1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

một số đề xuất cho quá trình tái cấu trúc ngân hàng tại việt nam

49 400 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 413,97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy,việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính là cấp thiết để tránh sự đổ vỡ của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.. Theo Ðinh TuấnMinh 2012, khác với việc xử lý m

Trang 1

ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG



BÀI TIỂU LUẬN

GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN

HÀNG VIỆT VIỆT NAM HIỆN NAY

GVHD: NGUYỄN THỊ HAI HẰNG NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 5

TRẦN VIỆT HÀ K094040540 NGUYỄN THỊ HƯƠNG K094040558 NGUYỄN THỊ LAN K094040561

Trang 2

TP.HỒ CHÍ MINH, NĂM 2013

LỜI MỞ ĐẦU 3

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN KHÁI QUÁT VẦ TÁI CẤU TRỨC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Định nghĩa, nguyên nhân và mục tiêu của việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 4 1.1.1 Định nghĩa 4

1.1.2 Nguyên nhân của việc tái cấu trúc 4

1.1.3 Mục tiêu của việc tái cấu trúc Ngân hàng thương mại 5

1.2 Các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng 6

1.2.1 Giải quyết vấn đề nợ xấu 6

1.2.2 Mua lại, hợp nhất và sáp nhập 7

1.2.3 Cơ cấu lại vốn tự có của các ngân hàng 7

1.2.4 Cải thiện lòng tin vào hệ thống ngân hàng 8

1.2.5 Cải thiện hành lang pháp lý và xây dựng tiêu chuẩn ngân hàng hiện đại 9 CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 10

2.1 Bài học từ kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới 10 2.2 Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt nam hiện nay 13

2.3 Chủ trương, chính sách tái cấu trúc hệ thống NHTM của NHNN Việt Nam 19

2.4 Lộ trình tiến hành 20

2.5 Tiến độ và tình hình thực hiện đến thời điểm hiện tại 21

2.6 Ðánh giá tình hình thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng 23

2.6.1. Những kết quả đạt được 23

2.6.2 Những hạn chế, tồn tại 27

Trang 3

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHO QUÁ TRÌNH TÁI CẤU TRÚC NGÂN

HÀNG TẠI VIỆT NAM 31

3.1 Phân nhóm NH 31

3.2 Ổn định và hỗ trợ thanh khoản 32

3.2.1 Kiểm soát đặc biệt 32

3.2.2 Hỗ trợ thanh khoản thông qua hệ thống NH quốc doanh và các NH cổ phần lớn trong thị trường 32

3.3 Tái cơ cấu tài sản 33

3.3.1 Xác định nợ xấu thực tế, trích lập dự phòng đầy đủ 33

3.3.2 Cơ cấu lại danh mục dư nợ cho vay, chứng khoán đầu tư, các khoản ủy thác đầu tư của NH 33

3.3.3 Thành lập tổ chức xử lý nợ chuyên nghiệp mang tầm vóc quốc gia 34

3.4 Tái cơ cấu vốn tự có 34

3.4.1 Hợp nhất, sáp nhập hoặc mua lại các NH 34

3.4.2 Chuyển các khoản đã hỗ trợ thanh khoản cho NH yếu sang vốn cổ phần 34

3.4.3 Nhà nước mua lại các NH yếu kém 35

3.4.4 Gia tăng vốn của nhà đầu tư nước ngoài 36

3.4.5 Cổ phần hóa các NH quốc doanh 36

3.5 Cân đối nguồn vốn huy động của NH 36

3.6 Nâng cao khả năng quản trị điều hành của NH và các yếu tố nội tại khác 37

3.7 Nhóm giải pháp đồng bộ 38

3.7.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật và khung pháp lý có liên quan. 38 3.7.2 Thành lập ban chuyên trách Tái cơ cấu NH 39

3.7.3 Thực hiện các chính sách tiền tệ 40

3.7.4 Cải thiện lòng tin của người gửi tiền vào hệ thống NH Việt Nam 42

3.8 Một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình tái cấu trúc hệ thống NH 43

3.8.1 Tái cơ cấu hệ thống NH và tâm lý người gửi tiền 43

3.8.2 Việc sáp nhập, hợp nhất các NH với nhau liệu có hiệu quả 43

Trang 4

3.8.3 Tái cấu trúc nền kinh tế: Tái cấu trúc hệ thống NH phải đi đôi với việc

tái cơ cấu hệ thống doanh nghiệp và đầu tư công 44

3.8.4 Xử lý nợ xấu BĐS 44

3.8.5 Giải pháp phá sản 45

KẾT LUẬN 46

PHỤ LỤC 47

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU

Với bất kỳ một quốc gia nào, hoạt động của hệ thống ngân hàng luôn là huyết mạch củanền kinh tế và sự ổn định, lành mạnh của hệ thống ngân hàng giữ vai trò trọng yếu trongviệc ổn định và phát triển của nền kinh tế Khi nền kinh tế phát triển nhanh chóng, đặcbiệt là ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại đã thúc đẩy hệ thống ngân hàng phát triểnnhanh cả về qui mô và chất lượng dịch vụ Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh đó, hệthống ngân hàng cũng sẽ tiềm ẩn nhiều yếu kém và rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanhkhoản cao; tính ổn định, hiệu quả hoạt động và khả năng cạnh tranh chưa cao; năng lựcquản trị còn nhiều bất cập Do vậy, nếu những rủi ro và yếu kém này không được xử lýkịp thời sẽ tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô và hệ thống tài chính quốc gia Vì vậy,việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng và các tổ chức tài chính là cấp thiết để tránh sự đổ

vỡ của hệ thống ngân hàng và nền kinh tế

Nhưng “tái cấu trúc hệ thống ngân hàng” là gì, cách thức thực hiện nó ra sao, nó có ảnhhưởng như thế nào đến nền kinh tế cũng như xã hội…? Để hiểu rõ hơn về khái niệm “ táicấu trúc hệ thống ngân hàng” và các vấn đề xung quanh nó, nhóm chúng em đã chọn đềtài “ GIẢI PHÁP TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM” làm

đề tài nghiên cứu, thảo luận Bài tiểu luận là tổng hợp những kiến thức về nền kinh tế, hệthống ngân hàng và xã hội mà các thành viên trong nhóm đã nghiên cứu, tham khảo vàphân tích được từ nhiều nguồn tài liệu, ý kiến của các chuyên gia kinh tế trong và ngoàinước Bài viết có thể còn những thiếu sót, do đó rất mong nhận được những ý kiến góp ýcủa cô và các bạn

