Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lộc Bình... Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong quan h
Trang 1Lời cam đoan
Hà Nội, ngày
Người trình bày
Nguyễn Trung Kiên
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi thành lập đến nay, ở mọi giai đoạn cách mạng , Đảng ta luôn khẳng định vai trò, tầm quan trọng to lớn có ý nghĩa chiến lược của nông nghiệp-nông thôn Trong những năm vừa qua, cùng với sự đổi mới chung của đất nước nông nghiệp-nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, đời sống của nông dân đã và đang được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã
có những biến đổi sâu sắc
Từ định hướng và chính sách về phát triển kinh tế hộ sản xuất đã giúp cho toàn hệ thống NHNo&PTNT nói chung và NHNo&PTNT huyện Lộc Bình nói riêng thí điểm, mở rộng và từng bước hoàn thiện cơ chế cho vay kinh tế
hộ sản xuất Trong quá trình đầu tư vốn đã khẳng định được hiệu quả của đồng vốn cho vay và khả năng quản lý, sử dụng vốn của các hộ gia đình cho sản xuất kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề, tăng sản phẩm cho xã hội, tăng thu nhập cho gia đình và hoàn trả được vốn cho Nhà nước
Để thực sự phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ nói riêng phải kể đến vai trò của tín dụng ngân hàng, đặc biệt là vai trò của hệ thống NHNo&PTNT trong hoạt động tín dụng cho kinh tế nông nghiệp và phát triển nông thôn hiện nay Do đó, chất lượng tín dụng hộ sản xuất là vấn đề quan trọng hàng đầu trong mục tiêu kinh doanh của toàn hệ thống cũng như của NHNo&PTNT huyện Lộc Bình Chất lượng tín dụng tốt, không những góp phần mở rộng quy mô hoạt động của Ngân hàng, nâng cao hiệu quả của đồng vốn vay và còn góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất nước
Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn hoạt động tín dụng cho vay vốn đến hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình Em đã
chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất
Trang 3tại ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn huyện Lộc Bình” làm
chuyên đề tốt nghiệp
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nhu cầu vốn đòi hỏi rất lớn từ nội lực các gia đình từ ngân sách và từ nguồn vốn tín dụng Ngân hàng Do đó, phải mở rộng đầu tƣ vốn cho kinh tế
hộ để tận dụng, khai thác những tiềm năng sẵn có về đất đai, lao động, tài nguyên làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, cải thiện đời sống nhân dân Tuy nhiên trên thực tế việc mở rộng cho vay vốn đối với hộ sản xuất ngày càng khó khăn do món vay nhỏ, chi phí nghiệp vụ cao hơn nữa đối tƣợng vay gắn liền với điều kiện thời tiết, khả năng rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng Bởi vậy mở rộng tín dụng phải đi kèm với việc nâng cao chất lƣợng, đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Có nhƣ vậy hoạt động kinh doanh của Ngân hàng mới thực sự trở thành “Đòn bẩy” thúc đẩy nền kinh tế phát triển Do đó mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
-Làm rõ những lý luận cơ bản về hộ sản xuất, chất lƣợng tín dụng hộ sản xuất của NHTM
-Phân tích thực trạng chất lƣợng tín dụng hộ sản xuất trong những năm qua tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
-Chỉ ra những kết quả đạt đƣợc, những tồn tại cần khắc phục và những nguyên nhân của tồn tại đó
-Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng tín dụng đối với hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
-Đề xuất kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp trên
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: Chất lƣợng tín dụng hộ sản xuất
- Phạm vi nghiên cứu: Tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lộc Bình với
số liệu nghiên cứu từ năm 2009 – 2011
Trang 44 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đề tài được nghiên cứu dựa trên những phương pháp sau: Phương pháp duy vật biện chứng, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, kết hợp lý thuyết và thực tiễn
5 Kết cấu chuyên đề
Chương 1: Hộ sản xuất và chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lộc Bình
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lộc Bình
Trang 51.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hộ sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm hộ sản xuất
Hộ sản xuất là những hộ gia đình, mà các thành viên có tài sản chung, đồng
sở hữu tài sản, cùng chịu trách nhiệm, tự giác và chủ yếu sử dụng chính sức lao động của gia đình mình
1.1.1.2 Đặc điểm hộ sản xuất
Thứ nhất: Trình độ sản xuất còn thấp trên nhiều mặt: Trình độ hiểu biết,
kỹ năng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý kinh doanh, hoạch toán… Việc phân công lao động dựa trên cơ sở tình cảm, bổn phận, phong tục tập quán địa phương, dân tộc, dòng họ và thường gắn liền với ngành nghề truyền thống của quê hương
Thứ hai: Địa điểm sản xuất - kinh doanh thường phân tán trên địa bàn
rộng, quy mô sản xuất thường nhỏ cho nên không có được sự gắn kết Đó có thể là mặt trái của chính sách khoán trong nông nghiệp dẫn đến hiện tượng ruộng đất bị phân chia xé lẻ, mỗi hộ có vài mảnh ở cách xa nhau Điều đó rất khó khăn cho việc hình thành các khu vực chuyên canh sản xuất các nông sản thực phẩm có tính hàng hoá cao, cũng như nó cản trở việc áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật mới…
Thứ ba: Hộ sản xuất Việt Nam hiện nay chủ yếu là hộ thuần nông Vì
vậy, nó có những mặt khó khăn, hạn chế của kinh tế nông nghiệp: Sản xuất không ổn định, vốn luân chuyển chậm, khả năng xẩy ra rủi ro cao, hiệu quả thấp, hoạt động mang nặng tính thời vụ, phụ thuộc vào chu kỳ sinh trưởng của từng loại cây, con theo từng điều kiện tự nhiên của từng vùng lãnh thổ
Trang 6Thứ tư: Hoạt động sản xuất - kinh doanh của hộ sản xuất chủ yếu là kinh
doanh đa dạng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, chế biến và làm các dịch vụ khác Đây vừa là ưu điểm lại vừa là nhược điểm của kinh tế hộ sản xuất Nhược điểm là khó khăn trong việc sản xuất chuyên canh, tăng quy mô sản xuất….Ưu điểm là linh hoạt, dễ thích ứng với yêu cầu của thị trường, khai thác tiềm năng tài nguyên, sức lao động ở nông thôn , đa dạng hoá các nguồn trả nợ, phân tán bớt rủi ro, giảm bớt tính thời vụ của các khoản vay
Thứ năm: Hộ sản xuất thường nghèo, khả năng tài chính yếu, tài sản thế
chấp không có giá trị hoặc thiếu giấy tờ pháp lý, tính thanh khoản lại không cao, tài sản thường không làm giấy tờ sở hữu mà chuyển dịch theo phong tục, tập quán tại địa phương, có rất ít ngành nghề có đăng ký kinh doanh….Việc đáp ứng các điều kiện vay vốn như thông lệ trong tín dụng hộ sản xuất là rất khó
Thứ sáu: Hộ sản xuất thường là một hộ gia đình - một thành viên của xã
hội, chỗ ở thường ít thay đổi, vì vậy hộ sản xuất mang trên mình nhiều chức năng, vai trò mà các thành phần khác không có
1.1.2 Vai trò hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường
- Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa
Lịch sử phát triển sản xuất hàng hóa đó trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh
tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ gia đình Tiếp theo là giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hóa nhỏ lên kinh tế hàng hóa quy mô lớn- đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ
- Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải quyết việc làm ở nông thôn
Việc làm là một trong những vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội nói chung và đặc biệt là nông thôn hiện nay Với một đội ngũ lao động dồi dào, kinh tế quốc doanh đã được nhà nước trú trọng mở rộng song mới chỉ giải
Trang 7quyết được việc làm cho một số lượng lao động nhỏ Lao động thủ công và lao động nông nhàn còn nhiều Việc sử dụng khai thác số lao động này là vấn
đề cốt lõi cần được quan tâm giải quyết
- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường có sự tự do cạnh tranh trong sản xuất hàng hóa, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái gì?, sản xuất như thế nào?, để trực tiếp quan hệ với thị trường Để đạt được điều này các hộ sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu
mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích thích cầu, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao
1.2 TÍN DỤNG VÀ VAI TRÕ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT 1.2.1Tín dụng đối với hộ sản xuất
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa Bản chất của tín dụng hàng hóa là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và hai bên cùng có lợi Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất của quan hệ tín dụng nói chung Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các Ngân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi
Do đặc điểm riêng của mình là tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời gian và phạm vi đầu tư Với đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hóa Vì vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan trọng trong các hình thức tín dụng hiện có
Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ “Tín dụng hộ sản xuất” Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa
Trang 8một bên là Ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hóa Trong tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất thì Ngân hàng là người chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (người cung ứng vốn – người đi vay) Sau một thời gian nhất định hộ sản xuất trả lại số vốn đó nhận từ Ngân hàng, số vốn hoàn trả lại lớn hơn số vốn ban đầu(phần lớn hơn gọi là lãi) Từ khi được thừa nhận là chủ thể trong quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương
án kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng
và có đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với Ngân hàng đây cũng chính
là điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kiện vay vốn của Ngân hàng
1.2.1.2 Đặc điểm tín dụng hộ sản xuất
Tính thời vụ gắn với chu kỳ sinh trưởng của động-thực vật
Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các nghành nghề cụ thể mà Ngân hàng tham gia cho vay Thường thì thời vụ được biểu hiện ở những mặt sau:
Tính mùa, vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của Ngân hàng Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên nghành hẹp như cho vay một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến
kỳ thu hoạch, tiêu thụ tiến hành thu nợ
Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để Ngân hàng tính toán thời hạn cho vay
-Môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách
hàng
Nguồn trả nợ Ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản Như vậy sản lượng nông sản thu
Trang 9được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng Mà sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn
- Chi phí tổ chức cho vay cao:
Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân thường chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do qui mô từng món vay nhỏ
Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp mọi nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ Mở chi nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã Hiện nay mạng lưới của NHNo&PTNT Việt Nam cũng mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu vay của nông nghiệp
Do đặc thù kinh doanh của hộ sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có độ rủi
ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành khác
1.2.2 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất
Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì các hộ cần phải có đủ vốn cần thiết
Từ nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc đi lên, phần đông các hộ sản xuất đều thiếu vốn để phát triển sản xuất hàng hóa Vì vậy, nếu Nhà nước không
có sự giúp đỡ về vốn đến từng hộ sản xuất thì họ không có đủ điều kiện đầu
tư phát triển sản xuất hàng hóa và tình trạng phân hóa giàu nghèo cùng với tình trạng cho vay nặng lãi sẽ tăng lên ở nông thôn
Để tạo vốn cho hộ sản xuất, có thể kết hợp nhiều biện pháp khác nhau, trong đó biện pháp cơ bản là Ngân hàng phải cho vay trực tiếp đến từng hộ gia đình Đó chính là chính sách lớn của Nhà nước hiện nay Qua quá trình hoạt động thực tế của mình, hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam
đã thể hiện vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế
hộ sản xuất:
-Tín dụng Ngân hàng cung cấp vốn cho từng hộ sản xuất
Trang 10Trên cơ sở nhu cầu vay vốn giúp Ngân hàng cung cấp vốn cho từng hộ sản xuất giúp họ tận dụng khai thác mọi tiềm năng đất đai, lao động và tài nguyên thiên nhiên từ đó đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú thêm hàng hóa để cung cấp cho sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và đáp ứng nhu cầu lương thực thực phẩm cho toàn xã hội
-Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện duy trì các ngành nghề truyền thống, phát triển các nghề mới nhằm giải quyết công ăn việc làm cho từng hộ, giúp
họ tăng thu nhập, cải thiện đời sống
Dựa vào lợi thế so sánh giữa các vùng, các địa phương khi có vốn đầu tư người dân đã khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống, ngành nghề mới, thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, góp phần xây dựng noogn thôn giàu có, văn minh Việt Nam là một nước có nhiều làng nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức Trong điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH chúng ta cũng phải quan tâm đến nghành nghề truyền thống có khả năng đạt hiệu quả kinh tế, đặc biệt trong quá trình thực hiện CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là phát huy được nội lực của kinh tế hộ và tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài trợ cho các nghành nghề mới thu hút, giải quyết việc làm cho người lao động Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại
-Tín dụng Ngân hàng là công cụ phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn, tạo điều kiện cho từng hộ sản xuất tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh doanh
