lực R&D của địa phương từ những năm cuối thập niên 50 Đài Loan đã sớmđưa chương trình KH & CN năm 1979 nhằm tập trung vào phát triển các ngànhnăng lượng, tự động hóa sản xuất, khoa học thông tin và các công nghệ khoa họcvật liệu Chi phí đầu tư cho R&D cũng được chính quyền Đài Loan tài trợ với tỷtrọng khá lớn Tuy nhiên khoản tài trợ được giảm bớt đi theo thời gian Trên thực tế,thời kỳ đầu R&D của khu vực tư nhân còn yếu vì phần lớn doanh nghiệp thuộc khuvực này là doanh nghiệp vừa và nhỏ
Sự hỗ trợ của chính quyền cho các chương trình R&D được thực hiện trongnhiều năm bằng nhiều chính sách ưu đãi như: cung cấp vốn cho các quỹ đầu tư mạohiểm, tạo điều kiện thuận lợi cho các công ty phát triển các sản phẩm công nghiệp
“chiến lược” Thực hiện biện pháp khuyến khích các công ty tư nhân phát triển sảnphẩm bằng các khoản vay lãi thích hợp Miễn toàn bộ thuế cho các chi phí tronghoạt động R&D, thực hiện chính sách khấu hao nhanh đối với các thiết bị nghiêncứu Chính quyền cũng triển khai nghiên cứu quy mô lớn, được tài trợ cùng vớingành công nghiệp nhằm phát triển các sản phẩm công nghiệp then chốt
Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp trong nước
Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam: Năm 2010, ngành Dệt may tự hào đứng top 5 thế giới về XK, với
kim ngạch đạt 11,2 tỷ USD Theo nhận xét của các chuyên gia, dù vẫn phải đối mặt
Trang 40với nhiều khó khăn nhưng dệt may Việt Nam đã giành được số lượng lớn các đơnhàng Tuy có tốc độ tăng trưởng khả quan, nhưng ngành Dệt may vẫn chưa pháttriển một cách bền vững Các DN dệt may cần phải nâng cao năng lực cạnh tranh thìmới có thể hòa nhịp vào dòng chảy thương mại toàn cầu Các DN ngành Dệt may
đã chú ý đầu tư phát triển mảng thiết kế, đổi mới mẫu mã, nâng cao năng suất laođộng Bên cạnh đó, ở tầm vĩ mô, kiến nghị Nhà nước hỗ trợ giải quyết những khókhăn về vốn, trong đó chủ yếu là hỗ trợ lãi suất Tổ chức hệ thống hỗ trợ, cung cấpthông tin và chính sách đối với hoạt động XK, đặc biệt là việc kịp thời thông tin cho
DN khi có biến động thị trường, đối tác Để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các
DN ngành Dệt may thì trước tiên phải nâng cao năng suất lao động, phát triển cụmngành để kết nối chuỗi sản xuất hiệu quả hơn Điểm yếu lớn nhất của dệt may ViệtNam chính là sự không liên thông để đảm bảo cung ứng từ đầu đến cuối trong toànchuỗi sản xuất Nếu ngành Dệt may không tự cải thiện được năng suất thì sẽ dẫnviệc tụt hậu Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh là bài toán khó, tuy nhiên khôngphải không thể thực hiện được Do vậy, các DN dệt may luôn coi trọng chất lượngsản phẩm, tập trung nghiên cứu kỹ thị hiếu thời trang của nước NK, nghiên cứu kỹphân khúc khách hàng để từ đó thiết kế mẫu mã, chọn lựa màu sắc cũng như chấtlượng vải, loại vải sao cho phù hợp Bên cạnh đó, các DN dệt may luôn chú ý tớithời gian giao hàng vì khách hàng ở nước ngoài rất coi trọng tiến độ Làm tốt nhữngđiều này cũng là phương thức hiệu quả để nâng cao năng lực cạnh tranh của mìnhvới các đối thủ khác Hiện nay, một bộ phận DN đã ý thức được năng lực cạnh tranhcủa mình Trong XK, coi trọng chất lượng sản phẩm, từ nguyên liệu đầu vào chođến hàng thành phẩm phải đảm bảo tiêu chuẩn theo hệ thống quản lý chất lượngISO Đa dạng hóa chủng loại, tiếp tục xúc tiến đầu tư mở rộng hệ thống phân phối,nâng cao thị phần XK, đó cũng là cách giúp nâng cao năng lực cạnh tranh trêntrường quốc tế Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, mục tiêu XK mặt hàng này trongnăm 2011 sẽ đạt kim ngạch từ 12,7 đến 13 tỷ USD, chiến lược phát triển ngành Dệtmay giai đoạn 2011-2015 sẽ là 18-20 tỷ USD Và kết quả này sẽ còn vượt bậc hơnnữa nếu như các DN dệt may ý thức và biết cách làm gia tăng giá trị của mình bằng