Đối với Việt Nam, trong thời gian qua, ngân hàng nhà nướcNHNN đã đóngmột vai trò quan trọng trong việc thực thi mục tiêu cơ bản của chính sách tỷ giá làkiềm chế, kiểm soát lạm phát như đ
Trang 1DANH MỤC BẢNG BIỂU, ĐỒ THỊ 4
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT 4
1.1 Tổng quan về ngân hàng trung ương 4
1.1.1 Quá trình hình thành Ngân hàng trung ương 4
1.1.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng trung ương 5
1.1.2.1 Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ 5
1.1.2.2 Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ 6
1.1.3 Chức năng của Ngân hàng trung ương 6
1.1.3.1 Độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cung ứng 6
1.1.3.2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng 8
1.1.3.3 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của Nhà nước 8
1.1.4 Một số hoạt động cơ bản của Ngân hàng trung ương 9
1.2 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương với mục tiêu kiểm soát lạm phát 10
1.2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 10
1.2.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái với hoạt động của Ngân hàng trung ương 10
1.2.3 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương 12
1.2.3.1 Cơ chế tỷ giá cố định 12
1.2.3.2 Chế độ tỷ giá thả nổi 12
1.2.4 Nhân tố tác động đến cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái 14
1.2.5 Kinh nghiệm cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 15
1.2.5.1 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở một số nước trên thế giới 15
1.2.5.2 Bài học cho Việt Nam 21
Trang 22.1 Bối cảnh nền kinh tế xã hội Việt Nam từ năm 2004 đến nay 23
2.2 Thực trạng chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam từ năm 2004 đến nay 26
2.2.1 Cơ sở pháp lý 26
2.2.2 Mục tiêu của cơ chế điều hành tỷ giá 28
2.2.3 Cơ chế điều hành 29
2.3 Những kết luận rút ra từ phân tích cơ chế điều hành chính sách tỷ giá của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 31
2.3.1 Kết quả đạt được 31
2.3.1.1 Tỷ giá được điều chỉnh linh hoạt hơn 31
2.3.1.2 Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng năng động và đa dạng hơn 32
2.3.1.3 Có sự phối kết hợp với các công cụ khác của chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát 33
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 35
2.3.2.1 Tỷ giá chưa phản ánh đúng cung - cầu ngoại tệ trong nền kinh tế 35
2.3.2.2 Sự kết hợp giữa chính sách tỷ giá với các công cụ khác của chínnh sách tiền tệ 36
2.3.2.3 Cơ chế điều hành tỷ giá chưa đảm bảo cho thị trường ngoại tệ liên ngân hàng hoạt động có hiệu quả 37
2.3.2.4 NHNN chưa kiểm soát tốt hoạt động của thị trường ngoại tệ tự do 38
2.3.2.5 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của các NHTM chưa thật sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế 38
2.3.2.6 Hoạt động quản lý ngoại hối chưa thực sự hiệu quả 38
KẾT LUẬN 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41
Trang 4Bảng 1.1: Diễn biến của tỷ giá hối đoái giữa đồng nhân dân tệ và đồng đô la thời kỳ
1978 - 1990 17
Bảng 1.2 : Biến động của tỷ giá danh nghĩa NDT/USD đầu những năm 1990 17
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 1994 - 1997 18
Bảng 2.1 Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu của Việt Nam, 2004- quý I 2011 24
Bảng 2.2 Cơ chế tỷ giá của Việt Nam theo thời gian, 2004-3/2011 29
Hình 2.1 Tỷ giá đồng bản tệ so với USD của một số nước và Việt Nam giai đoạn 1980-2010 (1991=100) 25
Hình 2.2 Chỉ số giá tiêu dùng của một số nước và Việt Nam giai đoạn 1980-2009 26
Hình 2.3 Biên độ tỷ giá xung quanh tỷ giá chính thức, 03/1989 đến 12/2009 31
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của luận văn
Trước những năm 20 của thế kỷ XX, nền kinh tế vận hành theo cơ chế tự tácđộng và điều tiết giữa các lực lượng trên thị trường, không có sự can thiệp của Chínhphủ Điều này được thể hiện qua học thuyết “bàn tay vô hình” của A.Smith Nhưngcuộc đại khủng hoảng 1929-1933 đã kéo tất cả mọi người từ nhà lập chính sách đếnngười dân buôn bán bình thường, từ những người theo trường phái cổ điển cho đếnnhững người phản đối học thuyết này trở về với thực tế rằng bàn tay vô hình là khônghữu hiệu Bàn tay hữu hình ra đời từ bối cảnh đó mà người đi đầu là J.M Keynes.Theo học thuyết Keynes thì cần phải có sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tếthay cho một bàn tay vô hình nào đó khi thị trường gặp phải thất bại Công cụ để điềuhành nền kinh tế của một quốc gia chính là các chính sách kinh tế tài chính của chínhbản thân quốc gia đó Trong đó, chính sách tỷ giá của CSTT là một trong những bộphận quan trọng nhất cấu thành hệ thống chính sách này
Ngân hàng Trung ương các quốc gia có nhiệm vụ thiết lập và thực thi chínhsách tỷ giá Ngân hàng Trung ương căn cứ vào mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản vàtrạng thái kinh tế của quốc gia từng thời kỳ mà xác định mục tiêu chính của chínhsách tỷ giá Mục tiêu chính sách tỷ giá hầu như thống nhất ở các nước Sự điềuchỉnh lượng tiền cung ứng nhằm mục tiêu trước hết là ổn định giá trị tiền tệ, trên cơ
sở đó góp phần tăng trưởng kinh tế và công ăn việc làm
