Khái niệm thận trọng nhất là xem xét NH trên phương diện những loại dịch vụ mà NH cung cấp:“NH là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả, kết luận nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ công trình khoa học nào Các số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn có nguồn gốc rõ ràng.
Hà Nội, ngày tháng năm 2011
Tác giả luận văn
Đặng Phùng Hưng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài luận văn này tác giả đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của rất nhiều các cá nhân bao gồm thầy giáo, bạn bè, đồng nghiệp Tác giả xin chân thành được bày tỏ lòng biết ơn đến thầy giáo TS Đặng Ngọc Đức đã hướng dẫn tác giả có thể hoàn thành được luận văn này
Tác giả cũng chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy cô, cán bộ của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Viện Đào tạo Sau đại học và khoa Ngân hàng Tài chính
đã nhiệt tình chỉ bảo, dạy dỗ, tạo điều kiện hoàn thành khóa học
Tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại Phòng Kinh doanh ngoại
tệ – Hội sở chính, Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam đã đóng góp ý kiến, tài liệu và dữ liệu hỗ trợ cho việc nghiên cứu
Ngoài ra, tác giả cũng xin cảm ơn các bạn học viên cùng lớp Cao học 18P- Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã đóng góp các ý kiến quý báu để tác giả hoàn thành được luận văn thạc sỹ này
Bên cạnh đó, do có những hạn chế nhất định về thông tin và kiến thức, luận văn chắc chắn sẽ có những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp của Quý thầy cô, bạn bè và độc giả để nội dung luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tác giả luận văn
Đặng Phùng Hưng
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ VÀ BẢNG, BIỂU
Trang BẢNG Bảng 1.1: Đặc điểm khác biệt giữa hợp đồng tương lai và kỳ hạn 11
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh 2008 – 2010 29
Bảng 2.2: Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng 36
Bảng 2.3: Doanh số mua bán với chi nhánh và tổ chức 40
Bảng 2.4: Các loại nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ 45
Bảng 2.5: Doanh số chuyển đổi ngoại tệ 47
Bảng 2.6: Kết quả hoạt động đầu cơ 48
Bảng 2.7: Số lượng các đối tác quốc tế 49
BIỂU Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng trong giao dịch mua liên ngân hàng 37
Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng trong giao dịch bán liên ngân hàng 37
Biểu đồ 2.3: Tỷ trọng mua với chi nhánh theo phân cấp 41
Biểu đồ 2.4: Tỷ trọng bán với chi nhánh theo phân cấp 42
Biểu đồ 2.5: Tỷ trọng mua phân theo khu vực vùng 43
Biểu đồ 2.6: Tỷ trọng bán phân theo khu vực vùng 43
Biểu đô 2.7: Tỷ trọng các loại ngoại tệ mua vào 44
Biểu đồ 2.8: Tỷ trọng các loại ngoại tệ bán ra 44
Biểu đồ 2.9: Tỷ trọng đầu cơ vào các đồng tiền 50
SƠ ĐỒ Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức của Vietinbank 28
Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức bộ máy và điều hành của Hội sở Vietinbank 29
Sơ đồ 2.3: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Vietinbank với thị trường trong nước và quốc tế 34
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
Trang 6- -ĐẶNG PHÙNG HƯNG
GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGOẠI TỆ TẠI HỘI SỞ NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐẶNG NGỌC ĐỨC
Hà Nội - 2011
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 71 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình hội nhập tại Việt Nam đã tạo ra luống vốn ngoại tệ mạnh mẽ từ các quốc gia trên thế giới đầu tư vào thị trường Việt nam và đồng thời cũng đẩy nhanh luồng vốn từ trong nước đầu tư ra nước ngoài Những nguồn vốn này cần được chu chuyển kịp thời, hiệu quả và an toàn Chính vì vậy, thị trường ngoại tệ trong nước với sự tham gia chủ yếu của các Ngân hàng Thương mại rất cần phát triển ở tầm cao mới hiện đại theo trình độ quốc tế để đáp ứng nhu cầu này
Vietinbank có vị thế là ngân hàng lớn thứ hai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, có nhiều điều kiện thuận lợi để mở rộng thật mạnh hoạt động kinh doanh ngoại tệ Tuy nhiên sự phát triển từ phía các Ngân hàng thương mại trong nước và các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đang tạo ra sức cạnh tranh rất lớn Để tồn tại và mở rộng hơn nữa hoạt động kinh doanh ngoại tệ thì Phòng Kinh doanh ngoại tệ hội sở buộc phải tìm cách đứng vững trong thị trường và tận dụng thế mạnh để chiếm lĩnh thị phần
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Vietinbank trong thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa phát triển thực sự bùng nổ và đi trước đón đầu nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp trong và ngoài nước Xuất phát từ tầm quan trọng và nhu cầu cần mở rộng hơn nữa hoạt
động kinh doanh ngoại tệ nên đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam” đã
được lựa chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Trang 8- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động kinh doanh ngoại tệ và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại.
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động kinh doanh ngoại tệ và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Trong chương 1, xuất phát từ việc nghiên cứu khái quát về các hoạt động cơ
bản của ngân hàng thương mại, sau đó nghiên cứu sâu hơn về hoạt động kinh doanh ngoại tệ bao Trọng tâm của chương 1 là lý luận về mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ với Ngân hàng thương mại, qua đó xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
Trên thế giới, NH đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu nói chung và từng khu vực địa phương nói riêng Khái niệm thận trọng nhất là xem xét NH trên phương diện
những loại dịch vụ mà NH cung cấp:“NH là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”
Các hoạt động cơ bản của NHTM gồm có: huy động vốn, cho vay, kinh doanh và cung ứng dịch vụ ngoại hối & sản phẩm phái sinh, cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán Ngoài các hoạt động chủ yếu này, NHTM còn cung cấp các dịch vụ như: bảo lãnh, quản lý ngân quỹ, cung cấp các dịch vụ ủy thác
và tư vấn, cung cấp các dịch vụ đại lý…
1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM được định nghĩa như sau:“Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.“
Hoạt động KDNT có những đặc điểm chính là: là hoạt động chứa đựng nhiều
rủi ro gồm rủi ro tỷ giá, rủi ro đối tác, rủi ro hoạt động, rủi ro chính sách; KDNT là một hoạt động phức tạp, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường hiện đại; KDNT là hoạt động đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có đầy đủ trình độ chuyên môn và trí tuệ tốt
Trang 9KDNT gồm những nghiệp vụ là: mua bán giao ngay, kỳ hạn, tương lai, quyền chọn và hoán đổi Trong đó mua bán giao ngay là nghiệp vụ cơ sở, các nghiệp vụ còn lại là các nghiệp vụ phái sinh.
1.3 Mở rộng hoạt động kinh doanh ngoai tệ của NHTM
Mở rộng hoạt động KDNT là sự tăng lên về quy mô và phạm vi của động
kinh doanh ngoại tệ Quy mô hoạt động KDNT gồm có: doanh số, lợi nhuận, hạn
mức kinh doanh Phạm vi hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm có: phạm vi mua bán
với các chi nhánh ở các tỉnh thành trong nước, với các đối tác nước ngoài ở các vùng lãnh thổ khác nhau, và sự liên kết với các nghiệp vụ khác
Các chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ: doanh số kỳ này/kỳ trước, doanh số kỳ này / doanh số kế hoạch, hạn mức kỳ này/hạn mức kỳ trước, lợi nhuận kỳ này/lợi nhuận kỳ trước, lợi nhuận kỳ này/lợi nhuận kế hoạch, Số lượng đối tác mới, số lượng chi nhánh và tổ chức giao dịch kỳ này/ số lượng chi nhánh và tổ chức giao dịch kỳ trước, số lượng sản phẩm mới trong kỳ, số lượng nhân viên và bộ phận chuyên môn mới
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM
Nhóm nhân tố khách quan là những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của bản thân ngân hàng Thứ nhất là tình hình kinh tế, chính trị và xã hội Thứ hai là cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước Nếu các nhân tố này ổn định, thuận lợi thì hoạt động KDNT có điều kiện để mở rộng Ngược lại, KDNT sẽ gặp khó khăn
Nhóm nhân tố chủ quan thuộc tầm kiểm soát của NH và có thể trực tiếp tác động để mở rộng KDNT gồm có: nhân tố con người, nhân tố công nghệ, chiến lược kinh doanh, mạng lưới đối tác và khách hàng, sự phối hợp và hỗ trợ các nghiệp vụ khác, công tác kiểm soát rủi ro hoạt động kinh doanh ngoại tệ
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI HỘI SỞ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG
VIỆT NAM
Trong chương 2, sau khi khái quát về quá trình hình thành và phát triển của Vietinbank nói chung và Phòng kinh doanh ngoại tệ hội sở, luận văn đi vào phân tích thực trạng mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Phòng kinh doanh ngoại
tệ hội sở Vietinbank, từ đó đánh giá về những kết quả đạt được, những vấn đề hạn chế, khó khăn đồng thời chỉ rõ ra các nguyên nhân của hạn chế đó
2.1 Khái quát về Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Vietinbank đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu đời ghi
nhận những, dấu mốc quan trọng của Vietinbank là vào ngày 25 tháng 12 năm
Trang 102008, Vietinbank đã thực hiện thành công việc chào bán cổ phần lần đầu ra công chúng và trở thành NHTM CP lớn nhất trọng hệ thống NHTM CP tại Việt Nam Từ
đó đến nay, Vietinbank đã phát triển không ngừng và đạt được những thành tựu to lớn Phòng KDNT hội sở Vietinbank thuộc khối các phòng ban chuyên môn nghiệp
vụ, cụ thể nằm trong khối nguồn vốn gồm có: phòng đầu tư, phòng quan hệ các định chế tài chính, phòng Alco Phòng KDNT chịu sự điều hành trực tiếp của Phó tổng giám đốc phụ trách khối nguồn vốn
2.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở chính Ngân hàng Thương mại cổ phần Công hương việt nam
Luận văn đi vào nghiên cứu thực trạng theo 5 loại nghiệp vụ chinh như đã trình bày trong chương 1 bao gồm: giao ngay, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi và quyền chọn Tuy nhiên, do đặc thù hoạt động của phòng chia thành bộ phận kinh doanh trên thị trường trong nước và quốc tế nên phần thực trạng đã nghiên cứu 5 loại nghiệp vụ trên từng thị trường trong nước và quốc tế
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ trên thị trường trong nước chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ mua bán giao ngay (chiếm gần 98% tổng doanh số ) bao gồm mua bán trên thị trường liên ngân hàng, mua bán với chi nhánh và tổ chức Các nghiệp
vụ phái sinh trên thị trường trong nước rất ít, chỉ chiếm 2,23% tổng doanh số mua bán ngoại tệ trong 9 tháng đầu năm 2011 Hợp đồng hoán đổi hoàn toàn không làm với khách hàng mà chỉ thực hiện trên thị trường liên ngân hàng với cặp ngoại tệ EUR USD Còn hợp đồng kỳ hạn thực hiện chủ yếu giữa hội sở Vietinbank và chi nhánh.Hợp đồng tương lai và option chưa được triển khai
Trên thị trường quốc tế tại hội sở Vietinbank gồm có hoạt động chuyển đổi ngoại tệ và hoạt động đầu cơ Hoạt động đầu cơ hoàn toàn chỉ thực hiện nghiệp vụ giao ngay Còn với hoạt động chuyển đổi ngoại tệ, nghiệp vụ phổ biến nhất vẫn là mua bán giao ngay, bên cạnh đó nghiệp vụ quyền trọng không thực hiện, còn nghiệp vụ kỳ hạn và hoán đổi cũng chỉ thực hiện ở số lượng rất ít khi so với giao ngay
2.3 Đánh giá thực trạng mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Vietinbank
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Vietinbank trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng tự hào Hoạt động KDNT đạt kết quả cao thông qua
các số liệu phản ánh về tốc độ tăng trưởng của doanh thu (tăng 23%, vượt 1% so với kế hoạch đề ra), tổng lợi nhuận đạt 147 tỷ (tăng 37% vượt 15% kế hoạch đề ra) Bên cạnh đó, hoạt động KDNT đã đáp ứng đầy đủ nhu cầu ngoại tệ trong hệ thống
Trang 11Ban lãnh đạo đã không ngừng cơ cấu, phát triển đa dạng và chuyên môn hóa các bộ phận KDNT, nhờ đó hoạt động KDNT đã có những bước tiến vượt bậc, đưa thương hiệu Vietinbank ra tầm khu vực và thế giới Ngoài ra, hoạt động KDNT đã hỗ trợ đắc lực các hoạt động khác như tín dụng, thanh toán quốc tế.