Trang 6

để đảm bảo an toàn hệ thống và hình thành hệ thống các NHTM có sức mạnh tài chínhthực sự, khả năng quản lý, kiểm soát rủi ro, quản trị tốt Tái cấu trúc ngân hàng cũngthường được tiến hành khi có bằng chứng về một hoặc nhiều ngân hàng mất khả năngthanh toán đến hơn 20% tổng tiền gửi toàn hệ thống ngân hàng và cần phải có một góigiải pháp liên quan đến thể chế và luật pháp để xử lý các ngân hàng yếu kém và đưa hệthống ngân hàng trở về trạng thái lành mạnh bền vững (Waxman, 1998) Theo Ðinh TuấnMinh (2012), khác với việc xử lý một ngân hàng yếu kém trong thời kỳ bình thường, táicấu trúc hệ thống ngân hàng đòi hỏi một kế hoạch đồng bộ và dài hạn, bao gồm trình tự

xử lý cũng như xây dựng các kịch bản dự phòng cho các tình huống xấu nhất, để sao chotrong quá trình tái cấu trúc, hoạt động thanh toán và hoạt động tín dụng của hệ thốngkhông bị ảnh hưởng

Từ những định nghĩa trên, về cơ bản có thể khái quát: tái cấu trúc ngân hàng

là các biện pháp nhằm khắc phục các khiếm khuyết của hệ thống ngân hàng (mà những khiếm khuyết này có khả năng gây ra một cuộc khủng hoảng trên toàn hệ thống), nhằm mục đích duy trì ổn định và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế, đặc biệt là chức năng thanh toán và tín dụng, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM

1.1.2 Nguyên nhân của việc tái cấu trúc

Tái cấu trúc hệ thống ngân hàng không phải là một hoạt động mang tính định kỳ Cácquốc gia chỉ tiến hành tái cấu trúc khi có những vấn đề điển hình nổi lên trong nền kinh tế

Trang 7

nói chung và trong hoạt động của các ngân hàng thương mại nói riêng Theo ông SameerGoyal (điều phối viên Khu vực tài chính và tư nhân của Ngân hàng Thế giới) thì động cơtái cấu trúc hiện nay bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân: Khủng hoảng tài chính và kinh tế(các vấn đề của khu vực sản xuất); Nợ xấu gia tăng (căng thẳng của khu vực sản xuất vàrủi ro cao trong lĩnh vực bất động sản, ngoại hối, tình trạng thua lỗ của các doanh nghiệp,việc cho vay của các tổ chức tài chính đối với các bên có quan hệ); Sự yếu kém về khảnăng sử dụng vốn của các ngân hàng so với mức độ rủi ro (lo ngại mất khả năng trả nợ);Trung gian tài chính không hiệu quả - không đủ nguồn tín dụng, các ngân hàng theo đuổirủi ro quá mức (tăng trưởng tín dụng nhanh và không kiểm soát), lãi suất bị bóp méo, cácdòng tiền nóng đầu cơ ; Khuôn khổ pháp lý, giám sát và quản lý yếu kém; Thiếu niềmtin vào hệ thống ngân hàng

1.1.3 Mục tiêu của việc tái cấu trúc Ngân hàng thương mại

1.1.3.1. Mục tiêu ngắn – trung hạn:

- Duy trì sự ổn định của hệ thống Ngân hàng, đảm bảo khả năng chi trả, thanh khoản

- Giải quyết các vấn đề một cách kịp thời, ngăn ngừa sự lê lan hoặc các vấn đề hệ thống

- Khôi phục niềm tin vào hệ thống ngân hàng

- Tái cấu trúc bộ máy hoạt động để nâng cao năng lực, đáp ứng được các nhiệm vụ hỗ trợphát triển kinh tế, xã hội của từng Ngân hàng nói riêng và hệ thống Ngân hàng nói chung

1.1.3.2. Mục tiêu dài hạn:

- Xây dựng tính cạnh tranh và khả năng chống chịu tốt

- Tăng cường cơ sở hạ tầng tổng thể của hệ thống tài chính

- Tái cấu trúc để có những Ngân hàng chất lượng và những chỉ số hoạt động tốt nhằmtăng sức mạnh cho toàn hệ thống, góp phần phát triển kinh tế ổn định

- Tạo một hệ thống Ngân hàng đa dạng về loại hình, quan hệ sở hữu và quy mô: có cácNgân hàng đủ mạnh để có thể cạnh tranh trong khu vực và quốc tế, có các Ngân hàng làmtrụ cột cho cả hệ thống Ngân hàng trong nước, và có các Ngân hàng có quy mô vừa vànhỏ hoạt động trong những phân khúc thị trường khác nhau

Trang 8

1.2 Các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng

1.2.1 Giải quyết vấn đề nợ xấu

Nếu các khoản nợ xấu lớn, tức là khả năng thu hồi các khoản nợ khách hàng của ngânhàng thấp Do đó ngân hàng phải dùng vốn để trang trải cho các khoản phí thất thoát nàynhưng đến một chứng mực nào đó sẽ không thể thực hiện “xóa sổ” những khoản thấtthoát này, ngân hàng có thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán cho người gửitiền Lúc đó chính phú phải can thiệp để giảm tỷ lệ này xuống mức an toàn một cáchnhanh nhất Mỗi quốc gia có một cách xử lý khác nhau, trong đó thường gặp nhất là nângmức yêu cầu về dự phòng rủi ro, siết chặt các quy định về phân loại nợ và trích lập dựphòng, đi kèm với việc kiểm tra, giám sát sát sao việc thực hiện Đặc biệt, tại một sốnước, Chính phủ cho phép các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao tách biệt hoạt động thành 2nhóm: nhóm hoạt động tốt và nhóm dưới chuẩn Mục đích của việc làm này sẽ giúp cácnhà nước kiểm soát tốt việc xử lý nợ xấu của các nhóm ngân hàng dưới chuẩn, và tậptrung thúc đẩy các khoản cho vay hiệu quả tại các ngân hàng tốt

Ngoài ra, ở Mĩ Năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã quyết định chi 700 tỉUSD, một phần để mua lại nợ xấu NHTM, một phần dùng để giải quyết thanh khoản tạmthời cho những tổ chức tài chính yếu kém, phần lớn để mua cổ phiếu ưu đãi của các ngânhàng (cổ phiếu ưu đãi được hưởng mức cổ tức cố định, không phụ thuộc vào khả năngsinh lời, người nắm giữ không có quyền tham gia vào việc điều hành)

Một mô hình giải quyết nợ xấu khác cũng đã được áp dụng thành công tại nhiều nước, đó

là thành lập Công ty Quản lý Nợ và Tài sản Các công ty quản lý nợ và tài sản xấu khôngchỉ giúp tăng tính chuyên nghiệp trong khả năng xử lý nợ mà còn giúp hệ thống ngânhàng hoạt động ổn định trở lại do việc mua lại nợ xấu sẽ tạo điều kiện phục hồi khả năngcho vay của các ngân hàng Ngoài ra, về mặt kinh tế, các công ty này còn giúp tận thu giátrị của các tài sản xấu, bù đắp phần nào chi phí bỏ ra trong tiến trình tái cấu trúc bằngcách cấu trúc lại các khoản nợ và bán lại cho các nhà đầu tư chuyên nghiệp khác