Đối với Việt Nam, trong thời gian qua, ngân hàng nhà nước(NHNN) đã đóngmột vai trò quan trọng trong việc thực thi mục tiêu cơ bản của chính sách tỷ giá làkiềm chế, kiểm soát lạm phát như đã thành công trong việc chống lại hiện tượnglạm phát cao từ những năm đầu 90 (năm 1990: 67,1%, năm 1994 chỉ còn 14,4%)
Tuy nhiên, tại thời điểm này, sau 11 năm liên tục lạm phát được kìm giữ ởmức thấp (1 con số), đến năm 2007 lạm phát đã quay trở lại tốc độ "phi mã" vớimức 12,63%, cao gấp rưỡi tốc độ tăng trưởng kinh tế (8,44%) Lạm phát tăng cao
đã tác động nhiều mặt của đời sống kinh tế - xã hội, làm chao đảo cuộc sống củadân chúng
Trang 6Ngoài những nguyên nhân khách quan (giá cả thế giới biến động, thiên tai,dịch bệnh ) giá cả tăng cao là do điều hành chính sách tỷ giá chưa khoa học, bịđộng, lúng túng, làm cho tác động của nó tới mục tiêu ổn định giá cả gần như khôngđáng kể đi sau diễn biến thị trường cũng là nguyên nhân góp phần làm giá cả biếnđộng và chỉ số CPI tăng cao Trước tình hình đó, một câu hỏi lớn cần đặt ra: Ngânhàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cần điều hành chính sách tỷ giá như thế nàonhằm kiểm soát được lạm phát đang có xu hướng gia tăng? Chính vì vậy tôi đã lựa
chọn, nghiên cứu đề tài: " Hoàn thiện việc điều hành chính sách tỷ giá trong điều kiện lạm phát ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay"
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ các vấn đề lý thuyết về lạm phát, kiểm soát lạm phát và điều hànhchính sách tỷ giá với mục tiêu kiểm soát lạm phát
- Làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả điều hành chính sách tỷ giátrong việc kiểm soát lạm phát
- Thông qua thực trạng về lạm phát và điều hành chính sách tỷ giá của ViệtNam từ năm 2004-nay để đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện việc điều hànhchính sách tỷ giá nhằm mục tiêu kìm chế lạm phát trong thời gian tới
3 Nội dung nghiên cứu
1 Hệ thống lý luận về lạm phát, chính sách tỷ giá, điều hành chính sáchnhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát
2 Thực trạng điều hành chính sách tỷ giá trong việc kiểm soát lạm phát từnăm 2004 đến nay
3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện việc điều hành chính sách tỷ giá nhằm mụctiêu kiểm soát lạm phát ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1 Đối tượng: Điều hành chính sách tỷ giá nhằm mục tiêu kiểm soát lạm pháttrên giác độ của NHNN
2 Phạm vi nghiên cứu: những vấn đề lý luận chung về chính sách tỷ giávới mục tiêu kiểm soát lạm phát, và thực trạng điều hành chính sách tỷ giá củaViệt Nam từ năm 2004 đến nay
Trang 75 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩaduy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận Các phương pháp được sử dụng trongnghiên cứu đề tài bao gồm: phương pháp thống kê và miêu tả, phương pháp tổnghợp, phương pháp so sánh
6 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng,biểu, danh mục tài liệu tham khảo và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3chương như sau:
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
Chương 2: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ NHẰM
KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TRONG THỚI GIAN TỚI
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn đề lý luận về lạm phát, kiểm soátlạm phát và điều hành chính sách tỷ giá nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát
- Thông qua thực trạng điều hành chính sách tỷ giá của Việt Nam, luận vănđưa ra một số giải pháp hoàn thiện điều hành chính sách tỷ giá nhằm mục tiêu kiểmsoát lạm phát ở Việt Nam trong thời gian tới
Trang 8CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CHẾ ĐIỀU HÀNH
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG VỚI
MỤC TIÊU KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1.1 Tổng quan về ngân hàng trung ương
1.1.1 Quá trình hình thành Ngân hàng trung ương
Trong thời kỳ đầu hoạt động, các ngân hàng thực hiện đồng thời các nghiệpvụ: nhận tiền gửi và cho vay đối với khách hàng, phát hành các kỳ phiếu của mìnhvào lưu thông, thực hiện các dịch vụ ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền, đổitiền
Từ thế kỷ XVIII, nhà nước của các nước đã bắt đầu can thiệp vào hoạt độngcủa hệ thống ngân hàng bằng cách hạn chế số lượng các ngân hàng được phép pháthành kỳ phiếu ngân hàng
Đến thế kỷ XIX, ở các nước phát triển có xu hướng ra đời các đạo luật chỉcho phép một ngân hàng duy nhất phát hành tiền, còn các ngân hàng khác đơn thuầnkinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng Ở Anh năm 1844, nhà nước cấm cácngân hàng tư nhân phát hành tiền và tòn bộ nghiệp vụ phát hành tiền tệ được tậptrung vào tay Anh quốc ngân hàng Ngân hàng cổ phần tư nhân Pháp thành lập năm
1800, đến năm 1803 được độc quyền phát hành giấy bạc ở Pari, đến năm 1948 độcquyền phát hành giấy bạc ngân hàng trên toàn nước Pháp
Đầu thế kỷ thứ XX, ở các nước các ngân hàng được phép phát hành tiền đềuthuộc sở hữu tư nhân, nhà nước không có điều kiện can thiệp các hoạt động kinh tếthông qua tác động của tiền tệ Khủng hoảng kinh té thế giới năm 1929 – 1933 đãbuộc chính phủ các nước tăng cường hơn nữa can thiệp của mình vào lĩnh vực kinh