Tuy nhiên, hoạt động KDNT vẫn còn tồn tại những vấn đề hạn chế, khó khăn Thể hiện qua Số lượng đối tác nước ngoài còn hạn chế, các nghiệp vụ ngoại
hối phái sinh chưa được phát triển và còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong hoạt động KDNT, Hoạt động kinh doanh ngoại tệ chưa đạt năng suất cao, còn nhiều nhầm lẫn trong giao dịch, các sản phẩm ngoại tệ và các loại ngoại tệ kinh doanh chưa đủ đa dạng để đáp ứng toàn bộ nhu cầu khách hàng và thiếu tính cạnh tranh so với các NHTM khác Như vậy, xét về tổng quát, hoạt động KDNT vẫn còn chưa phát triển xứng tầm Vietinbank
Những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hạn chế, khó khăn trong mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Vietinbank được thể hiện qua các nguyên nhân khách quan là yếu tố kinh tế, chính trị và xã hội còn nhiều bất ổn, lạm
phát tăng cao, chưa tạo ra môi trường ổn định cho hoạt động NHTM nói chung và hoạt động KDNT nói riêng Hơn nữa, các quy định về ngoại tệ của Chính Phủ và NHNN còn nhiều bất cập trong việc điều hành và kiểm soát ngoại tệ Ngoài ra, sự phát triển bùng nổ của các NHTMCP và các chi nhánh NH nước ngoài là một yếu
tố cạnh tranh về khách hàng và nguồn ngoại tệ Các nguyên nhân chủ quan xuất phát từ nội tại của Vietinbank là hoạt động KDNT tại hội sở Vietinbank chưa được ban lãnh đạo chú trọng đầu tư mạnh, đội ngũ nhân sự chưa đủ đáp ứng nhu cầu mới
vì kiến thức, kinh nghiệm quốc tế và ngoại ngữ còn chưa giỏi, yếu tố công nghệ vẫn dựa trên nền tảng cũ, chưa được hiện đại hóa
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI
TỆ TẠI HỘI SỞ CHÍNH NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Trong chương 3, luận văn trình bày khái quát định hướng của Vietinbank trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ, sau đó tác giả đề xuất một số giải pháp và kiến nghị để mở rộng hoạt động này
3.1 Định hướng chung cho hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Vietinbank trong thời gian tới
Ban lãnh đạo Vietinbank đã thống nhất định hướng của ngân hàng trong thời
Trang 12gian tới tiếp tục bám sát mục tiêu chung của cả nước và của ngành Ngân hàng, thực hiện khai tác tốt những nhân tố nội tại để hướng tới kinh doanh: “ an toàn, hiệu quả, bền vững và hiện đại Tiếp tục đẩy mạnh công tác cổ phần hóa, nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập Tiếp tục tăng trưởng quy mô nguồn tài sản và thị phần hoạt động Nâng cao năng lực điều hành và quản trị rủi ro thông qua việc áp dụng mô hình quản trị theo thông lệ quốc tế theo hướng tách bạch bộ phận quan hệ khách hàng với bộ phận thẩm định và kiểm soát sau nhằm nâng cao tính độc lập giữa khâu tiếp thị và xét duyệt hồ sơ Đổi mới cơ chế tiền lương và nâng cao chất lượng nguồn lực điều này nhằm đảm bảo đánh giá đúng công sức đóng góp của cán bộ nhân viên
và thúc đấy cán bộ có năng lực phát huy cống hiến cho Vietinbank
3.2 Giải pháp mở rộng hoạt động KDNT tại hội sở Vietinbank
Dựa trên những nghiên cứu ở chương 2, một số giải pháp trọng tâm đã được luận văn trình bày nhằm mở rộng hoạt động KDNT tại hội sở Vietinbank trong thời gian tới
Thứ nhất, Đầu tư phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực Đầu tư
vào nguồn nhân lực luôn là chiến lược đầu tư tiết kiệm chi phí nhất và đem lại hiệu quả cao nhất Việc phát triển nguồn nhân lực có thể thông qua những công tác thường xuyên như: tăng cường kiểm tra trình độ cán bộ bằng các kỳ thi sát hạch nghiệp vụ, nâng cao trình độ các kỹ năng bổ trợ bằng các buổi trao dồi kiến thức, rèn luyện ngoại ngữ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho cán bộ nâng cao trình độ, trau dồi phẩm chất đạo đức, nâng cao ý thức trách nhiệm với công việc, phát huy hơn nữa năng lực của ban lãnh đạo thông qua việc theo dõi, chỉ đạo sát sao
Thứ hai, hiện đại hóa công nghệ phục vụ kinh doanh ngoại tệ,đối với hoạt
động KDNT, yếu tố công nghệ đóng vai trò tiên quyết do đặc thù về tốc độ và tính chính xác trong giao dịch ngoại tệ, hỗ trợ đắc lực làm các báo cáo phát sinh
Thứ ba, khai thác triệt để các nguồn ngoại tệ, đây được coi là giải pháp có
tầm quan trọng nhất về chiến lược, vì trong dài hạn thì NHTM nào là đơn vị thu hút được nguồn ngoại tệ nhiều nhất sẽ là đơn vị thành công nhất trong lĩnh vực kinh
doanh ngoại tệ Để thực hiện hiệu quả mục tiêu này cần khai thác tối đa nguồn kiều hối từ Việt kiều ở nước ngoài, từ các công dân đang đi lao động xuất khẩu Bên cạnh đó, tiếp tục phát triển các mối quan hệ hợp tác chặt chẽ với các ngân hàng khác trong và ngoài hệ thống để tận dụng sự hỗ trợ về nguồn, và tăng cường hoạt động Marketing Ngân hàng thông qua tiếp thị và chăm sóc khách hàng.
Thứ tư, Đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ, đối với nghiệp
vụ mua bán ngoại tệ giao ngay cần mở rộng qui mô thực hiện nghiệp vụ bằng các
Trang 13chính sách thu hút khách hàng đến giao dịch ngoại tệ với mình đồng thời tăng cường mở rộng quan hệ với các Ngân hàng thương mại khác cả trong và ngoài nước Hơn nữa, cần hạ thấp phí giao dịch và chênh lệch giá mua bán, thực hiện thanh toán chuyển tiền đúng, đủ, đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ và giữ uy tín với
khách hàng Đối với nghiệp vụ phái sinh cần tìm kiếm các nguồn kỳ hạn để đáp ứng
nhu cầu thanh toán trong tương lại của khách hàng, giúp khách hàng bảo hiểm rủi ro
tỷ giá, đồng thời cũng phù hợp với chính sách về đảm bảo nguồn ngoại tệ vay nợ của NHNN và Vietinbank
Thứ năm, đa dạng hóa các loại loại ngoại tệ trong kinh doanh
Nhằm phân tán rủi ro trong kinh doanh nên cần phải đa dạng hoá các loại ngoại tệ sử dụng Do đó Vietinbank cần lập kế hoạch cụ thể về một cơ cấu ngoại tệ hợp lí theo hướng đa dạng hoá các loại ngoại tệ sang cả JPY, GBP, SGD, nên có chiến lược nhằm tăng tỷ trọng dự trữ ngoại tệ mạnh khác trong tổng dự trữ ngoại tệ Việc đa dạng hóa các loại ngoại tệ nắm giữ, hoàn toàn có thể thực hiện qua việc kết hợp giữa Ủy ban Alco bà tổ đầu cơ, Ủy ban Alco sẽ đưa ra trạng thái ngoại tệ tối ưu trong từng khoảng thời gian, dựa vào đó tổ đầu cơ thực hiện việc phân tích đánh giá, và lựa chọn thời điểm hợp lý để mua bán ngoại tệ chuyển đổi Nếu Trang thái USD đang quá lớn, tổ đầu cơ sẽ bán USD và nắm giữa các ngoại tệ mạnh khác như JPY, CHF, GBP
Thứ sáu, mở rộng hơn nữa mạng lưới đại lý và đối tác trên thị trường quốc tế, để chiếm lĩnh được nguồn ngoại tệ từ nước ngoài về thì rất cần thiết phải
có mạng lưới đại lý và đối tác tại các thị trường quốc tế Vì như vậy sẽ thuận tiện cho quá trình chuyển đổi ngoại tệ, chuyển tiền về mặt địa lý và ưu đãi về phí
Thứ bẩy, tăng cường công tác kiểm soát rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngoại tệ, KDNT là một hoạt động đặc thù chứa đựng nhiều rủi ro và mức
thiệt hại sẽ là rất lớn với NHTM nếu không có một biện pháp quản lý rủi ro phù hợp Bộ phần rủi ro thị trường cần tăng cường vai trò của mình trong công tác xét duyện hồ sơ hạn mức giao dịch cấp cho đối tác nước ngoài Bộ phận rủi ro thị trường cần theo dõi chặt chẽ hạn mức của giao dịch viên thông qua sự hỗ trợ từ hệ thống phần mềm giao dịch, để từ đó đưa ra hành động kịp thời nếu giao dịch viên vượt hạn mức, hoặc không tuân thủ quy định cân bằng trạng thái và cắt lỗ khi bị tỷ giá biến động người chiều Kiểm soát rủi ro trong hoạt động KDNT cũng cần sự hỗ trợ từ bộ phận hậu kiểm thuộc khối Back Office trong việc kiểm soát lại chứng từ giao dịch, kiểm tra khối lượng, tỷ giá, chỉ thị thanh toán để chuyển tiền chính xác
3.3 Kiến nghị
Trang 14Bên cạnh những giải pháp đưa ra, luận văn đã trình bày một số kiến nghị với chính phủ về tạo giải pháp đồng bộ phát triển nền kinh tế để thu hút đầu tư, tạo nguồn thu ngoại tệ; hỗ trợ xuất khẩu nhằm tăng nguồn thu ngoại tệ; hạn chế sự phát triển tràn lan của hệ thống Ngân hàng nhằm kiểm soát tốt hơn thị trường ngoại tệ, tránh tình trạng hỗn loạn Luận văn cũng đưa ra một số kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước về việc điều chỉnh hợp lý tỷ giá bình quân liên ngân hàng và biên độ tỷ giá nhằm hạn chế sự phát triển thị trường chợ đen; kiểm soát giao dịch USD tự do nhằm giảm thiểu yếu tố đầu cơ làm giá ảnh hưởng tới thị trường chính thức; và đẩy mạnh phát triển các công cụ phái sinh để giúp NHTM và doanh nghiệp có thêm công cụ kiểm soát rủi ro tỷ giá.