Trang 9

Sau khi nợ xấu được giải quyết, các doanh nghiệp phải tái cơ cấu lại hệ thống hoạt động

để hoạt động hiệu quả hơn cũng như tránh thua lỗ Các doanh nghiệp phải đóng cửa một

số chi nhánh làm ăn thua lỗ để tập trung vào những chi nhánh hoạt động tốt hơn

1.2.2 Mua lại, hợp nhất và sáp nhập

Mua lại, sáp nhập, hợp nhất ngân hàng để hình thành những định chế hoặc những tổ hợptài chính lớn hơn, mạnh hơn thông qua việc tăng cường hiệu quả kinh tế nhờ quy mô,đồng thời tạo lợi thế cạnh tranh nhờ gia tăng thị phần hoạt động là một xu thế phổ biến vàdiễn ra mạnh mẽ trên thế giới Tại Mỹ việc mua bán, sát nhập các ngân hàng là điều rấtbình thường, nhất là trong giai đoạn 1966-2008 5 thương vụ mua, bán ngân hàng lớn đãdiễn trong vòng gần 10 năm nay như: Ngân hàng Barclays mua lại ABN AMRO với giá

91 tỷ USD; Bank of America mua lại Merrill Lynch trong thương vụ trị giá 50 tỷ USD.Ngân hàng MUFG (thuộc Mitsubishi UFJ Financial Group) mua lại UFJ Holdings (UFJ); JP Morgan Chase mua BankOne với giá 58 tỷ USD; Bank of America mua lạiFleetBoston Financial với giá 48 tỷ USD Tại Nhật Bản, vụ sáp nhập giữa Ngân hàngTokyo và Ngân hàng Mitsubishi năm 1996 đã hình thành lên ngân hàng lớn nhất thế giớilúc bấy giờ với tổng giá trị tài sản trên 750 tỷ USD,…

Trước khi tiến hành các hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại, ngân hàng trung ươngcác nước thường tiến hành sàng lọc ra các ngân hàng yếu kém bằng cách đưa ra mộtkhung các tiêu chuẩn phân loại hoạt động Theo đó, những ngân hàng không đáp ứng đủcác tiêu chuẩn an toàn bị buộc chấm dứt hoạt động để ngân hàng có tình hình tài chính tốthơn mua lại Với những ngân hàng đang gặp khó khăn nhưng có khả năng phục hồi sẽđược yêu cầu sáp nhập, hợp nhất với nhau Nhờ đó, số lượng ngân hàng sau tái cấu trúcgiảm xuống nhưng quy mô vốn, chất lượng tài sản, năng lực cạnh tranh và khả năng sinh

lợi được cải thiện rõ rệt

1.2.3 Cơ cấu lại vốn tự có của các ngân hàng

Vốn tự có là yếu tố có ý nghĩa quyết định sống còn đến sự hình thành và phát triển lâu dàicủa ngân hàng Trong hoạt động kinh doanh, khi rủi ro xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn vànguồn vốn này giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại đó Trong những trường hợp

Trang 10

hy hữu về khả năng chi trả, vốn tự có sẽ được dùng để chi trả cho khác hàng, bảo vệkhách hàng không bị mất tiền gửi tại nhà băng.Một trong những nguồn giúp vốn tự cótăng trưởng đó là lợi nhuận giữ lại và vốn tự có cũng thường tăng trưởng dương

Nguồn vốn tự có (hay còn gọi là vốn chủ sở hữu) của các ngân hàng sau khi trích lập dựphòng đầy đủ cho các khoản nợ và giảm giá tài sản là điều khiến Chính phủ quan tâm vìđây là căn cứ để đưa ra các biện pháp cụ thể như yêu cầu các ngân hàng tăng vốn, chovay thêm hoặc yêu cầu các ngân hàng có mức an toàn vốn thực tế dưới mức tối thiểu theoluật định phải sáp nhập hoặc giải thể Ở các quốc gia như Mỹ, Châu Âu và một số nước

phát triển ở khu vực Châu Á, chính phủ ưu tiên thực hiện biện pháp quốc hữu hóa các

ngân hàng bằng cách đầu tư vào cổ phần của các ngân hàng này sau đó bán lại cho tưnhân sau khi ngân hàng đó dần đi vào ổn định Với vai trò là cổ đông chính sở hữu phầnlớn vốn cổ phần, Chính phủ sẽ yêu cầu các ngân hàng bị quốc hữu hóa thực hiện cácchương trình tái cấu trúc tài sản và nguồn vốn

Bên cạnh giải pháp quốc hữu hóa các ngân hàng thương mại, Chính phủ các nước cũng

áp dụng biện pháp kêu gọi các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài tài trợ tăng vốn chocác ngân hàng gặp khó khăn bằng cách đưa ra các điều kiện có lợi Hình thức này gọi là

vốn đối ứng hay thực chất là đồng tài trợ Theo đó, khi nhà đầu tư bỏ vốn tài trợ cho một

ngân hàng gặp khó khăn thì Chính phủ cũng cam kết góp vốn vào ngân hàng đó theo một

tỷ lệ nhất định dưới vai trò nhà đầu tư thứ hai đồng tài trợ Điều này không những tạoniềm tin cho nhà đầu tư về khả năng vực dậy của ngân hàng mà còn làm giảm lượng vốnChính phủ cần bỏ ra để cải thiện tình hình tài chính của ngân hàng đó

1.2.4 Cải thiện lòng tin vào hệ thống ngân hàng

Khi người dân mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng, hệ thống sẽ khó có thể phát triểnmạnh, thậm chí sụp đổ nếu xảy ra biến cố lớn Để cải thiện lòng tin của dân chúng, ngânhàng cần phải hoạt động minh bạch, hiệu quả hơn Cổ đông hay người gửi tiền có quyềnđược cung cấp các thông tin đầy đủ và chính xác về hoạt động điều hành hay tình hình tàichính của ngân hàng, bao gồm nợ xấu, các giao dịch ngoại bảng, các chứng khoán pháisinh hay thậm chí là các thông tin đặc biệt như thua lỗ do kiện tụng…, và đây là một yêu

Trang 11

cầu bắt buộc phải được thực hiện Thêm vào đó, Chính phủ có thể xem xét việc tăngcường bảo vệ người gửi tiền bằng cách gia tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi Bảo hiểmtiền gửi có thể bảo vệ quyền, lợi ích của hợp pháp của người gửi Chính vì thế, bảo hiểmtiền gửi có thể ngăn chặn được sự đổ vỡ mang tính hệ thống, góp phần duy trì sự pháttriển ổn định, an toàn cho các tổ chức tín dụng