tế Ngoài việc điều tiết nền kinh tế thông qua hệ thống luật pháp, các chính sáchthuế , Nhà nước cần phải nắm lấy phương tiện cơ bản của kinh tế thị trường – tiền
tệ để góp phần giải quyết tình trạng bất ổn định trong nền kinh tế Vì thế, sau khủnghoảng kinh thế thế giới năm 1929 – 1933, phần lớn các nước đã tiến hành quốc hữu
Trang 9hóa hoặc thành lập mới ngân hàng phát hành thuộc sở hữu nhà nước, nhằm nắmtrọn quyền phát hành tiền tệ để qua đó điều tiết các hoạt động kinh tế vĩ mô Canadaquốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1938, Đức quốc hữu hóa ngân hàng năm
1939, Pháp quốc hữu hóa ngân hàng phát hành năm 1945, Anh quốc hữu hóa ngânhàng phát hành năm 1946 Từ đó, khái niệm Ngân hàng trung ương (NHTƯ) được
sử dụng để thay thế cho khái niệm ngân hàng phát hành
NHTW không chỉ thực hiện chức năng phát hành tiền tệ vào lưu thông, màcòn thực hiện chức năng quản lý về mặt nhà nước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng,ngân hàng Tuy nhiên, ở một số nước ngân hàng phát hành không hoàn toàn thuộcquyền sở hữu của Nhà nước, nhưng hoạt động vẫn mang tính chất như một ngânhàng của Nhà nước và cơ quan quản lý cao nhất của nó là do Nhà nước bổ nhiệm vàmiễn nhiệm NHTW Nhật Bản là ngân hàng cổ phần theo luật năm 1942, trong đó
cổ phần nhà nước chiếm 55%, cổ phần thuộc sở hữu tư nhân chiếm 45%, nhưng cơquan quản trị ngân hàng là hội đồng chính sách có 7 thành viên do chính phủ bổnhiệm và miễn nhiệm Ở Mỹ, hệ thống dự trữ liên bang là ngân hàng cổ phần tưnhân, nhưng cơ quan lãnh đạo cao nhất của ngân hàng này là hội đồng thống đốc có
7 thành viên do Tổng thống đề cử và Quốc hội bổ nhiệm
1.1.2 Mô hình tổ chức của Ngân hàng trung ương
Tùy theo điều kiện lịch sử của mỗi nước, NHTW có thể độc lập hay trựcthuộc Chính phủ
1.1.2.1 Ngân hàng trung ương độc lập với Chính phủ
Theo mô hình này, Chính phủ không có quyền can thiệp vào hoạt động củaNHTW, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ (CSTT) Môhình này được xây dựng dựa trên quan điểm cho rằng, nếu để NHTW trực thuộcChính phủ, sẽ bị Chính phủ lợi dụng công cụ phát hành để bù đắp bội chi ngân sáchnhà nước, từ đó gây ra lạm phát, mặt khác làm cho NHTW mất hẳn tính độc lập vàchủ động trong việc xây dựng và thực thi CSTT Tiêu biểu cho mô hình này là Hệthống dự trữ liên bang Hoa Kỳ và Ngân hàng dự trữ liên bang Đức
Ở Mỹ: cơ quan quản lý cao nhất của Hệ thống dự trữ liên bang là hội đồng
Trang 10thống đốc Hội đồng này có 7 thành viên, nhiệm kỳ của mỗi thành viên là 14 năm,trong khi nhiệm kỳ của Tổng thống là 4 năm, trong nhiệm kỳ Tổng thống đượcquyền chỉ định 2 thành viên để Thượng nghị viện bổ nhiệm Như vậy, 5 thành viêncòn lại do các Tổng thống tiền nhiệm chỉ định Mặt khác, về mặt kỹ thuật, thànhviên của Hội đồng thống đốc không được phép tái nhiệm, điều này loại bỏ một sốđộng lực thúc đẩy các thống đốc tìm cách tranh thủ làm vừa lòng Tổng thống vàQuốc hội Với cơ chế này, Chính phủ khó có thể chi phối hoạt động của NHTW.
Ở Đức: theo luật, Ngân hàng dự trữ liên bang Đức có trách nhiệm ủng hộichính sách kinh tế chung của Chính phủ nhưng khi thực hiện các nghiệp vụ củamình ngân hàng này không trực thuộc Chính phủ
1.1.2.2 Ngân hàng trung ương trực thuộc Chính phủ
Theo mô hình này, Chính phủ có ảnh hưởng rất lớn đối với NHTW thôngqua việc bổ nhiệm các thành viên của bộ máy quản trị và điều hành NHTW, thậmchí Chính phủ còn can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng và thực thi CSTT Mô hìnhnày dựa tren quan điểm cho rằng, Chính phủ là cơ quan hành pháp, thực hiện chứcnăng quản lý kinh tế vĩ mô, do đó Chính phủ phải nắm trong tay các công cụ kinh tế
vĩ mô để sử dụng và phối hợp một cách đồng bộ, hiệu quả các công cụ đó CSTT làmột trong những bộ phận chủ yếu của chính sách kinh tế vĩ mô, việc xây dựng vàthực thi CSTT là nhiệm vụ của NHTW, cho nên NHTW phải trực thuộc Chính phủ
Mô hình này được áp dụng ở nhiều nước, ví dụ Nhật Bản, Anh, Việt Nam
1.1.3 Chức năng của Ngân hàng trung ương
1.1.3.1 Độc quyền phát hành giấy bạc ngân hàng và điều tiết lượng tiền cung ứng
Đi liền với sự ra đời của NHTW thì toàn bộ việc phát hành tiền được tậptrung vào NHTW theo chế độ nhà nước độc quyền phát hành tiền và nó trở thànhtrung tâm phát hành tiền của cả nước
Giấy bạc ngân hàng do NHTW phát hành là phương tiện thanh toán hợppháp, làm chức năng phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán Do đó, việcphát hành tiền của NHTW có tác động trực tiếp đến tình hình lưu thông tiền tệ củađất nước Để cho giá trị đồng tiền được ổn định, nó đòi hỏi việc phát hành tiền phảituân theo những nguyên tắc nghiêm ngặt
Trang 11Nguyên tắc thứ nhất là phát hành tiền phải có vàng bảo đảm Nguyên tắc nàyquy định việc phát hành giấy bạc ngân hàng vào lưu thông phải được bảo đảm bằngtrữ lượng vàng hiện hữu nằm trong kho của NHTW NHTW phải bảo đảm việc tự dođổi giấy bạc ngân hàng ra vàng theo luật định khi người có giấy bạc yêu cầu Tuynhiên, vận dụng nguyên tắc này, mỗi nước lại có sự co giãn về mức độ bảo đảm vàngkhác nhau, điều đó còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị của mỗi nước.