KẾT LUẬN
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của Ngân hàng thương mại đang đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế Vì nhận thức được điều này
mà VIETINBANK đã hết sức chú trọng phát triển nghiệp vụ này trong tương lai
Để VIETINBANK có thể trở thành tập đoàn tài chính đa năng hàng đầu trong nước
và khu vực thì một trong những nghiệp vụ cần được phát triển đầu tiên lớn mạnh ra thị trường quốc tế đó là nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động KDNT tại đơn vị đã đạt được những thành công đáng kể trong thời gian qua, đưa Phòng KDNT trở thành một trong những đơn vị có thành tích hoạt động xuất xắc trong hệ thống Vietinbank Tuy nhiên, hoạt động KDNT vẫn bộ
lộ nhiều hạn chế do số lượng mua bán chưa cân đối, các loại ngoại tệ vẫn còn hạn chế chưa đa dạng, các sản phẩm ngoại tệ vẫn ít và chưa đáp ứng hết nhu cầu của khách hàng, công tác đào tạo định hướng dẫn và kiểm tra chi nhánh vẫn chưa diễn
ra thường xuyên… Bởi vậy Phòng KDNT hội sở Vietinbank cần mở rộng hơn nữa mạng lưới khách hàng, cân đối nguồn cung cầu ngoại tệ, đa dạng hóa các loại ngoại
tệ, nghiệp vụ và sản phẩm ngoại tệ, đầu tư phát triển và tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực Các giải pháp đưa ra đều mang tính lâu dài, tức là những giải pháp mang tính chiến lược đòi hỏi sự đầu tư của ban lãnh đạo Ngân hàng và sự nỗ lực của toàn
bộ cán bộ trong phòng để thực hiện mục tiêu đề ra để ngày càng mở rộng hơn nữa hoạt động này nhằm chiếm lĩnh thị phần trong và ngoài nước
Tác giả hi vọng những giải pháp được đề ra sẽ có giá trị tham khảo, giúp Phòng KDNT hội sở đưa ra những phương hướng để mở rộng nghiệp vụ này trong
Trang 15tương lai Tuy nhiên, thời gian nghiên cứu hạn chế nên trong phạm vi bài viết có thể còn những điểm chưa thực sự hợp lý và chuẩn xác, tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến để tiếp tục hoàn thiện luận văn và có những nghiên cứu sâu hơn trong thời gian tới
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-***** -Đặng Phùng Hưng
Trang 16GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI TỆ TẠI HỘI SỞ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS Đặng Ngọc Đức
Hà Nội - 2011
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh nền kinh tế mở hiện nay, Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội…Quá trình hội nhập đã tạo ra luống vốn ngoại tệ mạnh mẽ từ các quốc gia trên thế giới đầu tư vào thị trường Việt nam và đồng thời cũng đẩy nhanh luồng vốn từ trong nước đầu tư ra nước ngoài Những nguồn vốn này cần được chu chuyển kịp thời, hiệu quả và an toàn Chính vì vậy, thị trường ngoại tệ trong nước với sự tham gia chủ yếu của các Ngân hàng Thương mại rất cần phát triển ở tầm cao mới hiện đại theo trình độ quốc tế để đáp ứng nhu cầu này
Trang 17Vietinbank có vị thế là ngân hàng lớn thứ hai trong hệ thống ngân hàng Việt Nam với mạng lưới chi nhánh và khách hàng rộng lớn, nguồn vốn dồi dào, được sự
hỗ trợ tích cực từ phía các đối tác nước ngoài đang đứng trước cơ hội rất lớn để mở rộng thật mạnh hoạt động kinh doanh ngoại tệ Tuy nhiên sự phát triển từ phía các Ngân hàng thương mại trong nước và các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đang tạo ra sức cạnh tranh rất lớn Để tồn tại và mở rộng hơn nữa hoạt động kinh doanh ngoại tệ thì Phòng Kinh doanh ngoại tệ hội sở buộc phải tìm cách đứng vững trong thị trường và tận dụng thế mạnh để chiếm lĩnh thị phần góp phần đưa Vietinbanktrở thành tập đoàn tài chính đa năng hàng đầu trong nước và khu vực
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở trong thời gian qua đã đạt được những thành quả nhất định, tốc độ tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận được duy trì
ở mức cao, đáp ứng nhu cầu của phần lớn khách hàng để góp phần bình ổn thị trường ngoại tệ trong nước Tuy nhiên, hoạt động này vẫn chưa phát triển thực sự bùng nổ và đi trước đón đầu nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp trong và ngoài nước Cụ thể, ngân hàng thường ở trạng thái thiếu hụt ngoại tệ do nguồn cung ngoại
tệ vào luôn ở trạng thái thấp hơn nguồn cầu vì thế nhu cầu của khách hàng nhiều khi không được đáp ứng kịp thời và hiệu quả Nhu cầu cá nhân mua và chuyển tiền ngoại tệ đi du học, chữa bệnh, đi du lịch… vẫn gặp nhiều khó khăn và chậm trễ Tỷ trọng nguồn kiều hối qua Ngân hàng chỉ đạt chưa đến 10 %, đây là tỷ lệ thấp so với quy mô của Ngân hàng Công thương Việt Nam và với tổng kiều hối hàng năm của đất nước Các sản phẩm ngoại tệ vẫn chưa được sử dụng nhiều vì tính tiện lợi vẫn chưa so sánh được với các ngân hàng thương mại cổ phần khác
Xuất phát từ tầm quan trọng và nhu cầu cần mở rộng hơn nữa hoạt động kinh
doanh ngoại tệ nên đề tài: “Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam” đã được lựa
chọn làm đề tài nghiên cứu cho luận văn
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
- Hệ thống hóa một số cơ sở lý luận về hoạt động kinh doanh ngoại tệ và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại ngân hàng thương mại
- Phân tích và đánh giá thực trạng về hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010
- Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Trang 183 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động kinh doanh ngoại tệ và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại
- Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu hoạt động kinh doanh ngoại tệ và mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn gồm: Phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phân tích kết hợp với phương pháp so sánh nhằm tạo ra một tổng thể phương pháp tiếp cận phù hợp với đối tượng và mục đích nghiên cứu
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 – Các vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại
Chương 2 – Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại hội sở Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
CHƯƠNG I: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGOẠI TỆ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Trên thế giới, NH đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu nói chung và từng khu vực địa phương nói riêng Với vai trò là một trong những trung gian tài chính quan trọng nhất của xã hội, Ngân hàng có thể được định nghĩa thông qua chức năng và vai trò đối với nền kinh tế Tuy nhiên, cùng sự phát triển không ngừng của kinh tế và xã hội, các đối thủ cạnh tranh với Ngân hàng như công ty chứng khoán, quỹ tương hỗ, công ty bảo hiểm cũng đang cố gắng cung cấp một số dịch vụ của Ngân hàng Do vậy, Ngân hàng đang không ngừng mở rộng phạm vi hoạt động và thực hiện nhiều
Trang 191.1.2 Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thương mại
Hoạt động của NHTM bao gồm nhiều nghiệp vụ đa dạng khác nhau, trong
đó các nghiệp vụ cơ bản bao gồm:
Huy động vốn
Đây là hoạt động cơ bản nhất của NHTM để thu hút lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế Đối tượng gửi tiền vào NH gồm có cá nhân, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính khác như công ty bảo hiểm, quỹ đầu cơ hay các NHTM Người gửi tiền vào NH sẽ được đảm bảo hòan trả cả gốc và lãi Bên cạnh hoạt động tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác, NHTM có thể phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài
Các NHTM cạnh tranh rất gay gắt để thu hút được tiền tiết kiệm bằng cách: tăng lãi suất, trao thưởng cho KH, sử dụng dịch vụ ưu đãi…
Cho vay
Là việc NHTM sử dụng nguồn tiền huy động được để cho KH sử dụng với cam kết KH phải hòan trả gốc và lãi sau thời hạn nhất định Chênh lệch giữa lãi suất cho vay và tiết kiệm là lợi nhuận của NH Cho vay là hoạt động đem lại nhiều lợi nhuận nhất NHTM luôn lựa chọn những KH tốt nhất để cho vay Ở thời kỳ trước đây, hoạt động sơ khai cho vay của NH chính là chiết khấu thương phiếu, các thương nhân bản đại thực hiện việc bán lại các khoản nợ (các khoản phải thu) của khách hàng cho NH để lấy tiền mặt
Kinh doanh, cung ứng dịch vụ ngoại hối và sản phẩm phái sinh
Đây làm một trong những dịch vụ đầu tiên của NH, qua hoạt động này NH thu lời từ phí dịch vụ Hoạt động này xuất phát từ nhu cầu thực tế công ty xuất nhập khẩu, trao đổi ngoại tệ của khách du lịch, đầu tư ra nước ngoài…Mua bán ngoại tệ
có rủi ro cao do biến động tỷ giá, vì thế NH cung cấp các sản phẩm phái sinh giúp
Trang 20khách hàng hạn chế rủi ro tỷ giá, gồm có: hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, hợp đồng hoán đổi ngoại tệ.
Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Hoạt động này thể hiện vai trò trung gian thanh toán của NHTM Tiền gửi được bảo quản an toàn, có thể thực hiện lệnh chi trả thông qua hệ thống NHTM mà không dùng tiền mặt Thanh toán không dùng tiền mặt ngày càng phát triển bởi tiện ích nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm chi phí và an toàn Các cách thức thanh toán mới được phát triển như: séc, dịch vụ thu hộ và chi hộ, L/C, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ATM…
Ngoài các hoạt động chủ yếu nêu trên NHTM còn cung cấp các dịch vụ như: bảo lãnh, quản lý ngân quỹ, cung cấp các dịch vụ ủy thác và tư vấn, cung cấp các dịch vụ đại lý, cung cấp dịch vụ môi giới và đầu tư chứng khoán, góp vốn mua cổ phần, tài trợ cho các hoạt động của Chính phủ…
1.2 Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM được định nghĩa như sau:
“Hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM là việc mua bán các loại ngoại
tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhau.“
1.2.2 Đặc điểm hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Hoạt động KDNT là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro.
Có các loại rủi ro khác nhau như: rủi ro tỷ giá, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro chính sách…Trong đó, rủi ro tỷ giá thường xảy ra nhiều nhất vì tỷ giá luôn biến động ảnh hưởng tới trạng thái ngoại tệ mà các NHTM nắm giữ
KDNT là một hoạt động phức tạp, đặc trưng cho nền kinh tế thị trường hiện đại Đặc biệt do tỷ giá luôn biến động phức tạp làm phát sinh nhu cầu của các tổ
chức tín dụng, các doanh nghiệp muốn bảo hiểm rủi ro, từ đó mà các công cụ phái sinh ngoại tệ đã ra đời và phát triển không ngừng Bên cạnh đó, hoạt động KDNT cần phải có đầy đủ cơ sở vật chất, các thiết bị hiện đại, các phương tiện thông tin liên lạc tân tiến để cập nhật thường xuyên tin tức và diễn biến thị trường
Trang 21KDNT là hoạt động đòi hỏi đội ngũ cán bộ phải có đầy đủ trình độ chuyên môn và trí tuệ tốt Vì các giao dịch ngoại tệ thường diễn ra trong khoảng thời gian
rất ngắn, biến động lãi lỗ liên tục do biến động tỷ giá nên thường tạo áp lực lớn lên nhà kinh doanh Do vậy, đội ngũ cán bộ phải có đủ chuyên môn về nhiều lĩnh vực, phải có những kỹ năng nhất định, phải có trình độ quản lý và khả năng nắm bắt thị trường một cách linh hoạt, đồng thời cần tích lũy kinh nghiệm và bản lĩnh khi tham gia thị trường
1.2.3 Các hình thức kinh doanh ngoại tệ cơ bản của NHTM
Các nghiệp vụ trong kinh doanh ngoại tệ của một Ngân hàng thương mại đồng thời cũng là các loại giao dịch diễn ra trên thị trường ngoại hối
1.2.3.1 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ giao ngay (SPOT)
Khái niệm
“Kinh doanh ngoại tệ giao ngay là thoả thuận giữa hai bên về việc mua một đồng tiền và bán một đồng tiền khác tại một tỷ giá xác định với ngày thanh toán( hay ngày giá trị) thông thường là hai ngày kể từ khi kí hợp đồng.”