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” việc xây dựng kết cấu hạ tầng cho nông thôn đã và đang được thực hiện Tín dụng ngân hàng
Trang 11không những tham gia vào quá trình sản xuất bằng hình thức cho vay vốn lưu động mà còn đầu tư trung và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật tiên tiến phục vụ cho sản xuất và đời sống của người dân nông thôn như: Xây dựng mạng lưới điện, máy bơm, hệ thống thủy lợi, đường xá, hệ thống nước sạch, cải tiến công cụ lao động, đầu tư cho dịch vụ sản xuất và sinh hoạt… -Tín dụng Ngân hàng hạn chế cho vay nặng lãi trong nông thôn
Tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn đã tồn tại từ lâu và có tác động rất lớn đến sản xuất và đời sống Với mức lãi xuất quá cao nó là nguyên nhân gây ra những tiêu cực ở nông thôn Bởi vậy, tín dụng Ngân hàng đã hạn chế được đáng kể nạn cho vay nặng lãi, tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất vươn lên và thực tế các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang trở thành người bạn đồng hành trên con đường đi lên của các hộ nông dân
Tín dụng Ngân hàng giúp hộ sản xuất làm quen và từng bước thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, sử dụng vốn vay có hiệu quả
Trong sản xuất hàng hóa để đảm bảo cho sự tồn tại của mình thì bất cứ một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng phải tiến hành hạch toán kinh tế để sản phẩm của mình được thị trường chấp nhận và kinh doanh có lãi Các hộ sản xuất nước ta chủ yếu là hộ nông dân phần lớn còn quen với suy nghĩ “lấy công làm lãi” Thường tiến hành sản xuất trong khi hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa được coi trọng đúng mức Những năm gần đây Ngân hàng đã có
sự quan tâm hơn tới các hộ sản xuất, các hộ được vay vốn Ngân hàng song phải thực hiện nguyên tắc hoàn trả cho Ngân hàng đầy đủ, đúng hạn cả gốc
và lãi Do đó đòi hỏi các hộ phải tính toán hiệu quả, sử dụng vốn vay có mục đích để sau khi trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng các hộ vẫn có phần thu nhập của mình
-Tín dụng Ngân hàng giúp hộ sản xuất tiếp cận và mở rộng sản xuất hàng hóa
Trang 12Khi không có tín dụng Ngân hàng, sản xuất của hộ gia đình chủ yếu mang tính tự cung tự cấp Tín dụng Ngân hàng cung cấp vốn cho hộ sản xuất, một phần sản phẩm của hộ sẽ trở thành hàng hóa, đồng thời thông qua thị trường
họ có thể định hướng cho sản xuất của mình sao cho sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người mua Để đáp ứng ngày càng tốt những nhu cầu đa dạng đó bắt buộc họ phải mở rộng quy mô sản xuất, tìm mọi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm để tiêu thụ nhanh với lợi nhuận cao Như vậy nhờ có tín dụng Ngân hàng mà tính chất sản xuất hàng hóa ngày càng tăng lên trong cách làm, cách nghĩ của người nông dân
-Vai trò của tín dụng Ngân hàng về mặt chính trị - xã hội
Tín dụng Ngân hàng không những có vai trò trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội Thông qua việc cho vay
mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay ở nước ta Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được những tiêu cực xã hội Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn Thực hiện được vấn
đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân, đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và thành thị càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế bớt sự phân hóa bất hợp lý trong xã hội, giữ vững an ninh chính trị xã hội
Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh làm thay đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở lên khá hơn, hộ khá trở lên giàu hơn Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xó bỏ như: Rượu chè, cờ bạc,
mê tín dị đoan… nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực lượng lao động
Ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư kinh tế hộ gia đình, thực hiện mục tiêu của Đảng và nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận
Trang 13hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn cho vay cho thấy cơ chế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập như quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn, cách xử lý tài sản thế chấp giải quyết như thế nào?, đầu mối với các ngành ra sao?, sự không đồng
bộ ở các văn bản dưới luật đã làm cho hoạt động của ngân hàng gặp nhiều khó khăn, việc cho vay tín chấp người vay không trả được thì các tổ chức đoàn thể chịu đến đâu? Thực tế họ chỉ chịu trách nhiệm còn rủi ro, tổn thất vẫn là Ngân hàng phải chịu Nếu không có những giải pháp để tháo gỡ thì Ngân hàng không thể mở rộng đầu tư vốn và nâng cao hiệu quả việc cho vay phát triển kinh tế hộ
1.3 Các cơ chế chính sách tín dụng đối với phát triển kinh tế hộ sản xuất
Xác định vai trò đặc biệt quan trọng của nông ngiệp nông thôn trong nền kinh tế đất nước, chính phủ, các ngành, các cấp, và Ngân hàng có nhiều chủ trương, chính sách, cơ chế chỉ đạo đầu tư cho ngành nông nghiệp và nông thôn nói chung, cũng như đầu tư cho hộ sán xuất nói riêng Sau hơn 20 năm đổi mới, Đảng và nhà nước đã ban hành hàng loạt chủ trương, chính sách, cơ chế quản lý, đưa nền kinh tế nước ta thu được những thành tựu lớn trên nhiều mặt, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, tạo tiền đề đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Ngày 28 – 6 – 1991, chủ tịch hội đồng bộ trưởng ( Nay là chính phủ) ban hành chỉ thị số 202/CT về cho vay hộ suất, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất
ở nông thôn thôn thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ Từ đây NHNo&PTNT Việt nam đã có văn bản quy định rõ về cho vay hộ sản xuất kinh doanh nông nghiệp, diêm nghiệp, lâm nghiệp,ngư nghiệp, diêm nghiệp
áp dụng kinh doanh trong cả nước
Ngày 30/ 03/1999 Thủ tướng chính phủ có quyết định số TTg về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp
67/1999/QĐ-và nông thôn, ngày 16/04/199 Thống đốc Ngân hàng nhà nước có văn bản số
Trang 14320/CV-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung trong quyết định 67 của Thủ tướng chính phủ và giao cho NHNo&PTNT Việt Nam chịu trách nhiệm chủ yếu tổ chức thực hiện Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Nghị định 41/2011/NĐ-CP về tín dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn nhằm thay thế cho Quyết định 67 Cụ thể từ ngày 1/06/2011, cá nhân, hộ sản xuất, lâm, ngư diêm nghiệp có thể được xem xét cho vay tối đa đến 50 trđ; các hộ kinh doanh, sản xuất làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn được xem xét cho vay tối đa tới 200trđ; hợp tác xã, chủ trang trại được xem xét cho vay tối đa đến 500trđ
Từ những chủ trương chính sách của Chính phủ đòi hỏi NHNo&PTNT Việt Nam phải có sự phối hợp chặt chẽ với NHNN trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện nhằm đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.Cụ thể như sau:
Thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTG ngày 30/03/1999 của Chính phủ ngành Ngân hàng đã cụ thể hóa tại công văn hướng dẫn số 320CV – NHNN ngày 16/4/1999 của NHNN Việt Nam Công văn số 791/NHNo&PTNT ngày 26/04/1999 của NHNo&PTNT Việt Nam về thực hiện một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam
Ngày 31/03/2009 Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PPTNT Việt Nam ban hành Quyết định số 72/QĐ – HĐQT – TD về “Quy định cho vay đối với khách hàng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam” Quyết định số 1300/QĐ – HĐQT – TDHo ngày 03/12/2007 của Hội đồng quản trị NHNo&PTNT Việt Nam về “Quy định các biện pháp bảo đảm tiền vay trong
hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam”…
Những cơ chế chính sách trên đã mở ra một thị trường mới trong hoạt động tín dụng Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản xuất có hiệu quả,
Trang 15nhưng còn thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh Đứng trước tình trạng
đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất là một tất yếu phù hợp với cung cầu trên thị trường được môi trường xã hội, pháp luật cho phép
Những nội dung chủ yếu của các văn bản nói trên được thể hiện như sau:
Nguồn vốn cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn bao gồm:
+ Vốn Ngân hàng huy động
+ Vốn ngân sách Nhà nước
+ Vốn vay các tổ chức Tài chính Quốc tế và nước ngoài
1.3.2 Đối tượng cho vay
NHNo&PTNT Việt Nam và các tổ chức tín dụng khác huy động và cân đối đủ nguồn vốn, đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng tín dụng cho nhu cầu phát triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm:
+ Chi phí sản xuất cho trồng trọt, chăn nuôi như: Vật tư, phân bón, cây giống, con giống, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc phòng, chữa bệnh, thức ăn chăn nuôi…; Chi phí nuôi trồng thủy sản ( nước ngọt, nước lợ) như: cải tạo ruộng nuôi, lồng nuôi, con giống, thức ăn, thuốc phòng chữa bệnh… Đánh bắt hải sản như: Đầu tư đóng mới, chi phí bơm tưới, tiêu nước làm thủy lợi nội đồng + Tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thủy, hải sản và muối
+ Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn
+Mua sắm công cụ máy móc thiết bị phục vụ cho phát triển nông nghiệp
và nông thôn như: Máy cày, máy bừa, máy bơm, máy giặt, máy tuốt lúa, máy say sát, máy xấy, thiết bị chế biến, bình bơm thuốc trừ sâu…; Mua sắm phương tiện vận chuyển hàng hóa trong nông nghiệp; xây dựng chuồng trại, nhà kho, sân phơi, các phương tiện bảo quản sau thu hoạch
Trang 16+ Cho vay sinh hoạt như xây, sửa nhà ở, mua sắm đồ dùng phương tiện đi lại…
+ Phát triển cơ sở hạ tầng như: Điện, đường giao thông nông thôn, cung cấp nước sạch, vệ sinh môi trường
1.3.3 Lãi suất cho vay
Mức lãi suất cho vay do NHNo&PTNT nơi cho vay thỏa thuận phù hợp với quy định của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam
Cho vay ưu đãi lãi suất, thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ và hướng dẫn của NHNN
1.3.4 Thời hạn cho vay
Ngân hàng cho vay theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, thời gian luân chuyển vật tư hàng hóa và khấu hao tài sản, máy móc thiết bị
Thời gian cho vay ngắn hạn, tối đa 12 tháng Thời gian cho vay trung hạn,
từ trên 12 tháng đến 5 năm Thời gian cho vay dài hạn trên 5 năm
1.3.5 Bộ hồ sơ cho vay
Chính phủ Ngân hàng Nhà nước đã nêu rõ: Các tổ chức tín dụng cần phải cải tiến quy trình cho vay đối với từng đối tượng khách hàng là: Hộ gia đình, các hợp tác xã, các doanh nghiệp đảm bảo thủ tục đơn giản, thuận tiện và đảm bảo an toàn cho Ngân hàng
Trang 17Giấy phép kinh doanh được cấp có thẩm quyền cấp (đối với hộ kinh doanh)
Giấy tờ hợp pháp, hợp lệ được giao, cho thuê, chuyển quyền sử dụng đất mặt nước (đối với hộ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp)
Giấy phép đánh bắt thủy, hải sản, đăng kiểm tàu thuyền (đối với hộ đánh bắt thủy, hải sản)
Hợp đồng hợp tác, chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho phép hoạt động (đối với tổ hợp tác)
Các giấy tờ khác cần thiết theo quy định của pháp luật
1.3.5.2 Hồ sơ thực hiện vay vốn
Đối với hộ cho vay không phải thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh: Giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh
Đối với hộ phải thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh: Giấy đề nghị vay vốn, dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh, hồ sơ đảm bảo tiền vay Đối với cho vay hộ gia đình, cá nhân qua tổ vay vốn Ngoài những hồ sơ
đã quy định như trên đối với từng hộ gia đình, cá nhân, phải có thêm:
+ Danh sách hộ gia đình, cá nhân đề nghị Ngân hàng cho vay
+ Hợp đồng cung ứng vật tư, tiền vốn cho hộ gia đình nhận khoán
1.3.6.Bảo đảm tiền vay
Đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp mức vay đến 10 triệu đồng Những hộ làm kinh tế trang trại, hộ sản xuất hàng hóa mức cho vay có
Trang 18thể tới 20 triệu đồng và hộ sản xuất giống thủy sản vay vốn đến 50 triệu đồng không phải thế chấp tài sản
Những hộ vay vượt mức quy định trên, thì phải thế chấp tài sản theo quy định của nàh nước
1.3.7 Xử lý rủi ro
Các tổ chức tín dụng tham gia cho vay vốn phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong các trường hợp rủi ro thông thường thì xử lý theo quy chế chung quy định Trong trường hợp do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng như: Bão, lụt, hạn hán, dịch bệnh thì Nhà nước có chính sách xử lý cho người vay và Ngân hàng vay như: Xóa, miễn, khoanh, dãn nợ tùy theo mức
Chất lượng tín dụng Ngân hàng được thể hiện qua các quan điểm sau: + Đối với khách hàng: Tín dụng Ngân hàng đưa ra phải phù hợp với yêu cầu của khách hàng về lãi suất, kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức thanh toán, thủ tục đơn giản thuận tiện tuy nhiên vẫn đảm bảo nguyên tắc tín
Trang 19dụng Ngân hàng Đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả
+ Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thoogn hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế
Như vậy, chất lượng tín dụng vừa là một khái niệm vừa là cụ thể, vừa là trừu tượng và là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp Để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín của ngân hàng trong hoạt động, hay nói cách khác, chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín dụng
Hiểu đúng bản chất và phân tích đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác những nguyên nhân, những tồn tại của tín dụng sẽ giúp Ngân hàng tìm được biện pháp thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.4.2.1 Chỉ tiêu định tính
a Đảm bảo nguyên tắc cho vay
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định Do đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, do vậy có các nguyên tắc kahcs nhau Trong đó nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc quan trọng đối với Ngân hàng
b Cho vay đảm bảo có điều kiện
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay có đảm bảo đúng điều kiện hay không
c Quá trình thẩm định