Nguyên tắc thứ hai là phát hành giấy bạc ngân hàng thông qua cơ chế tíndụng, được bảo đảm bằng giá trị hàng hóa và dịch vụ Theo cơ chế này, việc pháthành giấy bạc không nhất thiết phải có vàng bảo đảm, mà phát hành thông qua cơchế tín dụng ngắn hạn, trên cơ sở có bảo đảm bằng giá trị hàng hóa, công tác dịch
vụ, thể hiện trên kỳ phiếu thương mại và các chứng từ nợ khác có khả năng hoánchuyển thành tiền theo luật định Đó là tín dụng của NHTW, được thực hiện bằngphương thức tái cấp vốn đối với các ngân hàng thương mại (NHTM) Việc pháthành giấy bạc ngân hàng theo nguyên tắc này, một mặt nó xuất phát từ nhu cầu tiền
tệ phát sinh do sự tăng trưởng kinh tế; mặt khác tạo ra khả năng để NHTW thựchiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng theo yêu cầu CSTT
Ngày nay, trong điều kiện lưu thông giấy bạc ngân hàng không được tự dochuyển đổi ra vàng theo luật định, các nước trên thế giới đều chuyển sang chế độphát hành giấy bạc thông qua cơ chế tái cấp vốn cho các ngân hàng và hoạt độngtrên thị trường mở của NHTW Đồng thời, trên cơ sở độc quyền phát hành tiền,NHTW thực hiện việc kiểm soát khối lượng tiền cung ứng được tạo ra từ cácNHTM, tổ chức công tác điều hòa lưu thông tiền tệ bằng quy chế dự trữ bắt buộc,lãi suất chiết khấu nhằm vừa đảm bảo đủ phương tiện trao đổi vừa đảm bảo kiểmsoát lạm phát trên cơ sở căn cứ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ lạm phát, tìnhtrạng của cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách nhà nước, chính sách phát triểnkinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn
Như vậy, NHTW không chỉ độc quyền phát hành tiền tệ, mà còn quản lý vàđiều tiết lượng tiền cung ứng, thực hiện CSTT, bảo đảm ổn định giá trị đối nội vàgiá trị đối ngoại của đồng bản tệ
Trang 121.1.3.2 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của các ngân hàng
Là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW thực hiện một số nghiệp vụ sau:Thứ nhất, NHTW mở tài khoản tiền gửi và bảo quản dự trữ tiền tệ cho cácngan hàng và các tổ chức tín dụng Trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngânhàng và các tổ chức tín dụng đều phải mở tài khoản tiền gửi và gửi tiền vào NHTWgồm có hai loại: tiền gửi thanh toán và tiền gửi dự trữ bắt buộc Tiền gửi thanh toán
là khoản tiền gửi của các ngân hàng tạo NHTW nhằm bảo đảm như cầu chi trả trongthanh toán giữa các ngân hàng và kho khách hàng Tiền gửi dự trữ bắt buộc làkhoảng tiền áp dụng đối với các ngân hàng và các tổ chức tính dụng có huy độngtiền gửi của công chúng, mức tiền dự trữ này được NHTW quy định và bằng một tỷlên nhất định so với tổng số tiền gửi của khách hàng, đây là một công cụ củaNHTW trong việc thực thi CSTT do vây mức dự trữ bắt buộc sẽ thay đổi theo yêucầu của CSTT trong từng thời kỳ
Thứ hai, NHTW thực hiện cho vay đối với các NHTM và tổ chức tín dụng.Trong quá trình hoạt động của mình, các NHTM và các tổ chức tín dụng sử dụngcấp vốn tập trung, huy động được để cho vay đối với nền kinh tế Khi xuất hiện nhucầu về vốn, các NHTM sẽ được NHTW cấp tín dụng theo những điều kiện nhấtđịnh, phù hợp yêu cầu CSTT Như vậy, về thực chất là NHTW thực hiện cung ứngtiền tệ theo nhu cầu của nền kinh tế thông qua việc tái cấp vón cho các NHTM vàcác tổ chức tín dụng khác bằng nghiệp vụ chiết khấu hoặc tái chiết khấu NHTWcòn là trung tâm thanh toán của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng Vớitrung tâm này, NHTW thực hiện các nghiệp vụ thanh toán như: thanh toán từng lần,thanh toán bù trừ
1.1.3.3 Ngân hàng trung ương là ngân hàng của Nhà nước
Nói chung, NHTW là ngân hàng thuộc sở hữu của Nhà nước, được thành lập
và hoạt động theo pháp luật NHTW vừa thực hiện chức năng quản lý về mặt nhànước trên lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng; vừa thực hiện chức năng là ngânhàng của Nhà nước Ở đây, NHTW thực hiện các nghiệp vụ chủ yếu sau:
Thứ nhất, NHTW là cơ quan quản lý về mặt nhà nước các hoạt động của của
Trang 13hệ thống ngân hàng bằng pháp luật: xem xét, cấp và thu hồi giấy phép hoạt độngcho các NHTM và các tổ chức tín dụng; kiểm soát tín dụng thông qua cơ chế tái cấpvốn và tỷ lệ dự trữ bắt buộc; quy định các thể chế nghiệp vụ, các hệ số an toàn trongquá trình hoạt động cho các NHTM và các tổ chức tín dụng; thanh tra và kiểm soátcác hoạt động của toàn bộ hệ thống ngan hàng Áp dụng các chế tài trong cáctrường hợp vi phạm pháp luật, nhằmg bảo đảm cho cả hệ thống ngân hàng hoạtđộng ổn dịnh, an toàn và có hiệu quả; quyết định đình chỉ hoạt động hoặc giải thểđối với các NHTM và các tổ chức tín dụng trong các trường hợp vi phạm nghiêmtrọng pháp luật hoặc mất khả năng thanh toán.
Thứ hai, NHTW có trách nhiệm đối với kho bạc nhà nước: mở tài khoản,nhận và trả tiền gửi của kho bạc nhà nước; tổ chức thanh toán cho kho bạc nhà nướctrong quan hệ thanh toán với các ngân hàng; làm đại lý cho kho bạc nhà nước trongmột số nghiệp cụ; bảo quản dự trữ quốc gia về ngoại hối, các chứng từ có giá
Thứ ba, NHTW thay mặt cho Nhà nước trong quan hệ với nước ngoài trênlĩnh vực tiền tệ, tín dụng và ngân hàng: ký kết các hiệp định về tiền tệ, tính dụng,ngân hàng với nước ngoài; đại diện cho Nhà nước tại các tổ chức tài chính quốc tế
mà nước đó là thành viên như IMF, WB, ADB
1.1.4 Một số hoạt động cơ bản của Ngân hàng trung ương
Thứ nhất là hoạt động phát hành tiền hợp pháp phục vụ cho sự chi tiêu củanền kinh tế NHTW đề nghị vụ chính sách tiền tệ xem xét lượng tiền có thể đượcphát hành vào nền kinh tế và do nhà máy in tiền quốc gia phụ trách Lượng tiềnđược đưa vào các NHTM từ đó đưa vào lưu thông
Thứ hai là hoạt động tín dụng của NHTW NHTW lúc này giữ vai trò làngười cho vay cuối cùng, đứng ra cho các NHTM vay hoặc cho Nhà nước vay Đặcbiệt, khi một số doanh nghiệp vay vốn nước ngoài, NHTM không có đủ khả năngđứng ra bảo lãnh thì NHTW sẽ đứng ra bảo lãnh
Thứ ba là hoạt động quản lý ngoại hối NHTW quản lý ngoại hối nhằm duytrì quỹ ngoại tệ quốc gia, bảo đảm cho đồng nội tệ không bị đầu cơ, lũng đoạn, đảmbảo an ninh tiền tệ
Trang 14Thứ tư là hoạt động thanh tra, kiểm soát NHTW thanh tra hoạt động của hệthống NHTM, đồng thời kiểm soát nội bộ NHTW và thanh tra hoạt động của đốitượng kinh doanh ngoại tệ, tất cả nhằm đảm bảo hoạt động tiền tệ thực hiện đúngquy định đặt ra.