1.2.5 Cải thiện hành lang pháp lý và xây dựng tiêu chuẩn ngân hàng hiện đại

Việc tiến hành các hoạt động cải tổ hệ thống ngân hàng cần được đặt trong một khuônkhổ pháp lý vững chắc, do đó, tất cả các nước trên thế giới khi tiến hành tái cấu trúc hệthống ngân hàng đều tiến hành rà soát lại các văn bản pháp luật, xây dựng các phương áncan thiệp của Chính phủ và Ngân hàng trung ương (NHTW) trong các tình huống khácnhau, để đảm bảo rằng chúng không vi phạm các luật lệ đã ban hành trước đây Việc nàyrất quan trọng bởi nó cho thấy hành vi can thiệp của Chính phủ và NHTW là khách quan,bình đẳng và minh bạch, vì lợi ích chung của nền kinh tế chứ không phải vì một động cơnào khác Căn cứ vào các văn bản pháp lý đó, Chính phủ và NHTW sẽ cần phải xây dựngmột quy trình, với những tiêu chí rõ ràng ngay từ đầu về mức độ can thiệp của Nhà nướccho từng trường hợp cụ thể Hơn nữa, Chính phủ và NHTW cần xây dựng các tiêu chí vềmột ngân hàng hoạt động hiệu quả và phát triển bền vững hướng tới thông lệ tốt nhấtnhư: vốn điều lệ thực tối thiểu; điều kiện cần và đủ để thành lập ngân hàng; phạm vi vàlĩnh vực kinh doanh ứng với qui mô; hạ tầng công nghệ tối thiểu phải có; việc phân loại

nợ theo thời gian và chất lượng nợ; tiêu chí về năng lực hoạt động; năng lực cạnh tranh;vấn đề minh bạch thông tin và kỷ luật thị trường… Điều này sẽ tạo cơ sở thúc đẩy cácngân hàng hoạt động hiệu quả và ngày càng cạnh tranh lành mạnh hơn

Trang 12

CHƯƠNG 2 VẤN ĐỀ TÁI CẤU TRÚC HỆ THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

2.1 Bài học từ kinh nghiệm tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của các nước trên thế giới

Hệ thống ngân hàng đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế của bất kỳ quốcgia nào Vì thế, ở một số quốc gia, khái niệm “phá sản ngân hàng” gần như là điều cấm

kỵ bởi những hậu quả kinh khủng mà nền kinh tế phải gánh chịu nếu hệ thống ngân hànglâm nguy Và giải pháp “cứu” ngân hàng, hay nói một cách nhẹ nhàng hơn là “tái cấu trúcngân hàng” thường được Chính phủ các nước ưu tiên khi mỗi khi hệ thống này được đặtvào tình thế nguy cấp

Ứng xử của Thụy Điển

Trong những năm cuối 1980 đầu những năm 1990, Thụy Điển đối mặt với nguy cơ sụp

đổ hệ thống ngân hàng Ngay khi nền kinh tế bị tác động bởi một vài cú sốc bên ngoài,một loạt doanh nghiệp đổ vỡ, bong bóng bất động sản và chứng khoán xì hơi Hậu quả là

tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng tăng rất nhanh, đẩy một số ngân hàng đến bờ vựcphá sản, nền kinh tế đối mặt với nguy cơ khủng hoảng và suy thoái

Trong hai năm 1992 - 1993, Thụy Điển đã thực hiện một cuộc cải cách hệ thống ngânhàng ngoạn mục, được nhiều nhà kinh tế đánh giá là một cuộc cải cách thành công nhấttrong lịch sử ngân hàng hiện đại Không những tránh được đổ vỡ tài chính liên hoàn, kinh

tế Thụy Điển tăng trưởng rất ấn tượng những năm sau đó và Chính phủ nước này đã thuhồi lại được gần như toàn bộ số tiền bỏ ra cứu trợ Bên cạnh việc phá giá đồng nội tệ,chính đợt cải tổ hệ thống ngân hàng mới là chìa khóa dẫn đến thành công của Thụy Điển.Trước nguy cơ đổ vỡ hàng loạt ngân hàng, đầu năm 1992, Chính phủ Thụy Điển tuyên bốbảo đảm toàn bộ số vốn của người dân và doanh nghiệp gửi hoặc đầu tư trong hệ thốngngân hàng ngoại trừ vốn của giới chủ ngân hàng Tiếp đó, Thụy Điển quốc hữu hóa vàhợp nhất hai ngân hàng Gotabanken và Nordbanken, ở thời điểm đó không còn đủ vốnchủ sở hữu theo luật định Sau khi quốc hữu hóa, Thụy Điển tách số tài sản xấu ra khỏibảng cân đối tài sản và giao cho hai công ty quản lý tài sản (AMC - Asset ManagementCompany) quản lý riêng Đến năm 1997, các AMC đã hoàn thành cơ bản nhiệm vụ và

Trang 13

được giải thể Ngân hàng Nordbanken cũng dần dần được tư hữu hóa và đổi tên thànhNordea Toàn bộ chi phí cho vụ giải cứu/cải tổ hệ thống ngân hàng này của Thụy Điểnvào khoảng 4% GDP nhưng sau khi tư hữu hóa Nordbanken và thanh lý AMC ngân sáchThụy Điển đã thu lại được gần như toàn bộ số tiền nói trên.

Nhìn tổng thể, đợt tái cấu trúc ngân hàng của Thụy Điển thành công như vậy chính là nhờ

3 yếu tố:

Minh bạch thông tin về nợ xấu: Ban đầu, Ngân hàng Trung ương Thụy Điển cũng từng

có ý định che dấu bớt các thông tin về các khoản nợ xấu rồi sẽ xử lý dần dần Tuy nhiên,cuối cùng Thụy Điển đã quyết định công bố toàn bộ thông tin về tài sản và nợ xấu Điềunày giúp Chính phủ tỉnh táo nhìn thẳng vào thực tế, xác định được các rủi ro và hoạchđịnh được chi phí cần dùng cho công cuộc tái cấu trúc

Nguồn lực cho cho công cuộc tái cấu trúc phải đủ mạnh: Nguồn lực ở đây không chỉdừng ở nguồn tài chính để tái cấp vốn và bảo đảm toàn bộ mà còn là cơ chế và thẩmquyển của những cá nhân và đơn vị trực tiếp tham gia vào quá trình giải cứu

Thực thi một gói chính sách mang tầm vĩ mô đúng đắn và nhất quán: Chính sách tài khóađúng đắn giúp cho Thụy Điển không lún quá sâu vào suy thoái, giảm gánh nặng đối vớithất nghiệp, lạm phát và tăng trưởng

Thái Lan: Trị bệnh từ gốc

Đất nước chùa vàng cũng kinh qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 khi đang trên

đà phát triển mạnh về kinh tế Thời điểm đó, Thái Lan đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 9%/năm nhưng cũng tiềm tàng nhiều nguy cơ từ lạm phát, chính sách tỷ giá cố định và cơ chếthu hút đầu tư nước ngoài thiếu tính bền vững