Trang 20Thẩm định cho vay là công việc hết sức quan trọng, là tiền đề quyết định việc cho vay và hiệu hiệu quả vốn đầu tư Thẩm định là quá trình phân tích đánh giá dự án trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm căn cứ cho đưa ra các quyết định cho vay… Một khoản vay có chất lượng là khoản vay đó được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình thẩm định
Quá trình thẩm định một khoản vay cho hộ sản xuất rất phức tạp do đặc điểm sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất là kinh doanh tổng hợp Vì vậy đòi hỏi cán bộ thẩm định, tái thẩm định phải tinh thông nghiệp vụ, hiểu biết pháp luật, nắm bắt kịp thời nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ, các thông tin dự báo, thông tin kinh tế kỹ thuật, thị trường và khả năng phân tích tài chính có như vậy mới có thể giúp lãnh đạo quyết định cho vay một cách có hiệu quả và đảm bảo chất lượng một khoản vay
1.4.2.2 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng giúp Ngân hàng có cách đánh giá cụ thể hơn về mặt chất lượng tín dụng, giúp các Ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời những khoản vay kém chất lượng
Các chỉ tiêu cụ thể mà các Ngân hàng thường dùng là:
a Doanh số cho vay hộ sản xuất
Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một năm
Ngoài ra Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho vay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng trong một năm
Doanh số cho vay HSX
Tỷ trọng cho vay hộ sản xuất = x 100%
Trang 21Tổng doanh số cho vay
b Doanh số thu nợ hộ sản xuất
Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số tiền Ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong một thời kỳ
Doanh số thu nợ HSX
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất = x 100% Tổng dư nợ của HSX
Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được nợ trong tổng doanh số cho vay hộ sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ
Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Doanh số thu nợ HSX
x 100%
Doanh số cho vay HSX
c Dư nợ quá hạn hộ sản xuất
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản vay được cho vay đến hạn thanh toán thời điểm đang xem xét
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối Ngân hàng cũng thường xuyên sử dụng các chỉ tiêu như:
Dư nợ quá hạn HSX
Tỷ lệ quá hạn hộ sản xuất = x 100% Tổng dư nợ của HSX
Trang 22Đây là chỉ tiêu quan trong để đánh giá hiệu quả tín dụng hộ sản xuất và chất lượng tín dụng đầu tư cho vay đối với hộ sản xuất Dư nợ quá hạn càng nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càng cao
Hoạt động Ngân hàng nói chung và tín dụng Ngân hàng nói riêng đều chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn trong kinh doanh của Ngân hàng Do đó việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng hạn, thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý Ngân hàng tác động trực tiếp đến sự tồn tại của các Ngân hàng
Để đánh giá khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu
“Tỷ lệ nợ khó đòi”
Tổng nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ khó đòi = x 100%
Tổng nợ quá hạn Đây là chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu của khoản vay
có vấn đề và nguy cơ mất vốn là rất cao
d Vòng quay vốn tín dụng hộ sản xuất
Doanh số thu nợ HSX Vòng quay vốn tín dụng HSX =
Lợi Nhuận của Ngân hàng
Trang 23Là một chỉ tiêu quan trọng để xem xét chất lượng tín dụng hộ sản xuất
Chi tiêu này phản ánh tần xuất sử dụng vốn được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi – Thuế
Thông qua chỉ tiêu lợi nhuận ta có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng
vốn của Ngân hàng cũng như hiệu quả của đồng vốn đó mang lại
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất Số tiền vay
càng cao chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay càng tăng lên Điều
đó thể hiện sức sản xuất cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của
hộ sản xuất tăng lên cao Đồng thời thể hiện chất lượng cho vay có xu hướng
tăng, bởi thế Ngân hàng cho một lượt hộ sản xuất vay nhiều hơn mà vẫn đảm
bảo khả năng thu hồi và có lãi
Dư nợ cho vay trung và dài hạn HSX
Tỷ lệ cho vay trung và = x100%
dài hạn HSX Tổng nợ dư nợ hộ sản xuất
Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài
hạn hộ sản xuất để mở rộng sản xuất kinh doanh Cho vay trung – dài hạn hộ
sản xuất phải đạt cao hơn cho vay ngắn hạn thì hộ mới đủ vốn để cải tạo, xây
dựng cơ sở vật chất cho sản xuất, từ đó tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sử
Trang 24dụng vốn ngắn hạn Theo đánh giá thì tỷ lệ này cần phải đạt tối thiểu 40% tổng dư nợ (mục tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam) Tuy vậy, tỷ lệ này có thể cao, thấp tùy thuộc vào nhu cầu vốn trung, dài hạn tại địa phương cũng như chính sách tín dụng của từng NHTM
Hai chỉ tiêu trên phản ánh hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với việc phát triển kinh tế hộ sản xuất qua đó đánh giá được chất lượng tín dụng của Ngân hàng
1.4.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với
hộ sản xuất
Việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất có ý nghĩa rất lớn đối với Ngân hàng vì nó quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng Do vậy, phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là một yêu cầu thường xuyên đối với Ngân hàng Để làm tốt điều đó cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất
1.4.3.1 Yếu tố môi trường
Môi trường là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất Đặc biệt ở nước ta hoạt động nông nghiệp còn mang tính thời vụ phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên thì điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn
Môi trường tự nhiên
Trang 25Môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất nhất là những hộ sản xuất nông nghiệp phụ thược chủ yếu vào điều kiện tự nhiên Nếu mưa thuận gió hòa thì sản xuất nông nghiệp gặp nhiều thuận lợi, người dân được mùa sản xuất kinh doanh gặp nhiều thuận lợi…Hộ sản xuất có khả năng tài chính ổn định từ đó khoản tín dụng được bảo đảm Ngược lại nếu thiên tai bất ngờ xẩy ra thì sản xuất gặp nhiều khó khăn gây ra thiệt hại lớn về kinh tế cho hộ sản xuất… Dẫn đến khoản tín dụng là có vấn
đề
Môi trường kinh tế xã hội
Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng tín dụng
hộ sản xuất Môi trường kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện cho hộ sản xuất làm ăn có hiệu quả, do vậy hộ sản xuất sẽ vay nhiều hơn, các khoản vay đều được hộ sản xuất sử dụng đúng mục đích mang lại hiệ quả kinh tế
Từ đó, các khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi làm cho chất lượng tín dụng hộ sản xuất được nâng lên
Môi trường chính trị - pháp lý
Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sự giám sát chặt chẽ của
cơ quan pháp luật và cơ quan chức năng Do vậy việc tạo ra môi trường pháp