1.2 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương với mục tiêu kiểm soát lạm phát
1.2.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Trong các giao dịch tài chính quốc tế, việc thực hiện mua và bán các ngoạihối trên thị trường đòi hỏi có sự chuyển đổi đồng tiền nước này sang đồng tiền nướckhác Do mỗi đồng tiền chịu ảnh hưởng nhiều nhân tố khác nhau nên có sức muakhác nhau, vì thế trên thị trường cần phải có quy định tỷ lệ để làm cơ sở chuyển đổigiữa hai đồng tiền, tỷ lệ này được gọi là tỷ giá hối đoái (thường gọi là tỷ giá)
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền được biểu hiện bằng một sốlượng đơn vị của một đồng tiền khác
Tỷ giá hối đoái là số đơn vị nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ hay ngược lại
Tỷ giá hối đoái phản ánh mối quan hệ về mặt giá trị giữa các đồng tiền khácnhau với nhau Trong quan điểm này, mặt giá trị giữa các đồng tiền được đề cập đến
là giá trị trao đổi
Mặc dù tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tỷ giá hối đoái song về bảnchất các quan điểm trên đều giống nhau Tóm lại, tỷ giá hối đoái là hệ số quy đổicủa một đồng tiền nước này sang đồng tiền khác Hay cách khác, tỷ giá hối đoái làgiá cả đơn vị tiền tệ của một nước được biểu hiện bằng khối lượng các đơn vị tiền tệnước ngoài
1.2.2 Vai trò của tỷ giá hối đoái với hoạt động của Ngân hàng trung ương
Tỷ giá hối đoái là đại lượng biểu thị mối tương quan về mặt giá trị giữa haiđồng tiền Nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước nàyđược biểu hiện bừang một số lượng đơn vị tiền tệ nước khác
Sự biến đổi của tỷ giá hối đoái có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động kinh
Trang 15tế, từ hoạt động xuất nhập khẩu đến sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nướcqua biến đổi của giá cả hàng hóa Do vậy, tỷ giá hối đoái là một công cụ để NHTWthực thi CSTT của mình Tuy nhiên, khi vận dụng công cụ này, không phải là việcNHTW đẩy tỷ giá lên cao hay kéo tỷ giá xuống thấp mà là ổn định tỷ giá ở một mức
độ nào đó được coi là hợp lý, phù hợp với đặc điểm, điều kiện thực tế của đất nướctrong từng giai đoạn, để tác động chung cuộc của nói đối với kinh tế là tốt nhất Khivận hàng công cụ tỷ giá hối đoái, NHTW có thể ấn định tỷ giá cố định, hoặc thả nổi
tỷ giá theo quan hệ cung – cầu ngoại tệ trên thị trường ngoại hối Giữa hai thái cực
tỷ giá thả nổi hoàn toàn và tỉ giá cố định còn có nhiều tỷ giá khác như tỷ giá cố địnhnhưng di động khi cần thiết và tỷ giá thả nổi có quản lý
Tỷ giá cố định và tỷ giá thả nổi hoàn toàn đều có những nhược điểm cơ bản
Cụ thể, cung cầu ngoại hối biến đổi không ngừng, do vậy nếu NHTW ấn định mộtmức tỷ giá cố định có nghĩa là NHTW đã vi phạm một trong những quy luật kinh tếkhách quan (quy luật cung – cầu) Còn nếu như thả nổi tỷ giá cho quan hệ cung –cầu ngoại hối quyết định thì tình trạng thăng trầm của tỷ giá hối đoái là điều tất yếuxảy ra và kéo theo nó là sự thăng trầm của nền kinh tế
Tỷ giá cố định nhưng di động khi cần thiết là tỷ giá do NHTW ấn địnhnhưng tùy theo tình hình, tỷ giá đó có thể được ấn định lại cho gần sát với tỷ giáthực tế Cách vận hành này chỉ có hiệu quả khi tình hình ngoại hối biến đổi chậm,còn trường hợp tình hình ngoại hối biến đổi thường xuyên, một sự chậm trễ trong sựthay đổi tỷ giá ấn định thường gây thiệt hại cho các ngàng hoạt động kinh tế trongnước
Tỷ giá thả nổi có quản lý là tỷ giá được hình thành trên cơ sở quan hệ cung cầu ngoại hối, nhưng khi cần thiết, NHTW có thể can thiệp bằng những biện phápthích hợp, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tác động vào quan hệ cung – cầu ngoại
-tệ, từ đó có thể ổn định được tỷ giá Biện pháp chủ yếu mà các NHTW thường dùng
để can thiệp vào cung – cầu ngoại tệ là sử dụng dự trữ ngoại hối và quỹ bình ổn hốiđoái Cụ thể, khi tỷ giá hối đoái tăng cao, NHTW tung ngoại tệ bán, làm cho khảnăng cung ứng ngoại tệ trên thị trường tăng lên, trong điều kiện các nhân tố khác
Trang 16không đổi, tỷ giá sẽ từ từ giảm xuống Ngược lại, khi tỷ giá hối đoái giảm, NHTW
sẽ mua vào ngoại tệ làm cho cầu ngoại tệ tăng lên, trong điều kiện các nhân tố kháckhông đổi, tỷ giá hối đoái sẽ từ từ tăng lên
1.2.3 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương
1.2.3.1 Cơ chế tỷ giá cố định
Trong chế độ tỷ giá cố định, tỷ giá hối đoái được xác định và duy trì mộtcách cố định tại một điểm hay trong một khoảng hẹp trong một khoảng thời giandài, không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu NHTW thường được chỉ định là cơquan xác định và duy trì tỷ giá cố định thông qua việc mua vào và bán ra đồng nội
tệ trên thị trường ngoại hối Trong chế độ này, tỷ giá áp dụng trong các hoạt độngmua bán ngoại tệ trên thị trường chính thức là tỷ giá được quy định bởi NHTW
Ưu điểm của chế độ tỷ giá cố định là hạn chế được sự biến động tỷ giá từ đókhông cần dự phòng rủi ro tỷ giá Ngoài ra, với việc tỷ giá được duy trì cố địnhtrong thời gian dài, Chính phủ và NHTW dễ dàng đạt được các mục tiêu liên quanthông qua CSTT