Khủng hoảng bắt đầu ở Thái Lan và sau đó lây lan sang các nước châu Á khác Nguyênnhân cốt lõi nằm ở sự mất lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài đối với cái gọi là “cácnền kinh tế mới nổi” Các nhà đầu tư rất ấn tượng với tốc độ tăng trưởng kinh tế caonhưng lại tỏ ra nghi ngờ các nhân tố điều chỉnh không minh bạch và tình trạng thamnhũng trong Chính phủ Khi đã mất niềm tin vào thị trường tiền tệ và chứng khoán củanhững quốc gia này, nhà đầu tư sẽ ồ ạt rút tiền ra Tại Thái Lan, việc thị trường chứngkhoán tăng trưởng nhanh chóng, kéo theo làn sóng các nhà đầu tư nước ngoài, đã đẩy giá

Trang 14

tiền tệ trong nước và mức lạm phát lên và kèm theo đó là nỗi sợ hãi về bong bóng chứngkhoán.

Khi nhận chức thống đốc Ngân hàng Trung ương Thái Lan vào giữa năm 2001, Ông M.RPridiathorn Devakula đã tiến hành hàng loạt biện pháp để giải quyết mớ bòng bong này.Ông đã cho dừng việc tiếp tục thực hiện các quy định an toàn; chuyển các ngân hàngsang hoạt động có lãi trở thành mục tiêu hàng đầu; nới lỏng các quy định mà không cótính thực tế, các quy định mà quá khó khăn để thực hiện trong hoàn cảnh lúc bấy giờ vàquá tốn kém để theo đuổi; cũng như loại bỏ những rào cản về quy chế đối với việc chocác ngân hàng thương mại vay để giảm bớt gánh nặng từ những khoản nợ tồn đọng củakhách hàng Đồng thời theo dõi sát sao bảng tổng kết tài sản của các ngân hàng và tư vấn

về định hướng có tính chiến lược giúp các ngân hàng thương mại nhà nước có lãi

Khác với Thụy Điển, công cuộc tái cấu trúc ngân hàng ở Thái Lan thành công phần nhiềunhờ vào nhận thức được đúng đắn gốc rễ của vấn đề Các công thức về thắt chặt tiền tệ,

ổn định tỷ giá không phải lúc nào cũng được áp dụng Tùy vào điều kiện cụ thể của quốcgia mới có thể cân nhắc được giải pháp nào là hợp lý Quan trọng nhất, khi tiến hành tái

cơ cấu hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã đưa ra giải pháp chi tiếtcho từng tổ chức, từng khu vực riêng biệt Tất cả đều hướng tới mục tiêu chung: Khôiphục lại lòng tin của thị trường, thu hút vốn để giải quyết bài toán nợ xấu

Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Cuối năm 1997, khi cuộc khủng hoảng tài chính châu Á lan rộng, Hàn Quốc đã phải vaytổng cộng 57 tỷ USD từ Quỹ tiền tệ thế giới IMF để cứu nguy hệ thống ngân hàng vàgiúp nền kinh tế khỏi đổ vỡ Đây là hậu quả của một thời gian dài Chính phủ dễ dãi trongviệc cấp tín dụng cho các tập đoàn lớn (thường được gọi là “cheabol”) khiến hoạt độngđầu tư trở nên dàn trải, nợ xấu các ngân hàng tăng cao Tính đến năm 1998, số nợ của cáctập đoàn này đã tương đương 175% GDP của Hàn Quốc, dẫn đến thâm hụt tài khoảnvãng lai, kéo theo số nợ công khổng lồ

Để giải cứu hệ thống ngân hàng, Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc đã tung ra 3 giảipháp: Bơm mạnh vốn vào hệ thống tài chính (tương đương 14% GDP), đồng thời tungtiền mua lại nợ xấu (tương đương 7% GDP) và áp dụng chính sách bảo vệ người gửi tiền

Trang 15

(tương đương 5% GDP) Các ngân hàng thiếu hụt vốn được cấp thêm vốn trong khi cácđịnh chế tài chính phi ngân hàng bị đóng cửa Người dân được bảo đảm rằng tiền gửi của

họ được Chính phủ bảo lãnh Chính phủ Hàn Quốc cũng chủ động mời các nhà đầu tưnước ngoài tái cấp vốn các ngân hàng và nâng cao khả năng quản trị

Tương tự như Thụy Điển, Hàn Quốc cũng thành lập công ty xử lý nợ (KAMDO) trựcthuộc Chính phủ để mua lại nợ theo giá thị trường Chi phí mà Chính phủ bỏ ra để mualại số nợ này chỉ là 33 tỷ USD với tỷ lệ chiết khấu bình quân 64% Sau đó, số nợ xấu nàyđược xử lý bằng cách phát hành các chứng khoán được đảm bảo bằng các tài sản nàycũng như bán trực tiếp

Bài học cụ thể nhất mà cuộc khủng hoảng hệ thống ngân hàng ở Hàn Quốc cho thấychính là sự nuông chiều của Chính phủ đối với các “cheabol” khiến cho các định chế này

dễ dàng tiếp cận nguồn vốn bất chấp họ không đủ điều kiện Cho nên, nợ xấu và sự mấtcân đối về vốn là điều hiển nhiên

2.2 Thực trạng hệ thống ngân hàng Việt nam hiện nay

Trong những năm qua, hệ thống các TCTD phát triển nhanh và góp phần quan trọng đốivới phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Tuy nhiên, hệ thống các TCTD đã bộc lộnhiều yếu kém, rủi ro gây mất an toàn hoạt động và đe dọa sự ổn định kinh tế vĩ mô

Rủi ro trong hoạt động ngân hàng rất lớn, đặc biệt rủi ro tín dụng của các TCTD Việt Nam

Hệ thống NH luôn nằm trong tình trạng mất cân đối giữa huy động và cho vay, đe dọa an toàn thanh khoản

Nhìn vào cơ cấu kỳ hạn huy động vốn và cho vay của các NHTM ta sẽ thấy được rủi

ro thanh khoản của các NH Ngoại trừ các NHTM lớn có vốn huy động dài hạn, cácNHTM nhỏ hầu như không có khoản tiền gửi trên 5 năm, đa số là các khoản tiền gửi 1tháng đến 3 tháng Các NHTM cho vay trung và dài hạn trong khi các khoản tiền gửi củakhách hàng lại tập trung vào các kỳ hạn ngắn từ 1-3 tháng sẽ khiến các NH có thể gặp rủi

ro thanh khoản

Trong tổng vốn huy động từ nền kinh tế đến cuối tháng 9/2011, nguồn vốn không kỳhạn và có kỳ hạn dưới 6 tháng chiếm đến 77,77% tổng vốn huy động từ nguồn thanh toán

Trang 16

(trong đó: 79,44% đối với VNĐ và 71,52% đối với ngoại tệ) làm cho nguồn vốn thiếutính ổn định: Trong khi đó dư nợ tín dụng trung, dài hạn lại chiếm tỉ trọng 42,4% tổng dư

nợ tín dụng (trong đó: 41,48% đối với VNĐ và 45,47% đối với ngoại tệ) dẫn đến thanhkhoản của các TCTD yếu

Tín dụng tập trung vào lĩnh vực bất động sản quá lớn đặt sự an toàn của hệ thống các TCTD phụ thuộc vào thị trường bất động sản.