lý hoàn thiện sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng Môi trường pháp lý ổn định, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng Ngân hàng cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất được tiến hành một cách thuận lợi Những quy định cụ thể của pháp luật về tín dụng và các lĩnh vực khác có liên quan đến hoạt động tín dụng là cơ sở để xử lý, giải quyết khi xẩy ra các tranh chấp tín dụng một cách hữu hiệu nhất Vì vậy môi trường chính trị - pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng hộ sản xuất
1.4.3.2 Yếu tố thuộc về khách hàng
Trang 26Trình độ của khách hàng bao gồm cả trình độ sản xuất và trình độ quản lý của khách hàng Với một trình độ sản xuất phù hợp và trình độ quản lý khoa học, khách hàng có thể đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt, sẽ có khả năng tài chính để trả nợ Ngân hàng Ngược lại thì khả năng trả nợ Ngân hàng
là khó khăn
Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích: Đây là yếu tố thuộc về chủ quan của khách hàng Rất khó để cho Ngân hàng kiểm soát từ đầu vì đây là ý định của khách hàng
1.4.3.3 Các yếu tố thuộc về Ngân hàng
Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng một mặt cũng giống như các quan hệ tín dụng khác trong cơ chế thị trường, nhưng mặt khác đó còn là các chính sách, quy định … của Ngân hàng
-Chính sách tín dụng Ngân hàng: Chính sách tín dụng Ngân hàng có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng Có chính sách tín dụng đúng đắn sẽ đưa ra được hình thức cho vay phù hợp với nhu cầu, thu hút được khách hàng, đồng thời cũng khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn
-Chấp hành quy chế tín dụng: Việc chấp hành các quy chế tín dụng của cán bộ làm công tác Ngân hàng nói chung và tín dụng nói riêng là nguyên nhân để các chỉ tiêu định tính đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng cố thực hiện được hay không Việc chấp hành các quy định, các văn bản của Luật các tổ chức tín dụng các quy định của bản thân mỗi Ngân hàng của khi cho vay của mỗi cán bộ tín dụng cần phải được tuân thủ
-Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khoản vay Chất lượng một khoản vay được xác định ngay từ khi khoản vay được quyết định
-Kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng nếu việc làm này được tiến hành một cách kịp thời đồng bộ sẽ nắm bắt và xử lý được những khoản vay có vấn đề
Trang 27-Hệ thống thông tin Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng nắm bắt được thông tin của khách hàng trước khi quyết định một khoản cho vay Yếu
tố này rất quan trọng bởi vì nó góp phần ngăn chặn những khoản vay có chất lượng không tốt ngay từ khi chưa xảy ra
Như vậy, có thể khẳng định tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quan trọng đối với hộ sản xuất Nó được coi là công cụ đắc lực của nàh nước, là đòn bẩy kinh tế, động lực thúc đẩy sản xuất phát triển một cách toàn diện, thúc đẩy quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn cũng như nền kinh tế quốc dân Nhưng thực tế cho thấy, chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất còn nhiều vấn đề cần giải quyết và tháo gỡ Do đó, việc nâng cao chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất hiện nay là vấn đề quan trọng đối với ngành Ngân hàng nói chung và NHNo&PTNT nói riêng
1.4.4 Sự cần thiết nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất
Hộ sản xuất được xác định là một đơn vị kinh tế tự chủ, được Nhà nước giao đất quản lý và sử dụng vào sản xuất kinh doanh và được phép kinh doanh trên một số lĩnh vực do Nhà nước quy định Như chugns ta đã biết, dân
số nước ta có khoảng hơn 80 triệu dân, trong đó gồm 80% và hơn 70% lao động sống ở nông thôn và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến chính sách phát triển kinh
tế nông nghiệp nhằm hiện đại hóa nông thôn Trong thực tế hộ sản xuất với kinh tế tự chủ được giao đất quản lý và sử dụng, được phép kinh doanh và tự chủ trong sản xuất kinh doanh, đa dạng các mặt hàng kinh doanh (trừ những mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm) Với sức lao động sẵn có trong mỗi gia đình
hộ sản xuất, họ được phép kinh doanh, được chuyển đổi cây trồng, vật nuôi trên diện tích họ được giao Để thực hiện được những mục đích trên họ phải cần vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, chuyển đổi cây trồng vật nuôi, trồng những cây có giá trị cao, những con có giá trị lớn để tăng thêm thu nhập, tạo công ăn việc làm cho chính bản thân gia đình họ Đồng thời đầu tư
Trang 28ứng dụng khoa học kỹ thuật vào thực tiễn Do vậy, họ cần Ngân hàng thương mại hỗ trợ về vốn để học thực hiện những phương án trồng trọt – chăn nuôi hay kinh doanh dịch vụ ngay trên quê hương họ
Thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về cho vay vốn đáp ứng nhu cầu vốn đối với nông nghiệp – nông thôn Ngân hàng thương mại đã cho vay tới tận hộ sản xuất, đáp ứng nhu cầu vốn cần thiết để phát triển kinh tế
Xuất phát từ chức năng của Ngân hàng thương mại là đi vay để cho vay cho nên vốn cho vay phải hoàn trả đúng hạn gốc và lãi Có như vậy Ngân hàng mới đảm bảo sự hoạt động bình thường Đáp ứng được nhu cầu vốn đối với hộ sản xuất cũng như nền kinh tế Vì vậy cần phải nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất, có nâng cao chất lượng cho vay mới giúp hộ sản xuất có vốn để đầu tư vào sản xuất kinh doanh, tăng thêm thu nhập cho họ, tăng thêm sản phẩm cho xã hội, tạo công ăn việc làm cho chính bản thân gia đình họ Phát huy được mọi nguồn lực ở nông thôn, từ đó khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, mở rộng và phát triển tiểu thủ công nghiệp đáp ứng và phù hợp với nhu cầu của thị trường
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN ĐẠI TỪ
2.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHNo&PTNT HUYỆN ĐẠI TỪ
2.1.1 Khái quát chung về tình hình kinh tế huyện Lộc Bình
2.1.1.1 Một số nét về điều kiện tự nhiên và xã hội
Trang 29Lộc Bình là huyện trung du – miền núi, nằm sâu ở phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên Phía bắc giáp huyện Định Hóa, phía nam giáp huyện Phổ Yên và thành phố Thái Nguyên, phia đông giáp huyện Phú Lương, phía tây giáp tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Vĩnh Phúc Toàn huyện có 31 xã và thị trấn Với địa bàn rộng, diện tích đất tự nhiên là 56.907ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 30%, đất lâm nghiệp chiếm 43% Lộc Bình có ưu thế để phát triển nông – lâm nghiệp
Tình hình an ninh, chính trị, trật tự xã hội của huyện tiếp tục được giữ vững và ổn định, đảm bảo điều kiện cho phát triển kinh tế, xã hội
2.1.2 Khái quát hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
2.1.2.1 NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
NHNo&PTNT huyện Lộc Bình được thành lập theo quyết định QĐ/102 –
NH của Tổng giám đốc NHNo&PTNT Việt Nam ký ngày 15 tháng 11 năm
1988
Ban đầu, hoạt động của Ngân hàng còn gặp nhiều khó khăn, do thiếu thốn