Hợp đồng mua bán ngoại tệ giao ngay là loại hình giao dịch phổ biến nhất trên thị trường tiền tệ Tỷ giá trong giao dịch có thể là tỷ giá được niêm yết sẵn trên thị trường, còn đối với các cặp ngoại tệ không được niêm yết trực tiếp thì ngân hàng phải xác định tỷ giá bằng phương pháp tỷ giá chéo thông qua các cặp ngoại tệ khác
Vai trò của nghiệp vụ giao ngay
Đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của khách hàng.
Do nghiệp vụ giao ngay thực hiện với tỷ giá hiện tại và việc chuyển tiền có thể diễn ra ngay trong ngày giao dịch, 1 ngày sau đó hoặc chậm nhất là 2 ngày sau ngày giao dịch, nên các doanh nghiệp có nhu cầu mua bán ngoại tệ để phục vụ xuất nhập khẩu, đầu tư ra nước ngoài, hoặc các cá nhân có nhu cầu ngoại tệ để trả chi phí học tập, chữa bệnh, hay chuyển tiền cho người thân…sẽ thực hiện mua bán giao ngay với NHTM Khi đó NHTM sẽ thu được khoản phí thông qua chênh lệch giữa giá mua và giá bán ngoại tệ Ví dụ một đơn vị xuất khẩu có nhu cầu mua 100000 EUR trả bằng USD để thanh toán tiền hàng, yêu cầu của khách hàng sẽ là như sau:
“Mua 100 000 EUR USD ngày giá trị hôm nay”
Để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, NH A sẽ đi mua trên thị trường quốc tế,
Trang 22giao dịch NH A với NH B là một giao dịch giao ngay có nội dung như sau:
“Mua 100 000 EUR USD ngày giá trị hôm nay”
Khi đó NH B sẽ đưa ra giá yết là 1.4200/06, tức là NH A sẽ phải mua với giá 1.4206 và thực hiện bán lại cho khách hàng với giá cao hơn như vậy để thu lợi nhuận Chỉ thị thanh toán được 2 bên thoả thuận trong giao dịch
Đầu cơ tỷ giá
Hoạt động đầu cơ chứa đựng rủi ro rất lớn nhưng lại có thể đem lại một
khoản lợi rất lớn cho NHTM Có 2 hình thức đầu cơ đó là kinh doanh chênh lệch
giá (Arbittrage) và đầu cơ nắm giữ tiền tệ
Kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage) là việc tại cùng một thời điểm mua
một đồng tiền ở nơi rẻ và bán lại ở nơi có giá cao hơn để hưởng chênh lệch giá Nhờ vào nghiệp vụ Arbitrage mà tỷ giá ở mọi nơi trên thế giới đều được đưa về mức tương đương nhau Kinh doanh chênh lệch giá (Arbitrage) thường diễn ra trong giây lát khi các ngân hàng yết tỷ giá không thống nhất Ví dụ như sau:
NH C yết giá: EUR = 1.4300 / 03
NH D yết giá: EUR = 1.4304 / 07
Nhà đầu cơ làm như sau: mua 1 triệu EUR tại NHC với giá 1.4303
Đồng thời: bán 1 triệu EUR tại NHD với giá 1.4304
Lợi nhuận là 1 điểm tính cho 1 triệu EUR tức là 100 USD
Do các NHTM lớn trên thế giới giao dịch giao ngay mỗi lần từ 5-10 triệu USD, có khi là 20-50 triệu USD nên lợi nhuận thu được là rất lớn, thị trường giao ngay lớn nhất trên thế giới hiện nay là ở London
Để kinh doanh chênh lệch giá đòi hỏi nhà kinh doanh có sự hỗ trợ cao từ công nghệ, tập trung quan sát thị trường, nhưng rủi ro cũng rất cao khi một chiều ngân hàng đối tác xác nhận thực hiện, nhưng một đầu kia bị hủy giao dịch, như vậy nhà đầu cơ sẽ bị ôm trạng thái và đối mặt rủi ro tỷ giá
Đầu cơ nắm giữ tiền tệ là hình thức nhà đầu cơ mua vào hoặc bán ra và nắm
giữ trạng thái ngoại tệ do dự đoán được xu hướng giá
Ví dụ: A dự đoán được tối nay tin Châu Âu sẽ tốt, và EUR sẽ lên giá so với USD, anh ta đặt lênh như sau:
“ Mua 1 triệu EUR USD”
Trang 23Mức giá khớp là 1.4300
Đến 4h chiều, tin tức về tỷ lệ thất nghiệp và doanh số bán lẻ khu vực Châu
âu tăng vượt xa kỳ vọng, tỷ giá EUR USD lúc đó tăng lên 1.4350/55
A thực hiện bán ra 1 triệu EUR USD Vậy lợi nhuận anh ta thu được là 55 điểm tính cho 1 triệu EUR hay là 5500 USD
Hạn chế của nghiệp vụ giao ngay
Do ngày giá trị giao ngay chỉ tối đa là 2 ngày kể từ ngày thỏa thuận ký hợp đồng nên không đáp ứng đươc nhu cầu dài hạn, nhất là đối với các doanh nghiệp các NHTM muốn mua bán ở thời điểm xa hơn như 1 tuần, 1 tháng Hơn nữa, đối với các nhà đầu cơ thì công cụ này cũng hạn chế khả năng đầu cơ dài hạn vì do thời hạn thanh toán chỉ là trong 2 ngày làm việc
1.2.3.2 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ kỳ hạn (FORWARD)
Tham gia giao dịch hối đoái kỳ hạn là các NHTM, các công ty đa quốc gia, công ty xuất nhập khẩu, các nhà đầu cơ Khi tham gia giao dịch hai bên thoải thuận
về tỷ giá, và thời hạn rồi ký kết hợp đồng
Tỷ giá áp dụng trong hợp đồng kỳ hạn gọi là “tỷ giá kỳ hạn” Đây là tỷ giá
áp dụng trong tương lại nhưng lại được xác định ở thời điểm hiện tại Như vậy,
tỷ giá kỳ hạn là một số cố định, không phụ thuộc vào sự biến động tỷ giá trên thị trường trong khoảng thời gian thực hiện hợp đồng Tỷ giá kỳ hạn được tính theo công thức sau:
F= S * (1+ Rt*t)/(1+Rc*t)Trong đó:
F : là tỷ giá kỳ hạn giữa 2 đồng tiền
S : Là tỷ giá giao ngay giữa 2 đồng tiền
Rt : là lãi suất của đồng tiền định giá
Rc : là lãi suất của đồng tiền yết giá
t : khoảng thời gian của hợp đồng kỳ hạn
Công thức tính tỷ giá kỳ hạn được dựa trên lý thuyết cân bằng lãi suất Lý thuyết này cho rằng chênh lệch lãi suất giữa 2 quốc gia phải được bù đắp bằng chênh lệch tỷ giá giữa 2 đồng tiền để những người kinh doanh chênh lệch giá không thể sử dụng hợp đồng kỳ hạn kiếm lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch lãi suất
Điểm kỳ hạn là chênh lệch giữa tỷ giá kỳ hạn và tỷ giá giao ngay Ta có công
Trang 24thức điểm kỳ hạn:
P = F – S = S* (Rt-Rc)*t / (1+ Rc* t)
Trong đó: P là điểm kỳ hạn
Nếu P<0 gọi là điểm kỳ hạn gia tăng
Nếu P>0 gọi là điểm kỳ hạn khấu trừ
Vai trò của nghiệp vụ kỳ hạn
Thứ nhất, để bảo hiểm rủi ro tỷ giá (Hedge)
Do tính biến động bất thường của tỷ giá, nên các nhà kinh doanh khi có hợp đồng thanh toán bằng ngoại tệ trong tương lai sẽ cần dự toán chắc chắn số lượng tiền cần thanh toán theo ngoại tệ, vì vậy dùng hợp đồng kỳ hạn để xác định tỷ giá trước giúp phát huy tính chủ động trong kinh doanh và an toàn vốn Hoặc đối với trường hợp các nhà kinh doanh thu được một số lượng ngoại tệ trong tương lai và lo ngại về sự giảm giá bất thường của ngoại tệ sẽ tạo ra thua lỗ NHTM đáp ứng nhu cầu này của khách hàng bằng hợp đồng mua bán ngoại tệ kỳ hạn
Ví dụ: hôm nay là ngày 5/9/2011một nhà nhập khẩu muốn có 100000 EUR
để thanh toán tiền hàng theo hợp đồng đã ký vào ngày 5/10/2011 Nhà nhập khẩu này tiến hành mua kỳ hạn 100 000 EUR trả bằng USD
Tỷ giá giao ngay là: 1.4300
Điểm kỳ hạn là: 15
Tỷ giá kỳ hạn là: 1.4315
Đến ngày 5/10/2011 tỷ giá giao ngay là 1.4355
Như vậy, nếu đợi đến tận ngày 5/10/2011 nhà nhập khẩu mới mua EUR thì
sẽ bị mất 1.4355 triệu USD Nhưng do đã tiến hành mua kỳ hạn với tỷ giá 1.4315 nên chỉ phái trả 1.4315 triệu USD Lợi của nhà nhập khẩu ở đây là đã giảm được khoản tăng vọt do biến động tỷ giá của EUR ( 40 điểm) và xác định được trước nguồn USD cần thiết để thanh toán mua EUR từ đó chủ động hơn trong quá trình kinh doanh và thu xếp vốn
Thứ hai, để đầu cơ (Speculations) Một bộ phận KDNT của NHTM thực
hiện nhiệm vụ đầu cơ tỷ giá để kiếm lời Khi dự báo được sự biến động trong tương lai, các nhà đầu cơ sẽ thực hiện hợp đồng kỳ hạn nhằm hưởng chênh lệch giá Ví
dụ, nếu họ dự báo tỷ giá EUR USD sẽ giảm trong thời gian tới do nguy cơ vỡ nợ của Hy Lạp, họ sẽ bán kỳ hạn EUR USD tại thời điểm hiện tại với giá cao, và mua lại rẻ hơn vào thời điểm thực hiện hợp đồng
Hoạt động đầu cơ không thể thiếu được trong kinh doanh tiền tệ và là một yếu tố giúp làm tăng tính thanh khoản của thị trường ngoại hối ở các quốc gia có thị trường ngoại hối kém phát triển chưa đủ điều kiện để áp dụng các nghiệp vụ phức tạp như tương lai hay quyền chọn, ban đầu có thể thực hiện đầu cơ thông qua nghiệp vụ kỳ hạn
Trang 25Ví dụ: nhà đầu cơ dự báo giá GBP sẽ lên giá trong 1 tuần tới so với USD
vì khả năng trong tuần tới Mỹ sẽ tung ra gói kích thích kinh tế QE3 làm giảm giá đồng USD
Tỷ giá giao ngay: GBP = 1.6200/08
Điểm kỳ hạn 1 tuần: 5/7
Tỷ giá kỳ hạn là 1.6205 / 1.6215
Nhà đầu cơ mua 1 triệu GBP và trả 1.6215 triệu USD vào ngày 5/10/2011, khi đó tỷ giá đã tăng lên theo đúng dự đoán của nhà đầu cơ: GBP = 1.6300/10 Nhà đầu cơ thực hiện ngay biệc bán ra 1 triệu GBP và thu lãi là 85 điểm hay là
8500 USD
Hạn chế của giao dịch kỳ hạn
Là một thoải thuận không được tiêu chuẩn hóa theo những chi tiết trên Sở giao dịch chính thức vì vậy dễ xảy ra rủi ro đối tác khi một trong 2 bên không thực hiện hợp đồng Đây chính là rủi ro lớn nhất đối với hợp đồng kỳ hạn, ví dụ như một công ty xuất khẩu ký hợp đồng bán kỳ hạn với một NHTM, nhưng đến thời điểm thanh toán hợp đồng, tiền của công ty chưa về tài khoản thì NHTM đã bị rủi ro khi chưa có nguồn tiền như đã định kỳ kết từ trước
Ngoải ra, do là thỏa thuận giữa 2 bên, nên tỷ giá kỳ hạn thực tế khác nhiều sao với tỷ giá kỳ hạn niêm yết của NHTM để tham khảo Nên bên chào giá hoàn toàn có thể ép giá để chào tỷ giá kỳ hạn bất lợi cho bên còn lại, vì còn phải tính đến mức độ tín nhiệm của đối tác giao dịch và khả năng thưc hiện hợp đồng
1.2.3.3 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ theo hợp đồng tương lai
Định nghĩa
“Hợp đồng tương lai là một thỏa thuận mua bán một số lượng ngoại tệ đã biết theo tỷ giá cố định tại thời điểm hợp đồng có hiệu lực và việc chuyển giao ngoại
tệ được thực hiện vào một ngày trong tương lai được xác định bởi sở giao dịch”
Thành phần tham gia giao dịch hợp đồng tương lai gồm những cá nhân, tổ chức, các NHTM và những người môi giới ở sàn để ăn hoa hồng
Về bản chất, giao dịch tương lai là giao dịch kỳ hạn nhưng được chuẩn hóa
về loại ngoại tệ giao dịch, doanh số giao dịch, và ngày giao dịch Điểm khác biệt nổi bật của giao dịch kỳ hạn và giao dịch tương lai là giao dịch kỳ hạn là thỏa thuận giữa hai bên trong khi giao dịch tương lai được thực hiện tập trung thông qua môi giới ở sàn giao dịch
Các thị trường ngoại tệ tương lai lớn trên thế giới gồm có: The Tokyo
Trang 26International Financial Futures Exchange, The London International Financial Futures Exchange, The stockholm Options Market, The Chicago Mercantile Exchange…Trên thực tế tại các Sở giao dịch, 98% hợp đồng tương lai là thanh toán trước hạn, chỉ có 2% là giao hàng thật.