Theo báo cáo của các TCTD dư nợ cho vay đầu tư, kinh doanh bất động sản đến cuốitháng 9/2011, nếu bao gồm cả các khoản tín dụng được đảm bảo bằng bất động sản thì dư

nợ tín dụng đối với bất động sản là 1.331.032 tỷ đồng tương đương 53,3% tổng dư nợ tíndụng Dư nợ tín dụng đối với bất động sản lớn, song chất lượng tín dụng thấp và đang cóchiều hướng giảm do thị trường bất động sản suy giảm đang trở thành rủi ro rất lớn đốivới các TCTD Giá trị bất động sản giảm tác động tiêu cực đến khả năng trả nợ của kháchhàng vay và giá trị tài sản đảm bảo bằng bất động sản

Tình trạng nợ xấu cao

Theo NHNN, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành NH đến tháng 12 năm 2011 là 3,39%, tương đương85.300 tỷ đồng Nếu so tỷ lệ nợ xấu công bố trên với thông lệ quốc tế, thì nợ được coi làvẫn an toàn khi nằm trong ngưỡng không quá 5%, Tuy nhiên, theo chuẩn quốc tế, hãng

xếp hạng độc lập Fitch Rating đã đánh giá tỷ lệ nợ xấu ở Việt Nam lên tới 13% (Theo

báo Thông tin thương mại - Bộ Công thương, số ra ngày 26/12/2011)

Tốc độ tăng nợ xấu ở mức báo động, khi chỉ trong 9 tháng đầu năm 2012 đã tăng tới 66%

so với cuối năm 2011 Tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống đến cuối tháng 9 là 8,82% trêntổng dư nợ và ước cả năm vào khoảng 8,5% - 10% Nợ xấu có tài sản đảm bảo bằng bấtđộng sản và bất động sản hình thành trong tương lai chiếm đến hơn 70% tổng nợ xấu

Nợ xấu tập trung ở nhóm các ngân hàng thương mại với 95,5% tổng nợ xấu của cácTCTD trong nước (NHTM Nhà nước chiếm 50,5%)

Trang 17

Tỷ lệ nợ xấu qua các năm (data: BCTC/CafeF)

Dự phòng rủi ro không được trích lập đầy đủ tương xứng với mức độ rủi ro Đến ngày30/9/2011, dự phòng rủi ro (dự phòng cụ thể và dự phòng chung) sẵn có chỉ tương đương26,67% nợ xấu (theo nợ xấu của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng), thấp hơn so vớinhiều nước Tỉ lệ này còn thấp hơn nhiều nếu phân loại nợ theo tiêu chuẩn quốc tế Nếu xét ở nhóm nợ có khả năng mất vốn và NH phải trích lập dự phòng rủi ro 100%thì 8 NH (VietinBank, Vietcombank, ACB, Sacombank, Eximbank, SHB, Habubank,Navibank) có tỉ lệ nợ có khả năng mất vốn đến 8.293 tỉ đồng

Trang 18

Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu giảm

Mặc dù nhiều NH của Việt Nam đã đạt mức tỷ lệ đảm bảo vốn tự có tối thiểu(Capital Adequacy Ratio “CAR”) trên 9% nhưng trên bình diện chung, tỷ lệ CAR nàycũng rất khác nhau giữa các NH Quan trọng hơn, tỷ lệ này sẽ bị sụt giảm rất nhanh nếunhư hạch toán đúng dự phòng cho các khoản nợ NPL Lý do là chất lượng tài sản suygiảm làm cho chi phí dự phòng gia tăng, làm ăn mòn lợi nhuận lũy kế và từ đó giảm vốn

tự có Đến tháng 09/2011, tỷ lệ an toàn vốn bình quân toàn hệ thống là 11,85%, trong đó:

Nhóm TCTD Việt Nam là 11,13% (NHTMNN: 8,49% - thấp hơn mức 9% theo quy định;Ngân hàng TMCP 13,55%; Công ty Tài chính trong nước : 14,59%; công ty cho thuê tàichính trong nước: -37,23%) và nhóm TCTD nước ngoài là 28,58% Hệ số an toàn vốncủa các TCTD Việt Nam chưa tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực quốc tế (Basel I) và thấphơn so với nhiều nước đang phát triển khác, trong khi nhiều hệ thống ngân hàng trên thếgiới có tỉ lệ an toàn vốn quốc tế (Basel II) cao hơn chuẩn mực hiện nay đang áp dụng tạiViệt Nam

Mức độ tập trung tín dụng đối với một số khách hàng và nhóm khách hàng liên quan rất lớn

Khi những khách hàng vay lớn gặp khó khăn về tài chính và kinh doanh có khả nănggây tổn thất lớn cho TCTD Đến cuối tháng 9/2011 dư nợ cho vay doanh nghiệp nhànước là 415.347 tỷ đồng tương đương 16,9% tổng dư nợ tín dụng, trong đó dư nợ cho vay

Trang 19

12 tập đoàn kinh tế của nhà nước là 218.738 tỷ đồng (riêng Tập đoàn Dầu khí Việt Nam72.300 tỷ đồng, Tập đoàn Điện lực 62.800 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp Than, Khoángsản 20.500 tỷ đồng và Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy 19.600 tỷ đồng) tương đương8,76% tổng dư nợ tín dụng toàn ngành và chiếm 52,66% dư nợ cho vay doanh nghiệp nhànước.

Nhiều ngân hàng có vấn đề quản trị ngân hàng rất yếu

Nhóm lợi ích và sở hữu chéo giữa các TCTD rất lớn làm cho rủi ro hệ thống rất cao nếu như một ngân hàng gặp khó khăn hoặc đổ vỡ.

Ngân hàng trong những năm qua là ngành có tốc độ phát triển nhanh đã thu hút cácnhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư vốn kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng.Đặc biệt, nhiều tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước đầu tư, nắm giữ cổ phiếu và là

cổ đông lớn hoặc chủ sở hữu của ngân hàng và TCTD phi ngân hàng Các cổ đông lớnnắm quyền chi phối có thể biến tướng rất nhiều để cho vay những lĩnh vực rủi ro caohoặc cho vay chéo chính những công ty con của mình Mặc dù NHNN có quy định rấtchặt chẽ trong việc cho vay với doanh nghiệp là cổ đông nhưng họ lại tìm cách lách luật.Điều này dễ dẫn đến vi phạm các nguyên tắc quản trị rủi ro, xung đột lợi ích và sự antoàn, ổn định của TCTD phụ thuộc vào các cổ đông lớn của TCTD

Năng lực quản trị của các TCTD còn nhiều bất cập so với quy mô, tốc độ tăng trưởng và mức độ rủi ro trong các hoạt động.