Bên cạnh đó, chế độ này tồn tại rất nhiều hạn chế Trước hết, do tỷ giá hốiđoái được duy trì bởi NHTW mà không phụ thuộc vào quan hệ cung cầu trên thịtrường nên dẫn tới tình trạng mất cân đối cung cầu, thị trường ngoại hối không pháttriển mà thay vào đó là sự phát triển của thị trường không chính thức Thứ hai, sựmất cân đối cung cầu dẫn tới tình trạng khan hiếm ngoại tệ phổ biến, gây khó khăncho các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân tham gia hoạt động xuất nhập khẩu quốc tế
từ đó hạn chế sự phát triển thương mại quốc tế Thứ ba, NHTW là cơ quan có chứcnăng duy trì cố định tỷ giá nên chi phí can thiệp để ổn định tỷ giá là rất lớn, do đóphải có quỹ dự trữ ngoại hối lớn
1.2.3.2 Chế độ tỷ giá thả nổi
1.2.3.2.1 Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn
Đây là chế độ mà tỷ giá hoàn toàn được xác lập theo quan hệ cung cầu thịtrường, Chính phủ hoàn toàn không có bất kỳ tác động hoặc cam kết gì về việc điềutiết tỷ giá Giá của một đồng tiền nội tệ đối với một đồng tiền ngoại tệ được xác
Trang 17định tại điểm mà cung ngang bằng cầu Khi xuất khẩu tăng hoặc luồng vốn đầu tưnước ngoài tăng sẽ làm cung ngoại tệ tăng, đồng ngoại tệ sẽ giảm giá và ngược lại
Ưu điểm của chế độ này là đã tạo ra sự ổn định các thị trường tiền tệ, tạo ra
sự công bằng và một thị trường hiệu quả
Tuy nhiên, với chế độ này thì tỷ giá hối đoái biến động do cung cầu thịtrường là rất lớn, tạo điều kiện cho giới đầu cơ làm mất giá đồng nội tệ, từ đó có thểdẫn tới khủng hoảng tài chính
1.2.3.2.2 Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết
Thực tế, chế độ tỷ giá này thường tồn tại dưới các dạng:
- Chế độ tỷ giá gắn vào đồng tiền dự trữ
Trong chế độ tỷ giá này, đồng tiền của một quốc gia được gắn chặt vào mộtđồng ngoại tệ mạnh Quốc gia thực hiện chế độ tỷ giá như vậy sẽ phải nắm giữ đồngtiền nước ngoài làm đồng tiền dự trữ để bảo vệ giá trị đồng tiền nội tệ của mình Kể
từ sau năm 1972, chế độ tỷ giá này được hầu hết các nước đang phát triển áp dụng
Đô la Mỹ thường là đồng tiền được các nước dùng để gắn các đồng tiền của mình.Tuy nhiên trong những năm gần đây, vì các cuộc khủng hoảng tài chính thườngxuyên xảy ra và để giảm thiểu sự bất ổn do việc gắn chặt vào một đồng tiền, các nềnkinh tế đang chuyển đổi thực hiện chính sách gắn đồng tiền của mình vào một rổtiền tệ Hệ thống quỹ dự trữ ngoại hối của các nước này được duy trì nhiều loạingoại tệ khác nhau theo một cơ cấu tỷ lệ nhất định tùy theo quan hệ thương mạiquốc tế
Nhìn chung, trong chế độ tỷ giá gắn vào một đồng tiền hay một rổ tiền tệ,muốn ổn định đồng tiền của mình các quốc gia áp dụng chế độ tỷ giá đó phải có một
hệ thống dự trữ ngoại hối đủ mạnh để can thiệp một cách hữu hiệu thị trường ngoạihối
- Chế độ tỷ giá giới hạn biên độ giao dịch
Ở một số quốc gia, trong quá trình áp dụng chế độ tỷ giá gắn vào đồng tiền
dự trữ, khi tiềm lực dự trữ ngoại tệ không đủ mạnh thì để bình ổn tỷ giá, NHTWthường áp dụng chế độ tỷ giá giới hạn biên độ giao dịch Chế độ tỷ giá này cho
Trang 18phép tỷ giá giao dịch trên thị trường biến động trong biên độ mà NHTW công bố,được xác định theo công thức:
Với cơ chế quy định biên độ giao dịch, NHTW thực hiện khống chế vàhướng dẫn loại giá cả đặc biệt này Tùy theo biến diễn biến cung cầu ngoại tệ trênthị trường, NHTW nới lỏng hay thắt chặt biên độ giao dịch cho thích hợp
Nhìn chung, tỷ giá hối đoái trong chế độ này là sự kết hợp giữa cung cầu thịtrường và sự điều tiết của Chính phủ, NHTW có thể can thiệp thông qua chính sách
tỷ giá Trong nền kinh tế xuất hiện chế độ đa tỷ giá do trên thị trường tồn tại nhiều
tỷ giá xoay quanh tỷ giá chính thức do NHTW cung cấp Chế độ tỷ giá thả nổi cóđiều tiết đã khắc phục được nhược điểm và phát huy ưu điểm của hai chế độ tỷ giáthả nổi hoàn toàn và chế độ tỷ giá cố định
1.2.4 Nhân tố tác động đến cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái
Thứ nhất là bối cảnh kinh tế trong nước Nền kinh tế với những điều kiệnkhác nhau, mức độ lạm phát khác nhau sẽ có cơ chế điều hành tỷ giá khác nhau.Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà cơ chế tỷ giá được điều tiết cho phù hợp với yêucầu của nền kinh tế, hỗ trợ kinh tế phát triển, tránh những căng thẳng về ngoại tệtrên thị trường ngoại hối
Thứ hai là thị trường quốc tế Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế nhưhiện nay, quốc gia nào cũng có mối liên hệ thương mại quốc tế với phần còn lại củathế giới Tỷ giá hối đoái đóng vai trò quan trọng việc thúc đẩy quan hệ thương mạiquốc tế Tùy vào kim ngạch thương mại, quốc gia có thể có cơ chế tỷ giá neo vớimột đồng tiền mạng hoặc có thể gắn đồng nội tệ với một rổ ngoại tệ bao gồm tiền tệcủa các nước có quan hệ thương mại khăng khít với mình Khi xem xét cơ chế tỷgiá thì sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường quốc tế cũng là một vấn đề cầnxem xét Muốn nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa, quốc gia đó không thể nânggiá đồng nội tệ mà thay vào đó phải có chính sách phá giá nhẹ đồng nội tệ làm cho
Tỷ giágiao dịchthị trường = Tỷ giá chính thức * (1 ± biên độ X%)
Trang 19hàng hóa nước mình rẻ hơn một cách tương đối so với hàng hóa nước ngoài từ đókích thích xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu.