Bảng 1.1: Đặc điểm khác biệt giữa hợp đồng tương lai và kỳ hạn
Đặc điểm Hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng tương lai
Rủi ro Xảy ra khi một trong 2 bên không thực
hiện hợp đồng Ít rủi ro hơnHoa hồng Thu nhờ chênh lệch giá mua và giá bán
Phí môi giới cho nhà môi giới, phí của sở giao dịch mà các bên tham gia phải trả
Yết giá Các Ngân hàng yết giá mua và giá bán Chênh lệch giá mua và giá bán
được yết ở sàn giao dịch
Ký quỹ Không nhất thiết phải ký quỹ Yêu cầu ký quỹ theo tỷ lệ và bắt
bổ xung ký quỹ khi cần thiết.Thành viên Không có hạn chế nào
Phải là thành viên của sở giao dịch Nếu không là thành viên thì phải qua nhà môi giới
Ví dụ : về một hợp đồng tương lai tiêu chuẩn ở thị trường Chicago như sau:
Trị giá hợp đồng 125000 62500 100000 12500000
Ký quỹ
Trang 27- Duy trì 1400 1100 900 3400 Tháng giao dịch Tháng 1,3,4,6,7,9,10,12
Giờ giao dịch 7:20 sáng đến 2:00 chiều
Vai trò của nghiệp vụ tương lai
Chức năng của hợp đồng tương lai cũng giống như hợp đồng kỳ hạn Hợp đồng tương lai giúp bảo hiểm rủi ro tỷ giá, giúp các nhà kinh doanh có nhu cầu mua bán ngoại thực sự đảm bảo được nguồn ngoại tệ do đã giao dịch tại một sở giao dịch chính thức
Hợp đồng tương lai là công cụ đầu cơ khi nhà đầu cơ thực hiện việc mua và bán trên cơ sở đã dự bán được chiều hướng biến động tỷ giá
Hạn chế của nghiệp vụ tương lai
Do phải ký quỹ và tính toán bổ xung ký quỹ thường xuyên theo biến động thị trường, nên nếu thị trường biến động quá mạnh, người mua bán không kịp bổ xung
ký quỹ sẽ bị tất toán trạng thái và chịu thiệt hại mất đi toàn bộ số tiền đã ký quỹ
Mua hợp đồng tương lai vừa bị mất phí qua nhà môi giới, vừa bị mất phí do chênh lệch giá mua bán Đồng thời cũng cần có một khoản tiền để ký quỹ tính theo 5%-10% điều này bất lợi hơn so với hợp đồng kỳ hạn (chỉ thỏa thuận và đến tận khi thanh toán mới cần phải có tiền)
1.2.3.4 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ hoán đổi (SWAP)
Định nghĩa
“Nghiệp vụ SWAP là nghiệp vụ mua bán đồng thời một khoản tiền nhất định theo tỷ giá giao ngay và tỷ giá kì hạn, do đó ngày giá trị của hai giao dịch mua vào
và bán ra là khác nhau.”
Bản chất của nghiệp vụ hoán đổi là một sự kết hợp giữa nghiệp vụ giao ngay
và nghiệp vụ kỳ hạn Ngân hàng đồng thời thực hiện một giao dịch theo tỷ giá giao ngay và một giao dịch theo tỷ giá kì hạn theo hướng ngược lại với cùng một bạn hàng và cùng một khoản tiền
Do hợp đồng có 2 giao dịch đồng thời nên có 2 ngày giá trị:
Ngày giá trị giao ngay: là ngày giá trị của giao dịch giao ngay trong hợp
đồng hoán đổi
Ngày giá trị kỳ hạn: là ngày giá trị của giao dịch kỳ hạn trong hợp đồng
Trang 28hoán đổi.
Với giao dịch kỳ hạn người ta chỉ quan tâm tới điểm kỳ hạn vì tỷ giá giao ngay và tỷ giá kỳ hạn chỉ mang tính danh nghĩa thực hiện chuyển tiền, phí thực sự của giao dịch hoán đổi chính là tỷ giá kỳ hạn tức là số tiền mà người thực hiện giao dịch sẽ bị mất đi vào tay đối tác
Ví dụ giao dịch trên màn hình Reuters giữa 2 đói tác như sau:
NH A mua và bán 1 triệu EUR USD kỳ hạn 1 tuần với tỷ giá – 1.5
Điều này tức là điểm kỳ hạn của giao dịch là -0.15
Tỷ giá thực hiện giao dịch giao ngay là 1.42 NH A nhận được 1 triệu EUR
và bán ra 1.42 triệu USD
Tỷ giá thực hiện kỳ hạn 1 tuần sau là 1.41985 NH A trả 1 triệu EUR và chỉ nhận lại 1.41985 triệu USD
Như vậy phí cho giao dịch Swap của NH A là 0.00015 triệu USD
Nếu tỷ giá giao ngay là 1.4, thì tỷ giá kỳ hạn là 1.39985 thì phí cho hoạt động kỳ hạn vẫn là 0.00015 chỉ khác nhau ở số tiền thực chuyển giữa 2 lần Do đặc tính như vậy, nên các NHTM hoàn toàn có thể thỏa thuận tỷ giá giao dịch để giảm bớt số tiền phải luân chuyển giữa 2 NH hoặc là để tiện cho hạch toán các món giao dịch theo thỏa thuận
Vai trò của nghiệp vụ hoán đổi
Đáp ứng nhu cầu kinh doanh của khách hàng, vì nếu một doanh nghiệp hoạt
động cả xuất khẩu và nhập khẩu thì sẽ có cả nhu cầu bán ra ngoại tê khi tiền về và nhu cầu mua ngoại tệ khi phục vụ sản xuất kinh doanh vào tuy nhiên hai nhu cầu này lại ở hai thời điểm khác nhau Chính vì hợp đồng hoán đổi có thể đảm bảo trạng thái thông qua mua bán giao ngay và kỳ hạn nên rất có lợi cho khách hàng khi không phải dư thừa hay thiếu ngoại tệ Khi thực hiện hợp đồng hoán đổi, doanh nghiệp này vừa nhận được một khoản thu ngoại tệ từ xuất khẩu và tiến hành đổi lượng ngoại tệ này ra nội tệ để tiếp tục đầu tư vào sản xuất kinh doanh và chi trả trong nước Đồng thời doanh nghiệp cũng thu về ngoại tệ trong thời gian tới để thanh toán lô hàng nhập khẩu Thay vì kí kết hợp đồng để bán ngoại tệ giao ngay và mua ngoại tệ bằng hợp đồng kì hạn, doanh nghiệp này sẽ sử dụng hợp đồng Swap
Trang 29Như vậy, doanh nghiệp sẽ vừa đảm bảo đươc nhu cầu ngoại tệ vừa giảm chi phí giao dịch phải trả cho ngân hàng khi chỉ dùng một hợp đồng Swap thay cho hai hợp đồng riêng biệt.