Sự hạn chế về năng lực quản trị xuất phát chủ yếu từ vấn đề cơ cấu sở hữu, năng lựccủa cổ đông và hội đồng quản trị, hội đồng thành viên và các vị trí quản lý của TCTD.Nhiều cổ đông lớn và người đại diện cổ đông lớn tham gia các vị trí quản lý, điều hànhngân hàng nhưng lại thiếu kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và kinh nghiệm về ngânhàng Hệ thống quản trị, nhất là hệ thống quả trị rủi ro, hệ thống kiểm tra, kiểm soát vàkiểm toán nội bộ của các TCTD hoạt động chưa có hiệu quả và chưa phù hợp với thông

lệ, chuẩn mực quốc tế Chuẩn mực, chính sách; phương pháp, quy trình kinh doanh củacác TCTD nhìn chung chưa có hiệu quả cao dẫn đến chưa kiểm soát có hiệu quả nhữngrủi ro trọng yếu trong hoạt động của TCTD

Trang 20

Các NHTMNN là nòng cốt trong hệ thống nhưng phát triển còn chậm, chưa bảođảm vai trò chủ đạo, chủ lực của hệ thống các TCTD và trở thành công cụ đắc lực củaNhà nước trong việc điều tiết và bình ổn thị trường tiền tệ theo định hướng, mục tiêu củaChính phủ trong từng thời kỳ

Đạo đức kinh doanh chưa cao

Cùng với năng lực quản trị yếu kém, đạo đức kinh doanh ngân hàng chưa cao làm giatăng mứ độ rủi ro hoạt động và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng Cạnh tranhtrong lĩnh vực ngân hàng có nơi, có lúc trở nên quá mức, không lành mạnh, không có trật

tự, kỷ cương đã làm gia tăng rủi ro và hành vi gian lận trong hoạt động ngân hàng Trênthị trường tiền tệ xuất hiện biểu hiện một số TCTD có quy mô lớn lũng đoạn, thao túngthị trường, nhất là về lãi suất và tỷ giá, trong khi một số TCTD nhỏ khác lại ngày càng bịchi phối bởi những TCTD lớn

Không đồng đều về quy mô của từng đơn vị lại cùng hoạt động chung

Số lượng các TCTD nhiều nhưng một bộ phận không nhỏ TCTD tiềm ẩn nhiều rủi

ro, tài chính kém lành mạnh, khả năng cạnh tranh thấp và dễ bị tổn thương khi môi

trường kinh doanh có sự thay đổi.

Theo quy định của Nghị định của Chính phủ số 141/2006/NĐ-CP các NHTM phải

đáp ứng mức vốn điều lệ tối thiểu là 3.000 tỷ đồng đến cuối năm 2010 Tính đến cuối

tháng 9/2011, 30 NHTM có vốn điều lệ dưới 5.000 tỷ đồng; 14 NHTM có tài sản dưới30.000 tỷ đồng; 6/17 công ty tài chính có tài sản dưới 3.000 tỷ đồng và 12/13 công ty chothuê tài chính có vốn điều lệ dưới 500 tỉ, tài sản có dưới 2.000 tỷ đồng

Một số NHTMCP chuyển đổi từ mô hình NHTMCP nông thôn có quy mô còn nhỏ,năng lực tài chính yếu NH loại nhỏ thường mới tăng vốn và tăng vốn theo quy định, vìvậy nhu cầu mở rộng mạng lưới, tổng tài sản cũng tăng tương ứng Rủi ro lớn của những

NH này là cho dù trụ sở chính đặt ở đâu thì cũng tập trung ở những đô thị lớn để mở chinhánh, phòng giao dịch Điều này làm cho mức độ cạnh tranh rất khốc liệt và không lànhmạnh Thay vì cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ thì các NH lại cạnh tranh bằng lãi suất,dẫn đến các cuộc chạy đua lãi suất trong những năm gần đây Gây ảnh hưởng rất lớn tớimặt bằng lãi suất trên thị trường

Trang 21

Một số NHTM mở rộng hoạt động sang lĩnh vực phi ngân hàng như thành lập cáccông ty chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, vàng không đem lạihiệu quả cao và làm tăng rủi ro cho NHTM, đồng thời gây khó khăn hơn cho công tácquản lý, giám sát của các cơ quan quản lý.

2.3 Chủ trương, chính sách tái cấu trúc hệ thống NHTM của NHNN Việt Nam

Như vậy tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc lại một số lĩnh vực kinh tế trọng điểm trong

đó có hệ thống NHTM và các tổ chức tài chính là chủ trương nhất quán từ đầu năm 2011đến nay của Đảng và Nhà nước

Về nguyên tắc, phải hết sức thận trọng, làm đến đâu chắc đến đó, đảm bảo không để xảy

ra đỗ vỡ, rối loạn và mất an toàn hoạt động NH ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ và

Trang 22

NHNN Tiết giảm tối đa chi phí và tổn thất bằng cách dùng các TCTD có quy mô lớnhơn, lành mạnh hơn tham gia vào quá trình tái cấu trúc các TCTD quy mô nhỏ trênnguyên tắc tự nguyện và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền, người đang thụhưởng các dịch vụ NH.

2.4 Lộ trình tiến hành

NHNN đã đưa ra lộ trình và thời gian thực hiện cụ thể như sau:

- Từ nay đến quý I/2012, phải hoàn thành xong 2 nội dung: định hình rõ 3 nhóm NH vàgiải quyết tốt những vấn đề thanh khoản của những NH yếu kém Tiêu chí phân nhóm

NH được xác định như sau:

+ Nhóm thứ nhất, gồm các NH có tình hình tài chính lành mạnh, có năng lực, có quy mô

đủ lớn để tiếp tục phát triển thành những NH làm trụ cột trong hệ thống NHTM trongthời gian tới cũng như vươn lên đủ sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế Nhóm NH này

dự kiến sau 5 năm từ nay đến năm 2015 Việt Nam có khoảng 15 tổ chức tín dụng nhưvậy 15 tổ chức tín dụng này sẽ phải chiếm tới khoảng 80% thị phần hoạt động của hệthống NH Trong 15 tổ chức tín dụng đó chúng ta cố gắng đạt được từ 1-2 tổ chức có tầm

cỡ của khu vực và quốc tế

+ Nhóm thứ hai, là nhóm các NH có tình hình tài chính lành mạnh nhưng có quy mô còn

nhỏ, không có nhu cầu hoặc không có điều kiện để phát triển quy mô cao hơn nữa Đốivới các NH loại này, NHNN sẽ có những quy định để đảm bảo quy mô hoạt động trongtầm kiểm soát phù hợp với năng lực của tổ chức tín dụng và cũng có những quy định đểđảm bảo sự phân khúc của thị trường cho các tổ chức tín dụng này có thể phát huy đượcnhưng trên nền tảng hoạt động an toàn và hiệu quả