về cơ sở vật chất cũng như sự non yếu của cán bộ nhân viên Tuy nhiên, Chi nhánh đã nhanh chóng tăng cường công tác cán bộ, tăng cường đội ngũ nhân viên trẻ, có năng lực Đề ra các mục tiêu kinh doanh và các giải pháp thực hiện phù hợp nên hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Lộc Bình không ngừng phát triển và hiệu quả Thông qua đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp nông thôn NHNo&PTNT huyện Lộc Bình đã góp phần xóa đói giảm nghèo, giúp kinh tế nông thôn ngày càng phát triển, nâng cao mức sống cho nông dân… Để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng và tăng qui mô hoạt động, đến nay NHNo&PTNT huyện Lộc Bình đã thành lập 4 phòng giao dịch: Phòng giao dịch Ký Phú, phòng giao dịch Cù Vân, phòng giao dịch Phú Xuyên, phòng giao dịch Hà Thượng là những nơi tập trung đông dân cư
Trang 30Tháng 5/2009, Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lộc Bình thực hiện đề án cải cách hành chính theo cơ chế một cửa của Tổng Giám Đốc NHNo&PTNT NHNo&PTNT Việt Nam Đến nay, các phòng giao dịch đã thực hiện quy định cải cách hành chính của ngành, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng đến giao dịch
Kể từ khi chuyển đổi mô hình quản lý mới cho đến nay, hoạt động kinh doanh của Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lộc Bình không ngừng phát triển Với định hướng rõ ràng “Ổn định – An toàn – Hiệu quả và Phát triển”, Chi nhánh đã không ngừng phát triển cả về quy mô, tốc độ tăng trưởng, địa bàn hoạt động, cũng như cơ cấu, mạng lưới, tổ chức bộ máy
2.1.2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
a Hoạt động tín dụng
NHNo&PTNT huyện Lộc Bình xác định nguồ thu chủ yếu vẫn là từ hoạt động tín dụng, chi nhánh đã và đang tiếp tục tìm dự án để tăng trưởng tín dụng trên cơ sở an toàn vốn
Bảng 1: Tổng dư nợ cho vay tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
Chỉ tiêu Năm Năm Năm So sánh +/- So sánh %
Trang 312009 2010 2011 Năm
2010/
2009
Năm 2011/
2010
Năm 2010/
2009
Năm 2011/
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình)
Tổng dư nợ thực hiện đến 31/12/2010 là 210.775 trđ, tăng 17,1% so với năm 2009, số tuyệt đối tăng 30.775trđ Tổng dư nợ đến 31/12/2011 là 267.289 trđ, so với cùng kỳ năm trước tăng 56.514 trđ, tỷ lệ tăng so với năm trước 26,8% Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn 172.271 trđ, so với năm 2010 tăng 28,6%, số tuyệt đối tăng 38.300 trđ Dư nợ cho vay trung dài hạn là 95.018 trđ, chiếm tỷ trọng 35,6% trên tổng dư nợ cho vay, so với năm 2010 tăng 23,7 %, số tuyệt đối tăng 18.214 trđ
Trong cơ chế thị trường, dưới sự quản lý của nhà nước các thành phần kinh tế khuyến khích phát triển, một số Doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại, nhiều doanh nghiệp ngoài quốc doanh ( Công ty trách nhiệm hữu hạng,
Trang 32Công ty cổ phần, Doanh nghiệp tư nhân …) ra đời và phát triển, hệ thống Hợp tác xã đang được củng cố và chuyển đổi theo cơ chế mới, hộ sản xuất đã thực sự trở thành kinh tế tự chủ Điều đó đã tạo thành điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng lựa chọn đánh giá xếp loại khách hàng… xác định mục tiêu và phương hướng đầu tư phù hợp, đảm bảo vốn tín dụng phát triển vững chắc, hiệu quả và an toàn
Bảng 2: Tổng dư nợ theo thành phần kinh tế tại
ngoài quốc doanh
14.868 20.513 28.682 8,26 9,73
10,73
+ Kinh tế hộ sản xuất 165.132 190.262 238.607 91,74 90,27 89,27
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình)
Dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong 3 năm vừa qua có xu hướng tăng, dư nợ năm 2009 là 14.868 trđ, năm 2010 là 20.513 trđ, năm 2011 là 28.682
trđ và tỷ lệ dư nợ cho vay tính trên tổng dư nợ là 8,26%, 9,73%, 10,73% Đối với tỷ trọng cho vay hộ sản xuất trên tổng dư nợ có xu hướng giảm đi Tỷ trọng năm 2009 là 91,74%, năm 2010 là 90,27%, năm 2011 là 89,27% và số
dư nợ lần lượt là 165.132 trđ, 190.262 trđ, 238.607 trđ
Trang 33Tuy tỷ trọng cho vay đối với kinh tế hộ sản xuất có giảm trong 3 năm qua nhưng giảm rất nhỏ và kinh tế hộ vẫn là thành phần kinh tế chiếm tỷ trọng dư
nợ lớn nhất trên tổng dư nợ của Ngân hàng
Bảng 3: Bảng dư nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn tại
NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
Đơn vị: Triệu đồng
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình)
Nếu như năm 2009 nợ quá hạn là 2.322 trđ, thì đến năm 2010 nợ quá hạn
là 1.391 trđ và năm 2011 là 588 trđ, tương ứng với tỷ lệ lần lượt là 1,29%, 0,66%, 0,22% Ta thấy tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ giảm dần qua các năm điều đó chứng tỏ chất lượng tín dụng ngày càng được nâng cao
Tuy nhiên, ngân hàng không có những chính sách triệt để nhằm giảm nợ quá hạn thì khả năng rủi ro cao và tiếp tục tăng vẫn có thể xảy ra
Trang 34b Huy động vốn
Bảng 4: Tình hình huy động vốn tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Giá trị
Tỷ trọng (%)
Tổng nguồn vốn 270.262 100 379.557 100 412.467 100
TG của tổ chức kinh
TG của dân cư 241.128 89,22 337.100 88,81 375.487 91,03
(Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình)
Tổng nguồn vốn năm 2009 là 270.262 trđ; năm 2010 là 379.557 trđ tăng 109.295trđ so với năm 2009, đạt 117,2% kế hoạch và tốc độ tăng trưởng 40,4%; năm 2011 là 412.467 trđ tăng 32.910 trđ so với năm 2010, tốc độ tăng trưởng 8,7%
Nhìn vào bảng trên ta thấy Năm 2009 chiếm 89,22%, năm 2010 chiếm 88,81%, năm 2011 chiếm 91,03% Nguồn vốn huy động mà chi nhánh có được phần lớn là tiền gửi dân cư, có tính ổn định cao
Trang 352.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG HỘ SẢN XUẤT TẠI NHNo&PTNT HUYỆN ĐẠI TỪ
2.2.1 Phương thức cho vay hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
2.2.1.1 Cho vay trực tiếp tới hộ gia đình tại trụ sở Ngân hàng
a Quy trình cho vay
- CBTD được phân công giao dịch với khách hàng có nhu cầu vay vốn có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn và tiến hành thẩm định các điều kiện vay vốn theo quy định
- Trưởng phòng tín dụng hoặc tổ trưởng tín dụng có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của hồ sơ và báo cáo thẩm định do CBTD lập, tiến hành xem xét, tái thẩm định (nếu cần thiết) ghi ý kiến vào báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) và trình giám đốc quyết định
- Giám đốc NHNo&PTNT nơi cho vay căn cứ báo cáo thẩm định, tái thẩm định (nếu có) do phòng tín dụng trình, quyết định cho vay hoặc không cho vay
+ Nếu cho vay thì NHNo&PTNT nơi cho vay cùng khách hàng lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng đảm bảo tiền vay (trường hợp cho vay có đảm bảo bằng tài sản)
+ Khoản vay vượt quyền phán quyết thì trình Ngân hàng cấp trên phê duyệt theo quyết định hiện hành của NHNo&PTNT Việt Nam
+ Nếu không cho vay thì thông báo cho khách hàng biết
Trang 36quản phải tiến hành kiểm tra sử dụng vốn vay Các lần kiểm tra sau tùy thuộc vào thực tế hoạt đọng sản xuất kinh doanh của từng khách hàng để tiến hành kiểm tra đột xuất hay kiểm tra định kỳ
-Quy trình thu nợ, thu lãi:
Trả lãi: Hàng tháng, hàng quý (hoặc theo thảo thuận) khách hàng trực tiếp đem tiền đến trụ sở Ngân hàng nộp lãi
Trả nợ: Thực hiện trả nợ trực tiếp tại trụ sở Ngân hàng
-Xử lý kỷ luật tín dụng:
Đến kỳ hạn trả nợ gốc hoặc lãi trong thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả được nợ đúng hạn số nợ gốc hoặc lãi phải trả của kỳ hạn đó và không được NHNo&PTNT nơi cho vay chấp thuận chuyển số nợ gốc hoặc lãi chưa trả được sang kỳ tiếp theo, thì NHNo&PTNT nơi cho vay chuyển toàn bộ số nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó sang nợ quá hạn
Đến thời điểm cuối cùng của thời hạn cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, nếu khách hàng không trả hết nợ gốc hoặc lãi, NHNo&PTNT nơi cho vay chấp nhận ra hạn nợ gốc hoặc lãi, NHNo&PTNT nơi cho vay chuyển toàn bộ số dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng đó sang nợ quá hạn
Các trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, bị chấm dứt cho vay… NHNo&PTNT nơi cho vay phải thực hiện thu hồi nợ trước hạn đã cam kết hoawch chuyển ngay sang nợ quá hạn toàn bộ số dư nợ gốc
b Thời hạn cho vay và mức cho vay
- Thời hạn cho vay:
Thời hạn cho vay trung hạn từ trên 12 tháng đến 60 tháng Theo quy định chung nhưng thực tế còn món cho vay định kỳ hạn nợ chưa sát, chưa phù hợp với chu kỳ luân chuển, chu kỳ sản xuất, kinh doanh của đối tượng vay Nên gây khó khăn cho việc trả nợ của khách hàng
Trang 37Thời hạn cho vay ngắn hạn: Theo quy định việc định kỳ hạn nợ phải căn cứ vào chu kỳ luân chuyển vật tư, tiền vốn của đối tượng vay nhưng tối đa không quá 12 tháng Thực tiễn có một số món cho vay khi định thời hạn cho vay không quan tâm xác định đối tượng cho vay, nguồn thu nhập của khách hàng vay dùng để trả nợ Ngân hàng Dẫn đến tình trạng khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, nợ quá hạn phát sinh Đây là vấn đề cần phải xem xét và chấn chỉnh lại trong khâu định kỳ hạn nợ, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình sử dụng vốn và thanh toán nợ
-Mức cho vay:
Trong thời gian tới cần phải có biện pháp để nâng mức đầu tư bình quân trên 1 hộ gia đình và mở rộng số hộ được vay vốn Có như vậy mới đáp ứng nhu cầu cho các hộ gia đình thực hiện các phương án đầu tư sản xuất kinh doanh của mình Góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
Kết hợp giữa tín dụng ngắn hạn với tín dụng trang, dài hạn để đầu tư đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh đem lại hiệu quả kinh tế cao
Đặc biệt chú trọng đầu tư chiều sâu cho các ngành trồng trọt, chăn nuôi và phát triển ngành nghề, các vùng cây đặc sản, các làng nghề thủ công mĩ nghệ, góp phần thực hiện mục tiêu CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn
Trong quá trình đầu tư vốn phải lấy mục tiêu an toàn vốn là mục tiêu hàng đầu, tăng cường tín dụng nhưng phải đảm bảo an toàn vốn Thường xuyên tìm các giải pháp để củng cố và nâng cao chất lượng tín dụng với phương châm
“An toàn để phát triển”
c.Ưu điểm của phương pháp cho vay này
Ngân hàng kiểm soát được toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh của hộ vay vốn, nắm được thực trạng của các hộ trước khi cho vay do đó quyết định
Trang 38mức vốn cho vay phù hợp với năng lực quản lý và khả năng tài chính của khách hàng Có thể áp dụng được với tất cả các hộ vay vốn có mức vốn vay khác nhau Kiểm tra chặt chẽ các món cho vay lớn do đó độ an toàn vốn cao hơn
d.Nhược điểm của phương pháp cho vay này
Do phải kiểm tra trực tiếp đến hộ vay vốn do đó nếu đến thời vụ, số hộ đông thì các bộ Ngân hàng không thể phục vụ kịp thời nhu cầu của khách hàng Dễ đẫn đến quá tải đối với cán bộ tín dụng do khối lượng công việc nhiều, và khi đã quá tải thì chất lượng công việc không cao, dẫn đến nợ quá hạn tăng Không phù hợp với những món vay nhỏ, vì chi phí bỏ ra lớn
2.2.1.1 Cho vay trực tiếp thông qua tổ, nhóm vay vốn
Thông qua quy ước hoạt động
Trình UBND (xã, phường) công nhận cho phép hoạt động
c.Trách nhiệm và quyền lợi của tổ trưởng tổ vay vốn
Nhận giấy đề nghị vay vốn của tổ viên
Lập danh sách tổ viên đề nghị Ngân hàng cho vay
Kiểm tra, kiểm sát, đôn đốc tổ viên sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ, lãi đúng hạn
Được NHNo&PTNT nơi cho vay chi trả hoa hồng căn cứ vào kết quả công việc hoàn thành và hướng dẫn chi hoa hồng của NHNo&PTNT Việt Nam
d.Trách nhiệm của NHNo&PTNT nơi cho vay
Trang 39Hướng dẫn lập thủ tục cho vay và trả nợ
Thẩm định các điều kiện vay vốn
Thực hiện giải ngân, thu nợ, thu lãi đến từng tổ viên
Kiểm tra điển hình việc sử dụng vốn vay của tổ viên
Từng tổ viên ký hợp đồng tín dụng trực tiếp với NHNo&PTNT nơi cho vay
Cán bộ tín dụng Ngân hàng nhận đơn xin vay và phương án vay vốn của các tổ viên tiến hành thẩm định toàn bộ Sau khi đã thống nhất với tổ trưởng số tiền cho vay từng tổ viên và cùng tổ trưởng hướng dẫn cho các tổ viên lập hồ
sơ vay vốn Sau khi hồ sơ đã được lập xong có đầy đủ chữ ký của người vay, người thừa kế và xác nhận của chính quyền địa phương, cán bộ tín dụng xét duyệt và trình trưởng phòng tín dụng, giám đốc phê duyệt và hẹn ngày giải ngân
+ Thủ tục Ngân hàng:
Ngân hàng và tổ vay vốn thống nhất lịch giải ngân và thông báo cho tổ viên Ngân hàng trực tiếp phát tiền vay đến từng tổ viên qua tổ lưu động gồm 3 cán bộ Ngân hàng: 1 cán bộ kế toán, 1 cán bộ tín dụng, 1 cán bộ thủ quỹ
Địa điểm phát tiền vay: Tại UBND (xã, phường)
+ Kiểm tra sử dụng vốn vay
Tổ trưởng tổ vay vốn thường xuyên tiến hành kiểm tra, giám sát, đôn đốc
tổ viên sử dụng vốn đúng mục đích, trả nợ trả lãi đúng hạn Tổ trưởng tổ vay vốn cùng cán bộ tín dụng kiểm tra việc sử dụng vốn vay ở tất cả các tổ viên
Trang 40g.Quy trình thu nợ, thu lãi
Ngân hàng và tổ vay vốn thống nhất lịch và địa điểm thu nợ, thu lãi và thông báo cho tổ viên Ngân hàng lập tổ thu nợ lưu động xuống trực tiếp để thu
nợ cho tổ viên tại địa điểm đã thỏa thuận (thường là UBND xã)
Nếu tổ viên trả nợ, trả lãi không đúng lịch đều phải trực tiếp đến trụ sở Ngân hàng để trả nợ, trả lãi
Xử lý các vi phạm: Nếu đến hạn có một thành viên nào đó chưa trả được
nợ thì cả tổ có trách nhiệm bằng mọi biện pháp tương trợ để trả nợ Ngân hàng theo đúng cam kết khi thành lập tổ
h.Ưu điểm của cho vay tổ vay vốn
Tạo điều kiện để Ngân hàng phục vụ kịp thời các nhu cầu vốn của khách hàng Đáp ứng được yêu cầu vốn có tính thời vụ, thời điểm của khách hàng vì cùng một khoảng thời gian ngắn có thể phục vụ được nhiều khách hàng
Tăng sự giám sát, quản lý vốn trong quá trình các hộ quản lý sử dụng vốn vay Vừa chịu sự kiểm tra, giám sát của tổ trưởng vừa chịu sự kiểm tra giám sát của cán bộ Ngân hàng Giúp Ngân hàng nắm bắt được nhiều thông tin từ khách hàng do đó quản lý vốn an toàn hơn
Giảm bớt sự quá tải cho cán bộ tín dụng Vì một số công việc được ủy quyền cho tổ trưởng tổ vay vốn làm thay
Tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng đỡ mất công đi lại, chờ đợi lâu khi làm thủ tục vay vốn, trả lãi và trả nợ
Tăng sự gắn bó và cộng đồng trách nhiệm giữa các hội viên với các tổ chức đoàn thể
i.Nhược điểm của cho vay qua tổ vay vốn
Chỉ phù hợp với những món vay nhỏ, các nhu cầu phát sinh cùng một lúc mang tính chất mùa vụ như vay các chi phí cho sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp, chăn nuôi