Thứ ba là mức độ độc lập của NHTW với Chính phủ Chỉ khi NHTW cómức độ độc lập thích hợp với Chính phủ, CSTT nói chung và chính sách tỷ giá nóiriêng mới hoạt động thực sự hiệu quả Lúc này, tỷ giá mới không bị điều chỉnh đểchạy theo những chính sách kinh tế vĩ mô khác của Chính phủ, để giải quyết sự mấtcân bằng trong cán cân thanh toán hay sự khan hiếm ngoại tệ trên thị trường Chỉ cóđộc lập với Chính phủ, CSTT mới có thể được xây dựng cho mục tiêu trong dài hạncủa nền kinh tế và hoạt động có hiệu quả
Thứ tư là mối quan hệ giữa các chính sách kinh tế khác Chính sách tỷ giá làmột bộ phận của CSTT, chính vì thế chính sách tỷ giá không thể tách rời khỏi cáccông cụ khác trong việc thực hiện mục tiêu của CSTT đề ra Nằm trong mối tổnghòa các công cụ của CSTT, chính sách tỷ giá phải có sự phối hợp chặt chẽ và đồng
bộ, nhất quán với các công cụ khác từ đó mới đi đến được một CSTT thống nhất,hợp lý và hiệu quả
1.2.5 Kinh nghiệm cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái của Ngân hàng trung ương một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.2.5.1 Cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái ở một số nước trên thế giới
1.2.5.1.1 Chi Lê
Những năm 90 của thế kỷ trước, lạm phát ở các nước Mỹ La tinh lên tới500%, Achentina, Bra-xin và Pê ru là những nền kinh tế lớn nhất khu vực lạm phátcòn tăng lên đến 4 con số Trước tình hình đó, Chính phủ các quốc gia này đã cónhiều cải cách sâu rộng, đặc biệt là việc chuyển đổi thành công sang điều hànhCSTT lấy lạm phát làm mục tiêu Khuôn khổ chính sách lạm phát mục tiêu giúp choChi Lê giảm được mức lạm phát từ trung bình xuống mức thấp và ổn định Mộttrong những điều kiện tiên quyết để chính sách lạm phát mục tiêu thành công ở Chi
Lê là áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi
Áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi đã tăng cường vai trò độc lập của CSTT,củng cố cho kỳ vọng lạm phát và xúc tiến quá trình phát triển của thị trường tài
Trang 20chính Quá trình chuyển dịch cũng được thực hiện dần dần: (i) trước năm 1984chính sách tỷ giá cố định; (ii) từ 1984 đến 1999 chính sách biên độ tỷ giá; từ năm
1998 biên độ được nới lỏng dần và xóa bỏ các hạn chế dao dịch vốn; (iii) tháng 9năm 1999 Chi Lê áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi
Mặc dù thi hành chế độ tỷ giá thả nổi, NHTƯ Chi Lê vẫn có quyền can thiệptrong trường hợp đặc biệt Chế độ tỷ giá linh hoạt cho phép NHTƯ Chi Lê có được
sự độc lập hoàn toàn trong hoạch định CSTT giúp neo kỳ vọng lạm phát; có hiệuquả hơn trong việc đối phó hiệu ứng chu kỳ; mối liên hệ lịch sử giữa tiền giảm giávới lạm phát giảm; tính linh hoạt của tỷ giá dẫn đến thị trường tài chính phát triển
về chiều sâu
Hiện nay, vẫn tiếp tục áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi cùng với chính sách lạmphát mục tiêu hoàn chỉnh, Chi Lê đã đạt được kết quả quan trọng là: uy tín về chínhsách kiểm soát lạm phát đã được cải thiện, lạm phát ổn định và ở mức thấp, neođược kỳ vọng lạm phát, mối liên hệ lịch sử giữa giảm giá đồng tiền - lạm phát đãgiảm tác động, hiệu quả và uy tín CSTT được tăng cường
1.2.5.1.2 Trung Quốc
Theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, Việt Nam và Trung Quốc đều
là nước kinh tế đang phát triển ở trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạchhóa sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa Giữa hai nền kinh tế có những nét tương đồng mặc dù thời điểm chuyểnđổi và mức độ chuyển đổi có thể khác nhau Do đó, kinh nghiệm của Trung Quốctrong việc hoạch định chính sách là những bài học quý giá cho Việt Nam, đặc biệt
là kinh nghiệm về điều hành chính sách tỷ giá của Trung Quốc trong những nămgần đây
Trước năm 1979, Trung Quốc thực hiện chính sách tỷ giá cố định và đa tỷgiá Cơ chế này đã làm cho các doanh nghiệp mất đi quyền chủ động trong kinhdoanh, không gắn kết lợi ích kinh tế với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,làm cho các doanh nghiệp không chú ý đến hiệu quả của hoạt động sản xuất kinhdoanh, tăng tính ỷ lại vào sự bao cấp của nhà nước, chính điều này đã làm choTrung Quốc rơi vào suy thoái , khủng hoảng kinh tế sâu sắc
Trang 21Bảng 1.1: Diễn biến của tỷ giá hối đoái giữa đồng nhân dân tệ và đồng đô la
Nguồn: NHNN Việt Nam
Trung Quốc đã nhận ra sự yếu kém của cơ chế quản lý kinh tế theo kế hoạch, từnăm 1979 đã thực hiện cải cách kinh tế, thực hiện chuyển đổi nền kinh tế Chínhsách tỷ giá cũng được cải cách cho phù hợp với những chuyển đổi của nền kinh tế.Ngay từ đầu những năm 80, Trung Quốc đã cho phép thực hiện cơ chế điều chỉnh tỷgiá giảm dần để phản ảnh đúng sức mua của đồng NDT Năm 1980, tỷ giá đồngNDT so với USD là 1,53 NDT/USD, đến năm 1990 là 5,22 NDT/USD Chính sách
tỷ giá này đã giúp Trung Quốc cải thiện được cán cân thương mại, giảm thâm hụtthương mại và cán cân thanh toán, đưa đất nước thoát ra khỏi cuộc khủng hoảngkinh tế Tuy nhiên, việc thực hiện cơ chế tỷ giá theo hướng tương đối ổn định làmcho lạm phát tiếp tục gia tăng, hạn chế xuất khẩu và ảnh hưởng đến mục tiêu pháttriển kinh tế Tỷ lệ lạm phát của Trung Quốc từ năm 1990 đến năm 1993 lần lượt là:3,06%, 3,54%, 6,34% và 14,58% Trong khi đó, lạm phát của Mỹ có xu hướng giảmxuống, thấp hơn nhiều so với Trung Quốc, năm 1993 lạm phát của Mỹ là 2,4%, do
đó đồng NDT lại bị đánh giá cao so với sức mua thực tế
Bảng 1.2 : Biến động của tỷ giá danh nghĩa NDT/USD đầu những năm 1990
Tỷ giá hối đoái cuối năm (NDT/ USD) 5,222 5,434 5,752 5,800
Tỷ giá hối đoái trung bình năm
(NDT/USD)
4,783 5,323 5,515 5,762
Cán cân thương mại (triệu USD) 9165 8743 5183 -10654
Nguồn: NHNN Việt Nam
Nhận thấy việc duy trì tỷ giá theo hướng ổn định có ảnh hưởng xấu đến mụctiêu mở cửa kinh tế đối ngoại và kế hoạch tăng xuất khẩu để phát triển kinh tế,
Trang 22Trung Quốc đã quyết định điều chỉnh mạnh tỷ giá hối đoái Ngày 1/1/1994, TrungQuốc chính thức công bố điều chỉnh mạnh tỷ giá đồng NDT từ 5,8 NDT/USDxuống 8,7 NDT/USD, tỷ lệ điều chỉnh (thực chất là phá giá đồng NDT) lên tới 50%.