Hạn chế rủi ro cho NHTM, vì về bản chất giao dịch hoán đổi không làm thay
đổi trạng thái của ngân hàng Khác hẳn với nghiệp vụ giao ngay và kỳ hạn, NHTM
sẽ đối mặt với rủi ro tỷ giá do chỉ hoạt động một chiều mua hoặc bán để đáp ứng nhu cầu khách hàng Hơn nữa nghiệp vụ hoán đổi là một công cụ linh hoạt giúp chính các NHTM thay đổi trạng thái các loại tiền tệ thống qua viên hoán đổi với một NHTM khác Hơn nữa, phí hoán đổi ngoại tệ thường rẻ hơn nhiều phí đi vay, nên NHTM có một công cụ kinh doanh hỗ trợ hoạt động huy động và cho vay ngoại
tệ Vì nếu khách hàng có nhu cầu vay EUR nhưng NHTM lại đang thừa USD thì sẽ hoán đổi mua và bán EUR USD với 1 đối tác nước ngoài theo đúng kỳ hạn vay mà khách hàng cần, do phí hoán đổi rẻ hơn lãi suất cho vay nên NHTM có lời
Giúp kéo dài thời hạn thực hiện hợp đồng giao ngay và kỳ hạn, trong trường
hợp đến hạn thanh toán hợp đồng giao ngay hay kỳ hạn mà NHTM không có nguồn
để thực hiện, sẽ tiến hành dùng hợp đồng hoán đổi để lấy ngoại tệ cần thanh toán về dùng cho hợp đồng đến hạn Như vậy, kỳ hạn thanh toán hợp đồng cũ đã được đẩy sang hợp đồng hoán đổi, tức là NHTM sẽ phải thanh toán nguồn ngoại tệ đó trong ngày đến hạn của giao dịch kỳ hạn trong giao dịch hoán đổi
Ví dụ: NHTM ký hợp đồng bán kỳ hạn EUR USD 1 tháng vào ngày
5/9/2011, đến thời điểm thanh toán là ngày 5/10/2011, NHTM chưa có nguồn EUR
để bán Khi đó sẽ tiến hánh hoán đổi mua EUR USD 1 tháng với 1 NHTM khác để lấy nguồn EUR về thanh toán cho hợp đồng bán kỳ hạn ký ngày 5/9/2011 Như vậy, NHTM đã đẩy kỳ hạn phải có nguồn EUR sang ngày 5/11/2011 với khoản phí của hợp đồng hoán đổi
Hạn chế của nghiệp hoán đổi
Hợp đồng hoán đổi làm mất đi khả năng đầu cơ vì thực chất của hợp đồng là chỉ quan tâm tới điểm kỳ hạn và tỷ giá giao ngay bất chấp sự biến động tỷ giá trong thời hạn thực hiện hợp đồng Như vậy, dù có cơ hội kinh doanh khi tỷ giá biến động
có lợi khách hàng sẽ không thể thực hiện được
1.2.3.5 Nghiệp vụ quyền chọn
Khái niệm
“Hợp đồng quyền chọn là hợp đồng cho phép người mua nó có quyền,
Trang 30nhưng không bắt buộc, được mua hoặc được bán một số lượng xác định các đơn vị tài sản cơ sở tại hay trước một thời điểm xác định trong tương lai với một mức giá xác định tại thời điểm thỏa thuận hợp đồng”
Tại thời điểm xác định trong tương lại, người mua có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền mua hay bán tài sản cơ sở Nếu người mua thực hiện quyền mua hay bán, thì người bán buộc phải thực hiện việc bán hay mua tài sản cơ sở
Để có được hợp đồng quyền chọn, người mua quyền phải trả cho người bán
quyền “ Phí quyền chọn” để được nắm giữ hay sở hữu quyền chọn
Các kiểu quyền chọn
Quyền chọn kiểu Mỹ: là kiểu quyền chọn cho phép người mua quyền được
thực hiện bất cứ thời điểm nào trong thời gian hiệu lực của quyền chọn
Quyền chọn kiểu Châu Âu: là kiểu quyền chọn chỉ cho phép người mua thực
hiện khi quyền chọn đến hạn
Các loại quyền chọn
Nghiệp vụ quyền chọn mua tiền tệ: là nghiệp vụ mà người mua hợp đồng
quyền chọn có quyền mua một đồng tiền nhất định Ví dụ: NH A mua hơp đồng quyền chọn mua CAD USD, có nghĩa là NH có quyền mua CAD và trả bằng USD
mà (không có nghĩa vụ buộc phải thực hiện) tại một tỷ giá xác định trước trong một khoảng thời gian xác định
Nghiệp vụ quyền chọn bán tiền tệ: là nghiệp vụ mà người mua hợp đồng
quyền chọn có quyền bán một đồng tiền nhất định Ví dụ: NH A mua hơp đồng quyền chọn bán GBP USD, có nghĩa là NH có quyền bán GBP và thu về USD mà (không có nghĩa vụ buộc phải thực hiện) tại một tỷ giá xác định trước trong một khoảng thời gian xác định
Thị trường thứ cấp hình thành việc mua bán các quyền mua và quyền bán Mua quyền chọn mua, mua quyền chọn bán, bán quyền chọn mua và bán quyền chọn bán
Vai trò của nghiệp vụ quyền chọn
Bảo hiểm rủi ro tỷ giá, quyền chọn mua thường được các nhà nhập khẩu
dùng để đảm bảo sẽ mua được lượng ngoại tệ trong tương lai với tỷ giá biết trước Vào ngày đến hạn của hợp đồng nếu tỷ giá tăng anh ta sẽ thực hiện quyền chọn mua của mình và người bán có nghĩa vụ cung cấp một lượng ngoại tệ với tỷ giá như đã thoả thuận Còn nếu tỷ giá giảm anh ta sẽ huỷ bỏ hợp đồng và mua ngoại tệ trên thị trường, người bán quyền sẽ được hưởng khoản chi phí mua quyền Phần lỗ của nhà nhập khẩu là phí của quyền chọn mua Quyền chọn bán thường được các nhà xuất khẩu áp dụng Vào thời điểm đến hạn của hợp đồng nếu tỷ giá trên thị trường thấp
Trang 31hơn tỷ giá trên hợp đồng thì người mua quyền chọn bán sẽ thực hiện hợp đồng và người bán quyền chọn bán có nghĩa vụ phải mua số ngoại tệ tại tỷ giá như đã thoả thuận còn nếu lúc đó tỷ giá trên thị trường cao hơn tỷ giá trong hợp đồng thì người
có quyền chọn sẽ huỷ bỏ hợp đồng mà bán ngoại tệ ra thị trường , bỏ qua phí quyền chọn và người bán quyền là người được hưởng số tiền đó
Ví dụ: Một doanh nghiệp xuất khẩu dự kiến trong tháng tới sẽ thu về một
khoản ngoại tệ là 100.000 EUR, và họ dự đoán trong thời gian tới tỷ giá EUR/USD trên thị trường có khả năng sụt giảm mạnh Để bảo vệ giá trị đồng vốn và hưởng lợi
từ việc dự đoán tỷ giá này, doanh nghiệp có thể:
1 Ký hợp đồng bán EUR có kỳ hạn cho ngân hàng Trong trường hợp này, cho dù vào ngày đáo hạn tỷ giá đồng EUR có tăng hay giảm bao nhiêu thì doanh nghiệp vẫn phải bán cho ngân hàng với giá đã cam kết trong hợp đồng
2 Hoặc ký hợp đồng Option bán EUR cho ngân hàng hôm nay (5/9/2011) với tỷ giá EUR/USD là 1.42 (tỷ giá đặt bán) Thời hạn một tháng (ngày đáo hạn 5/10/2011)
Tới ngày 5/10/2011 sẽ xảy ra 1 trong 2 trường hợp:
- Tỷ giá EUR/USD trên thị trường là 1.44 cao hơn tỷ giá đặt bán, doanh nghiệp có quyền không thực hiện hợp đồng đã ký kết với ngân hàng mà bán 100.000 EUR để lấy 144.000 USD theo giá thị trường vì họ đã có quyền lựa chọn bán hay không bán theo giá đã ký kết trong hợp đồng
- Tỷ giá EUR/USD giảm mạnh còn 1.2500, doanh nghiệp được quyền bán cho ngân hàng 100.000 EUR lấy 142.000 USD theo tỷ gia đã ký kết trong HĐ Option Nếu không có hợp đồng Option thì với 100.000 EUR, họ chỉ có thể bán theo tỷ giá spot 1.25 thấp hơn so với tỷ giá đặt bán trong HĐ Option
Công cụ đầu cơ, khi các nhà đầu cơ chắc chắn về sự biến động mạnh của tỷ
giá trong tương lai, họ sẽ thực hiện giao dịch quyền chọn Vì ưu điểm của giao dịch
là quyền chọn là quyền thực hiện chứ không phải nghĩa vụ phải thực hiện, nên thua
lỗ tối đa đối với nhà đầu cơ chỉ là phí mua hợp đồng quyền chọn Đây là điểm khác biệt hẳn so với đầu cơ giao ngay hoặc kỳ hạn vì nhà đầu cơ đã phát sinh trạng thái ngoại tệ và buộc phải xử lý khi tỷ giá biến động bất lợi Trong trường hợp đầu cơ bằng quyền chọn, nhà đầu cơ có quyền không thực hiện quyền và chịu thua lỗ bằng phí giao dịch, tuy nhiên nếu tỷ giá biến động có lợi thì lợi nhuận lại rất lớn và không bị giới hạn gì Chính vì tính đầu cơ lớn trong công cụ này mà thị trường thứ
Trang 32cấp của nó gồm việc mua bán quyền chọn mua và quyền chọn bán rất phát triển.
Hạn chế của nghiệp vụ quyền chọn
Đó là phí quyền chọn, người mua quyền dù thực hiện hay không thực hiện đều mất phí quyền chọn Tuy nhiên, khi thị trường thứ cấp của hoạt động quyền chọn diễn ra sôi động, người mua quyền chọn hoàn toàn có thể bán lại và thu được một khoản lợi nhuận đáng kể
1.2.4 Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại tệ với NHTM
Quá trình toàn cầu hóa đã đưa các quốc gia trên thế giới gần nhau hơn bao giờ hết, điều này thúc đẩy thương mại dịch vụ, trao đổi hàng hóa giữa các vùng lãnh thổ Chính vì thế đã phát sinh nhu cầu mua bán, thanh toán các loại ngoại tệ khác nhau thông uy tín của các NHTM Như vậy, hoạt động KDNT của NHTM đã đóng vai trò to lớn trong việc thúc dẩy nền kinh tế hội nhập với thế giới, và đồng thời là nghiệp vụ quan trọng đêm lại lợi nhuận trong hoạt động của NH
Đối với nền kinh tế.
- Thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế, đầu tư quốc tế
Hoạt động KDNT của NHTM giúp các doanh nghiệp dễ dàng tìm kiếm nguồn ngoại
tệ để nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu, đồng thời giúp các nhà xuất khẩu bán được ngoại tệ đẻ thu nguồn vốn về phục vụ sản xuất kinh doanh NHTM đóng vai trò trung gian ở giữa trong hoạt động xuất nhập khẩu, từ đó cân dối nguồn ngoại tệ Hoạt động thanh toán chuyển tiền quốc tế nhanh chóng, thuận lợi cũng góp phần bôi trơn hoạt động mua bán, chu chuyển hàng hóa, từ đó tạo ra quá trình quay vòng sản xuất nhanh hơn, hiệu quả hơn
- Giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro trong sản xuất kinh doanh và thanh toán thông qua các công cụ phái sinh ngoại tệ Do tỷ giá luôn biến động khiến
doanh nghiệp luôn bị động trong chuẩn bị nguồn tiền cho thanh toán, vì thế các công cụ phái sinh mà NHTM cung cấp đã giúp doanh nghiệp giải quyết bài toán này, hợp đồng kỳ hạn hay quyền chọn giúp doanh nghiệp chủ động về tỷ giá, còn hoán đổi hiệu quả trong việc luân chuyển dòng tiền và phí thấp hơn nhiều so với tín dụng Các công cụ phái sinh ngoại tệ ngày càng phát triển và đa dạng nhằm đáp ứng đầy đủ nhu cầu của doanh nghiệp
Đối với ngân hàng.
- KDNT đem lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng NHTM kiếm lời nhờ
chênh lệch trong mua bán, thu phí dịch vụ của các hợp đồng phái sinh, và đầu cơ
Trang 33trên thị trường ngoại hối quốc tế Hàng năm, lợi nhuận từ KDNT chiếm đáng kể trong tổng lợi nhuận của NHTM Quá trình hội nhập thế giới càng phát triển mạnh
mẽ, thì hoạt động KDNT càng đóng vai trò quan trọng để thúc đẩy luân chuyển các luồng ngoại tệ
- Giúp NHTM mở rộng quy mô hoạt động, phục vụ nhu cầu của khách hàng hiện tại, và thu hút thêm các đối tượng khách hàng tiềm năng Các nghiệp vụ trong hoạt động KDNT giúp đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng bao gồm: đổi
ngoại tệ để đi du lịch, mua bán ngoại tệ sau các hợp đồng xuất nhập khẩu, mua ngoại tệ để kí quĩ trong thanh toán L/C… Đồng thời KDNT phối hợp và hỗ trợ các nghiệp vụ khác như tín dụng, tài trợ thương mại, đầu tư dự án trong tổng thể hoạt động của NHTM để từ đó tạo ra gói sản phẩm hoàn thiện cung cấp cho khách hàng Đáp ứng đầy đủ nhu cầu của khách hàng là yếu tố quan trọng giúp NHTM có ưu thế cạnh tranh với các NHTM đối thủ
- Tạo uy tín và danh tiếng trên thị trường quốc tế Hàng ngày con số giao
dịch trên thị trường ngoại hối thế giới là rất lớn Có thể nói đây là thị trường có qui
mô lớn nhất trên toàn thế giới Thực hiện KDNT trên thị trường quốc tế giúp NHTM có thêm nhiều đối tác, mở rộng mạng lưới, tạo uy tín, nhờ đó tìm kiếm các đối tác chiến lược là các tổ chức tài chính lớn trên thế giới
1.3 Mở rộng hoạt động kinh doanh ngoai tệ của NHTM
1.3.1 Quan niệm về mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Mở rộng là sự tăng lên về quy mô và phạm vi lớn hơn trước
Như vậy, mở rộng hoạt động KDNT là sự tăng lên về quy mô và phạm vi của động kinh doanh ngoại tệ
Quy mô hoạt động KDNT gồm có: doanh số, lợi nhuận, hạn mức kinh doanh Phạm vi hoạt động kinh doanh ngoại tệ gồm có: phạm vi mua bán với các chi
nhánh ở các tỉnh thành trong nước, với các đối tác nước ngoài ở các vùng lãnh thổ khác nhau, và sự liên kết với các nghiệp vụ khác
1.3.2 Các chỉ tiêu phản ánh sự mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Sự mở rộng hoạt động KDNT có thể được phản ánh qua những chỉ tiêu sau:
Doanh số
“Doanh số kỳ này/kỳ trước” : cho thấy hoạt động kỳ này đã tăng gấp bao
nhiêu lần kỳ trước Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 cho thấy hoạt động KDNT đang được mở rộng, chỉ tiêu càng lớn phản ánh hoạt động đang ngày càng mở rộng, ngược lại chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì hoạt động KDNT đang bị thu hẹp
“Doanh số kỳ này / doanh số kế hoạch”: cho thấy kết quả hoạt động vượt
bao nhiêu lần kế hoạch đề ra Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 cho thấy hoạt động KDNT
đã vượt kế hoạch, chỉ tiêu càng lớn phản ánh hoạt động càng phát triển mạnh so với
Trang 34kế hoạch Ngược lại, nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 1 cho thấy hoạt động đã không hoàn thành kế hoạch đề ra, không đạt được mức mở rộng cần thiết.