+ Nhóm thứ ba, là nhóm NH đang có tình hình tài chính khó khăn cần phải được tái cấu

trúc lại Đối với nhóm các tổ chức tín dụng này, NHNN sẽ thông qua các biện pháp nhưthay đổi lại cổ đông, nâng cao năng lực của cổ đông hoặc cho các tổ chức tín dụng trongnước khác tham gia cổ đông, mua lại hoặc sáp nhập vào các tổ chức tín dụng khác Theophương châm không để tổ chức tín dụng nào đổ vỡ, đảm bảo tối đa quyền lợi của ngườigửi tiền và khách hàng của NH

Trang 23

- Từ quý II/2012 đến hết năm 2013, sẽ hoàn thành việc tái cấu trúc lại các NH thuộcnhóm III.

- Từ năm 2013 đến năm 2015 tập trung vào việc nâng cao các hiệu quả an toàn, việc tuânthủ các chuẩn mực quốc tế và củng cố xây dựng Đến năm 2015, hệ thống NH Việt Nam

sẽ tiếp tục được tái cấu trúc và khi đó số lượng các NH có khả năng tham gia cạnh tranhtrong khu vực có thể nâng lên đến 4 NH

2.5 Tiến độ và tình hình thực hiện đến thời điểm hiện tại

Định hình rõ 3 nhóm NH và giải quyết tốt những vấn đề thanh khoản của những NH yếukém: Theo Lộ trình đến quý I/2012 sẽ hoàn thành

- Về việc giải quyết các vấn đề thanh khoản của các NH yếu kém

+ Hỗ trợ thanh khoản kịp thời các NH đang có vấn đề về thanh khoản:

Trước sự thiếu hụt thanh khoản tạm thời của một số NH nhỏ, ngày 18/10/2011 NHNNcho biết sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản nhằm đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, an toàn củatừng tổ chức tín dụng cũng như cả hệ thống Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (thuộcNHNN) cho biết, dịp tết năm 2011, NHNN đã quyết định bơm một lượng tiền lớn ra thịtrường và kịp thời rút tiền về ngay sau tết thông qua nghiệp vụ thị trường mở

+ Hỗ trợ thanh khoản thông qua hệ thống NH quốc doanh và các NH cổ phần lớn trongthị trường: Song song với việc hỗ trợ của NHNN đối với các TCTD thiếu hụt thanhkhoản, các NH lớn như BIDV, Vietinbank, Agribank,… cũng có những cam kết hỗ trợthanh cho các NH nhỏ khác Điển hình như sau:

 Ngày 28/10/2011, NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cam kết hỗ trợtrong hạn mức 3.000 tỷ đồng cho BacAbank và 5.000 tỷ đồng cho GP Bank trong lĩnhvực nguồn vốn và kinh doanh tiền tệ Hạn mức này sẽ được điều chỉnh theo quy định vàkhả năng của BIDV vào thời điểm hỗ trợ

 Vietcombank cho biết, từ trung tuần tháng 10/2011 cho đến nay đã hỗ trợ thanh khoản

và vốn cho một số NHTM cổ phần nhỏ ở trong tình trạng rất khó khăn về thanh khoản

- Về Công tác phân nhóm các NH:

NHNN đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống chấm điểm để xếp hạng phânnhóm NH và NHNN sẽ thực hiện phân loại cụ thể các nhóm NH trong Quý I/2011

Trang 24

Tái cấu trúc lại các NH thuộc nhóm III: Theo lộ trình sẽ thực hiện đến hết năm 2013.

- Ngày 11/02/2010, Thông tư 04/2010/TT-NHNN quy định việc sáp nhập, hợp nhất, mualại tổ chức tín dụng được NHNN ban hành Cuối tháng 10/2011, NHNN phát đi thôngđiệp khuyến khích các tổ chức tín dụng tự nguyện tìm hiểu lẫn nhau để mua lại, sáp nhập,hợp nhất

- Trong tháng 12/2011, đã có ba NH đầu tiên tự nguyện hợp nhất đó là NH cổ phần ĐệNhất (Ficombank), NH TMCP Sài Gòn (SCB) và NH TMCP Việt Nam Tín Nghĩa:

+ Trước khi hợp nhất, 3 NH này đã có những thiếu hụt thanh khoản tạm thời do cho vaychủ yếu là trung và dài hạn, trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn NHNN

và một số NH khác đã hỗ trợ vốn nên tạm thời qua giai đoạn khó khăn NHNN đã chỉđịnh NH Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tham gia hỗ trợ toàn diện 3 NH này ngay

từ đầu trong quá trình hợp nhất và góp phần nâng cao khả năng tài chính, quản trị kinhdoanh sau hợp nhất

+ Sau hợp nhất, để đảm bảo yêu cầu thanh khoản, NH SCB "mới" có thể đề nghị NHNN

và BIDV cho vay khoản vay đặc biệt theo quy định của pháp luật Về hoạt động, sau khihợp nhất, theo đề án, NH mới sẽ áp dụng hệ thống kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội

bộ của SCB cho SCB “mới”; hợp nhất hệ thống thông tin quản lý và hệ thống truyền dữliệu SmartBank tiến tới sang hệ thống Corebanking T24 hoặc Flexcube tùy tình hình thực

tế Ngay sau thời điểm việc hợp nhất có hiệu lực, toàn bộ các lao động có ký hợp đồnglao động với ba NH trước đó sẽ trở thành lao động của SCB “mới”

- Thực tế hoạt động NH khá phức tạp, có nhiều quyền lợi đan xen trong nội bộ, chưa kểcách điều hành, văn hóa của mỗi NH khác nhau Do vậy, để việc hợp nhất thành công đòihỏi phải có lộ trình, thời gian thực hiện để tạo tiếng nói chung

2.6 Ðánh giá tình hình thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng

2.6.1. Những kết quả đạt được

Việc thực hiện tái cấu trúc hệ thống ngân hàng manh nha từ những tháng cuối năm

2011, mạnh mẽ hơn trong năm 2012 và tiếp tục sẽ phát triển trong năm Quá trình này đãđạt được những kết quả sau đây:

Ngày đăng: 30/10/2014, 22:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nợ quá hạn và nợ xấu toàn hệ thống (%) - một số đề xuất cho quá trình tái cấu trúc ngân hàng tại việt nam
Bảng 1 Nợ quá hạn và nợ xấu toàn hệ thống (%) (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w