Để chính sách điều chỉnh tỷ giá giữ được ổn định, không bị giới đầu cơ thao túng,Trung Quốc đã thực hiện chính sách thắt chặt quản lý ngoại hối, nhằm mục đích tậptrung ngoại tệ về Nhà nước, đảm bảo cung cầu ngoại tệ thông suốt
Từ năm 1994 đến năm 1996, Trung Quốc thực hiện chính sách kết hối ngoại
tệ bắt buộc theo quy định tại Sắc lệnh số 91 ngày 25/12/1993 của Chính phủ và quyđịnh về cải cách cơ chế quản lý ngoại hối ngày 28/12/1993 của Ngân hàng nhân dânTrung Quốc Để giảm bớt tác động của chính sách tỷ giá lên thị trường tiền tệ,Trung Quốc đã ban hành một loạt quy định hỗ trợ như: thực hiện ngân hàng kết hối,xóa bỏ ghìm giá, tăng giá ngoại hối của các công ty, xây dựng thị trường giao dịchliên ngân hàng, cải tiến và hoàn thiện quản lý thu chi và kết toán ngoại hối, xóa bỏ
kế hoạch mang tính mệnh lệnh đối với thu chi ngoại hối, kết hợp việc kiểm soátchặt chẽ của NHTƯ đối với các hoạt động ngoại hối ở các NHTM bằng quy định sốlượng và địa chỉ các ngân hàng được phép chuyển đổi tiền tệ, công ty nước ngoàiphải có bảng cân đối ngoại tệ hàng năm, doanh nghiệp liên doanh phải có giấy phépđổi ngoại tệ mạnh sang NDT, doanh nghiệp nhà nước phải nộp 100% ngoại tệ thuđược (trước đó là 50%)
Bảng 1.3: Tình hình kinh tế Trung Quốc những năm 1994 - 1997
Nguồn: NHNN Việt Nam
Cho đến cuối năm 1997, khi dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên139,89 tỷ USD, Trung Quốc mới nới lỏng chính sách kết hối ngoại tệ Ngày15/10/1997, Ngân hàng nhân dân Trung Quốc ban hành Chỉ thị số 402 cho phép
Trang 23một số doanh nghiệp (Công ty xuất nhập khẩu và doanh nghiệp sản xuất có giấyphép kinh doanh xuất nhập khẩu) được giữ lại một phần ngoại tệ trên tài khoản vớimức tối đa không quá 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm.
Từ năm 1994 đến năm 2002, các ngân hàng thương mại Trung Quốc khôngđược phép cho các doanh nghiệp trong nước vay ngoại tệ Đến ngày 6/12/2002 CụcQuản lý ngoại hối mới có văn bản (Chỉ thị số 125 về cải cách cơ chế cho vay ngoại
tệ trong nước) cho phép các ngân hàng thương mại cho các tổ chức kinh tế trongnước vay ngoại tệ Khi vay vốn ngoại tệ các tổ chức kinh tế phải làm thủ tục mở tàikhoản vay ngoại tệ tại các ngân hàng được ủy quyền Các ngân hàng thương mại cótrách nhiệm đăng ký khoản cho vay với cơ quan quản lý ngoại hối Năm 2002, dựtrữ ngoại hối của Trung Quốc tăng lên 286,4 tỷ USD, chính sách kết hối ngoại tệtiếp tục được nới lỏng Tại Chỉ thị số 87 của Cục Quản lý ngoại hối Trung Quốc banhành ngày 9/9/2002 quy định các công ty và doanh nghiệp được giữ ngoại tệ trên tàikhoản, mức tối đa không quá 20% tổng nguồn thu ngoại tệ từ giao dịch vãng lai
Từ năm 2003 đến năm 2006, Cục Quản lý ngoại hối yêu cầu các ngân hàngthương mại thực hiện chính sách kết hối ngoại tệ theo Chỉ thị số 87 nói trên
Đến năm 2007, Dự trữ ngoại hối Trung Quốc đã tăng lên tới 1.528,249 tỷUSD Ngày 13/8/2007 Cục Quản lý ngoại hối ban hành Chỉ thị số 48 cho phép các
tổ chức kinh tế căn cứ nhu cầu sử dụng ngoại tệ phục vụ cho sản xuất kinh doanhđược quyền giữ lại số ngoại tệ từ giao dịch vãng lai trên tài khoản Như vậy, sau 13năm Trung Quốc mới xóa bỏ chính sách kết hối ngoại tệ, chính sách này được xóa
bỏ khi nền kinh tế nhiều năm tăng trưởng mạnh, tỷ lệ lạm phát thấp, cán cân thanhtoán, cán cân thương mại dư thừa lớn, dự trữ ngoại hối cao
Ngày 5/8/2008, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo mới ký Sắc lệnh sửa đổiĐiều lệ quản lý ngoại hối cho phép tự do hóa các giao dịch vãng lai và nới lỏngquản lý với giao dịch vốn với nội dung gần tương tự với pháp lệnh ngoại hối củaViệt Nam Tính đến cuối năm 2010, dự trữ ngoại hối tới 2.847,3 tỷ USD, chính sách
tỷ giá của Trung Quốc làm cho các nước Mỹ, phương Tây đau đầu
Từ năm 1994 đến nay đã gần 20 năm, sau khi điều chỉnh tỷ giá, Trung Quốc