Hạn mức kinh doanh
“Hạn mức kỳ này/hạn mức kỳ trước”: cho thấy quyền quyết định mua bán
của cán bộ kỳ này đã được mở rộng thêm bao nhiêu lần Chỉ tiêu lớn hơn 1 cho thấy hạn mức của cán bộ đang được mở rộng đồng thời cũng phản ánh nhu cầu mua bán của khách hàng đang lớn dần, chỉ tiêu càng lớn cho thấy nhu cầu để tăng khối lượng giao dịch càng cao, do đó phản ánh hoạt động KDNT càng mở rộng Ngược lại, chỉ tiêu nhỏ hơn 1 cho thấy hoạt động KDNT với khách hàng đang bị thu hẹp hoặc đang chứa đựng nhiều rủi ro, và như vậy thẩm quyền phán quyết của bán bộ kinh doanh cũng đang bị hạn chế, hoạt động KDNT khó có điều kiện để mở rộng
Lợi nhuận
“Lợi nhuận kỳ này/lợi nhuận kỳ trước”: cho thấy hiệu quả hoạt động kỳ này
tăng gấp bao nhiêu lần kỳ trước Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 cho thấy hoạt động KDNT đang đạt hiệu quả tốt, chỉ tiêu càng lớn phản ánh hoạt động càng thu được hiệu quả cao và sẽ được tăng cường mở rộng trong tương lai Ngược lại chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì hoạt động KDNT đang không đạt bị thiếu hiệu quả so với trước đó và cần thiết có các biện pháp để điều chỉnh
“Lợi nhuận kỳ này/lợi nhuận kế hoạch” cho thấy hiệu quả hoạt động thực tế
so với kế hoạch đề ra Chỉ tiêu lợi nhuận là rất quan trọng với đơn vị KDNT như NHTM, yêu cầu tiên quyết của việc mở rộng hoạt động KDNT là phải đem lại nhiều lợi nhuận hơn Nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 cho thấy hoạt động KDNT đã vượt
kế hoạch, chỉ tiêu càng lớn phản ánh hoạt động càng vượt hiệu quả đề ra trong kỳ
kế hoạch Ngược lại, nếu chỉ tiêu nhỏ hơn 1 cho thấy hoạt động đã không hoàn thành kế hoạch đề ra, không đạt được mức hiệu quả cần thiết
Số lượng đối tác
“Số lượng chi nhánh và tổ chức giao dịch kỳ này/ số lượng chi nhánh và tổ chức giao dịch kỳ trước”: cho thấy kỳ này đã mở rộng thêm bao nhiêu lần các chi
nhánh giao dịch, bao nhiêu khách hàng giao dịch, bao nhiêu Ngân hàng trong nước
và quốc tế giao dịch mới so với kỳ trước Chỉ tiêu này cho thấy tầm ảnh hưởng và tên tuổi của Ngân hàng đã vươn xa như thế nào Chỉ tiêu càng lớn hơn nhiều so với
1 thể hiện NHTM đang mở rộng mạng lưới giao dịch, mở rộng đối tượng khách hàng Ngược lại, chỉ tiêu nhỏ hơn 1 cho thấy NHTM đã bị ngừng giao dịch với một
số đối tác, như vậy sẽ hạn chế sự mở rộng của hoạt động KDNT
Số lượng sản phẩm mới trong kỳ
Cho thấy hoạt động kinh doanh ngoại tệ đã đáp ứng được nhu cầu khách
Trang 35hàng đa dạng thế nào, đã kết với với các hoạt động khác để bán chéo sản phẩm thâm nhập vào nhu cầu của khách hàng như thế nào Số lượng sản phẩm mới càng nhiều cho thấy khả năng bao quát được hầu hết các nhu cầu của khách hàng như vậy sẽ thu hút được nhiều đối tượng sử dụng đến sản phẩm dịch vụ của NHTM Ngược lại nếu trong kỳ không phát sinh sản phẩm mới, tức là những nhu cầu mới của KH đang không được đáp ứng.
Số lượng nhân viên và bộ phận chuyên môn mới
Chỉ tiêu này cho thấy nhu cầu thực sự hoạt động KDNT đang rất mở rộng nên cần thiết phải tuyển thêm nhân viện để chia sẻ bớt công việc hiện tại, hoặc thành lập thêm một phận mới để phụ trách riêng một mảng chuyên môn Ngược lại nếu số lượng nhân viên và bộ phân mới không phát sinh, cho thấy hoạt động KDNT đang duy trì trên bộ phận cũ, và đang không có dấu hiệu phát triển
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng tới việc mở rộng hoạt động kinh doanh ngoại tệ của NHTM
1.4.1 Các nhân tố khách quan
1.4.1.1 Tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
Khi tình hình kinh tế, chính trị và xã hội ổn định, hoạt động KDNT có điều kiện để mở rộng Vì khi đó, các doanh nghiệp xuất khẩu có điều kiện kinh doanh thuận lợi và thu được nhiều nguồn ngoại tệ, các doanh nghiệp nhập khẩu phát triển cũng cần nhu cầu nhập hàng hóa, vật liệu nhiều hơn như vậy nhu cầu ngoại tệ lớn hơn Nguồn vốn ngoại tệ đầu tư từ nước ngoài vào và nguồn kiều hối về nước cũng lớn hơn Như vậy, NHTM đóng vai trò là trung gian trong mua bán ngoại tệ để đáp ứng các nhu cầu này sẽ hướng lợi, và hoạt động sẽ ngày càng mở rộng khi nền kinh
tế ổn định, hoạt động ngoại hối được tự do để phát triển
Ngược lại, nếu tình hình kinh tế , chính trị xã hội bất ổn, là nhân tố quyết định làm cho đồng tiền nước đó bị bán tháo, hạ giá so với các ngoại tệ khác từ đó gây khó khăn cho nhập khẩu, nguồn vốn đầu tư nước ngoài và nguồn kiều hối sẽ bị giảm đáng kể do lo ngại về điều kiện kinh tế bất ổn Như vậy, hoạt động kinh doanh ngoại tệ trong nước sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng Vì tỷ giá biến động sẽ làm mất thăng bằng cán cân cung cầu ngoại tệ so với nội tệ Đồng thời, rủi ro tỷ giá biến động cũng làm hạn chế hoạt động mua bán ngoại tệ của khách hàng do đó ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động KDNT của NHTM
1.4.1.2 Cơ chế quản lý ngoại hối của nhà nước
Cơ chế quản lý ngoại hối của Nhà nước trong một thời kỳ sẽ ảnh hưởng lớn
Trang 36đến hoạt động KDNT, vì trong khuôn khổ của quốc gia nên bắt buộc hoạt động KDNT của NHTM phải tuân theo các quy định, văn bản và mục tiêu chung đặt
ra Chính sách quản lí ngoại hối phụ thuộc vào điều kiện của từng nước và mục tiêu mà Chính phủ nước đó hướng đến Nếu chính sách quản lí ngoại hối quá cứng nhắc, không hợp lí sẽ gây nhiều trở ngại cho KDNT ngoại tệ, cản trở sự phát triển của thị trường ngoại hối Ngược lại, một chính sách quản lí ngoại hối đúng đắn và phù hợp trong từng thời kỳ sẽ đóng vai trò là đòn bẩy khuyến khích phát triển thương mại quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, qua đó thúc đẩy hoạt động KDNT của các NHTM
Ngoại hối là vấn đề lớn của cả quốc gia, do đó nhà nước có những chỉ đạo điều hành nhất định đối với hoạt động này thông qua các văn bản pháp luật Cụ thể các chính sách quản lý ngoại hối tập trung kiểm soát luồng ngoại tệ ra và vào ở mỗi quốc gia thông qua hoạt động xuất nhập khẩu, kiều hối, buôn tiền xuyên quốc gia…Mục đích cuối cùng nhắm đến của hoạt động quản lý này là nhằm ổn định thị trường tiền tệ, cân đối cán cân thanh toán, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu từ đó phát triển nền kinh tế quốc gia
Hoạt động KDNT là một phần của hoạt động ngoại hối của một quốc gia, do
đó chịu sự ảnh hưởng trực tiếp từ những quyết định của Nhà nước mà cụ thể ở đây
là NHTW Vì ở mỗi quốc gia, NHTW là cơ quan trực thuốc nhà nước để thực thi các chính sách liên quan đến hoạt động hệ thống NHTM NHTW trực tiếp điều hành hoạt động của NHTM thông qua các chính sách những quy định pháp lý, điều luật mà NHTW đưa ra trong vấn đề quản lí vàng bạc đá quí, các chứng từ có giá trị ngoại tệ cũng như đối với việc trao đổi sử dụng mua bán trên thị trường nội địa và quốc tế
Trọng tâm mục tiêu trong chính sách điều hành ngoại hối chính là điều hành
tỷ giá Việc điều hành tỷ giá dựa trên chế độ tỷ giá mà Nhà nước đó lựa chọn Có ba chế độ như sau:
+ Chế độ tỷ giá cố định: là chế độ tỷ giá mà NHTM công bố và cam kết can thiệp để duy trì một mức tỷ giá cố định gọi là tỷ giá trung tâm ở trong biên độ giao động hẹp đã được định trước Mỗi khi tỷ giá biến động vượt ra ngoài biên độ thì NHTW phải thực hiện mua vào hoặc bán ra đồng ngoại tệ để đưa tỷ giá về mức định trước
+ Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn: đây là chế độ mà tỷ giá tự do hình thành
Trang 37theo quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối, NHTW không thể hiện bất cứ nỗ lực can thiệp nào lên tỷ giá Hoạt động mua bán của Nhà nước trên thị trường này không nhằm can thiệp bình ổn thị trường mà chỉ vì mục đích cung cầu do nhà nước cũng chỉ đóng vai trò là thành viên tham gia thị trường chứ không phải là người điều tiết thị trường Trên thực tế, chế độ tỷ giá này dường như không tồn tại, vì Nhà nước sẽ có can thiệp ít nhiều để kiểm soát thị trường.
+ Chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết; đây là chế độ tỷ giá hỗn hợp giữ cố định
và thả nổi, Nhà nước đặt muc tiêu can thiệp để bình ổn và hướng thị trường hoạt động theo chiều hướng tốt, can thiệp của Nhà nước mang tính tích cực để điều tiết thị trường khi tỷ giá biến động bất lợi gây ra bất ổn cho sự phát triển kinh tế nói chung Dù là can thiệp, nhưng cũng chỉ ở mức độ vùa phải nhất định chứ không nhằm mục tiêu duy trì tỷ giá ở một mức cố định nào đó
Ngày nay ở hầu hết các quóc gia trên thế giới đều lựa chọn chế độ tỷ giá thả nổi có điều tiết Các công cụ thường được NHTW sử dụng để tác động lên tỷ giá là:
+ Các công cụ trực tiếp gồm: việc mua bán trực tiếp với NHTM trên thị trường ngoại hối, biện pháp kết hối buộc các NHTM và các tập đoàn phải bán ngoại
tệ Việc sử dụng các công cụ trực tiếp thường gây ra tác động lên lượng tiền cung ứng
từ đó gây ra lạm phát, vì vậy NHNN thường kết hợp với các công cụ khác như chính sách tài khóa để trung hòa ảnh hưởng tiêu cực mà việc mua bán ngoại tệ sinh ra
+ Các công cụ gián tiếp bao gồm: điều hành tỷ lệ dự trữ bắt buộc với ngoại
tệ, lãi suất tái chiết khấu, quy định trần huy động và cho vay ngoại tệ…Các công cụ gián tiếp thường được ưu tiên sử dụng trong dài hạn vì ít tác động tiêu cực và dễ kiểm soát hơn Tuy nhiên, trong hoàn cảnh rối ren về vấn đề ngoại hối thì cần thiết phải sử dụng các công cụ trực tiếp
1.4.2 Các nhân tố chủ quan
Đó là những nhân tố thuộc về bản thân nội tại của Ngân hàng, với những nhân tố chủ quan NHTM có thể lựa chọn và thay đổi để phù hợp với mục tiêu phát triển của mình Thường vào đầu mỗi năm tài chính, lãnh đạo NHTM sẽ xây dựng chiến lược phát triển trong năm và xa hơn là 3-5 năm tới, kèm theo đó sẽ là các mục tiêu về lợi nhuận, doanh số, nhân sự…Đối với hoạt động KDNT là một trong những hoạt động chiến lược đem lại nhiều lợi nhuận cho NHTM, các nhân tố chủ quan tác động được kể đến như sau:
1.4.2.1 Nhân tố con người
Trang 38Đây được đánh giá là nhân tố quan trọng nhất Vì con người là trung tâm để điều khiển thay đổi và phát triển hoạt động KDNT Nếu hoạt động KDNT được chỉ đạo bởi những người nhiều kinh nghiệm, tận tâm và tài giỏi thì cũng như mọi hoạt động khác chắc chắn là sẽ đạt kết quả cao Thêm vào đó, nếu đội ngũ nhân viên cần phải là những cá nhân thông thạo về nghiệp vụ, bieeets đoàn kết, nhiệt huyết cống hiến và ứng xử văn hóa với khách hàng thì mọi mục tiêu lợi nhuận đều không khó
để đạt được Nếu một NHTM, có vốn lớn, được nhiều ưu đãi, có các đối tác chiến lược quan trọng, đầu tư mạnh vào hoạt động KDNT, nhưng mọi nỗ lực sẽ đều vô nghĩa nếu NHTM đó không xây dựng nên một đội ngũ cán bộ kinh nghiệm và hết lòng cống hiến cho Ngân hàng Hoạt động KDNT đòi hỏi đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao, các NHTM thường tuyển các du học sinh vì bản thân nghiệp vụ này cần rất nhiều đến ngoại ngữ Bên cạnh những điều kiện về trí tuệ, bằng cấp thì đạo đức là nhân tố cực kỳ quan trọng, vì chỉ cần một chút tham lam, cán bộ kinh doanh ngoại tệ có thể gây ra những ảnh hưởng cực lớn, tổn thất cực lớn cho toàn bộ NHTM Do trạng thái ngoại tệ bị ảnh hưởng bởi rủi ro tỷ giá, nếu cán bộ KDNT thực hiện đầu cơ để kỳ vọng lợi nhuận, không tuân theo quy trình để cân đối trạng thái có thể dẫn đến thua lỗ rất lớn cho NHTM Do vậy, các cán bộ KDNT là những người phải có đạo đức tốt, tuyệt đối tuân thủ quy trình, đặc biệt là những người sống không có lòng tham lam lợi nhuận
1.4.2.2 Nhân tố công nghệ
Hoạt động KDNT là một hoạt động phức tạp, đây là một trong những nghiệp
vụ của một ngân hàng hiện đại nên nó đòi hỏi một lự đầu tư lớn về công nghệ Có thể kể đến các yếu tố công nghệ cần đến như: mạng cập nhật và xử lý thông tin hiện đại, màn hình update tỷ giá và truyền tin của các hãng tin danh tiếng Reuters và Bloomberg, phần mềm dành riêng cho hạch toán và mua bán KDNT, trang tin riêng
để các cán bộ KDNT thực hiện việc update giá và tư vấn cho khách hàng…Rõ ràng yếu tố công nghệ đang đóng vai trò ngày càng lớn mạnh, thay thế con người trong rất nhiều hoạt động, đây được đánh giá là yếu tố chiến lược giúp NHTM mở rộng nhanh chóng hoạt động KDNT nói riêng và các hoạt động khác nói chung Nhân tố công nghệ giúp hoạt động KDNT tiết kiệm được thời gian phải hạch toán bằng tay, tích hợp nhiều phương thức hiện đại giúp lãnh đạo quản lý cập nhật và đánh giá rủi
ro thông qua những cảnh báo của hệ thống, giúp các cán bộ giao dịch ngoại tệ phản ứng thông tin nhanh nhậy hơn và thực hiện giao dịch an toàn ít sai sót hơn
Trang 391.4.2.3 Chiến lược kinh doanh
Đây là nhân tố đóng vai trò quan trọng, bởi nếu chiến lược không phù hợp với điều kiện của NHTM, không phù hợp với điều kiện phát triển chung của nền kinh tế xã hội thì sẽ không thể hướng hoạt động KDNT đạt đến mục tiêu như mong muốn Việc xây dựng chiến lược thường là lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, rồi từ đó ban lãnh đạo tiến hành thảo luận dựa trên kết quả của năm cũ để xây dựng cho năm mới Nếu chiến lược đặt ra mục tiêu quá lớn, quá sức thực hiện sẽ tạo ra áp lực tâm lý, gánh nặng sẽ làm cán bộ không thể phát huy hết khả năng của mình dẫn đến kết quả không hoàn thành Một chiến lược tốt là chiến lược có tầm nhìn phù hợp điều kiện kinh tế xã hội, có sự phối kết hợp nhịp nhàng với các nghiệp vụ khác, được sự ủng hộ và quyết tâm phấn đấu của cán bộ trong phòng,
và đặc biệt là chiến lược đó phải là động lực chứ không phải áp lực để mọi người cùng phấn đấu thực hiện
1.4.2.4 Mạng lưới đối tác và khách hàng
Mạng lưới đối tác là các NHTM trong nước và quốc tế đang có quan hệ cũng như các quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài Mạng lưới khách hàng của hoạt động KDNT chính là các chi nhánh, các định chế tài chính, các tổ chức tập đoàn lớn Hoạt động KDNT muốn mở rộng thì đòi hỏi có mạng lưới rộng lớn về đối tác và khách hàng Nếu mạng lưới đối tác và khách hàng nhỏ, hoạt động KDNT không những bất lợi ở doanh số và lợi nhuận, mà bất lợi lớn hơn là chi phí cho các giao dịch chuyển đổi ngoại tệ, vay mượn, chuyển tiền Mạng lưới rộng lớn là nhân
tố quan trọng khẳng định khả năng phát triển mở rộng mạnh mẽ của hoạt động KDNT, tạo thương hiệu uy tín và danh tiếng trên thị trường trong nước và quốc tế.1.4.2.5 Sự phối hợp và hỗ trợ các nghiệp vụ khác
Hoạt động KDNT là một hoạt động nhỏ trong rất nhiều các hoạt động khác của NHTM, thường thì các nghiệp vụ có sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau để tạo điều kiện bán chéo sản phẩm, cũng như cung cấp một tiện ích tổng thế cho khách hàng Rất nhiều nghiệp vụ khác của Ngân hàng thương mại liên quan đến KDNT như: huy động vốn bằng ngoại tệ, cho vay ngoại tệ, thanh toán quốc tế, … Các nghiệp vụ này có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, do đó phát triển nghiệp vụ này sẽ có điều kiện phát triển và mở rộng nghiệp vụ khác
1.4.2.6 Công tác kiểm soát rủi ro hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Trang 40Hoạt động KDNT tiềm ẩn nhiều rủi ro có thể gây thiệt hại rất lớn Nếu kiểm soát tốt rủi ro là điều kiện để hoạt động KDNT mở rộng bền vững, ngược lại nếu không kiểm soát tốt rủi ro sẽ gây thua lỗ, như vậy hoạt động này không những không được mở rộng hơn mà còn bị thu hẹp Công tác kiểm soát rủi ro KDNT phải được thực hiện qua bộ phận rủi ro độc lập với phòng KDNT, bộ phận này đóng vai trò giám sát, hậu kiểm và cảnh báo khi thấy dấu hiệu rủi ro Những rủi ro chính là:
Rủi ro tỷ giá là rủi ro lớn nhất trong hoạt động KDNT của NHTM Khi hoạt
động KDNT của NHTM được mở rộng, điều này đồng nghĩ với việc NHTM thường nắm giữ trạng thái ngoại tệ lớn và nhiều loại ngoại tệ khác nhau để có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu mua bán và thanh toán của khách hàng Vì thị trường ngoại hối là một thị trường toàn cầu, và bị biến động theo ảnh hưởng từ các tin tức trên toàn cầu
Do đó, khó có thể dự đoán về sự biến động của tỷ giá, nên khi tỷ giá biến động ngược chiều sẽ gây ra thua lỗ rất lớn cho NHTM
Rủi ro chính sách, vì hoạt động KDNT chịu sự điều hành chặt chẽ từ chính
sách của Nhà nước và NHTW, nên trong quá trình mở rộng hoạt động KDNT, nếu gặp phải những thay đổi chính sách bất ngờ như hạn chế một số nghiệp vụ giao dịch, hạn chế khối lượng và tỷ giá, nghiêm cấm giao dịch với mội số loại ngoại tệ
và đối tác nhất định, sẽ dẫn đến thua lỗ cho NHTM do đã vị phạm hợp đồng mua bán ký trước đó với khách hàng
Rủi ro hoạt động , khi các nhà đầu cơ mua bán vượt hạn mức giao dịch và
không cắt lỗ khi tỷ giá biến động ngược theo đúng quy tình mua bán sẽ dẫn đến thiệt hại rất lớn cho NHTM Bên cạnh đó, rủi ro hoạt động cũng bắt nguồn từ hệ thống phần mềm sử dụng trong hoạt động KDNT Do khi mở rộng KDNT, NHTM cần thiết triển khai những phần mềm hiện đại để hỗ trợ cho giao dịch và hạch toán, nhưng khi những phần mềm này bị lỗi do các sự cố bất thường sẽ làm ngừng mọi giao dịch của NHTM, quá trình thanh toán và chuyền chậm sẽ tạo ra rủi ro tỷ giá, hoặc các NHTM sẽ bị phạt do chậm thực hiện hợp đồng
Rủi ro đối tác, mở rộng hoạt động KDNT cần thiết phải mở rộng không
ngừng mạng lưới khách hàng, tuy nhiên trong số đó có những khách hàng hoạt động không hiệu quả Rủi ro xảy ra khi đối tác hủy bỏ hợp đồng mua bán ngoại tệ đã ký với NHTM, hoặc trong nhiều trường hợp bất khả kháng khi đối tác không thể đủ điều kiện để thực hiện đúng như hợp đồng đã quy định Điều này xảy ra khi các doanh nghiệp bị chậm nguồn ngoại tệ về tài khoản nên không thể thực hiện hợp đồng mua bán đúng hạn, hoặc do làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản từ đó không thể